|
UBND TỈNH GIA LAI Số: 01/QĐ-UB |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------------------------- tỉnh Gia Lai, ngày 02 tháng 01 năm 1999 |
QUYẾT ĐỊNH
CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
Về việc phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thị xã Pleiku đến năm 2010
______________________________
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Căn cứ Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 1994;
- Xét quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thị xã Pleiku đến năm 2010 do Viện chiến lược phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư lập và theo biên bản nghiệm thu đề tài "Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thị xã Pleiku đến năm 2010" ngày 10 tháng 9 năm 1998 của Hội đồng nghiệm thu đề tài;
- Xét đề nghị của Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư tại Tờ trình số 129/TT-KH ngày 15-12-1998,
QUYẾT ĐỊNH
Điều 1: Phê duyệt tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thị xã Pleiku đến năm 2010, với những nội dung chủ yếu sau:
I - MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN CHỦ YẾU:
a) Về kinh tế - xã hội:
- Phấn đấu nhịp tăng trưởng GDP bình quân hàng năm giai đoạn 1998 - 2000: 12,5 - 13%, 2000 - 2005: 14 - 14,5%, 2005 - 2010: 13 - 13,5%. GDP bình quân đầu người đến năm 2000 đạt 476 USD, đến năm 2005 đạt 740 - 750 USD và năm 2010 đạt 1.130 - 1.160 USD.
- Từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đến năm 2000: CN-XD: 29,53%, DV: 62,54%, NLN: 7,93%; đến năm 2005: CN-XD: 34,33%, DV: 60,4%, NLN: 5,26% và đến năm 2010: CN-XD: 40%, DV: 56,4%, NLN: 3,57%.
- Phấn đấu tăng tỷ lệ tích lũy đầu tư phát triển từ nội bộ nền kinh tế từ 12,7% năm 1997 lên 16 - 17% năm 2000, 19 - 21% năm 2005 và 22 - 24% năm 2010. Nâng tỷ lệ huy động thuế và phí vào ngân sách Nhà nước so với GDP từ 26,3% hiện nay lên 28,4% năm 2000, 30% năm 2005 và 31,2% năm 2010.
- Thực hiện đầy đủ và đồng bộ các chương trình quốc gia về giáo dục, y tế, văn hóa xã hội, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực, giải quyết về cơ bản việc làm cho người lao động, cải thiện điều kiện môi trường, thực hiện tốt các mục tiêu xóa đói giảm nghèo, không ngừng nâng cao mức sống dân cư, đặc biệt là cư dân nông thôn ở vùng ven thị xã.
b) Về môi trường:Giảm thiểu các hiện tượng ô nhiễm môi trường nhất là ở các khu cụm công nghiệp, tạo sự trong sạch môi trường đô thị bằng cách xây dựng, nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng như đường xá, hệ thống cấp nước, xử lý chất thải, phát triển cây xanh, vườn cây trong đô thị...
c) Về an ninh chính trị:Giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn thị xã.
II - NHỮNG NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN CHỦ YẾU:
1. Phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp:Phấn đấu đạt nhịp độ tăng bình quân hàng năm công nghiệp - xây dựng 16% thời kỳ 1998 - 2000, 18% thời kỳ 2001 - 2005 và 17% thời kỳ 2006 - 2010, tăng tỷ trọng GDP ngành Công nghiệp - Xây dựng từ 27,3% năm 1997 lên 40% năm 2010. Phát triển công nghiệp theo hướng đầu tư có trọng điểm vào các ngành công nghiệp mũi nhọn, có lợi thế so sánh, phát huy hiệu quả nhanh như: Công nghiệp chế biến nông sản, thực phẩm, sản xuất VLXD, trọng tâm là chế biến cà phê, cao su, gỗ tinh chế xuất khẩu, xi măng, đá ốp lát...
Phát triển công nghiệp TTCN nông thôn theo hướng khuyến khích các thành phần kinh tế bỏ vốn đầu tư xây dựng các cơ sở công nghiệp TTCN, xây dựng các vệ tinh liên doanh liên kết với các xí nghiệp công nghiệp, phát triển nghề truyền thống, mở mang nghề mới như: chế biến, sơ chế, cơ khí sửa chữa, đan lát... từng bước công nghiệp hóa nông nghiệp và nông thôn.
Xây dựng 2 khu công nghiệp chính trên địa bàn thị xã là: KCN Chư Á - Trà Đa và Trà Bá - Hàm Rồng, nghiên cứu tìm địa điểm phân bố tập trung công nghiệp tại khu vực đường xa lộ Bắc - Nam qua thị xã.
