|
UBND TỈNH BÌNH PHƯỚC Số: 04/2006/QĐ-UBND |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------------------------- tỉnh Bình Phước, ngày 11 tháng 01 năm 2006 |
Về việc phê duyệt Đề án Chương trình xoá đói, giảm nghèo tỉnh Bình Phước giai đoạn 2006-2010.
Căn cứ Luật Tổ chức HĐND và UBND ngày 26/11/2003;
Căn cứ Nghị quyết số 20/2005/NQ - HĐND ngày 30/11/2005 của Hội đồng nhân dân tỉnh được thông qua tại kỳ họp thứ 5, khóa VII về việc thông qua đề án xoá đói, giảm nghèo giai đoạn 2006 - 2010;
Xét đề nghị của Thường trực Ban chỉ đạo Chương trình Quốc gia xoá đói giảm nghèo và việc làm tỉnh tại Tờ trình số:04/TTr -LĐTBXH, ngày 05 tháng 01 năm 2006,
Điều 1. Nay phê duyệt Đề án chương trình xoá đói, giảm nghèo tỉnh giai đoạn 2006 - 2010 (đính kèm đề án).
Điều 2. a/ Giao Sở Lao động -TB&XH trên cơ sở đề án này, tiến hành phối hợp các Sở, ngành chức năng xây dựng kế hoạch tham mưu cho UBND tỉnh tổ chức triển khai thực hiện.
b/ Giao Sở Kế hoạch và Đầu tư căn cứ đề án đã được phê duyệt đưa vào chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội hàng năm của tỉnh.
c/ Giao Sở Tài chính cân đối, bố trí nguồn kinh phí để thực hiện đề án.
Điều 3. Các ông (bà) Chánh Văn phòng UBND tỉnh, Giám đốc Sở Lao động - TB&XH, Sở Tài chính, Sở Kế hoạch & Đầu tư, các thành viên BCĐ chương trình xóa đói, giảm nghèo - Việc làm tỉnh, Chủ tịch UBND các huyện, thị xã, thủ trưởng các cơ quan có liên quan căn cứ Quyết định thi hành kể từ ngày ký./.
TM. ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH
CHỦ TỊCH
(Đã ký)
Nguyễn Tấn Hưng
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC BAN CHỈ ĐẠO CHƯƠNG TRÌNH MTQG XĐGN&VL
ĐỀ ÁN
CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO GIAI ĐOẠN 2006 - 2010
TỈNH BÌNH PHƯỚC
Đồng Xoài, tháng 10 năm 2005
PHẦN I
ĐÁNG GIÁ CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO GIAI ĐOẠN 2001-2005
I. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Sau khi tổng kết, đánh gía chương trình xoá đói giảm nghèo giai đoạn 1998-2000 cho thấy kết qủa đạt được cơ bản sau: xóa 100% hộ đói, giảm 8.622 hộ nghèo, đưa tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh từ 17,82% (22.991 hộ) đầu năm 1998 xuống còn mức 10,15% (14.369 hộ nghèo) trên tổng số hộ toàn tỉnh vào cuối năm 2000.
Vào đầu năm 2001 tỉnh đã tổ chức tổng điều tra lại hộ nghèo kết qủa thu được như sau: có 15.327 hộ chiếm 10,15% số hộ toàn tỉnh. Ban chỉ đạo đã xây dựng những giải pháp gắn chặt vào các nguyên nhân đói nghèo và ban hành một số chính sách nhằm thực hiện chương trình đạt hiệu qủa cao như:
- Nghị quyết số 124/2001/NQ - HĐ của Hội đồng nhân dân tỉnh khóa VI kỳ họp thứ IV (từ ngày 17/7/2001 đến 19/7/2001) về việc ban hành Đề án Chương trình Quốc gia Việc làm giai đoạn 2001-2005.
- Nghị quyết số 05/NQ-TU ngày 28/02/2003 của Tỉnh uỷ về lãnh đạo và đẩy mạnh công tác Xuất khẩu lao động giai đoạn 2003 - 2010.
- Chương trình số 32/CT-UB ngày 17/9/2002 của UBND tỉnh về thực hiện Chương trình xoá đói giảm nghèo giai đoạn 2001 - 2005.
- Kế hoạch số 31/KH - UB ngày 17/9/2002 về việc thực hiện Chương trình xoá đói giảm nghèo tỉnh Bình Phước năm 2002 - 2003.
Từ những chủ trương trên đã xác định các chính sách thực hiện công tác xoá đói giảm nghèo cụ thể như sau:
+ Giải quyết cho mỗi xã một định suất cán bộ chuyên trách xoá đói giảm nghèo với mức phụ cấp 200.000đ/người/tháng.
+ Tăng cường cán bộ chuyên trách của Sở Lao động - TB&XH, Phòng Nội vụ - Lao động - TB&XH huyện cho các xã dặc biệt khó khăn và các xã nghèo với thời hạn tăng cường từ 1 đến 2 năm.
