Quay lại

Quyết định 04/2014/QĐ-UBND về việc ban hành Đề án tổ chức lại nghề khai thác hải sản tỉnh Ninh Thuận, giai đoạn 2013 - 2020

UBND TỈNH NINH THUẬN
-------

Số: 04/2014/QĐ-UBND

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------------------------

tỉnh Ninh Thuận, ngày 21 tháng 01 năm 2014

ỦY BAN NHÂN DÂN

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 04/2014/QĐ-UBND

Phan Rang - Tháp Chàm, ngày 21 tháng 01 năm 2014

Về việc ban hành Đề án tổ chức lại nghề khai thác hải sản

tỉnh Ninh Thuận, giai đoạn 2013 - 2020

_______________________________

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN

Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ngày 26 tháng 11 năm 2003;

Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân ngày 03 tháng 12 năm 2004;

Căn cứ Luật Thủy sản năm 2003;

Căn cứ Nghị định số 59/2005/NĐ-CP ngày 04 tháng 5 năm 2005 của Chính phủ về điều kiện sản xuất kinh doanh một số ngành nghề thủy sản;

Căn cứ Nghị định số 14/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 02 năm 2009 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 59/005/NĐ-CP ngày 04 tháng 5 năm 2005 về điều kiện sản xuất, kinh doanh một số ngành nghề thủy sản;

Căn cứ Nghị định số 53/2012/NĐ-CP ngày 20 tháng 6 năm 2012 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định về lĩnh vực thủy sản;

Căn cứ Thông tư số 02/2006/TT-BTS ngày 20 tháng 3 năm 2006 của Bộ Thủy sản về việc hướng dẫn thực hiện nghị định của Chính phủ số 59/2005/NĐ-CP ngày 04 tháng 5 năm 2005 về điều kiện sản xuất, kinh doanh một số ngành nghề thủy sản;

Căn cứ Thông tư số 62/2008/TT-BNN ngày 20 tháng 5 năm 2008 của Bộ Nông nghiệp về việc sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Thông tư số 02/2006/TT-BTS ngày 20 tháng 3 năm 2006 của Bộ Thủy sản hướng dẫn thi hành Nghị định số 59/2005/NĐ-CP ngày 04 tháng 5 năm 2005 của Chính phủ về điều kiện sản xuất, kinh doanh một số ngành nghề thủy sản;

Căn cứ Thông tư số 24/2011/TT-BNNPTNT ngày 06 tháng 4 năm 2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số quy định về thủ tục hành chính trong lĩnh vực thủy sản theo Nghị quyết số 57/NQ-CP ngày 15 tháng 12 năm 2010 của Chính phủ;

Căn cứ Thông tư số 50/2012/TT-BNNPTNT ngày 08 tháng 10 năm 2012 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc bãi bỏ Quyết định số 85/2008/QĐ-BNN ngày 06 tháng 08 năm 2008; bãi bỏ một phần Thông tư số 50/2010/TT-BNNPTNT ngày 30 tháng 8 năm 2010, Thông tư số 24/2011/TT-BNNPTNT ngày 06 tháng 4 năm 2011;

Căn cứ Nghị định số 33/2010/NĐ-CP ngày 31 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ về quản lý hoạt động khai thác thủy sản của tổ chức, cá nhân Việt Nam trên các vùng biển;

Căn cứ Thông tư số 25/2013/TT-BNNPTNT ngày 10 tháng 5 năm 2013 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 33/2010/NĐ-CP ngày 31 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ về quản lý hoạt động khai thác thủy sản của tổ chức, cá nhân Việt Nam trên các vùng biển và quy định chi tiết Điều 3 của Nghị định số 53/2012/NĐ-CP ngày 20 tháng 6 năm 2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định về lĩnh vực thủy sản;

Căn cứ Chỉ thị số 54/2008/CT-BNN ngày 21 tháng 4 năm 2008 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về tăng cường công tác quản lý tàu cá, khắc phục tình trạng tàu cá không đăng ký hoạt động trên các vùng nước;

Căn cứ Nghị quyết số 11/2013/NQ-HĐND ngày 18 tháng 12 năm 2013 của Hội đồng nhân dân tỉnh về việc phê duyệt đề án Tổ chức lại nghề khai thác hải sản tỉnh Ninh Thuận, giai đoạn 2013 - 2020;

Theo đề nghị của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tại Tờ trình số 01/TTr- SNNPTNT ngày 08 tháng 01 năm 2014,

Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Đề án tổ chức lại nghề khai thác hải sản tỉnh Ninh Thuận, giai đoạn 2013 - 2020.

Điều 2. Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 10 (mười) ngày kể từ ngày ký ban hành.

Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh; Giám đốc các sở, ban, ngành; Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố và thủ trưởng các cơ quan, tổ chức có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.

TM. ỦY BAN NHÂN DÂN

KT. CHỦ TỊCH

PHÓ CHỦ TỊCH

Trần Xuân Hoà

ỦY BAN NHÂN DÂN

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

__________________

_______________________________________

ĐỀ ÁN TỔ CHỨC LẠI NGHỀ KHAI THÁC HẢI SẢN

TỈNH NINH THUẬN GIAI ĐOẠN 2013 - 2020

(Ban hành kèm theo Quyết định số 04/2014/QĐ-UBND

ngày 21 tháng 01 năm 2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Thuận)

_________________________________

Phần I

CĂN CỨ ĐỂ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
I. Sự cần thiết xây dựng đề án
Ninh Thuận là tỉnh duyên hải Nam Trung bộ, có điều kiện tự nhiên thuận lợi và tiềm năng nguồn lợi để phát triển kinh tế thủy sản. Là ngành có vị trí quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế biển, kinh tế thủy sản đã, đang và sẽ tác động mạnh đến sự phát triển bộ mặt kinh tế, dân sinh, an ninh xã hội ở vùng nông thôn, đô thị đông dân ven biển của tỉnh.
Tuy nhiên, trong những năm gần đây hoạt động khai thác hải sản của tỉnh Ninh Thuận đã nảy sinh nhiều khó khăn, bất cập như: nghề khai thác hải sản phát triển tự phát, không kiểm soát được; chủ yếu là khai thác cá nổi, gần bờ với giá trị kinh tế thấp; khai thác xa bờ và những nghề khai thác cá có giá trị kinh tế cao còn quá khiêm tốn, chưa đóng góp tương xứng vào sự phát triển kinh tế của tỉnh, do chưa tạo được nguồn nguyên liệu tại chỗ đủ để phục vụ phát triển chế biến xuất khẩu. Tổ chức sản xuất trên biển mang tính cá thể, nhỏ lẻ, chưa có sự liên kết và hợp tác trong tổ chức sản xuất; tình trạng khai thác hải sản bằng các hình thức mang tính huỷ diệt nguồn lợi vẫn diễn ra; công nghệ, kỹ thuật khai thác còn lạc hậu; cơ sở hạ tầng nghề cá còn đầu tư thiếu đồng bộ, cũ kỹ, xuống cấp nghiêm trọng; … Do đó, đã hạn chế sự phát triển nghề khai thác hải sản của tỉnh Ninh Thuận không theo kịp trính độ phát triển chung của các tỉnh trong khu vực, đồng thời làm cho nguồn lợi thủy hải sản ven bờ ngày càng suy giảm.
Để khắc phục những khó khăn và bất cập nêu trên, kiểm soát được hoạt động khai thác hải sản trên biển, tạo điều kiện để nguồn lợi ven bờ được tái tạo và phát triển; phát triển khai thác hải sản xa bờ một cách bền vững, trọng tâm là những nghề khai thác được hải sản có giá trị kinh tế cao, gắn với bảo vệ nguồn lợi và môi trường sinh thái, bảo vệ toàn vẹn chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán các vùng biển đảo của Tổ quốc. Trên cơ sở, đó khai thác có hiệu quả tiềm năng hiện có, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế của tỉnh. Việc xây dựng Đề án tổ chức lại nghề khai thác hải sản tỉnh Ninh Thuận là một đòi hỏi bức xúc và cấp bách.
II. Căn cứ pháp lý
Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003.
Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2004.
Luật Thủy sản ngày 26 tháng 11 năm 2003.
Nghị định số 59/2005/NĐ-CP ngày 04 tháng 5 năm 2005 của Chính phủ về điều kiện sản xuất kinh doanh một số ngành nghề thủy sản.
Nghị định số 14/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 02 năm 2009 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 59/2005/NĐ-CP ngày 04 tháng 5 năm 2005 của Chính phủ về điều kiện sản xuất kinh doanh một số ngành nghề thủy sản.
Thông tư số 02/2006/TT-BTS ngày 20 tháng 3 năm 2006 của Bộ Thủy sản về việc hướng dẫn thực hiện nghị định của Chính phủ số 59/2005/NĐ-CP ngày 04 tháng 5 năm 2005 về điều kiện sản xuất, kinh doanh một số ngành nghề thủy sản.
Thông tư số 62/2008/TT-BNN ngày 20 tháng 5 năm 2008 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Thông tư số 02/2006/TT-BTS ngày 20 tháng 3 năm 2006 của Bộ Thủy sản về hướng dẫn thực hiện nghị định của Chính phủ số 59/2005/NĐ-CP ngày 04 tháng 5 năm 2005 về điều kiện sản xuất, kinh doanh một số ngành nghề thủy sản.
Nghị định số 66/2005/NĐ-CP ngày 19 tháng 5 năm 2005 của Chính phủ về đảm bảo an toàn cho người và tàu cá hoạt động thủy sản.
Thông tư số 02/2007/TT-BTS ngày 13 tháng 7 năm 2007 của Bộ Thủy sản về việc Hướng dẫn thực hiện Nghị định số 66/2005/NĐ-CP ngày 19 tháng 5 năm 2005 của Chính phủ về đảm bảo an toàn cho người và tàu cá hoạt động thủy sản.
Nghị định số 33/2010/NĐ-CP ngày 31 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ về quản lý hoạt động khai thác thủy sản của tổ chức, cá nhân Việt Nam trên các vùng biển.
Nghị định số 53/2012/NĐ-CP ngày 20 tháng 6 năm 2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về lĩnh vực thủy sản.
Thông tư số 25/2013/TT-BNNPTNT ngày 10 tháng 5 năm 2013 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 33/2010/NĐ-CP ngày 31 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ về quản lý hoạt động khai thác thủy sản của tổ chức, cá nhân Việt Nam trên các vùng biển và quy định chi tiết điều 3 của Nghị định số 53/2012/NĐ-CP ngày 20 tháng 6 năm 2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về lĩnh vực thủy sản.
Chỉ thị số 54/2008/CT-BNN ngày 21 tháng 4 năm 2008 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về tăng cường công tác quản lý tàu cá, khắc phục tình trạng tàu cá không đăng ký hoạt động trên các vùng nước.
Quyết định số 1690/QĐ-TTg ngày 16 tháng 9 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển thủy sản Việt Nam đến năm 2020; Quyết định số 375/QĐ-TTg ngày 01 tháng 3 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án Tổ chức lại sản xuất trong khai thác hải sản.
Nghị quyết số 10-NQ/TU ngày 03 tháng 11 năm 2006 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá XI về phát triển kinh tế biển giai đoạn 2006 - 2010 và định hướng đến 2020.
III. Thực trạng nghề khai thác hải sản

1. Điều kiện tự nhiên, khí hậu:
Ninh Thuận là một tỉnh duyên hải cực Nam Trung bộ, có đường bờ biển dài trên 105km, kéo dài từ vĩ tuyến 11020’01” đến 11048’41”N, phía Bắc giáp Vịnh Cam Ranh (tỉnh Khánh Hoà), phía Nam giáp Tuy Phong (tỉnh Bình Thuận), vùng đặc quyền kinh tế rộng 24.480km2. Trong đó: vùng biển ven bờ có diện tích khoảng 980km2; vùng lộng có diện tích khoảng 2.670km2.
Vùng biển Ninh Thuận thể hiện rõ tính chất gió mùa: gió mùa Tây Nam thể hiện rõ nhất từ tháng 6 - 8 hằng năm; gió mùa Đông Bắc kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau; các tháng gió chuyển tiếp là tháng 4 - 5 và tháng 9 - 10. Tương ứng đó, Ninh Thuận có 2 mùa khai thác chính là mùa cá Bắc và mùa cá Nam. Bão và áp thấp nhiệt đới thường xuất hiện trên vùng biển Ninh Thuận vào khoảng cuối mùa gió Tây Nam - đầu mùa gió Đông Bắc, tức là trong khoảng thời gian từ tháng 9 - 12 hằng năm.