2. Phát triển thương mại dịch vụ - du lịch:Phát triển ngành với tốc độ tăng trưởng đạt 12,7% thời kỳ 1998 - 2000, 13,7% thời kỳ 2001 - 2005 và 12% thời kỳ 2006 - 2010.
Thương mại:Đẩy mạnh mọi loại hình hoạt động thương mại và dịch vụ đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của các tầng lớp dân cư.
Củng cố và sắp xếp lại các DNNN chủ yếu nắm khâu bán buôn, chi phối bán lẻ. Khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia lưu thông hàng hóa đến các vùng nông thôn, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa.
Đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu, có chiến lược đầu tư cho một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực, để có sức cạnh tranh, tạo chỗ đứng lâu dài trên thị trường quốc tế như: Gỗ tinh chế, cà phê, cao su v.v ...
Xây dựng thêm một số trung tâm thương mại tổng hợp ở các khu vực trọng tâm như: Trà Bá, Biển Hồ, Chư Á...
Phát triển du lịch:Hướng phát triển trên cơ sở khai thác tài nguyên cảnh quan sinh thái, di sản văn hóa dân tộc đồng thời gắn với các tỉnh bạn trong vùng. Các sản phẩm du lịch chủ yếu là: du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí, tham quan nghiên cứu và văn hóa lễ hội...
- Hình thành các khu công viên văn hóa ở nội thị và ngoại thị, hợp tác hóa chặt chẽ với các tỉnh trong vùng để đa dạng các loại hình du lịch, tạo thành các tuyến du lịch phong phú.
- Trước mắt nâng cấp, mở rộng công viên Diên Hồng, xây dựng lâm viên Biển Hồ... cải tạo và nâng cấp hệ thống khách sạn đủ tiêu chuẩn thu hút khách du lịch trong nước và quốc tế.
Phát triển dịch vụ tài chính - ngân hàng:Tăng cường tạo các nguồn thu, tạo được thị trường vốn, tăng thêm các điểm giao dịch thu hút vốn và cho vay vốn. Mở rộng hình thức bảo hiểm và giảm các thủ tục phiền hà không cần thiết, thu hút được nhiều người mua bảo hiểm.
Phát triển dịch vụ vận tải hàng không và đường bộ, đẩy mạnh dịch vụ bưu chính, viễn thông.
3. Phát triển nông lâm nghiệp thị xã:Phấn đấu mức tăng trưởng toàn ngành 6% thời kỳ 1998 - 2000 và 5 - 5,5% thời kỳ 2001 - 2010. Phát triển nông nghiệp thị xã theo hướng sản xuất hàng hóa, ngày càng tăng về rau - quả, thực phẩm và hoa cho thị xã tạo hệ sinh thái ổn định bền vững. Sử dụng có hiệu quả đất nông nghiệp, tập trung đi vào thâm canh tăng vụ, chuyển đổi cơ cấu cây trồng hợp lý, áp dụng các thành tựu khoa học và công nghệ sinh học vào sản xuất. Mở rộng mạng lưới chế biến, bảo quản nông sản và phòng trừ dịch bệnh cho cây trồng, con vật nuôi.
Về trồng trọt:Đến năm 2000 mức sản lượng lương thực quy thóc từ 15 - 16 nghìn tấn và đến năm 2010: 16 - 17 nghìn tấn.
Nghiên cứu quy hoạch chi tiết vùng chuyên canh rau quả, thực phẩm hình thành vùng rau quả, cây thực phẩm ở các phường ngoại vị và các xã ven đô. Hình thành vùng cây cao su (600 - 800ha), cây cà phê 2.200 - 2.400ha, cây hồ tiêu 150ha. Bố trí cây ăn quả 500 ha để trồng các loại cây như: Sầu riêng, nhãn, cam... trên các vùng đất các xã ngoại thị.
Chăn nuôi:Theo phương thức hộ gia đình, sử dụng cả các phụ phẩm của nông nghiệp để chăn nuôi, đàn bò được bố trí ở vùng ven.
Đến năm 2000 đàn trâu bò có 20.000 con, đàn lợn 28.000 con, đến năm 2010 có 21.000 -22.000 con trâu bò, 3000 - 35.000 con lợn.
Đẩy mạnh công tác khuyến nông, phòng trừ dịch bệnh cho các loại gia súc, gia cầm phục vụ nhu cầu về thực phẩm cho thị xã.