+ Phân công mỗi Doanh nghiệp hỗ trợ giúp đỡ cho một xã nghèo.
+ Thực hiện chương trình đưa bác sỹ quân y của Tỉnh đội hỗ trợ cho các xã đặc biệt khó khăn và kết hợp Dự án trí thức trẻ tình nguyện tham gia phát triển nông thôn miền núi.
+ Các chính sách về tín dụng ưu đãi xoá đói giảm nghèo, chính sách về đất đai, trợ giúp pháp lý, hỗ trợ nhà ở, định canh định cư.
+ Hỗ trợ cây, con giống phục vụ sản xuất nông nghiệp.
+ Các chính sách về giáo dục, y tế.
II. KẾT QỦA ĐẠT ĐƯỢC CỦA CHƯƠNG TRÌNH
1. Đánh giá mục tiêu và nhiệm vụ đề ra:
Từ đầu năm 2001 đến tháng 6/2005 toàn tỉnh đã giảm được 1094 hộ nghèo, đưa tỷ lệ hộ nghèo từ 10,15% vào đầu năm 2001 xuống còn 4,98% (7.521 hộ) theo chuẩn cũ.
Vậy tỷ lệ theo đà giảm hộ nghèo thì cuối năm 2005 sẽ đạt chỉ tiêu giảm nghèo còn 4% (chỉ tiêu phấn đấu đã được các huyện, thị xã thực hiện), vượt 2,2% Nghị quyết HĐND tỉnh; vượt mục tiêu kế hoạch xoá đói giảm nghèo 05 năm của tỉnh là 01%.
Số hộ đói kinh niên không còn trên địa bàn, việc cứu đói giáp hạt hàng năm được thực hiện kịp thời cho hơn 7.000 hộ.
Đến nay, việc đầu tư nâng cấp các công trình thiết yếu cho các xã nghèo, xã đặc biệt khó khăn được quan tâm đặc biệt do đó đảm bảo 100% đủ cơ sở hạ tầng thiết yếu (đã giảm 23/43 xã đặc biệt khó khăn).
2. Những kết qủa từ các chính sách và dự án của chương trình:
- Trong giai đoạn đã đào tạo 6.278 lượt cán bộ xoá đói giảm nghèo thôn, ấp đến cấp tỉnh, nguồn kinh phí thực hiện trên 800 triệu đồng.
- Chế độ khám chữa bệnh cho người nghèo: Khám chữa bệnh miễn phí được 381.646 lượt người, với tổng kinh phí là 1.953.760.000 đồng. Mua và cấp phát miễn phí thề bảo hiểm y tế (mệnh giá 50.000 đồng/người/năm), cho 138.540 lượt người nghèo, tổng kinh phí 5.425.448.349 đồng.
- Hỗ trợ người nghèo về giáo dục: Thành lập thêm 104 trường học các cấp; sửa chữa 776 phòng họp với kinh phí 18.572 triệu đồng; xây dựng mới 1.463 phòng học với kinh phí 102,799 tỷ đồng (riêng các xã nghèo 447 phòng, kinh phí 23.850 triệu đồng); đầu tư xây dựng trường dân tộc nội trú. Đồng thời thực hiện các chính sách ưu đãi như cử tuyển đào tạo, cấp học bổng cho 5.287 học sinh (kinh phí 265,69 triệu đồng); miễn giảm học phí và các khoản đóng góp khác cho gần 63.428 lượt học sinh các cấp với kinh phí thực hiện là 4.208,3 triệu đổng, hỗ trợ tập vở và dụng cụ học tập cho 3.746 em với kinh phí 165,945 triệu đồng.
- An sinh, xã hội: Thực hiện cứu đói giáp hạt cho 18.156 hộ (79.610 nhân khẩu) với tổng kinh phí là 6.843.778.000 đồng. Hàng năm nhân dịp tết cổ truyền đều tổ chức vận động hỗ trợ hơn 11.000 đối tượng là dân nghèo và đối tượng bảo trợ xã hội đón tết với kinh phí hơn 1,1 tỷ đồng /năm.
- Triển khai xây dựng 4.863 căn nhà tình thương (phụ lục 01 kèm theo). Ngoài ra, sửa chữa 100 căn nhà.
- Hỗ trợ văn hoá, các phương tiện nghe nhìn: Đã xây dựng và củng cố trạm truyền thanh các xã, phủ sóng phát thanh cho 87 xã, phường, thị trấn, cung ứng sách báo về các bưu điện văn hóa xã, cấp 3.200 radio và 180 tivi cho các hộ.
- Hỗ trợ đổng bào đặc biệt khó khăn: hỗ trợ về cây, con giống, gạo, mùng mền... với tổng kinh phí đầu tư 556 triệu đồng. Hỗ trợ định canh định cư cho 10.000 hộ đồng bào dân tộc thiểu số.
- Thực hiện trợ cước, trợ giá cho các mặt hàng như muối iod, phân bón, giống cây trồng, thuốc chữa bệnh, vận chuyển nông sản... với tổng kinh phí thực hiện là 13.835 triệu.