2. Ngư trường, nguồn lợi hải sản:
Trên vùng biển Ninh Thuận có trung tâm nước trồi, đây là nơi hội tụ của hai dòng hải lưu. Vì vậy từ năm 1992, Ninh Thuận được xác định là một trong 4 ngư trường trọng điểm của cả nước. Do đó, nguồn lợi hải sản trên vùng biển Ninh Thuận rất phong phú, với nhiều bãi cá đáy và hằng năm có nhiều đàn cá nổi di cư về với trữ lượng lớn, cho phép khai thác quanh năm cả mùa Bắc và mùa Nam đều đạt sản lượng cao. Tuy nhiên, vùng biển Trung và Nam Trung bộ trong đó có cả Ninh Thuận là vùng biển nước sâu, với đường đẳng sâu 50 mét nằm sát bờ nên việc phát triển nghề khai thác cá đáy (lưới kéo; lưới rê tầng đáy, …) theo hướng vươn khơi gặp rất nhiều khó khăn. Mặt khác, vùng biển Ninh Thuận là vùng biển hở, trên toàn vùng biển không có đảo che chắn. Do đó, ngư dân Ninh Thuận đã gặp không ít khó khăn trong việc vươn khơi khai thác hải sản tại vùng biển khơi xa bờ và nhất là khi có tàu nước ngoài gây cấn. Mặt khác, sau nhiều năm tập trung khai thác ven bờ, đến nay ngư trường ven bờ của tỉnh đang có dấu hiệu báo động cạn kiệt nguồn lợi.

3. Đặc điểm kinh tế - xã hội: tỉnh Ninh Thuận có 04 huyện và 01 thành phố vùng biển với 15 xã, phường, thị trấn sát biển. Tổng dân số vùng ven biển khoảng 139.300 người, chủ yếu là dân tộc kinh, với khoảng 61.200 lao động, trong đó lao động trên bờ khoảng 44.922 người, lao động trên biển khoảng 16.278 người (chiếm 26,59% số lao động và 11,68% dân số khu vực địa phương có nghề khai thác hải sản). Tuy nhiên, tập trung phát triển khai thác hải sản chỉ ở 2 huyện và 01 thành phố. Như vậy, với số lao động nghề cá trên chỉ chiếm 2,86% dân số và chiếm 4,79% số lao động toàn tỉnh.
Bảng 1: Đặc điểm xã hội, cơ cấu dân số
STT
Địa phương
Diện tích (km2)
Dân số (người)
Mật độ dân số (người/km2)
Lao động
trên tàu cá(người)
1
Huyện Thuận Bắc
76
Công Hải
76
2
Huyện Ninh Hải

6. 043
Vĩnh Hải
124,00

5. 535
45
918
Nhơn Hải
30,99

12. 688
409
42
Thanh Hải
6,51

8. 074

1. 240

2. 113
Tri Hải
27,08

9. 261
342
608
Phương Hải
10,97

6. 311
575
9
Khánh Hải
10,80

15. 987

1. 480

2. 353
3
Thành phố PR-TC

4. 333
Đông Hải
2,12

20. 873

9. 846

3. 426
Mỹ Đông
2,41

11. 563

4. 798
877
Mỹ Bình
4,44

8. 171

1. 840
5
Mỹ Hải
2,75

4. 993

1. 816
25
4
Huyện Thuận Nam

5. 820
Phước Dinh
77,68

9. 215
70,25

1. 224
Cà Ná
13,08

9. 381
717,20
403
Phước Diêm
51,20

10. 952
213,91

4. 193
5
Huyện Ninh Phước
6
An Hải
6
TỔNG CỘNG

16. 278
(nguồn: niên giám thống kê năm 2012 của Cục Thống kê tỉnh Ninh Thuận)
Số liệu thống kê trên bảng 1 cho thấy, mật độ dân số tập trung cao nhất là ở địa bàn thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tiếp đến là huyện Ninh Hải và Thuận Nam. Tuy nhiên, đây là mật độ tính trên diện tích tự nhiên toàn xã, còn thực tế những khu vực tập trung ngư dân sinh sống thường mật độ rất cao tương tự như ở thành phố Phan Rang - Tháp chàm. Mật độ dân số tập trung cao là đặc điểm chung của những địa phương có nghề khai thác hải sản phát triển trong cả nước do tính chất đặc thù nghề nghiệp đòi hỏi nhưng điều đó lại kéo theo những bất cập, ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống của ngư dân như: chất lượng môi trường sống thấp kém, tệ nạn xã hội, tỉ lệ học sinh bỏ học cao, trình độ nhận thức của người dân thấp, …
* Về đóng góp cho phát triển kinh tế địa phương: một đặc điểm dễ nhận thấy là so với những địa phương thuần nông, nông thôn thì những địa phương có nghề khai thác hải sản phát triển thường có hạ tầng kỹ thuật được đầu tư tốt hơn; mức sống của người dân cao hơn; hoạt động kinh tế sôi động hơn do đó cơ cấu kinh tế địa phương thường thể hiện rõ xu hướng phát triển thương mại - dịch vụ. Theo thống kê xây dựng nông thôn mới (tháng 3/2013) thì cả tỉnh chỉ có 3 xã có kinh tế thuần khai thác hải sản là Cà Ná, Phước Diêm, Thanh Hải là có tỉ lệ hộ nghèo dưới 5%.
Phân tích về tỉ trọng đóng góp vào GDP của tỉnh: trong nhiều năm qua (từ 2005 - 2012) nếu nông, lâm nghiệp và thủy sản thường chiếm từ 40 - 41% cơ cấu kinh tế của tỉnh (GDP) thì trong đó thủy sản thường chiếm 17 - 18 % và khai thác hải sản chiếm từ 60 - 70% giá trị đóng góp cho thủy sản thì khai thác hải sản thường đóng góp từ 10 - 12% cơ cấu kinh tế của tỉnh (xem Phụ lục 1).
Như vậy, từ những sự phân tích trên cho thấy mặc dù lao động nghề cá chỉ chiếm chưa đến 3% dân số và 5% lao động toàn tỉnh nhưng giá trị lao động của bộ phận này làm ra đã chiếm 10 - 12% GDP cả tỉnh (tức gấp 2 - 2,5 lần giá trị lao động của ngành nghề khác). Nếu được quan tâm đầu tư tốt hơn, chắc chắn bộ phận này sẽ có những đóng góp xứng đáng hơn vào sự phát triển kinh tế chung của tỉnh trong những năm tiếp theo.

4. Năng lực khai thác hải sản:

4. 1. Phương tiện khai thác hải sản:
Tính đến tháng 6 năm 2012 toàn tỉnh có 2.580 tàu cá với tổng công suất là 198.757CV (công suất trung bình là 77CV/chiếc) nếu tính riêng cho khối tàu từ 90CV trở lên thì công suất trung bình đạt 217,5 CV/chiếc, được phân bố rải rác theo các địa phương ven biển. (đính kèm Phụ lục 2: năng lực tàu cá tỉnh Ninh Thuận tính đến tháng 6 năm 2012).
Về phát triển tàu cá: theo thống kê từ năm 2005 đến tháng 6 năm 2012, năng lực tàu cá của tỉnh đã có nhiều biến động cả về số lượng và cơ cấu, theo hướng tăng nhanh số lượng tàu cá nhỏ (dưới 20CV) hoạt động ven bờ và tàu cá có công suất từ 150CV trở lên (Bảng 2).
Bảng 2: Tình hình biến động tàu cá
STT

Danh mục


Đơn vị tính


Năm


Đánh giá


tăng, giảm


2005


Tháng 6/2012


1


Năng lực tàu cá


Chiếc


1.810


2.580


+770


2


Tổng công suất


CV


83.500


198.349


+114.849


3


Công suất BQ


CV/C


46,1


76,8


+30,7


4


Phân nhóm tàu cá


Chiếc


Dưới 20CV



769


1.218


+449


Từ 20 - < 50CV



495


429


-66


Từ 50 - < 90CV



218


225


+07


Từ 90 - < 250CV



251


284


+33


Từ 150 - < 250CV



49


178


+129


Từ 250 - < 400CV



24


199


+175


Từ 400CV trở lên



4


47


+43


(nguồn: báo cáo các năm của Chi cục Khai thác và BVNL thủy sản Ninh Thuận)


Qua Bảng 2 cho thấy, trong khoảng thời gian từ năm 2005 đến nay, toàn tỉnh đã phát triển mạnh nhóm tàu cá có tổng công suất máy chính nhỏ dưới 20CV (tăng 58,38%) và từ 150CV trở lên (tăng 4,5 lần). Như vậy, trong thời gian qua hoạt động khai thác hải sản của ngư dân tỉnh Ninh Thuận chủ yếu vẫn diễn ra ở các vùng biển ven bờ; đồng thời xu hướng khai thác tại vùng biển khơi xa bờ cũng hình thành và phát triển nhanh;


4.2. Cơ cấu nghề khai thác hải sản:


Bảng 3: Cơ cấu nghề khai thác tính đến tháng 6 năm 2012


Đơn vị tính: chiếc


STT


Phân theo nhóm


công suất


Phân loại theo nghề khai thác


Tổng


Kéo


VRC



Câu


Pha


VRM


Khác


cộng


1


Nhỏ dưới 20cv


2


7


735


202


3


269


1.218


2


20< Ne 90 cv


62


41


293


18


63


26


150


653


3


Từ 90cv trở lên


53


79


52


2


427


92


4


709


Tổng số tàu


117


127


1.080


222


490


121


423


2.580


Tỉ lệ % so với tổng số


4,53


4,92


41,86


8,60


18,99


4,68


16,39


(nguồn: báo cáo của Chi cục Khai thác và BVNL thủy sản Ninh Thuận, tháng 6 năm 2012)


Qua Bảng 3 cho thấy: nghề đánh cá nổi (vây rút chì; vây rút mùng; pha xúc; mành) của tỉnh Ninh Thuận đã chiếm khoảng 82,6% tổng năng lực khai thác hải sản của tỉnh.