Về lâm nghiệp:Quản lý bảo vệ cho được diện tích rừng hiện có. Trồng rừng phòng hộ môi trường, trồng cây phong cảnh và các điểm tham quan, du lịch, nghỉ dưỡng và các cây xanh công viên bằng các loại cây lâu năm bản địa và nhập nội.
4. Ưu tiên xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, tương đối hiện đại nhằm tạo dựng mối liên kết phát triển bền vững có hiệu quả giữa các phường trong thị xã, giữa thị xã với các nơi khác trong và ngoài tỉnh:
4. 1. Phát triển mạng giao thông:Nâng cấp mở rộng các quốc lộ 19, 1 Đề nghị trung ương sớm xây dựng trục xa lộ Bắc - Nam qua Pleiku, mở rộng và xây dựng đường tránh qua thị xã, nâng cấp mở rộng sân bay Pleiku.
Bến xe ô tô liên tỉnh được chuyển đổi về phía Đông gần ngã ba đường tránh (phía Đông) gắn với đường giao thông đối ngoại.
Nghiên cứu hình thành mạng lưới các bãi đỗ xe ở các đầu mối giao thông, trên từng cụm phường để tạo nơi đỗ xe thuận lợi, không gây ảnh hưởng đến giao thông.
Giao thông nội thị sẽ được quy hoạch theo dạng đường ô vuông kết hợp với tự do theo đặc điểm địa hình. Hình thành thêm các tuyến mới ở phía Đông, phía Bắc và Nam. Từng bước nâng cấp mở rộng và xây dựng thêm các tuyến nội thị và các tuyến đường vành đai.
4. 2. Quy hoạch cấp điện:Phấn đấu đưa điện năng tiêu thụ bình quân đầu người từ 360 KW/h/ng/năm năm 1997 lên 510 KWh/ng/năm vào năm 2000 và 700 KWh/ng/năm vào năm 2010.
Cải tạo nâng cấp và xây dựng lưới điện đảm bảo phụ tải cho từng thời kỳ trong các giai đoạn phát triển của đô thị.
4. 3. Quy hoạch phát triển thông tin liên lạc:Hiện đại hóa hệ thống thông tin liên lạc phù hợp với chương trình của quốc gia. Phấn đấu đến năm 2000 có 9 - 10 máy/100 dân và đến năm 2010 có 12 - 14 máy/100 dân.
Dùng hệ thống cáp ngầm, thi công các tuyến vi ba AWA cho toàn tỉnh đạt 100% toàn mạng liên lạc nội ngoại tỉnh.
Phối hợp sử dụng tuyến cáp quang được nối từ Pleiku đi toàn quốc với chất lượng chuẩn, trong suốt và dung lượng vô hạn, hình thành xa lộ thông tin vươn xa.
4. Quy hoạch cấp, thoát nước:
- Về cấp nước: Cần cải tạo nâng cấp Nhà máy Nước Pleiku có công suất: 20.000 m3/ng.đ. Xây dựng thêm các bể chứa, đài điều hòa, trạm bơm và đường ống phân phối nước đến các cụm phường xã.
Kết hợp nhiều nguồn vốn: Viện trợ UNICEF, vốn ĐCĐC, chương trình nước sạch nông thôn để xây dựng các hệ thống nước tự chảy, giếng khoan, giếng đào, bể lọc để đến năm 2000 có 70% và đến năm 2010: 100% số dân nông thôn được dùng nước sạch.
- Về thoát nước: Xây dựng hệ thống thoát nước, nước bẩn phải được xử lý cục bộ theo tiêu chuẩn vệ sinh cho phép trước khi xả vào hệ thống chung.
5. Phát triển nguồn ngân lực, các lĩnh vực xã hội, tạo việc làm, tăng thu nhập, nâng cao sức sống nhân dân:
5. 1. Giáo dục - Đào tạo:Được coi là một trong những nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu và phải đi trước một bước nâng cao được dân trí cho toàn dân, đào tạo được lớp người có đủ kiến thức, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Huy động trẻ em vào học lớp 1 từ 96% trở lên; 100% học sinh tiểu học học đủ môn theo chương trình quy định, 100% học sinh tiểu học được vào lớp 6. Hoàn thành phổ cập trung học cơ sở vào năm 2000 ở các địa bàn phường xã có điều kiện; 40% học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông được đỗ vào cao đẳng, đại học và trung học chuyên nghiệp, số còn lại vào học nghề.