- Tín dụng cho người nghèo: Hỗ trợ phát triển kinh tế hộ gia đình cho nhân dân 43 xã đặc biệt khó khăn. Tổng dư nợ người nghèo vay là 203 tỷ đồng (68.000 lượt hộ), số hộ dư nợ là 39.000 hộ.
- Hỗ trợ đất sản xuất: rà soát lại diện tích 43.185 ha đất các lâm trường giao địa phương quản lý và khai hoang 681 ha xem xét cấp một phần cho hộ nghèo thiếu đất sản xuất.
- Hướng dẫn cách làm ăn, khuyến nông, lâm ngư; hỗ trợ sản xuất, phát triển ngành nghề, tiêu thụ sản phẩm: Mở 03 lớp đào tạo khuyến nông viên cơ sở với 208 lượt người tham gia. Tổ chức 570 lớp tập huấn hướng dẫn kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi... với hơn 27.400 lượt người tham gia. Tổ chức 100 điểm trình diễn lúa nước; chuyển giao 235.000 cây giống; 294 con bò giống lai Sind và đã sinh sản dược 250 bê con; chuyển giao 400 kg cá giống và 08 lồng cá nuôi với 4.000 con/lồng; bàn giao 01 dự án nuôi cá cộng đồng với tổng diện tích 5.000 m2; chuyển giao 08 tấn lúa giống cao sản. Hỗ trợ khai hoang 23 ha đất để trồng lúa nước cho đồng bào dân tộc ở xã Lộc An, huyện Lộc Ninh.
- Phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu: Xây dựng hệ thống cung cấp nước sinh hoạt tại 08 xã, xây dựng gần 201,187 km đường liên huyện, liên xã, xây dựng 471,4 km đường tải điện với tổng vốn đầu tư là 16.826 triệu đồng.
- Giải quyết việc làm, đào tạo nghề, giới thiệu việc làm: Tổ chức đào tạo nghề cho 9.438 lao động gồm các nghề may công nghiệp, lái xe, cơ khí... Giải quyết việc làm mới cho 66.600 lao động.
- Sắp xếp ổn định dân cư được 1.215 hộ dân, với tổng kinh phí là 1.092 triệu đồng.
3. Đánh giá kết quả đạt được:
3.1. Thuận lợi:
- Các cấp ủy Đảng, chính quyền và đoàn thể đã có những quan tâm đặc biệt tới công tác xoá đói giảm nghèo, đồng thời luôn giữ vững đường lối phát triển là duy trì tăng trưởng kinh tế kết hợp với các chính sách và giải pháp xoá đói giảm nghèo đồng bộ có lợi cho người nghèo, có chính sách và giải pháp ưu tiên, ưu đãi cho đồng bào dân tộc, những xã vùng sâu, vùng xa, xã nghèo, xã đặc biệt khó khăn.
- Các ban, ngành, đoàn thể như: Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Chữ thập đỏ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh... tham gia, đóng góp tích cực vào công tác xoá đói giảm nghèo.
- Các tổ chức kinh tế - xã hội, các tỉnh thành bạn quan tâm hỗ trợ cho chương trình xoá đói giảm nghèo của tỉnh về cả nguồn tài chính và kinh nghiệm thực hiện công tác.
- Bên cạnh đó chính sách đối với cán bộ thực hiện công tác xoá đói giảm nghèo cũng được tỉnh chú trọng, quan tâm, đã có hệ thống cán bộ từ cơ sở đến tỉnh. 94/94 xã, phường, thị trấn cán bộ xoá đói giảm nghèo được hưởng phụ cấp 200.000 đồng/người/tháng. Hàng năm, Sở Lao động - TB&XH đã tổ chức tập huấn nâng cao nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác xoá đói giảm nghèo và cán bộ thôn, ấp.
3.2. Những khó khăn tồn tại:
-Tổng số hộ nghèo có giảm nhưng tính bền vững chưa cao: Số hộ thoát nghèo có mức thu nhập còn thấp, chưa có tích lũy; thiếu điều kiện đảm bảo tính bền vững; mặt khác ở các xã đặc biệt khó khăn và các xã nghèo hàng năm đều phụ thuộc vào khí hậu thời tiết, giá cả hàng hoá nông sản. Bên cạnh đó tình trạng di dân tự do ở các nơi khác đến, mà phần lớn là hộ nghèo, hộ khó khăn tìm kiếm đất lập nghiệp, nên công tác xoá đói giảm nghèo ở các địa phương hiện nay rất phức tạp.
- Công tác xây dựng chương trình, kế hoạch xoá đói giảm nghèo phần lớn ở các xã chưa cụ thể và chưa sát thực tế mặc dù nội dung xây dựng, kế hoạch đã được tập huấn, thậm chí ở nhiều xã các năm qua không xây dựng được kế hoạch xoá đói giảm nghèo. Ở những xã có xây dựng kế hoạch, chương trình thì lại mang tính hình thức trên văn bản, vẫn trông chờ ỷ lại cấp trên, còn người nghèo phần lớn là tự thân vận động.