Bảng 4: Tình hình biến động nghề khai thác


STT


Loại nghề


Năm 2005


(chiếc)


Tháng 6/2012


(chiếc)


Đánh giá


tăng, giảm


1


Lưới kéo


148


117


-31


2


Vây rút chì


262


127


-135


3


Vây rút mùng


-


121


+121


4



566


1.080


+514


5


Pha xúc


415


490


+75


6


Câu các loại


153


222


+69


7


Nghề khác


266


423


+157


Tổng cộng


1.810


2.580


(nguồn: báo cáo các năm của Chi cục Khai thác và BVNL thủy sản Ninh Thuận)


Sở dĩ như vậy vì, trong những năm gần đây, trên vùng biển Ninh Thuận - Bình Thuận nơi có độ sâu dưới 50 mét nguồn lợi hải sản tầng đáy đã bị khai thác quá mức, có dấu hiệu cạn kiệt nên ngư dân tỉnh Ninh Thuận đã chuyển đổi từ những nghề khai thác cá đáy sang làm các nghề khai thác cá nổi ít có giá trị kinh tế, đặc biệt một số thuyền nghề vây rút chì đã chuyển sang khai thác hải sản bằng nghề vây rút mùng, đây là nghề mang tính hủy diệt nguồn lợi do sử dụng mắt lưới quá nhỏ và trong hoạt động khai thác có sử dụng chất nổ nhưng do chi phí sử dụng chất nổ thấp mà lượng cá đánh lại được nhiều. Vì vậy, đem lại hiệu quả khai thác cao hơn so với các nghề khác nên một số chủ thuyền vì hám lợi vẫn tiếp tục phát triển nghề này bất chấp sự phản đối của công đồng ngư dân và sự răn đe của cơ quan quản lý Nhà nước địa phương. Khi nguồn lợi thủy sản suy giảm đã hình thành xu hướng thúc đẩy ngư dân phải đóng tàu lớn để vươn ra khai thác tại các ngư trường khơi, xa bờ và ngư trường các tỉnh bạn (Bảng 4);


4.3. Lực lượng lao động và công nghệ, kỹ thuật khai thác:


4.3.1. Về lực lượng lao động: cùng với sự phát triển của năng lực tàu cá, lực lương lao động trên tàu cá cũng không ngừng tăng theo nhưng lực lượng lao động tại các địa phương vùng biển trong tỉnh không thể đáp ứng kịp nhu cầu phát triển năng lực khai thác hải sản của tỉnh Ninh Thuận. Do đó, đã có một lượng không nhỏ lao động từ các địa phương thuần nông trong tỉnh và từ các tỉnh khác như Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, … cùng đến tham gia làm việc trên tàu cá Ninh Thuận, số lao động này không có cả kinh nghiệm, kỹ thuật lẫn tay nghề và chưa được đào tạo. Hiện nay, toàn tỉnh có khoảng 16.278 người tham gia làm việc trên tàu cá, nhưng mới có 4.868 cá nhân đã qua các lớp đào tạo nghiệp vụ và được cấp chứng chỉ nghề, chiếm 29,9% tổng số lao động trên tàu cá toàn tỉnh (2.021 thuyền trưởng các hạng; 744 máy trưởng và 2.103 thuyền viên tàu cá) và hầu hết không qua đào tạo kỹ thuật trung, sơ cấp.


4.3.2. Về công nghệ, kỹ thuật khai thác và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật: trong thời gian qua, ngành chủ quản đã tích cực giúp ngư dân Ninh Thuận nghiên cứu, ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật để cải tiến những nghề truyền thống như: lưới kéo đôi; lưới vây rút chì; lưới rê 3 lớp, ...; đồng thời đã thử nghiệm thành công nhiều mô hình tiên tiến, ứng dụng công nghệ, thiết bị hiện đại vào khai thác hải sản như: máy thu lưới trên tàu nghề vây rút chì; máy dò quét (sonar) trên tàu nghề vây rút chì, tàu nghề pha xúc, … Các đề tài, mô hình trên đã góp phần nâng cao hiệu quả khai thác và từng bước hiện đại hoá, cơ giới hoá nghề khai thác hải sản. Tuy nhiên, với phương thức bảo quản sản phẩm hải sản sau khai thác còn thô sơ, lạc hậu nên đã hạn chế khả năng vươn ra khai thác hải sản tại các ngư khơi và làm giảm giá trị sản phẩm khai thác của ngư dân Ninh Thuận;


4.4. Tổ chức khai thác hải sản trên biển:


Cũng như nghề cá cả nước, phương thức tổ chức khai thác hải sản của ngư dân Ninh Thuận nhiều năm qua không thay đổi, vẫn mang đặc thù của nghề cá nhân dân: nhỏ; lẻ; manh mún; lạc hậu. Mặt khác, còn mang đặc điểm riêng là: khai thác ven bờ; thời gian chuyến biển ngắn ngày; chiều đi sáng về, … Toàn tỉnh hiện chỉ có một số tàu nghề lưới rê nilon của ngư dân phường Mỹ Đông - thành phố Phan Rang - Tháp Chàm đang thực hiện khai thác hải sản tại vùng biển Trường Sa - DK1 là có thời gian chuyến biển tương đối dài, khoảng trên 15 ngày/chuyến biển.


Sau nhiều năm tuyên truyền, vận động ngư dân hoạt động khai thác hải sản trên biển theo các mô hình tổ, đội ngư dân đoàn kết và hợp tác xã nhưng hiện nay trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận chỉ mới thành lập được 45 tổ ngư dân đoàn kết sản xuất trên biển với 199 tàu cá tham gia (chiếm 7,24% tổng số tàu cá toàn tỉnh) và 01 hợp tác xã nghề cá. Các mô hình tổ ngư dân đoàn kết được khuyến khích thành lập dựa trên nguyên tắc 3 cùng (cùng nghề; cùng ngư trường và cùng địa bàn cư trú) trên cơ sở tự nguyện, dân chủ, bình đẳng, hợp tác sản xuất và cùng có lợi. Tuy nhiên, các tổ đoàn kết chỉ gói gọn trong dòng tộc; khâu dịch vụ hậu cần, tiêu thụ sản phẩm phát triển tự phát, nhỏ lẻ do các nậu, vựa thao túng nên thường xảy ra tình trạng ép cấp, ép giá;


4.5. Thực hiện cơ chế, chính sách:


Mặc dù Trung ương đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ khai thác hải sản như: hỗ trợ vay vốn tín dụng để đóng mới, cải hoán tàu đánh bắt hải sản xa bờ (Quyết định số 393/QĐ-TTg ngày 09 tháng 6 năm 1997); hỗ trợ khắc phục rủi ro, thiên tai trên biển (Quyết định số 118/2007/QĐ-TTg ngày 25 tháng 7 năm 2007); hỗ trợ an sinh xã hội (Quyết định số 289/QĐ-TTg ngày 13 tháng 8 năm 2008); hỗ trợ giảm tổn thất sau thu hoạch trong khai thác hải sản (Quyết định số 63/2010/QĐ-TTg ngày 15 tháng 10 năm 2010 và Quyết định số 65/2011/QĐ-TTg ngày 02 tháng 12 năm 2011); hỗ trợ khai thác và dịch vụ khai thác hải sản trên các vùng biển xa (Quyết định số 48/2010/QĐ-TTg ngày 13 tháng 7 năm 2010) nhưng vì đa số tàu khai thác gần bờ nên ngư dân Ninh Thuận cũng không được hưởng lợi nhiều từ những chính sách này.


Trong hơn 20 năm qua, kể từ khi tái lập tỉnh đến nay, ngoài những chính sách của Trung ương, về phía tỉnh chưa có chính sách, chế độ hỗ trợ, khuyến khích phát triển khai thác hải sản do đó ngư dân Ninh Thuận đã gặp nhiều khó khăn, nhất là về vốn trong quá trình đầu tư phát triển năng lực khai thác cũng như vươn khơi khai thác hải sản dài ngày tại các vùng biển xa bờ;


4.6. Mật độ, năng suất, sản lượng và hiệu quả khai thác:


4.6.1. Về mật độ khai thác:


Về mật độ khai thác của tàu trong tỉnh trên vùng biển Ninh Thuận:


- Tại vùng biển ven bờ thường xuyên có 1.218 tàu cá gắn máy có tổng công suất máy chính nhỏ dưới 20CV của ngư dân trong tỉnh hoạt động khai thác hải sản chủ yếu bằng các nghề lưới rê, câu và mành. Mật độ khai thác đạt khoảng 1,247 tàu/km2 trong đó chưa kể những phương tiện nghề cá không gắn máy (thuyền thúng, xuồng chèo, …).


- Trên vùng lộng thường xuyên có 1.312 tàu cá gắn máy có tổng công suất máy chính từ 20CV trở lên (kể cả tàu trên 90CV) của ngư dân Ninh Thuận thực hiện khai thác hải sản chủ yếu bằng các nghề pha xúc, lưới rê, lưới kéo, lưới vây. Mật độ khai thác đạt khoảng 0,508 tàu/km2.


- Trên vùng khơi, toàn tỉnh chỉ có khoảng 40 tàu cá trên 200CV của ngư dân các xã Tri Hải và Thanh Hải thực hiện khai thác hải sản bằng nghề lưới vây rút chì, ngoài ra cũng chỉ có 13 tàu cá thường xuyên thực hiện khai thác hải sản trên vùng biển xa - Trường Sa, DK1; cụ thể gồm: 01 tàu câu cá ngừ đại dương của ngư dân xã Cà Ná; 12 tàu lưới rê nilon của ngư dân phường Mỹ Đông.


Tuy nhiên, tại vùng biển ven bờ bên cạnh nhóm tàu cá nhỏ dưới 20CV và những phương tiện nghề cá không gắn máy thường xuyên hoạt động khai thác, vào mùa Bắc còn có sự tham gia khai thác của một số tàu cá Ninh Thuận có công suất trên 20CV mỗi khi thời tiết không thuận lợi cho hoạt động khai thác tại tuyến lộng và khơi; trên vùng lộng, ngoài lực lượng tàu cá của ngư dân Ninh Thuận, vào mùa Nam còn có sự tham gia khai thác thường xuyên của một bộ phận tàu cá của ngư dân các tỉnh như Bình Thuận, Khánh Hoà, Bình Định, Quảng Ngãi, … Vì thế càng làm cho mật độ tàu cá trên vùng biển Ninh Thuận càng dày đặc hơn.


Nhìn chung, mật độ tàu khai thác hải sản trên vùng biển Ninh Thuận quanh năm đều cao. Trong đó mật độ tàu thuyền khai thác hải sản tại vùng biển ven bờ cao hơn vùng lộng ít nhất là 2,45 lần, làm cho nguồn lợi thủy sản ven bờ ngày càng cạn kiệt.


4.6.2. Về sản lượng, năng suất và hiệu quả khai thác:


Số liệu được trình bày ở Phụ lục 1: qua Phụ lục 1 cho thấy trong giai đoạn 2005 -2012 tốc độ gia tăng sản lượng khai thác cá các loại, bình quân hàng năm đạt 6,18%*. Tuy nhiên, do nguồn lợi hải sản tại vùng biển có độ sâu dưới 50 mét nước đã bị khai thác quá mức, có dấu hiệu ngày càng cạn kiệt nên sản lượng các loại cá tầng đáy có giá trị kinh tế cao (Hồng, Mú, …) và nhất là mực đã giảm dần theo từng năm, bình quân hằng năm giảm 10,56%.


* Tính theo công thức n√ năm cuối/năm đầu x 100


Trong đó n là số khoảng cách năm


Trong giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2008 do sự gia tăng về cường lực khai thác, cùng với sự suy giảm của nguồn lợi ven bờ nên hiệu quả khai thác ngày càng thấp, năng suất khai thác bình quân đã giảm 5,3% mỗi năm, từ 24,75 tấn/tàu vào năm 2005 đến năm 2008 chỉ còn 20,81 tấn/tàu.


Khắc phục những khó khăn về ngư trường và nguồn lợi, từ năm 2009 đến nay, ngư dân Ninh Thuận đã tích cực đầu tư nâng cao năng lực khai thác để vươn khơi, tìm ngư trường mới. Do đó, hiệu quả khai thác từng bước được nâng lên, năng suất khai thác bình quân mỗi năm tăng 6,77%, đến năm 2012 năng suất khai thác bình quân đã đạt 24,61 tấn/tàu.


Theo điều tra sơ bộ những năm gần đây thì hiệu quả của nghề khai thác hải sản tăng rõ rệt và cao hơn trung bình của những ngành nghề nông nghiệp khác: Thu nhập bình quân tính theo lao động nghề cá trung bình ở mức 30 - 40 triệu đồng/lao động/năm và tính trên nhân khẩu của khu vực có nghề khai thác hải sản tập trung là trên 18 triệu đồng/người/năm, đối chiếu theo tiêu chí xây dựng nông thôn mới thì đây là khu vực có mức sống khá.