Phấn đấu đưa trường CĐSP thành trường đại học cộng đồng.
Tăng cường đầu tư các trang thiết bị dạy học, ngày càng tiến tới hiện đại hóa. Đào tạo đội ngũ cán bộ của ngành.
5. 2. Về y tế:Giảm tỷ lệ mắc bệnh do các bệnh truyền nhiễm gây dịch và các bệnh do ký sinh trùng. Năm 2000 có trên 95% trẻ dưới 1 tuổi tiêm đủ liều 6 loại vác xin phòng 6 bệnh truyền nhiễm thường gặp, tiến tới thanh toán các bệnh xã hội, hạn chế tối đa nhiễm HIV/AIDS.
Đến năm 2000 có trên 60% các trạm y tế xã, phường có bác sĩ, 100% trạm y tế có nữ hộ sinh hoặc y sĩ sản nhi, 100% tổ dân phố, thôn, bản có nhân viên y tế.
5. 3. Phát triển văn hóa, thông tin, thể thao:Giữ gìn và phát huy truyền thống bản sắc văn hóa dân tộc Tây Nguyên gắn với xây dựng nếp sống văn hóa lành mạnh. Thực hiện tốt việc bảo tồn, bảo tàng, tu bổ các di tích lịch sử, các công trình văn hóa gắn với phát triển du lịch, giáo dục truyền thống cho thanh thiếu niên và nhi đồng.
Từng bước nâng cấp hệ thống truyền hình, đài, trạm truyền thanh từ thị xã đến xã, phường. Chú trọng phát triển hệ thống thông tin, phương tiện truyền thanh, truyền hình và các hình thức tuyên truyền giáo dục phù hợp và có hiệu quả.
Xây dựng một nhà hát lớn tại trung tâm thị xã và khu liên hợp thể thao Hoa Lư đủ tiêu chuẩn thi đấu quốc gia, nâng cấp sân vận động Pleiku, đầu tư hoàn chỉnh khu văn hóa Diên Hồng, khu văn hóa thể thao Biển Hồ, Trà Bá.
5. 4. Lao động, giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo:Dự báo nhân khẩu trong độ tuổi lao động đến năm 2000 có khoảng 95 nghìn người, năm 2010 có 144 nghìn người.
Số lao động chưa có việc làm theo dự báo đến năm 2000 có khoảng 3,18 nghìn người và đến năm 2010 khoảng 3,8 nghìn người chiếm 4,0% và 3,7% lao động cần bố trí việc làm vào năm 2000 và 2010. Vì vậy: bằng các biện pháp tổng hợp cả về kinh tế, truyền thông, xúc tiến việc làm để giải quyết việc làm cho người lao động. Một mặt phát triển sản xuất đa dạng trong các thành phần kinh tế để thu hút lao động, mặt khác, thực hiện các dự án như các dự án của chương trình 120 cùng các chương trình quốc gia khác để giải quyết việc làm, tạo điều kiện cho họ có công ăn việc làm và nâng cao đời sống.
Đầu tư xây dựng các xã vùng ven để từng bước nâng cao dần đời sống về mọi mặt của đồng bào các dân tộc, thu hẹp dần khoảng cách giữa nông thôn và thành thị.
Thực hiện tốt chương trình xóa đói giảm nghèo, huy động mọi nguồn lực của các cấp, các ngành, tạo điều kiện giúp đỡ hộ đói nghèo phát triển sản xuất, kinh doanh để họ vươn lên.
III - NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU:
Căn cứ vào nội dung của quy hoạch tổng thể đã được phê duyệt, cần phải có những giải pháp đồng bộ, phù hợp có hiệu quả nhằm huy động tối đa nội lực và nguồn lực từ bên ngoài phục vụ cho công cuộc phát triển kinh tế - xã hội.
1. Huy động vốn đầu tư:Để đáp ứng được nhu cầu đầu tư 10.893 tỷ đồng trong giai đoạn 1998 - 2010 cần phải có hệ thống biện pháp huy động vốn một cách tích cực, tập trung vào các nguồn vốn chủ yếu sau:
+ Khả năng nguồn vốn tích lũy nội bộ nền kinh tế thời kỳ 1998 - 2010 đáp ứng được 48,5%, nguồn vốn này gồm:
- Nguồn vốn đầu tư từ ngân sách huy động được khoảng 3.270 tỷ đồng, đáp ứng được khoảng 30% tổng nhu cầu vốn đầu tư.