- Tổ chức thực hiện một số chính sách và các dự án lồng ghép còn nhiều bất cập, vướng mắc. Một bộ phận người nghèo chưa thật sự được thụ hưởng các chính sách như: vay vốn ưu đãi (các tổ chức được ngân hàng ủy thác không dám bảo lãnh cho hộ nghèo vay sợ không có khả năng trả vốn); chính sách trợ cước, trợ giá hiệu qủa rất thấp.
- Công tác quản lý hộ nghèo nhiều nơi chưa chặt chẽ, chế độ thông tin báo cáo chưa đầy đủ, rất chậm trể ở cả 3 cấp tỉnh, huyện, xã; một số ngành qua 5 năm thực hiện chưa một lần báo cáo tình hình về thường trực Ban chỉ đạo gây khó khăn trong việc đôn đốc và lãnh đạo điều hành (việc thực hiện báo cáo thường phải đi xin số liệu để xử lý, trong khi biên chế bộ phận chỉ có 02 người). Chưa có sự phối hợp đồng bộ giữa các sở, ban, ngành trong thực hiện cũng như điều hành.
- Đội ngũ cán bộ làm công tác xoá đói giảm nghèo thường xuyên thay đổi, việc bố trí cán bộ chuyên trách chưa đồng bộ, một số nơi cán bộ phải kiêm nhiệm nhiều việc, không nắm chắc đối tượng (Bình Long, Chơn Thành, Bù Đốp), trình độ chuyên môn và kinh nghiệm hạn chế nên đã ảnh hưởng đến hiệu qủa triển khai thực hiện nhiệm vụ.
PHẦN II:
CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TỈNH BÌNH PHƯỚC GIAI ĐOẠN 2006 - 2010
I. THỰC TRẠNG NGHÈO ĐÓI:
Nền kinh tế đang tăng trưởng với xu hướng ngày càng tăng, mức sống người dân ngày một cao hơn, giá cả hàng hoá tiêu dùng cũng tăng lên do đó chuẩn nghèo cũ không còn phù hợp trong giai đoạn mới, tính thu nhập bình quân đầu người qúa thấp không đủ để chi tiêu cho lương thực thực phẩm trong khi vẫn chưa tính đến nhu cầu phi lương thực thực phẩm. Vì vậy việc điều chỉnh chuẩn hộ nghèo mới là hết sức cần thiết. Chuẩn nghèo mới được Chính phủ ban hành tại Quyết định số 170/2005/QĐ - TTg ngày 08/7/2005 cụ thể như sau:
- Khu vực nông thôn: Những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000 đồng/người/tháng (2.400.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo.
- Khu vực thành thị: Những hộ có mức thu nhập bình quân từ 260.000 đồng/người/tháng (3.120.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo.
Qua kết qủa diều tra theo chuẩn mới thì toàn tỉnh hiện có: 19.206 hộ nghèo, chiếm 11,20% trên tổng hộ toàn tỉnh, trong đó:
- Hộ nghèo ở khu vực nông thôn: 17.860 hộ, chiếm 12,22% trên tổng số hộ nông thôn;
- Hộ nghèo ở khu vực thành thị: 1.346 hộ, chiếm 5,31% trên tổng số hộ thành thị;
- Hộ nghèo đồng bào dân tộc thiểu số: 7.665 hộ, chiếm 39,91% trên tổng số hộ nghèo.
* Các nhóm nguyên nhân dẫn đến nghèo đói:(Phụ lục 02).
+ Các nguyên nhân khách quan: Bình Phước là tỉnh chịu hậu quả nặng nề trong chiến tranh và cũng là một tỉnh mới tái lập cho nên mức xuất phát điểm kinh tế thấp. Cơ cấu kinh tế chủ yếu là nông - lâm nghiệp song gía cả nông - lâm sản trong thời gian qua chưa ổn định ảnh hưởng đến sản xuất, thu nhập và mức sống của người dân...;
+ Nguyên nhân chủ quan thuộc về người dân: Theo kết quả khảo sát nguyên nhân dẫn đến nghèo đói tập trung vào các nguyên nhân như: Thiếu vốn chiếm khoảng 55.8% trên tổng số hộ nghèo, thiếu đất sản xuất chiếm 48.7%, thiếu kinh nghiệm làm ăn chiếm 17,2% và hộ có đông người ăn theo chiếm 16,2%. Ngoài ra còn có các nguyên nhân đóng vai trò thứ yếu như: Nghèo do thiếu lao động, việc làm, có người ốm đau, già cả không có khả năng lao động, do tai nạn rủi ro...;
- Số hộ nghèo nhà cửa tạm bợ hoặc không có nhà cửa là 9029 hộ chiếm 47% trên tổng số hộ nghèo;
- Hộ nghèo là dân tộc thiểu số là 7.665 hộ chiếm 39.9% trên tổng số hộ nghèo toàn tỉnh;
- Vùng nông thôn có tỷ lệ hộ nghèo (12,2%) gấp 2,3 lần thành thị (5.31%).