Về hiệu quả sản xuất theo từng nhóm nghề: nhóm tàu hoạt động khai thác hải sản bằng nghề pha xúc, trong những năm gần đây luôn khai thác đạt sản lượng cao, thu nhập bình quân đạt khoảng 60 - 70 triệu đồng/lao động/năm. Vì vậy các địa phương có nghề pha xúc phát triển (Cà Ná, Phước Diêm, Thanh Hải) luôn có mức sống cao; nhóm tàu hoạt động khai thác bằng nghề vây rút chì đã tích cực liên kết với nhau trong việc tìm ngư trường và trong khâu hậu cần nên đã góp phần tăng thời gian bám biển, giảm chi phí sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất, thu nhập bình quân đạt khoảng 50 - 60 triệu đồng/lao động/năm; nhóm tàu nghề lưới rê nilon (12 tàu của ngư dân phường Mỹ Đông) đã khai thác đạt hiệu quả cao tại vùng biển Trường Sa - DK1, thu nhập bình quân đạt khoảng 70 - 80 triệu đồng/lao động/năm; nhóm tàu nghề lưới kéo do còn hạn chế về năng lực khai thác nên không thể vươn khơi; đồng thời nguồn lợi hải sản tầng đáy tại vùng biển có độ sâu từ 50 mét nước trở vào bờ có dấu hiệu cạn kiệt nên trong những năm gần đây luôn khai thác đạt hiệu quả thấp, có một số tàu phải nằm bờ do thua lỗ và một số tàu đã chuyển đổi sang khai thác hải sản bằng các nghề khác.


5. Về cơ sở hạ tầng và dịch vụ hậu cần nghề cá:


5.1. Hệ thống cảng cá, bến cá: từ sau khi tái lập tỉnh đến nay, Ninh Thuận đã thực hiện đầu tư và không ngừng nâng cấp 03 cảng cá và 01 bến cá trên địa bàn nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho tàu cá vào cập cảng bốc dỡ hàng hoá, tiếp nhận các dịch vụ và neo đậu trú tránh gió, bão an toàn, ... nhất là đội tàu xa bờ. Tuy nhiên, sau nhiều năm hoạt động hiện nay hệ thống luồng chạy tàu tại các cảng cá, bến cá còn cạn và hẹp, quy mô bến cập tàu còn hạn chế nên chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn phát triển nghề khai thác hải sản;


5.2. Hệ thống thu mua, nậu vựa, kinh doanh nguyên liệu hải sản: trên các cảng cá, bến cá các hoạt động dịch vụ hậu cần nghề cá tương đối phát triển, đủ khả năng đáp ứng cho 80% nhu cầu hoạt động khai thác hải sản nhưng chủ yếu hoạt động riêng lẻ theo cơ chế thị trường, chưa có sự liên kết, đồng chia sẻ lợi ích. Bên cạnh đó hiện nay toàn tỉnh có khoảng 20 tàu làm nghề dịch vụ thu mua hải sản trên biển, tuy nhiên các tàu này chỉ hoạt trên vùng lộng trở vào bờ mà chưa tổ chức được trên các vùng biển khơi và vùng biển xa;


5.3. Cơ sở đóng sửa tàu thuyền:


Cùng với sự phát triển của tàu cá, trên địa bàn tỉnh đã hình thành một số cơ sở đóng sửa tàu thuyền, chủ yếu tập trung tại các trung tâm nghề cá của tỉnh.


Với quy mô nhỏ, cơ sở vật chất còn hạn chế và lực lượng lao động chưa qua trường lớp đào tạo, chủ yếu thực hiện việc đóng sửa tàu cá bằng kinh nghiệm dân gian nên trong thời gian gần đây, toàn tỉnh mới chỉ có 03 cơ sở đong trên địa bàn xã Cà Ná - huyện Thuận Nam, thực hiện được việc đóng mới tàu cá với năng lực đóng mới đạt 8 - 10 tàu/cơ sở/năm; trong đó khâu kéo tàu lên ụ, cưa, xẻ gỗ đã cơ khí hoá 100%, khâu lắp ráp sửa chữa còn là bán thủ công. Các cơ sở còn lại chủ yếu là sửa chữa tàu cá. Tuy nhiên, chỉ gia công sửa chữa nhỏ, giản đơn còn các phần việc phức tạp khác phải thực hiện tại các cơ sở cơ khí lớn ngoài tỉnh. Nhìn chung, các cơ sở đóng sửa tàu thuyền trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận chưa đáp ứng được nhu cầu đóng mới tàu cá của ngư dân Ninh Thuận.


6. Công tác quản lý Nhà nước đối với lĩnh vực khai thác hải sản: Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản là đơn vị thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với lĩnh vực khai thác hải sản trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận. Tuy nhiên, việc đầu tư phương tiện và trang thiết bị cho đơn vị còn nhiều hạn chế:


Về cơ sở vật chất kỹ thuật: được trang bị 03 tàu kiểm ngư (01 tàu vỏ gỗ 155CV; 02 tàu vỏ sắt 385CV và 460CV) có tuổi thọ đã trên 10 năm và 01 ca nô 115CV để thực hiện công tác tuần tra kiểm soát bảo vệ nguồn lợi thủy sản và phối hợp tìm kiếm cứu nạn trên biển; 01 trạm bờ để theo dõi, thông tin liên lạc với các tàu cá có gắn máy VX1700.


Về hoạt động tuần tra kiểm soát, bảo vệ nguồn lợi thủy sản: do kinh phí được cấp có hạn nên Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản không thể duy trì thường xuyên sự có mặt của lực lượng thanh tra trên biển. Hàng năm, chỉ thực hiện được từ 20 - 25 chuyến tuần tra, kiểm soát bảo vệ nguồn lợi thủy sản. Trong đó, chủ yếu là tuần tra kiểm soát trên bờ, tại các cửa biển, chưa vươn ra kiểm soát được vùng lộng. Hoạt động tuần tra kiểm soát trên biển cũng chỉ mới tập trung trong những tháng mùa cá, những tháng còn lại không đủ kinh phí để hoạt động.


Về công tác thông tin, dự báo ngư trường: chủ yếu dựa vào các bản tin dự báo ngư trường, mùa vụ của Viện Nghiên cứu hải sản nên tần suất dự báo thấp (01 bản tin/vụ cá) và độ chính xác không cao. Bên cạnh đó, thông qua mạng lưới cộng tác viên khai thác thủy sản tại các địa bàn vùng biển, Chi cục tổ chức nắm bắt tình hình khai thác để thông báo ngư trường, mùa vụ. Tuy nhiên, hình thức này thường không kịp thời.


Về công tác phòng chống lụt bão và phối hợp tìm kiếm cứu nạn trên biển: với các phương tiện hiện có, những năm qua Chi cục đã phối hợp cùng lực lượng Biên phòng và các địa phương vùng biển trong việc thông tin, gọi tàu thuyền về nơi trú ẩn kịp thời nhằm hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại xảy ra cho ngư dân. Với đường bờ biển trải theo hướng Đông Bắc - Tây Nam và địa hình có nhiều dãy núi bao bọc nên Ninh Thuận là một tỉnh ít có bão, áp thấp nhiệt đới đổ bộ trực tiếp do đó hiện tại chưa có kinh nghiệm ứng phó khi có tình huống xấu xảy ra.


IV. Đánh giá chung


1. Khó khăn, tồn tại:


Nguồn lợi hải sản ven bờ ngày càng cạn kiệt. Trong khi đó tại vùng lộng và khơi chưa được điều tra, đánh giá và dự báo chính xác.


Tổ chức sản xuất trên biển còn đơn lẻ, chưa có tính liên kết, thiếu tính cộng đồng nên hiệu quả khai thác không cao và tiềm ẩn nhiều rủi ro.


Tàu cá phát triển tự phát, chất lượng tàu cá thấp, công nghệ kỹ thuật khai thác còn lạc hậu nên không thể vươn khơi bám ngư trường sản xuất dài ngày trên biển. Với số lượng tàu cá có tổng công suất máy chính nhỏ dưới 20CV chiếm 47,2% tổng số tàu cá toàn tỉnh nên nghề cá Ninh Thuận được xem là chậm phát triển hơn so với các tỉnh trong khu vực.


(đính kèm Phụ lục 3: so sánh với các tỉnh trong khu vực).


Tình trạng tàu cá vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản còn phổ biến, nhất là các hành vi: khai thác sai vùng; sử dụng ngư cụ có kích thước mắt lưới nhỏ hơn quy định; khai thác hải sản bằng các hình thức mang tính huỷ diệt nguồn lợi;


Cơ cấu thuyền nghề chủ yếu khai thác cá nổi, với sản lượng khai thác hàng năm luôn đạt cao nhưng tỉ lệ sản phẩm có giá trị kinh tế cao không nhiều và thiếu tập trung nên chưa hình thành được vùng nguyên liệu tại chỗ để thu hút các nhà đầu tư xây dựng các nhà máy chế biến hải sản khai thác xuất khẩu tại tỉnh. Do đó, nghề khai thác hải sản tỉnh Ninh Thuận chưa có đóng góp tương xứng cho quá trình phát triển kinh tế của tỉnh;


Cơ sở hạ tầng nghề khai thác hải sản được nhà nước quan tâm đầu tư, nhưng còn hạn chế nên chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn phát triển nghề khai thác hải sản.


Công tác quản lý, kiểm tra, kiểm soát hoạt động khai thác hải sản chưa được chú trọng và thiếu sự quan tâm phối hợp của các cấp, ngành nên thiếu đồng bộ.


2. Nguyên nhân:


2.1. Nguyên nhân khách quan:


Nghề cá Ninh Thuận nằm trong tình trạng khó khăn chung đó là: nghề cá nhân dân có điểm xuất phát thấp; lực lượng sản xuất nhỏ; cơ sở vật chất kỹ thuật một số lĩnh vực thiếu được đầu tư đồng bộ; nhân dân vùng biển còn nghèo, trình độ văn hoá thấp, tích lũy nội bộ không cao.


Do đường bờ biển của tỉnh Ninh Thuận ngắn nhiều so với các tỉnh lân cận và dân số vùng biển không đông nên số lượng tàu cá của tỉnh Ninh Thuận còn khiêm tốn và được đánh giá là chậm phát triển so với các tỉnh trong khu vực;


2.2. Nguyên nhân chủ quan:


Với đặc điểm là một trong bốn ngư trường trọng điểm của cả nước nên bên cạnh những mặt thuận lợi lại kéo theo không ít mặt khó khăn và khai thác hải sản ven bờ dần trở thành tập quán của ngư dân tỉnh ta. Trong đó, đặc biệt là: tư tưởng ỷ lại, chỉ chú trọng khai thác nguồn lợi cá nổi di cư đến hàng năm nên đại bộ phận ngư dân Ninh Thuận vẫn chưa quan tâm đến việc vươn khơi tìm ngư trường mới để khai thác những loại hải sản có giá trị kinh tế cao.


Phần lớn ngư dân Ninh Thuận còn chậm thay đổi tập quán sản xuất. Đó là: khai thác hải sản ven bờ; trình độ, kỹ thuật khai thác còn lạc hậu; tự bằng lòng với hiện tại, không có nhu cầu phát triển; khai thác hải sản bằng hình thức mang tính huỷ diệt nguồn lợi, …


Nhận thức về quan điểm phát triển kinh tế thủy sản bền vững gắn với việc bảo vệ môi trường sinh thái, tái tạo nguồn lợi thủy sản và sản xuất kinh doanh có điều kiện chưa đồng đều ở các cấp, ngành. Công tác phối hợp bảo vệ và phát triển nguồn lợi hải sản chưa được sự quan tâm của các cấp, ngành mà xem đây là nhiệm vụ của riêng ngành Nông nghiệp.


Cơ chế chính sách chưa theo kịp với yêu cầu của thực tế sản xuất do đó ngư dân gặp nhiều khó khăn về vốn trong quá trình đầu tư phát triển năng lực khai thác cũng như vươn khơi khai thác hải sản dài ngày tại vùng biển xa bờ.


Hoạt động điều tra ngư trường, nguồn lợi chưa được quan tâm đầu tư, triển khai nên công tác quy hoạch, kế hoạch, dự báo, thông tin ngư trường, mùa vụ thiếu chính xác và không kịp thời.


Nguồn lực đầu tư cho khoa học công nghệ và việc đánh giá xử lý tác động môi trường chưa đáp ứng kịp yêu cầu đầu tư phát triển năng lực sản xuất của các thành phần kinh tế.