- Nguồn vốn đầu tư từ các doanh nghiệp và từ dân: Trong thời gian tới nguồn vốn này giữ vai trò ngày càng lớn, phấn đấu huy động được khoảng 2.017 tỷ đồng, chiếm khoảng 18,5% tổng nhu cầu vốn đầu tư. Ngoài việc đầu tư tái sản xuất mở rộng, cần huy động khả năng đóng góp của các doanh nghiệp vào phát triển kết cấu hạ tầng. Nguồn vốn của dân là một lực hết sức tiềm tàng trong dân cư cần được huy động tốt trong giai đoạn phát triển tới.
+ Nguồn vốn vay tín dụng: Thu hút khoảng 2.521 tỷ đồng, chiếm 23,2% nhu cầu đầu tư.
+ Nguồn vốn thu hút từ bên ngoài: Khoảng 3.085 tỷ đồng chiếm 28,3% nhu cầu đầu tư. Cần thực hiện các giải pháp khuyến khích để từng bước thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước, tạo điều kiện ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại, mở rộng thị trường, tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực như: Sản xuất xi măng, vật liệu xây dựng, chế biến nông lâm sản, hình thành các khu công nghiệp, phát triển thương mại, du lịch, dịch vụ...
- Nhóm cơ chế, chính sách về kinh tế:
Thực hiện chính sách khuyến khích kinh tế như: Miễn, giảm thuế, cho vay tín dụng với lãi suất thấp... đối với những doanh nghiệp, ngành tạo ra sản phẩm có sức cạnh tranh, đầu tư đổi mới công nghệ, sản xuất các sản phẩm qua chế biến, nhất là chế biến tinh.
- Nhóm cơ chế, chính sách về hành chính, tập trung vào:
- Có chính sách thưởng phạt rõ ràng đối với tất cả các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hàng hóa chấp hành đúng pháp luật và các quy định của Nhà nước, có đóng góp xây dựng thị xã Pleiku.
- Thực hiện kiểm tra bắt buộc về chất lượng của một số mặt hàng có giá trị lớn như xi măng, cà phê, cao su v.v... để giữ uy tín và tăng sức cạnh tranh trên thị trường.
2. Ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới:vào các lĩnh vực của đời sống xã hội như sản xuất xi măng, vật liệu xây dựng, chế biến nông lâm sản chất lượng cao. Lựa chọn và đưa vào sản xuất những giống cây trồng, vật nuôi cho năng suất cao, khả năng kháng bệnh tốt, ứng dụng công nghệ sau thu hoạch.
Có chính sách thu hút, đãi ngộ thỏa đáng để sử dụng có hiệu quả và bổ sung nguồn cán bộ khoa học kỹ thuật.
3. Phát huy sức mạnh tổng hợp của các thành phần kinh tế:
- Khuyến khích và hỗ trợ các thành phần kinh tế hợp tác xã, kinh tế tư nhân, cá thể phát triển sản xuất kinh doanh theo luật định.
- Sắp xếp đổi mới và cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước.
4. Tổ chức thực hiện quy hoạch:Công khai hóa quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội cho toàn cầu và thu hút các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài thực hiện quy hoạch. Thường xuyên nghiên cứu, điều chỉnh bổ sung quy hoạch cho phù hợp với tình hình và nhiệm vụ mới. Cụ thể hóa quy hoạch bằng cách quy hoạch chi tiết như quy hoạch xây dựng, quy hoạch cơ sở hạ tầng, quy hoạch khu dân cư đô thị, quy hoạch khu công nghiệp, các kế hoạch trung hạn, ngắn hạn, các chương trình, dự án ưu tiên đầu tư...
Điều 2: Giao cho UBND thị xã Pleiku chịu trách nhiệm quản lý lưu trữ đề án để khai thác sử dụng có hiệu quả, phục vụ cho việc hoạch định, xây dựng các kế hoạch 5 năm và kế hoạch hàng năm của thị xã. Các ngành khai thác sử dụng phục vụ cho việc xây dựng quy hoạch và kế hoạch phát triển của ngành trên địa bàn lãnh thổ Pleiku. Trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện cần tiếp tục nghiên cứu để có những bổ sung điều chỉnh kịp thời nhằm phát huy kinh tế - xã hội đúng hướng, đạt hiệu quả cao.
Điều 3: Chánh Văn phòng UBND tỉnh, Chủ tịch UBND thị xã Pleiku, Giám đốc các sở, ban, ngành, Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị có liên quan chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.
Quyết định này có hiệu lực từ ngày ký.