II. QUAN ĐIỂM VÀ NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG:
Xoá đói giảm nghèo là một trong những chính sách ưu tiên hàng đầu trong qúa trình phát triển kinh tế - xã hội, vì vậy chính sách phát triển kinh tế - xã hội đều hướng vào người nghèo, xã nghèo, tạo động lực, tạo tiền đề cho xoá đói giảm nghèo.
Giảm nghèo giai đoạn 2006 - 2010 phải đáp ứng yêu cầu: giảm nghèo toàn diện hơn, công bằng hơn, bền vững hơn, hội nhập hơn, đồng bộ hơn vì vậy các cơ chế chính sách, dự án của chương trình cần tập trung vào:
- Tạo cơ hộ phát triển sản xuất để hộ nghèo tự lực vượt nghèo, cải thiện việc tiếp cận các dịch vụ xã hội thông qua các chính sách trợ giúp về phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất, đất đai, tín dụng, khuyến nông, dạy nghề tạo việc làm, nhân rộng các mô hình có hiệu qủa; trợ giúp y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch, phát triển cơ sở phục vụ dân sinh;
- Xã hội hoá hoạt động giảm nghèo: nhà nước, xã hội và người dân chia sẻ trách nhiệm, việc gì hộ nghèo làm được thì nhà nước tạo điều kiện cho hộ nghèo tự làm, việc gì không làm được thì nhà nước hỗ trợ, đảm bảo tính bền vững lâu dài... đa dạng hoá, kết hợp các nguồn lực từ nhân dân, cộng đồng, nhà nước, quốc tế, phải ưu tiên cho những xã nghèo, vùng nghèo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
III. MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI CỦA CHƯƠNG TRÌNH:
1. Mục tiêu tổng quát:
- Giảm tỷ lệ theo chuẩn mới (QĐ 170/2005/QĐ/TTg) từ 11,20% (19.206 hộ) năm 2005 xuống còn 6% (10.290 hộ) vào cuối năm 2010, trong giai đoạn giảm 8.916 hộ nghèo;
- 100% hộ đói giáp hạt, thiên tai được cứu đói kịp thời;
- Phấn đấu hạn chế hộ nghèo đã được xoá bị tái nghèo;
- Hỗ trợ người nghèo thật sự tiếp cận các dịch vụ xã hội, dịch vụ sản xuất một cách dân chủ và bình dẳng, cải thiện mức sống của các hộ nghèo nhằm hạn chế tốc độ gia tăng khoảng cách chênh lệch về thu nhập, mức sống giữa thành thị và nông thôn;
- Các cơ sở hạ tầng luôn được tu bổ.
2. Mục tiêu cụ thế:
- Giảm hộ nghèo từng năm: (Phụ lục 03 kèm theo).
- Phấn đấu các xã đặc biệt khó khăn được đầu tư các công trình hạ tầng cơ sở thiết yếu;
- Phấn đấu ít nhất 70% (13.400 hộ) hộ nghèo được vay vốn tín dụng phát triển sản xuất - dịch vụ;
-Đảm bảo 100% người nghèo được phát thẻ bảo hiểm y tế và được khám chữa bệnh ở các cơ sở y tế nhà nước;
- Thực hiện quy định miễn giảm học phí và những khoản đóng góp đối với con em hộ nghèo;
- Tổ chức tập huấn khuyến nông, lâm, ngư - chuyển giao khoa học kỹ thuật cho 90% người nghèo;
- Giải quyết việc làm cho 125.000 lao dộng; ưu tiên giải quyết cho những người nghèo có nhu cầu tiếp cận với chương trình;
- Xây dựng 7576 căn nhà tình thương hộ nghèo.
3. Đối tượng:- Người nghèo, hộ nghèo, hộ mới thoát nghèo.
- Xã nghèo, xã đặc biệt khó khăn, biên giới.
4. Phạm vi:Chương trình thực hiện trên phạm vi toàn tỉnh, song từng chính sách, dự án đều có phạm vi và chi tiết cụ thể do từng sở, ban, ngành, đoàn thể là thành viên Ban chỉ đạo xây dựng theo chức năng, nhiệm vụ được quy định cho cơ quan mình.
IV. CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN:
1. Các chính sách:
1.1. Tín dụng cho hộ nghèo:Đảm bảo hộ nghèo có nhu cầu vay vốn được vay vốn phát triển sản xuất, tăng mức vay, thời hạn phù hợp với chu kỳ sản xuất kinh doanh (tối đa là 05 năm trên một lần vay); đơn giản thủ tục vay, với hình thức tín chấp là chủ yếu thông qua nhóm tín dụng tiết kiệm hoặc nhóm tương trợ tự nguyện của người nghèo, các đoàn thể xã hội nhằm giúp người nghèo nâng cao thu nhập, tự vượt nghèo. Đặc biệt ưu tiên cho những chủ hộ nghèo là nữ, đồng bào dân tộc thiểu số... Kết hợp chặt chẽ tín dụng với hoạt động tiết kiệm, giám sát chặt chẽ việc sử dụng vốn; cung cấp tín dụng với khuyến nông, đào tạo nghề, hỗ trợ đất sản xuất và tiêu thụ sản phẩm để đồng vốn có hiệu qủa.