V. Dự báo xu thế phát triển nghề khai thác hải sản


Chính phủ cũng đã thông qua Đề án tổ chức lại nghề khai thác hải sản giai đoạn đến năm 2020 (Quyết định số 375/QĐ-TTg ngày 01 tháng 3 năm 2013) và một số chính sách khuyến khích, hỗ trợ phát triển khai thác hải sản. Điển hình như: hỗ trợ khai thác và dịch vụ khai thác hải sản trên các vùng biển xa (Quyết định số 48/2010/QĐ-TTg ngày 13 tháng 7 năm 2010); hỗ trợ nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch đối với nông sản, thủy sản (Quyết định số 63/2010/QĐ-TTg ngày 15 tháng 10 năm 2010; Quyết định số 65/2011/QĐ-TTg ngày 02 tháng 12 năm 2011); Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng đang chỉ đạo đẩy mạnh hợp tác quốc tế, triển khai thực hiện kế hoạch đưa tàu cá Việt Nam đi khai thác hải sản tại các vùng biển nước ngoài như Malayxia, Indonexia. Theo đó, trong nhiều năm tới nghề khai thác hải sản sẽ phát triển mạnh theo hướng vươn khơi; xu thế đóng tàu công suất lớn hơn tiềm năng hiện có đang hình thành và ngày càng phổ biến; hoạt động sản xuất theo mô hình tổ, đội đoàn kết và nghiệp đoàn ngày càng thể hiện tính ưu việt và sẽ là xu thế chủ đạo trong xây dựng một nghề cá hiện đại; mặt khác để hạn chế những tác hại của biến đổi khí hậu, góp phần bảo vệ môi trường và nguồn lợi tự nhiên, xu thế khai thác thân thiện môi trường ngày càng được quan tâm phát triển.


Trong những năm gần đây do sự xuất hiện thường xuyên của dịch lở mồm long móng trên gia súc, dịch cúm trên gia cầm, dịch heo tai xanh, bệnh bò điên, … đã làm cho nhu cầu sử dụng thực phẩm thủy sản trên thế giới ngày càng cao và khi mà các nguồn lợi tự nhiên trên cạn dần cạn kiệt do ảnh hưởng của khai thác quá mức và biến đổi khí hậu thì xu thế vươn ra biển khơi khai thác tài nguyên biển là xu thế chung của thế giới không chỉ của riêng Việt Nam trong đó ngành khai thác hải sản chiếm vị trí quan trọng trong cung cấp thực phẩm cho con người. Việc nghiên cứu ứng dụng tiến bộ của khoa học kỹ thuật trong khai thác, bảo quản và chế biến ngày càng được quan tâm nhằm khai thác ngày một hiệu quả hơn nguồn tài nguyên có hạn của tự nhiên phục vụ cuộc sống của con người.


Vì vậy, việc tổ chức lại nghề khai thác hải sản tỉnh Ninh Thuận là vô cùng cấp thiết. Nếu không chuyển mình, nghề cá tỉnh Ninh Thuận đã tụt hậu sẽ ngày càng tụt hậu hơn so với các tỉnh trong khu vực.


Phần II


QUAN ĐIỂM VÀ MỤC TIÊU CỦA ĐỀ ÁN


I. Quan điểm


1. Phát triển kinh tế biển và vùng ven biển là nhiệm vụ phát triển kinh tế trọng tâm, đột phá của tỉnh. Trong đó, xây dựng kinh tế thủy sản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn và mạnh, có tốc độ tăng trưởng nhanh và hiệu quả cao.


2. Tổ chức lại nghề khai thác hải sản phải đảm bảo an toàn, ổn định, bền vững, khai thác một cách hợp lý nguồn lợi tự nhiên và phải đồng bộ trên tất cả các khâu khai thác, dịch vụ hậu cần và tiêu thụ sản phẩm.


3. Tổ chức lại nghề khai thác hải sản phải gắn với thực hiện nhiệm vụ an ninh, quốc phòng trên từng vùng biển. Lực lượng ngư dân và phương tiện tàu thuyền nghề cá tham gia cùng với lực lượng quốc phòng tạo ra thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân nhằm góp phần khẳng định và bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển.


II. Mục tiêu


1. Mục tiêu chung:


a) Tổ chức lại nghề cá ven bờ và phát triển khai thác hải sản xa bờ một cách hợp lý theo hướng tăng nhanh tàu cá công suất lớn, giảm mạnh tàu cá có công suất nhỏ và thay đổi cơ cấu nghề theo hướng phát triển các nghề khai thác khai thác được hải sản có giá trị kinh tế cao; ổn định khai thác tại vùng biển ven bờ, bảo vệ nghiêm ngặt môi trường, nguồn lợi sinh vật biển và kết hợp với bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển;


b) Đến năm 2020 cơ bản hoàn thành việc tổ chức lại sản xuất trong khai thác hải sản phù hợp với từng nhóm nghề, từng ngư trường và kiểm soát được hoạt động khai thác hải sản trên các vùng biển, nhằm nâng cao hiệu quả khai thác, nâng cao đời sống của cộng đồng dân cư ven biển, hướng đến nghề cá hiện đại, có trách nhiệm và bền vững.


2. Mục tiêu cụ thể:


a) Giai đoạn từ nay đến năm 2015:


- Phân định xong ranh giới quản lý hoạt động khai thác hải sản tại vùng biển ven bờ giáp ranh giữa 2 tỉnh Ninh Thuận và Khánh Hoà (ranh giới quản lý hoạt động khai thác hải sản tại vùng biển ven bờ giáp ranh giữa 2 tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận đã phân định xong).


- Thực hiện phân cấp 100% nhiệm vụ quản lý tàu cá gắn máy có tổng công suất máy chính nhỏ dưới 20CV và vùng nước ven bờ cho Ủy ban nhân dân cấp huyện/thành phố.


- Cơ bản chấm dứt hoạt động khai thác hải sản bằng nghề vây rút có kích thước mắt lưới nhỏ hơn quy định, chất nổ, hoá chất độc trên các vùng biển (nhằm bảo vệ môi trường và nguồn lợi). Ổn định các nghề truyền thống của ngư dân đang hoạt động khai thác tại vùng biển ven bờ trong tỉnh và vẫn mang lại hiệu quả kinh tế; Từng bước chấm dứt tình trạng khai thác hải sản bằng các hình thức mang tính huỷ diệt nguồn lợi trên các thủy vực nội địa (xung điện; hoá chất độc).


- Toàn tỉnh có 750 tàu cá từ 90CV trở lên thường xuyên hoạt động khai thác tại vùng khơi, trong đó đội tàu thực hiện khai thác tại các vùng biển xa đạt 20 chiếc. Với 70 - 75% số tàu là thành viên các tổ, đội ngư dân đoàn kết sản xuất trên biển. Phấn đấu đưa tỷ lệ lao động đã qua đào tạo nghề đạt 50% tổng số lao động trên tàu cá.


- Từng bước tổ chức hợp tác xã sản xuất theo chuỗi sản phẩm khép kín từ cung ứng hậu cần, khai thác, vận chuyển đến thu mua, chế biến, tiêu thụ theo mô hình có tàu dịch vụ hậu cần trên ngư trường; tổ chức thành lập được từ 1-2 nghiệp đoàn nghề cá từ các tổ đoàn kết, hợp tác xã khai thác xa bờ và biển xa.


- Cơ bản giám sát được tàu cá hoạt động trên các vùng biển theo quy định. Giám sát hành trình 15 - 20% tàu cá hoạt động tại vùng khơi.


- Giảm tổn thất sau thu hoạch xuống dưới 15%. Áp dụng hệ thống truy xuất nguồn gốc từ khai thác, bảo quản đến chế biến và tiêu thụ đối với tàu khai thác cá ngừ (nếu có).


- Phấn đấu đưa tổng sản lượng khai thác hải sản hằng năm tăng trưởng bình quân từ 1,5 - 2,0%. Trong đó, sản lượng khai thác hải sản tại vùng khơi đạt 40 - 50%; cá có giá trị kinh tế đạt 10% tổng sản lượng hải sản khai thác toàn tỉnh:


b) Giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2020:


- Chuyển đổi 100% các hộ khai thác hải sản bằng các hình thức mang tính hủy diệt nguồn lợi trên các thủy vực nội địa sang các nghề thích hợp (bảo vệ môi trường và nguồn lợi).


- Giảm 25% số lượng tàu cá có tổng công suất máy chính nhỏ dưới 20CV.


- Toàn tỉnh có 833 tàu cá từ 90CV trở lên thường xuyên hoạt động khai thác tại vùng khơi, 100 - 120 tàu hoạt động khai thác tại các vùng biển xa; 100% số tàu là thành viên các tổ, đội ngư dân đoàn kết sản xuất trên biển. Phấn đấu đưa tỷ lệ lao động đã qua đào tạo nghề đạt 100% tổng số lao động trên tàu cá. Nhân rộng tổ chức hợp tác xã, nghiệp đoàn nghề cá sản xuất theo chuỗi sản phẩm khép kín từ cung ứng hậu cần, khai thác, vận chuyển đến thu mua, chế biến, tiêu thụ theo mô hình có tàu dịch vụ hậu cần trên ngư trường.


- Giám sát hành trình 100% tàu cá hoạt động tại vùng khơi.


- Phấn đấu đưa tổng sản lượng khai thác hải sản hằng năm tăng trưởng bình quân từ 1,8 - 2,2%. Trong đó, sản lượng khai thác hải sản tại vùng khơi đạt 60 - 75%; cá có giá trị kinh tế đạt 20% tổng sản lượng hải sản khai thác toàn tỉnh.


Phần III


NHIỆM VỤ VÀ CÁC DỰ ÁN ƯU TIÊN


I. Nhiệm vụ


1. Tổ chức lại sản xuất trên các vùng biển:


a) Phân vùng khai thác tỉnh Ninh Thuận theo Nghị định số 33/2010/NĐ-CP


(đính kèm Phụ lục 4: Bản đồ phân vùng khai thác)


- Vùng biển ven bờ tỉnh Ninh Thuận:


Phạm vi: là vùng biển được giới hạn bởi mép nước biển tại bờ biển và tuyến bờ, đoạn đi qua vùng biển tỉnh Ninh Thuận (đoạn 9 - 10 theo quy định tại Nghị định số 33/2010/NĐ-CP).


Đối tượng được phép hoạt động khai thác: tàu cá tỉnh Ninh Thuận lắp máy có tổng công suất máy chính dưới 20CV hoặc tàu không lắp máy. Nghiêm cấm tàu cá tỉnh khác hoạt động khai thác hải sản tại vùng biển ven bờ tỉnh Ninh Thuận. Trừ trường hợp có văn bản chấp thuận của Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Thuận.


- Vùng lộng tỉnh Ninh Thuận:


Phạm vi: là vùng biển được giới hạn bởi tuyến bờ và tuyến lộng, đoạn đi qua vùng biển tỉnh Ninh Thuận (đoạn 9 - 10 và 9’- 10’ theo quy định tại Nghị định số 33/2010/NĐ-CP).


Đối tượng được phép hoạt động khai thác thủy sản: tàu cá lắp máy có tổng công suất máy chính từ 20 đến dưới 90 CV.


- Vùng khơi tỉnh Ninh Thuận:


Phạm vi: là vùng biển được giới hạn bởi tuyến lộng, đoạn đi qua vùng biển tỉnh Ninh Thuận (đoạn 9’ - 10’ theo quy định tại Nghị định số 33/2010/NĐ-CP) và ranh giới phía ngoài của vùng đặc quyền kinh tế của vùng biển Việt Nam.


Đối tượng được phép hoạt động khai thác thủy sản: tàu cá được hoạt động khai thác gồm tàu cá lắp máy có tổng công suất máy chính từ 90CV trở lên;


b) Tổ chức lại sản xuất đối với vùng biển ven bờ và vùng lộng:


- Đến năm 2015: tiếp tục phân định xong ranh giới quản lý hoạt động khai thác hải sản tại vùng biển ven bờ giáp ranh với tỉnh Khánh Hoà.


- Tổ chức sắp xếp lại nghề khai thác hải sản tại vùng lộng và ven bờ theo quy hoạch.