1.2. Hỗ trợ y tế cho người nghèo:
Hỗ trợ cho người nghèo tiếp cận với các dịch vụ y tế: Cấp bảo hiểm y tế, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, lồng ghép với chương trình mục tiêu quốc gia về y tế nhằm củng cố mạng lưới y tế cơ sở, tăng cường đội ngũ y, bác sĩ, các trang thiết bị y tế.
Phát triển và sử dụng có hiệu qủa qũy khám chữa bệnh miễn phí cho người nghèo, hỗ trợ một phần viện phí đối với người cận nghèo, khó khăn cơ nhỡ; thực hiện cơ chế thực thanh, thực chi khi người nghèo đi khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế của Nhà nước.
1.3. Hỗ trợ giáo dục cho người nghèo:
Hỗ trợ con em hộ nghèo được học tập bình đẳng với các trẻ em khác; miễn giảm học phí và các khoản đóng góp; hỗ trợ sách giáo khoa, vở viết và dụng cụ học tập; hỗ trợ học phí khi học ở các trường dân lập, bán công. Chú trọng công tác giáo dục, đào tạo cho học sinh nghèo là con em của đồng bào dân tộc thiểu số.
Duy trì, nâng cấp và bổ sung phòng học ở các cấp học, đảm bảo đủ phòng học. Tăng cường cung cấp các thiết bị, phương tiện phục vụ cho công tác dạy và học.
Đơn giản hóa thủ tục nhập học với con em hộ nghèo (dùng sổ hộ nghèo).
Huy động toàn thể nhân dân, các tổ chức chính trị, kinh tế, xã hội đóng góp qũy khuyến học ở từng địa phương.
1.4. Chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ nghèo, đời sống khó khăn:Căn cứ vào tình hình thực tế quỹ đất của từng địa phương để giao đất cho các hộ không có đất sản xuất và đất ở. Tạo mọi điều kiện cung cấp nước sạch sinh hoạt cho hộ nghèo ở những khu vực vùng cao, khu vực khó khăn về nguồn nước sinh hoạt như đào giếng và xây dựng bể chứa, trên nguyên tắc hỗ trợ trực tiếp hộ gia đình quản lý và sử dụng đúng với mục đích, nhà nước giám sát.
Đối với hộ nghèo không có nhà ở hoặc đang ở trong những căn nhà xiêu vẹo, dột nát không có khả năng làm nhà được hỗ trợ nhà (phụ lục 05 kèm theo).
1.5. Chính sách An sinh xã hội, hỗ trợ người yếu thế:Hỗ trợ trực tiếp vật chất cho những người bị rủi ro do thiên tai, bão lũ và nhóm người yếu thế trong xã hội.
1.6. Hỗ trợ văn hoá thông tin:Nâng cấp và bổ sung xây dựng bưu điện văn hóa xã; cung cấp các sách báo, ấn phẩm văn hoá; ưu tiên những sách báo tuyên truyền chủ trương, đường lối, hướng dẫn kỹ thuật Nông - lâm - ngư nghiệp phục vụ cho nhân dân.
2. Dự án:
2.1. Dự án hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng:Sửa chữa, tu bổ, nâng cấp các cơ sở hạ tầng thiết yếu phục vụ sản xuất và dân sinh ở các xã, ưu tiên xã đặc biệt khố khăn, xã nghèo; tiến tới đầu tư công trình hạ tầng qui mô nhỏ, các công trình phục vụ sản xuất với phương châm “ Xã có công trình, dân có việc làm, tăng thu nhập góp phần giảm nghèo”. Bảo đảm có sự tham gia của người dân, người dân tự chọn lựa công trình đầu tư, đóng góp tiền và ngày công; cộng đồng dân cư và các đoàn thể tham gia giám sát.
Phân cấp cho xã làm chủ đầu tư cùng với việc nâng cao năng lực cán bộ trực tiếp triển khai và quản lý chương trình.
2.2. Dự án khuyến nông lâm ngư, hỗ trợ sản xuất, tiêu thụ sản phẩm:
Hỗ trợ người nghèo về cách làm ăn kinh tế gia đình để họ biết xây dựng kế hoạch và bố trí sản xuất hợp lý trên cơ sở áp dụng những tiến bộ kỹ thuật để tăng năng suất cây trồng, vật nuôi; đồng thời giúp họ tiếp cận với thông tin thị trường để các sản phẩm sản xuất ra có thể bán với gía cả phù hợp.
Tăng cường mạng lưới khuyến nông trên cơ sở để tiếp cận trực tiếp với các hộ nghèo nhằm hỗ trợ cho người nghèo một cách thuận lợi và dễ dàng hơn.
Đổi mới nội dung và phương thức đào tạo, tập huấn; tăng cường các lớp tập huấn đầu bờ và mô hình trình diễn (cầm tay chỉ việc).
Khuyến khích các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đầu tư, chế biến các mặt hàng nông sản chủ lực: Điều, tiêu, cao su...
2.3. Dự án dạy nghề gắn với tạo việc làm cho người nghèo:
Trợ giúp người nghèo có được tay nghề cần thiết thông qua các dự án đào tạo ngắn hạn và dài hạn để phục vụ sản xuất lao động; dạy nghề để chuyển đổi nghề từ nông nghiệp sang các ngành khác như: Công nghiệp, dịch vụ...
Đẩy mạnh công tác xã hội hóa trong đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho người lao động; mở rộng thị trường lao động, hướng tới xuất khẩu lao động, cung ứng lao động.
Từng bước nâng cao năng lực và hiện đại hóa các Trung tâm Dạy nghề, Trung tâm Dịch vụ việc làm.
2.4. Dự án đào tạo cán bộ:
-Nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác xoá đói giảm nghèo ở các cấp, đặc biệt là cấp thôn, ấp.
- Thường xuyên tổ chức tập huấn cán bộ làm công tác xoá đói giảm nghèo, nâng cao nhận thức về phương pháp tiếp cận, giải quyết đổi nghèo; xây dựng và tổ chức thực hiện dự án; kỹ năng theo dõi, giám sát, đánh gía chương trình.
- Hoàn thiện và bổ sung bộ tài liệu tập huấn sát với tình hình thực tế của địa phương.
- Ban hành chính sách hỗ trợ cán bộ thực hiện chương trình từ xã đến tỉnh.
2.5. Nhân rộng mô hình xoá đói giảm nghèo hiệu qủa:
- Nhân rộng các mô hình liên kết giữa các hộ nghèo, các doanh nghiệp với hộ nghèo, đoàn thể với hộ nghèo, xã nghèo với xã nghèo và vùng nghèo.
- Duy trì và mở rộng các mô hình có hiệu qủa; đúc kết, rút kinh nghiệm để triển khai phù hợp với từng vùng; khuyến khích địa phương và các tổ chức nhân rộng các mô hình xoá đói giảm nghèo khả thi.
2.6. Định canh, định cư, xây dựng kinh tế mới và ổn định di dân tự do:
- Quy hoạch vùng và bố trí dân cư phù hợp, lồng ghép với các dự án định canh, định cư, xây dựng kinh tế mới nhằm tạo điều kiện để các hộ phát triển sản xuất, ổn định đời sống.
- Xây dựng phương án, biện pháp quản lý hỗ trợ các hộ di dân theo kế hoạch và xử lý những hộ di dân ngoài kế hoạch nhằm hạn chế tối đa tình trạng phát sinh đối tượng nghèo đói trong tỉnh.
3. Phát triển nguồn lực trong giai đoạn qua; tiếp tục huy động nguồn lực hỗ trợ tại chỗ và từ bên ngoài:Tiếp tục duy trì và phát triển tốt các nguồn lực đã được thực hiện trong giai đoạn qua như: nguồn giúp nhau vay vốn sản suât ở Hội phụ nữ hơn 1.700 tỷ đồng; 72 tỷ đồng giúp nhau của Hội Nông dân; sự giúp đỡ của Bộ Y tế, Tổng công ty thép Việt Nam...
Tiếp tục tranh thủ các nguồn vốn, sự giúp đỡ của các bộ ngành, tỉnh thành bạn, các tổ chức kinh tế, quốc tế, huy động tối đa nguồn lực để bảo đảm thực hiện đạt các mục tiêu đề ra của chương trình trong giai đoạn 2006 - 2010.
4. Hoạt động tuyên truyền, nâng cao nhận thức:
- Tăng cường hoạt động tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng với các nội dung, hình thức phong phú và đa dạng, phù hợp với tâm lý, tập quán của người dân, nhất là đồng bào dân tộc bản địa (S’tiêng, Mơ nông....) nhằm nâng cao nhận thức và xây dựng ý chí quyết tâm, tự lực vươn lên thoát nghèo bền vững.
- Phải chuyển tải được những mong muốn của người nghèo, người dân tộc thiểu số đến với các sở, ban ngành, đoàn thể của tỉnh để trợ giúp cho họ; mặt khác tuyên truyền, phổ biến dầy đủ những nội dung liên quan đến chương trình xoá đói giảm nghèo.
5. Theo dõi, giám sát và đánh gía chương trình:Để đảm bảo tính khách quan, khoa học trong việc xác định, đánh gía sự biến động của nghèo đói; sự tác động của từng chính sách, dự án và vai trò của các sở, ban ngành, đoàn thể trong việc thực hiện chương trình; các cấp các ngành phải xây dựng hệ thống báo cáo, đánh giá, theo dõi của từng ngành từ dó có các chính sánh, dự án, các biện pháp uốn nắn và hỗ trợ kịp thời.