- Phân cấp quản lý tàu cá và hoạt động khai thác hải sản tại vùng biển ven bờ cho Ủy ban nhân dân các huyện/thành phố vùng biển.


- Xây dựng và phát triển các mô hình đồng quản lý nhằm phát huy tính cộng động trong việc khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản của dân cư vùng biển;


- Xây dựng và phát triển các mô hình liên doanh, liên kết, gắn kết các khâu trong quá trình sản xuất, từ cung ứng hậu cần, khai thác, bảo quản đến chế biến và tiêu thụ sản phẩm phù hợp với đặc thù của từng nghề và từng địa phương. Củng cố và phát triển các làng nghề ngư nghiệp truyền thống, gắn với xây dựng nông thôn mới ở vùng ven biển.


- Phấn đấu đến năm 2015 cơ bản chấm dứt khai thác hải sản bằng nghề vây rút mùng, chất nổ, đến năm 2020 cơ bản chấm dứt khai thác hải sản bằng các hình thức mang tính hủy diệt nguồn lợi (hoá chất độc, xung điện, ...).


- Xây dựng các mô hình chuyển đổi nghề, tạo sinh kế thay thế cho các nghề khai thác hải sản mang tính hủy diệt nguồn lợi nhằm từng bước tạo việc làm ổn định, nâng cao mức sống ngư dân và bảo vệ môi trường sinh thái vùng biển;


c) Tổ chức lại sản xuất đối với vùng khơi:


- Căn cứ quy hoạch để xây dựng kế hoạch phát triển tàu cá, trong đó tập trung phát triển những nghề có khả năng khai thác xa bờ đạt hiệu quả cao, nhất là các nghề khai thác được sản phẩm có giá trị kinh tế. Định hướng quy hoạch cơ cấu thuyền nghề đến năm 2020, toàn tỉnh có 833 tàu cá hoạt động khai thác tại vùng khơi, chủ yếu gồm các nghề: lưới kéo; lưới vây rút chì; lưới rê và nghề pha (chi tiết tại Phụ lục 5: Quy hoạch thuyền nghề theo vùng khai thác). Theo đó, cơ cấu sản phẩm khai thác đến năm 2015 và 2020 dự kiến sẽ thay đổi như sau:


Bảng 5: Cơ cấu sản lượng khai thác đến năm 2015 và 2020


STT


Phân loại


ĐVT


Năm 2010


Năm 2015


2020


Khối lượng


%


Khối lượng


%


Khối lượng


%


1


Theo vùng khai thác


tấn


52.500


100


65.000


100


75.000


100


Vùng khơi, xa bờ


"


14.200


27,05


32.000


49,23


45.500


65,00


Vùng lộng và ven bờ


"


38.300


72,95


33.000


50,77


24.500


35,00


2


Theo giá trị kinh tế


tấn


52.500


100


65.000


100


75.000


100


Sản phẩm có giá trị kinh tế


"


1.200


2,28


6.500


10,00


15.000


20,00


Khác


"


51.300


97,72


58.500


90,00


60.000


80,00


- Trong tổng sản lượng hải sản khai thác hằng năm, sản phẩm có giá trị kinh tế cao tính đến năm 2015 phấn đấu đạt 6.500 tấn (chiếm 10% tổng sản lượng) và đến năm 2020 phấn đấu đạt 15.000 tấn (chiếm 20% tổng sản lượng) cơ bản bước đầu đảm bảo đủ nguyên liệu để đầu tư nhà máy chế biến hải sản xuất khẩu trên địa bàn tỉnh và hoạt động ổn định.


- Tổ chức lại cơ cấu thuyền nghề phù hợp với hạn ngạch (số lượng tàu; cơ cấu nghề) được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phân bổ.


- Xây dựng và nhân rộng các mô hình: tổ, đội, tổ hợp tác ngư dân đoàn kết sản xuất trên biển; tàu khai thác kết hợp với tàu dịch vụ hậu cần; liên kết giữa ngư dân với các tổ chức, doanh nghiệp thu mua, chế biến, tiêu thụ sản phẩm hải sản. Lấy doanh nghiệp thu mua, chế biến làm hạt nhân của chuỗi sản xuất. Từng bước thành lập các nghiệp đoàn nghề cá ở các làng nghề khai thác hải sản.


- Triển khai thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ của nhà nước đối với tàu cá hoạt động khai thác thủy sản ở vùng biển xa.


2. Nâng cao năng lực quản lý hoạt động khai thác hải sản:


2.1. Đến năm 2015:


- Thực hiện phân cấp xong 100% tàu cá có tổng công suất máy chính nhỏ dưới 20CV cho Ủy ban nhân dân các huyện/thành phố ven biển quản lý theo quy định của Chính phủ.


- Bổ sung thêm nhân lực, trang thiết bị và kinh phí hoạt động, kinh phí đào tạo, tập huấn cho Ủy ban Nhân dân các huyện/thành phố vùng biển để đảm đương được nhiệm vụ quản lý tàu cá theo phân cấp; cụ thể như sau:


Bảng 6: Nhu cầu nâng cao năng lực quản lý( lực lượng chuyên trách)


STT


Nội dung


ĐVT


Toàn tỉnh


Ninh Hải


PR-TC


Thuận Nam


I


Giai đoạn 2013 - 2015


1


Nhân sự


người


04


02


01


01


Lương, kinh phí hoạt động


tr.đồng/năm


200


100


50


50


2


Trang thiết bị


tr.đồng


70


30


20


20


II


Giai đoạn 2016 - 2020


1


Nhân sự


người


12


06


03


03


Lương, kinh phí h.động


tr.đồng/năm


600


300


150


150


2


Phương tiện tuần tra


chiếc


04


02


01


01


Trang bị phương tiện


tr.đồng


2.400


1.200


600


600


Kinh phí hoạt động


tr.đồng/năm


1.360


680


340


340


Trong đó:


- Phương tiện tuần tra: canô vỏ nhựa 70cv; sức chở tối đa 05 người.


- Hoạt động tuần tra: hàng năm có từ 80 - 100 ngày trên biển.


- Nhiên liệu 01 ca nô hoạt động bình quân 01 ngày:


0,180kg/cv.h x 70cv x 10h/ngày x 1,2019l/kg = 151,5 l/ngày


- Cấp đủ kinh phí phục vụ công tác tuần tra kiểm soát bảo vệ nguồn lợi thủy sản của cơ quan cấp tỉnh;


b) Sau năm 2015:


- Trang bị phương tiện, bổ sung biên chế sự nghiệp và kinh phí hoạt động cho Ủy ban nhân dân các huyện/thành phố ven biển để thực hiện nhiệm vụ tuần tra kiểm soát bảo vệ nguồn lợi thủy sản tại vùng biển ven bờ và vùng nước nội địa được phân cấp quản lý.


- Cấp đủ kinh phí để cơ quan Bảo vệ nguồn lợi thủy sản cấp tỉnh thực hiện đào tạo nâng cao trình độ nghiệp vụ và vươn ra tuần tra kiểm soát vùng lộng.


3. Tổ chức lại dịch vụ, hậu cần phục vụ khai thác hải sản:


- Tổ chức lại dịch vụ hậu cần trên bờ nhất là khâu thu mua, bảo quản và tiêu thụ sản phẩm khai thác theo hướng: tạo mối liên kết, chia sẻ lợi ích giữa ngư dân khai thác với tổ chức, doanh nghiệp thu mua, cung cấp dịch vụ hậu cần nghề cá nhằm đảm bảo tiêu thụ sản phẩm nhanh, ổn định và nâng cao giá trị của sản phẩm, nâng cao lợi nhuận cho ngư dân; tiếp tục xây dựng và phát triển các mô hình liên kết giữa các tàu khai thác với nhau, giữa tàu khai thác với tàu dịch vụ hậu cần trên biển;


- Quy hoạch chi tiết và từng bước xây dựng cảng cá Đông Hải thành trung tâm dịch vụ hậu cần nghề cá của tỉnh, cảng cá Ninh Chữ thành trung tâm dịch vụ hậu cần nghề cá của huyện Ninh Hải, cảng cá Cà Ná thành trung tâm dịch vụ hậu cần nghề cá của huyện Thuận Nam. Trong đó, xây dựng cảng cá Đông Hải thành chợ đầu mối thủy sản của tỉnh. Nhằm khai thác các lợi thế: nằm ở trung tâm hành chính của tỉnh; lực lượng tàu cá tập trung đông, đa ngành, đa nghề, đặc biệt là các nghề khai thác cá đáy (lưới quét, lưới kéo, lưới rê cước, …) khai thác được cá có giá trị kinh tế cao, hoạt động quan năm do đó từ lâu đã thu hút nhiều nậu, vựa thu mua, sơ chế phát triển tại đây.


- Nâng cấp, hoàn thiện các cảng cá, bến cá, khu neo đậu trú tránh gió bão cho tàu cá theo quy hoạch, đảm bảo đồng bộ và từng bước hiện đại.


- Từng bước áp dụng hệ thống truy xuất nguồn gốc theo chuỗi giá trị sản phẩm từ khai thác, bảo quản đến chế biến và tiêu thụ sản phẩm nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm khai thác, đảm bảo các quy định về an toàn vệ sinh thực phẩm và phù hợp các cam kết quốc tế về khai thác hải sản. Trước mắt áp dụng quản lý theo chuỗi giá trị sản phẩm, kết hợp với hiện đại hoá các tàu khai thác hải sản ở vùng biển xa bằng nghề lưới rê nilon.


- Củng cố, phát triển các cơ sở cơ khí, đóng sửa tàu thuyền tại các trung tâm nghề cá của tỉnh nhằm đảm bảo đáp ứng đủ, kịp thời nhu cầu đóng sửa tàu cá và các trang thiết bị khai thác của ngư dân trong và ngoài tỉnh: đến năm 2015 tạo điều kiện để nâng công suất của 03 cơ sở đóng mới tại Cà Ná lên 50 - 60 chiếc/năm; tới năm 2020 tạo điều kiện phát triển thêm 1 - 2 cơ sở đóng mới ở huyện Ninh Hải và thành phố Phan Rang Tháp Chàm, nâng công suất đóng mới toàn tỉnh đạt 100 - 120 chiếc/năm. Đó cũng là định hướng phát triển một ngành công nghiệp mới: công nghiệp đóng sửa tàu thuyền. Ngoài việc kịp thời đáp ứng nhu cầu phát triển năng lực khai thác hải sản, góp phần đảm bảo an toàn cho người và tàu cá khi hoạt động trên biển, công nghiệp đóng sửa tàu thuyền còn đem lại giá trị kinh tế và giải quyết việc làm với thu nhập ổn định cho nhiều lao động địa phương.


II. Các dự án ưu tiên để thực hiện đề án


1. Dự án xây dựng mô hình chuyển đổi nghề đối với các nghề xâm hại môi trường:


Mục đích: chuyển những tàu hoạt động khai thác hải sản bằng nghề vây rút mùng và những nghề mang tính hủy diệt nguồn lợi thủy sản sang làm các nghề dịch vụ, du lịch hoặc các nghề khai thác thân thiện với môi trường.


Nội dung: căn cứ đặc điểm của từng nghề, năng lực khai thác của từng nhóm tàu và trình độ chuyên môn của ngư dân mỗi địa phương để nghiên cứu, triển khai thí điểm các mô hình chuyển đổi nghề phù hợp.


Nguồn kinh phí: ngân sách địa phương về sự nghiệp khoa học.


Tổ chức thực hiện: Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản chủ trì; Trung tâm Khuyến nông - Khuyến ngư và Ủy ban nhân dân các xã, phường, thị trấn vùng biển phối hợp.


Thời gian thực hiện: năm 2014 - 2020.


2. Dự án hỗ trợ đóng mới tàu dịch vụ hậu cần trên biển:


Mục đích: góp phần nâng cao hiệu quả khai thác của các tàu khai thác hải sản trên vùng biển xa và vùng khơi, thúc đẩy xây dựng nghiệp đoàn nghề cá và tổ chức sản xuất theo chuỗi sản phẩm.


Nội dung của dự án: hỗ trợ đóng mới 02 tàu dịch vụ hậu cần trên biển với tổng công suất máy chính trên 500CV.