V. NGUỒN VỐN, CƠ CHẾ, HỆ THỐNG THỰC HIỆN:
1. Tổng kinh phí thực hiện(phụ lục 4): 192.517 triệu đồng.
Trong đó: - Ngân sách Trung ương: 872.585 triệu đồng
- Ngân sách địa phương: 68.768 triệu dồng
- Huy dộng từ cộng đồng: 228.664 triệu dồng
- Nguồn vay từ Ngân hàng thế giới: 22.500 triệu dồng
(Bảng kế hoạch ngân sách địa phương hàng năm kèm theo)
2. Cơ chế vận hành chương trình:
- Các Sở, Ban ngành, đoàn thể chịu trách nhiệm trước Ban chỉ đạo và Chủ tịch UBND tỉnh về hiệu qủa những chính sách, dự án được giao quản lý, triển khai. Ngoài ra chịu trách nhiệm về kết qủa hoạt động của các huyện - thị xã, xã - phường - thị trấn được phân công quản lý; đồng thời có báo cáo kết qủa định kỳ về Sở Lao động - TB&XH (thường trực Ban chỉ đạo).
- Thường trực Ban chỉ đạo chịu trách nhiệm theo dõi, tổng hợp, báo cáo Chủ tịch UBND tỉnh và tổ chức đánh gía chương trình theo định kỳ; thiết lập hệ thống thông tin hai chiều từ thôn ấp, xã, phường đến tỉnh để kịp thời tháo gỡ các vướng mắc trong qúa trình thực hiện và nâng cao hiệu qua giám sát.
- Cấp huyện, thị xã - xã, phường, thị trấn cũng thực hiện theo cơ chế vận hành này.
3. Hệ thống tổ chức chỉ đạo các cấp:
- Kiện toàn Ban chỉ đạo và cơ quan, bộ phận giúp việc từ cấp xã đến tỉnh.
- Ban hành quy chế để cơ quan thường trực và các Sở, ban ngành, đoàn thể có đủ thẩm quyền, năng lực và điều kiện của chương trình tránh tình trạng trách nhiệm không đi đôi với thẩm quyền như giai đoạn vừa qua.
- Bố trí cán bộ chuyên trách có trách nhiệm, năng lực thực hiện công tác xoá đói giảm nghèo. Đây là yếu tố quan trọng để đảm bảo tính mục tiêu của chương trình.
VI. PHÂN CÔNG TRÁCH NHIỆM VÀ BỘ MÁY TỔ CHỨC
1. Sự lãnh đạo của cấp ủy - Đảng, chính quyền:
Các cấp ủy - Đảng và chính quyền cấp tỉnh đến huyện, thị, xã, phường luôn phải đạt mục tiêu xoá đói giảm nghèo là nhiệm vụ hàng đầu, phải xây dựng kế hoạch xoá đói giảm nghèo hàng năm thật cụ thể sát với tình hình từng địa bàn, phải đưa vào nghị quyết cấp ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân; gắn xoá đói giảm nghèo với phát triển kinh tế - xã hội, phải ưu tiên nguồn lực cho xoá đói giảm nghèo.
Thường xuyên theo dõi, chỉ đạo thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội gắn với xoá đói giảm nghèo, vận động nhân dân giúp nhau phát triển kinh tế xoá đói giảm nghèo.
2. Phân công trách nhiệm:Đề nghị Ban thường vụ Tỉnh uỷ, Ủy ban nhân dân tỉnh phân công các đồng chí Ban thường vụ, Tỉnh uỷ viên, lãnh đạo các sở, ban ngành, đoàn thể và các đơn vị doanh nghiệp đóng trên địa bàn tỉnh phụ trách, giúp đỡ các huyện, thị - xã, phường, thị trấn trong công tác xoá đói giảm nghèo.
3. Bộ máy tổ chức:
- Kiện toàn Ban chỉ đạo, điều hành và thực hiện công tác xoá đói giảm nghèo ở các cấp.
Riêng ở cấp tỉnh thành lập Văn phòng Thường trực Ban chỉ đạo chương trình mục tiêu quốc gia Xoá đói giảm nghèo và việc làm đặt tại Sở Lao động - TB&XH.
- Bố trí cán bộ chuyên trách xoá đói giảm nghèo các cấp.
+ Cấp tỉnh: Từ 05 - 08 người.
+ Cấp huyện: Từ 02 - 03 người
+ Cấp xã: 01 người.
* Các cán bộ chuyên trách xoá đói giảm nghèo được tập huấn hàng năm và được hưởng phụ cấp trách nhiệm (theo qui chế hoạt động Ban chỉ đạo “đối với cặn bộ cấp huyện - tỉnh” và Quyết định của UBND tỉnh “đối với cán bộ chuyên trách cấp xã”).
Trên đây là kết qủa thực hiện giai đoạn 2001 - 2005 và đề án thực hiện giai đoạn 2006 - 2010./.