Nguồn kinh phí: vốn tự có của doanh nghiệp và nhân dân; ngân sách địa phương về sự nghiệp khoa học.


Tổ chức thực hiện: Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản.


Thời gian thực hiện: từ năm 2014 - 2020.


3. Nghiên cứu cải tiến một số nghề khai thác hải sản:


Mục đích: nâng cao hiệu quả khai thác, từng bước cơ giới hoá - hiện đại hoá nghề khai thác hải sản.


Nội dung của dự án: nghiên cứu cải tiến một số nghề truyền thống, chủ lực như lưới vây, lưới rê, nghề câu, ... để khai thác đạt hiệu quả cao quanh năm tại vùng khơi.


Nguồn kinh phí: ngân sách địa phương về sự nghiệp khoa học.


Tổ chức thực hiện: Trung tâm Khuyến nông - Khuyến ngư chủ trì; Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản và Ủy ban nhân dân các xã, phường, thị trấn vùng biển phối hợp.


Thời gian thực hiện: từ năm 2014 - 2020.


IV. Phân tích hiệu quả đề án


1. Hiệu quả kinh tế:


Đề án được phê duyệt và triển khai thực hiện sẽ tạo điều kiện thuận lợi để nghề khai thác hải sản tỉnh Ninh Thuận phát triển một cách bền vững, tạo nhiều việc làm với thu nhập ổn định cho cộng đồng dân cư, nâng cao trình độ khai thác của ngư dân, đẩy nhanh tốc độ hiện đại hoá nghề cá và góp phần thay đổi bộ mặt kinh tế, dân sinh, an ninh xã hội ở vùng nông thôn, đô thị đông dân ven biển của tỉnh theo chiều hướng tích cực, góp phần xây dựng nông thôn mới vùng biển.


Nghề khai thác hải sản phát triển theo hướng vươn khơi sẽ góp phần tăng nhanh tỷ trọng hải sản có giá trị xuất khẩu trong tổng sản lượng khai thác hàng năm. Từ đó tạo điều kiện phát triển chế biến xuất khẩu từ sản phẩm khai thác tại địa phương làm cho nghề khai thác hải sản có đóng góp xứng đáng vào quá trình phát triển kinh tế chung của tỉnh Ninh Thuận.


* Các lợi ích từ việc tổ chức sản xuất theo chuỗi sản phẩm


Doanh nghiệp


thu mua, chế biến;


tiêu thụ nội địa


cung ứng vốn, công nghệ


- Trong sơ đồ trên các doanh nghiệp thu mua, chế biến đóng vai trò làm hạt nhân: cung ứng vốn, công nghệ tiên tiến, tìm kiếm thị trường tiêu thụ cho ngư dân;


- Như vậy, việc tổ chức sản xuất liên kết theo chuỗi sản xuất chặt chẽ sẽ đem lại các lợi ích: sản xuất sẽ an toàn, bền vững hơn cả về mặt kinh tế và môi trường nhờ truy xuất được nguồn gốc; nguồn lợi thủy sản nhiều cơ hội được bảo vệ tốt hơn; tăng cường được sức mạnh, tiềm lực cho ngư dân tham gia bảo vệ an ninh, chủ quyền biển đảo của Tổ quốc.


2. Hiệu quả xã hội, quốc phòng:


Thực hiện phân định ranh giới quản lý hoạt động khai thác hải sản tại vùng biển ven bờ giáp ranh với các tỉnh và phân cấp quản lý Nhà nước đối với hoạt động khai thác hải sản tại vùng biển ven bờ Ninh Thuận sẽ góp phần nâng cao trách nhiệm của chính quyền các địa phương vùng biển và hiệu quả quản lý Nhà nước đối với hoạt động khai thác hải sản tại vùng biển ven bờ.


Việc xây dựng các mô hình đồng quản lý sẽ góp phần nâng cao tính cộng đồng trách nhiệm của dân cư vùng biển trong việc khai thác, bảo vệ và phát triển nguồn lợi hải sản.


Tạo sinh kế bền vững cho các tầng lớp nhân dân, góp phần tích cực trong công tác xoá đói - giảm nghèo, hạn chế các tệ nạn xã hội và góp phần xây dựng nông thôn mới vùng biển.


* Lợi ích từ việc tổ chức ngư dân vào nghiệp đoàn:


- Nghề khai thác hải sản xa bờ ngày càng mang tính công nghiệp cao, do ngày càng sử dụng tàu cá có công suất lớn, các trang thiết bị hiện đại để tìm ngư trường, bảo quản sản phẩm, tránh bão, … Do đó, lao động nghề cá là lao động mang tính công nghiệp, việc tổ chức họ thành nghiệp đoàn là yêu cầu tất yếu;


- Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, khi mà chủ quyền biển đảo Tổ quốc đang bị đe doạ. Ngư dân là lực lượng trực tiếp cùng với các lực lượng vũ trang và các lực lượng khác tạo ra thế trận quốc phòng toàn dân trên biển. Việc tập hợp ngư dân trong tổ chức nghiệp đoàn vừa có điều kiện để giáo dục nâng cao nhận thức cách mạng cho họ, vừa tranh thủ được sự ủng hộ, hỗ trợ cả về vật chất lẫn tinh thần của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tăng thêm sức mạnh để ngư dân yên tâm bám biển sản xuất làm giàu cho xã hội và giữ vững an ninh, chủ quyền biển đảo quốc gia.


3. Hiệu quả môi trường:


Tổ chức khai thác hải sản hợp lý sẽ góp phần bảo vệ môi trường, môi sinh tại vùng biển ven bờ. Trong đó, việc thực hiện nghiêm túc phân vùng, phân tuyến trong khai thác sẽ góp phầm giảm áp lực khai thác hải sản nhằm tạo điều kiện thuận lợi để bảo vệ và phát triển nguồn lợi hải sản tại vùng biển ven bờ.


Chấm dứt các nghề khai thác mang tính hủy diệt không chỉ bảo vệ nguồn lợi thủy sản mà còn bảo vệ sự bền vững của môi trường biển và đại dương.


Phần IV


CÁC GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ ÁN


I. Các giải pháp


1. Về công tác tuyên truyền:


- Bằng nhiều hình thức tuyên truyền, tập huấn để nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành, các đoàn thể và ngư dân về vai trò đào tạo nghề đối với việc tạo việc làm, tăng thu nhập và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho lao động vùng biển;


- Các tổ chức hội, đoàn thể, các cơ quan Báo, Đài tăng cường công tác tuyên truyền các chủ trương của Đảng, các cơ chế chính sách pháp luật của Nhà nước về hổ trợ phát triển khai thác hải sản (thông tin phổ biến); hướng dẫn, trao đổi thông tin về khoa học công nghệ, kỹ thuật và thị trường cho người sản xuất; phổ biến sâu rộng các quy định của Nhà nước về bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản, phân vùng, phân tuyến được phép và không được phép khai thác trên biển, quản lý tàu cá và thuyền viên, điều kiện đảm bảo an toàn, điều kiện khai thác thủy sản đến các tổ chức, cá nhân có hoạt động khai thác thủy sản biết và tự giác chấp hành; các kiến thức liên quan đến chủ quyền các vùng biển của tổ quốc và các kỹ năng xử lý tình huống khi bị các tàu nước ngoài tấn công; đồng thời xử lý nghiêm các trường hợp cố tình vi phạm.


2. Về thực hiện công tác quy hoạch, điều chỉnh cơ cấu thuyền nghề:


Theo quy định tại Thông tư số 02/2006/TT-BTS của Bộ Thủy sản. Căn cứ đặc điểm ngư trường, nguồn lợi và tính chất phát triển thuyền nghề của từng địa phương, trình độ chuyên môn hoá của ngư dân mỗi địa phương vùng biển. Nhằm thay đổi cơ cấu sản phẩm khai thác của tỉnh Ninh Thuận theo hướng tăng sản lượng hải sản có giá trị kinh tế thì dự kiến quy hoạch cơ cấu thuyền nghề tỉnh Ninh Thuận được trình bày ở (Phụ lục 4: Quy hoạch thuyền nghề theo vùng khai thác). Với dự kiến quy hoạch như trên, cùng với tác động tích cực của các cơ chế, chính sách và sự chỉ đạo sát sao của các cấp, ngành phấn đấu đến 2020 tỉnh sẽ đủ nguyên liệu để xây dựng nhà máy chế biến hải sản khai thác tại chỗ, đưa khai thác hải sản có đóng góp xứng đáng vào tăng thu ngân sách của địa phương.


3. Về đầu tư phát triển nâng cấp cơ sở hạ tầng nghề cá:


Tiếp tục thực hiện cơ chế kêu gọi các nhà đầu tư thực hiện kế hoạch nạo vét, khơi thông luồng lạch, tạo điều kiện để tàu công suất lớn ra vào thuận lợi. Trước mắt năm 2014, Ủy ban nhân dân tỉnh sẽ xem xét, cân đối để có thể bố trí vốn tối thiểu mở rộng bến cập tàu khoảng 100 - 150 mét đối với cảng cá Ninh Chữ và cảng cá Cà Ná để kịp thời đáp ứng nhu cầu phát triển và tăng năng lực khai thác của ngư dân địa phương đồng thời cũng giải quyết vị trí neo đậu, bảo quản các tàu kiểm ngư mà không ảnh hưởng đến hoạt động ra vào cập cảng bốc dỡ sản phẩm của các tàu cá.


Theo quy hoạch của Chính phủ, nhu cầu nâng cấp, mở rộng các cảng, bến cá và khu neo đậu tránh trú bão trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận đến năm 2020 như sau:


Bảng 7: Quy hoạch cơ sở hạ tầng nghề cá đến năm 2020


STT


Công trình


Địa điểm


Quy mô năng lực


Ghi chú


1


Cảng cá Đông Hải


Đông Hải


100 lượt/600CV


Kết hợp trú bão


2


Cảng cá Cà Ná


Phước Diêm


100 lượt/600CV


Kết hợp trú bão


3


Cảng cá Ninh Chữ


Tri Hải


100 lượt/1.000CV


Kết hợp trú bão


4


Bến cá Mỹ Tân


Thanh Hải


50 lượt/300CV


5


Bến cá Sơn Hải


Phước Dinh


50 lượt/300CV


(Nguồn: Quyết định số 346/QĐ-TTg ngày 15 tháng 3 năm 2010;


Quyết định số 1349/ QĐ-TTg ngày 09 tháng 8 năm 2011)


Tuy nhiên, từ nay đến hết 2015 ngân sách Trung ương cho đầu tư khó khăn, nên các dự án này sẽ tập trung triển khai mạnh sau 2015. Tranh thủ các nguồn lực của các thành phần kinh tế khác để nâng cấp và hoàn thiện các bến cá có tổng vốn đầu tư thấp.


4. Về cơ chế, chính sách: để nghề khai thác hải sản tỉnh Ninh Thuận phát triển nhanh, đúng định hướng và bền vững Ủy ban nhân dân tỉnh sẽ sớm ban hành một số chính sách sau:


- Hỗ trợ chuyển đổi đối với các nghề hủy diệt sang làm các nghề khác thân thiện môi trường;


- Sau khi phân cấp quản lý vùng biển ven bờ cho các huyện, thành phố, Ủy ban nhân dân tỉnh sẽ chỉ đạo hỗ trợ, triển khai áp dụng các mô hình khai thác để nuôi, nuôi để khai thác; khuyến khích ngư dân tham gia đồng quản lý, bảo vệ nguồn lợi thủy sản tại vùng biển ven bờ;


- Xây dựng Đề án Hỗ trợ lãi suất vay tín dụng để khuyến khích ngư dân đóng mới tàu công suất lớn vươn khơi khai thác và tàu dịch vụ hậu cần hoạt động hỗ trợ khai thác tại ngư trường khơi;


- Khuyến khích, thu hút các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh đầu tư xây dựng nhà máy chế biến xuất khẩu sản phẩm thủy sản từ khai thác tại tỉnh hoặc nhà máy dưới dạng vệ tinh cho các công ty xuất nhập khẩu thủy sản lớn trong nước để thu mua, tiêu thụ các sản phẩm khai thác của tàu cá trong tỉnh.


5. Về tổ chức, bộ máy:


- Trong năm 2014 và 2015 bổ sung đủ tối thiểu mỗi huyện/thành phố vùng biển 01 (một) biên chế để tiếp quản nhiệm vụ quản lý tàu cá nhỏ dưới 20CV;


- Sau 2015 bổ sung đủ 10 - 12 biên chế sự nghiệp để các huyện/thành phố tổ chức được công tác tuần tra kiểm soát vùng biển ven bờ và vùng nước nội thủy;


- Sớm hoàn thiện hệ thống chân rết theo dõi quản lý nghề cá đến tận các địa phương cấp xã.


6. Về đào tạo nguồn nhân lực, tiếp nhận chuyển giao khoa học - công nghệ:


a) Đào tạo nguồn nhân lực: xác định là khâu đột phá để phát triển kinh tế thủy sản theo hướng vươn khơi, công nghiệp hoá - hiện đại hoá một cách hiệu quả, bền vững trên cơ sở chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tạo nhiều việc làm với thu nhập ổn định và nâng cao mức sống của nhân dân vùng biển. Vì vậy, trước hết cần có kế hoạch xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý và khoa học kỹ thuật có khả năng ứng dụng công nghệ thông tin vào thực tiễn quản lý, nghiên cứu, triển khai ứng dụng tiến bộ công nghệ giúp ngư dân từng bước hiện đại hoá nghề cá.


- Thực hiện tốt chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn đảm bảo đáp ứng nhu cầu phổ cập trang bị các loại chứng chỉ nghề cho lao động biển.


- Phối hợp với các cơ quan có chức năng tổ chức đào tạo bồi dưỡng nghề cho lực lượng lao động đủ khả năng tiếp thu những tiến bộ công nghệ tiên tiến, áp dụng vào sản xuất nâng cao hiệu quả khai thác.


- Đặc biệt Ủy ban nhân dân tỉnh sẽ quan tâm đến công tác đào tạo nguồn nhân lực kế cận bằng cách mở các ngành đào tạo nghề trung, sơ cấp khai thác hải sản trong các trường nghề tại địa phương; có chính sách ưu tiên hỗ trợ cho học viên theo học nghề khai thác hải sản ở các bậc học sơ, trung, đại học trong đó đặc biệt ưu tiên đối tượng là con em ngư dân;


b) Tiếp nhận và chuyển giao khoa học công nghệ: khoa học và công nghệ là động lực thúc đẩy phát triển ngành; vì vậy, cần tập trung đầu tư đẩy mạnh hoạt động ứng dụng, chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật nhằm giải quyết những vấn đề bức xúc mà thực tiễn sản xuất đang đòi hỏi:


Tiếp thu công nghệ khai thác và bảo quản tiên tiến, hiện đang áp dụng trên tàu cá của các nước có công nghệ khai thác phát triển, tổ chức tập huấn chuyển giao để ngư dân trong tỉnh áp dụng.


Chuyển đổi cơ cấu nghề khai thác phù hợp với đặc điểm điều kiện tự nhiên và nguồn lợi hải sản theo hướng phân định ngư trường, mùa vụ và quy mô khai thác cho từng vùng, địa phương. Phát triển các nghề khai thác cá có giá trị kinh tế cao như: câu khơi, VRC khơi, rê khơi, kéo khơi, câu chụp mực. Trang bị nhiều nghề trên một đơn vị tàu, di chuyển ngư trường theo mùa vụ và tăng thời gian bám biển.


Từng bước hiện đại hoá các tàu cá, nhất là các tàu khai thác tại vùng khơi thông qua việc ứng dụng các thành tựu khoa học để tự động và cơ giới hoá các khâu trong quá trình khai thác: bảo quản và bốc dỡ sản phẩm; thu lưới; thu cá; dò tìm cá; thông tin liên lạc, ... nhằm đảm bảo an toàn và nâng cao hiệu quả sản xuất cho hoạt động đánh bắt hải sản. Thiết lập hệ thống dịch vụ hậu cần trên biển, nhất là ngư trường xa bờ và khu vực có nguồn lợi thủy sản tập trung.


Cung cấp kịp thời với độ chính xác cao các thông tin cần thiết về nguồn lợi, ngư trường, mùa vụ.


7. Giải pháp về vốn:


Tranh thủ nhiều nguồn vốn của Trung ương, địa phương, từ các dự án và của các tổ chức phi Chính phủ; đồng thời có chính sách khuyến khích nhằm huy động tối đa nguồn lực của các thành phần kinh tế. Trong đó:


- Vốn ngân sách Trung ương: đầu tư xây dựng cơ bản hạ tầng nghề cá theo quy hoạch (theo các chương trình của Chính phủ thực hiện đầu tư sau năm 2015); hỗ trợ tàu cá khai thác biển xa (theo Quyết định số 48/2010/QĐ-TTg); hỗ trợ đào tạo nghề (theo Chương trình 1956); hỗ trợ chuyển đổi nghề;


- Vốn ngân sách địa phương: thực hiện phân cấp quản lý, đào tạo nguồn nhân lực quản lý, thực hiện các mô hình ứng dụng chuyển giao, hỗ trợ chuyển đổi nghề, tuần tra bảo vệ nguồn lợi thủy sản và bảo dưỡng, sửa chữa phương tiện tuần tra, điều tra thực trạng và nghiên cứu cải tiến một số nghề khai thác, hỗ trợ chuyển đổi nghề;


- Vốn vay tín dụng, vốn tự có của doanh nghiệp và nhân dân để đóng mới, cải hoán tàu cá và đầu tư các bến cá quy mô nhỏ (nếu có).


Dự kiến tổng nhu cầu vốn khoảng: 2.157,07 tỷ đồng. Trong đó:


- Giai đoạn 2013 - 2015: khoảng 403,37 tỷ đồng; trong đó:


+ Ngân sách Trung ương: 92,5 tỷ đồng (chiếm 22,93% tổng vốn đầu tư).


+ Ngân sách địa phương: 10,87 tỷ đồng (chiếm 2,69% tổng vốn đầu tư).


+ Vốn vay tín dụng, vốn tự có của doanh nghiệp và nhân dân: 300 tỷ đồng (chiếm 74,38% tổng vốn đầu tư).


- Giai đoạn 2016 - 2020: khoảng 1.753,70 tỷ đồng. Trong đó:


+ Ngân sách Trung ương: 764,0 tỷ đồng (chiếm 43,56% tổng vốn đầu tư).


+ Ngân sách địa phương: 39,7 tỷ đồng (chiếm 2,26% tổng vốn đầu tư).


+ Vốn vay tín dụng, vốn tự có của doanh nghiệp và nhân dân: 950 tỷ đồng (chiếm 54,18% tổng vốn đầu tư) (theo phụ lục đính kèm).


II. Tổ chức thực hiện


1. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có trách nhiệm:


Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện Đề án; tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành:


- Quyết định về cấm khai thác hải sản: bằng nghề vây rút mùng; bằng các nghề mang tính hủy diệt;


- Quyết định phân cấp quản lý Nhà nước đối với tàu cá dưới 20 sức ngựa và các hoạt động hải sản thuộc vùng biển ven bờ tỉnh Ninh Thuận cho Ủy ban nhân dân tỉnh các huyện, thành phố;


- Quyết định ban hành quy định về quản lý Nhà nước đối với tàu cá dưới 20CV và các hoạt động hải sản thuộc vùng biển ven bờ tỉnh Ninh Thuận;


- Quyết định hỗ trợ chuyển đổi nghề đối với các nghề mang tính hủy diệt;


- Quyết định giao nhiệm vụ thực hiện các dự án theo quyết định phê duyệt Đề án;


- Kế hoạch triển khai thực hiện Đề án này;


- Phối hợp, hướng dẫn các cơ quan liên quan, Ủy ban nhân dân các huyện/thành phố ven biển tích cực triển khai thực hiện nội dung Đề án này;


- Thực hiện sơ, tổng kết việc tổ chức thực hiện Đề án để rút kinh nghiệm, đề ra các giải pháp hữu hiệu, kịp thời điều chỉnh cho phù hợp.


2. Các sở, ngành liên quan:


- Sở Nội vụ có trách nhiệm tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh: bổ sung nhân lực cho Ủy ban nhân dân các huyện/thành phố vùng biển và cơ quan bảo vệ nguồn lợi thủy sản cấp tỉnh để đủ khả năng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ công tác;


- Sở Tài chính có trách nhiệm tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh: bố trí kinh phí đầu tư phương tiện, trang thiết bị và bổ sung thêm kinh phí hoạt động cho Ủy ban nhân dân các huyện/thành phố vùng biển để thực hiện nhiệm vụ theo phân cấp;


- Sở Kế hoạch và Đầu tư có trách nhiệm tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh: bố trí vốn để thực hiện các dự án đầu tư nâng cấp các cảng cá, bến cá (giai đoạn sau 2015);


- Sở Khoa học và Công nghệ có trách nhiệm tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh: bố trì kinh phí triển khai các đề tài nghiên cứu cải tiến một số nghề truyền thống, thực hiện các mô hình ứn dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn nghề cá.


3. Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố ven biển


- Xây dựng kế hoạch và chương trình hành động cụ thể để tổ chức thực hiện Đề án;


- Chuẩn bị nhân lực, vật lực để tiếp quản việc phân cấp quản lý tàu cá có công suất nhỏ dưới 20CV và quản lý vùng nước ven bờ; phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy hoạch cơ cấu thuyền nghề khai thác xa bờ, sắp xếp ổn định nghề cá ven bờ.


- Chỉ đạo các đơn vị, hội, đoàn thể, Ủy ban nhân dân tỉnh cấp xã có liên quan tập trung vận động ngư dân xây dựng mô hình quản lý nghề cá, bảo vệ nguồn lợi thủy sản, ... dựa vào cộng đồng;


- Phối hợp với ngành Nông nghiệp quản lý an ninh trật tự, khu vực tàu thuyền neo đậu tại các cảng, bến cá trên địa bàn;


- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trên các phương tiện thông tin đại chúng để toàn thể nhân dân trên địa bàn quản lý được biết và thực hiện.


4. Các hội nghề nghiệp: phối hợp tuyên truyền, phổ biến các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến toàn thể hội viên được biết và thực hiện. Trong phạm vi trách nhiệm của mình đề xuất cơ chế chính sách và biện pháp khuyến khích hỗ trợ các tổ chức, cá nhân đầu tư phát triển thủy sản gắn với tổ chức lại sản xuất bảo đảm sản xuất có hiệu quả và bảo vệ môi trường; đồng thời chủ động vận động, giáo dục hội viên trong việc tăng cường quản lý chất lượng trong quá trình sản xuất bảo đảm an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng và xuất khẩu.


5. Các tổ chức tín dụng đóng trên địa bàn tỉnh: các ngân hàng, tổ chức tín dụng đóng trên địa bàn tỉnh quan tâm nghiên cứu triển khai thực hiện các chính sách, chủ trương hỗ trợ phát triển khai thác xa bờ của tỉnh.


Phần V


KIẾN NGHỊ


I. Đối với Chính phủ


- Tiếp tục có những chính sách khuyến khích phát triển tàu khai thác hải sản xa bờ: hỗ trợ đóng mới hoặc hỗ trợ lãi suất vay tín dụng cho ngư dân;


- Kéo dài thời gian thực hiện chính sách hỗ trợ tàu khai thác và tàu dịch vụ khai thác hải sản trên các vùng biển xa (Quyết định số 48/2010/QĐ-TTg; Quyết định số 38/2013/QĐ-TTg) đến năm 2020;


- Có chính sách riêng về hỗ trợ phát triển tàu dịch vụ hậu cần trên biển;


- Dành nguồn vốn tương xứng ưu tiên đầu tư nâng cấp hạ tầng nghề cá (cảng cá; bến cá; khu neo đậu trú tránh gió bão, …);


- Sau năm 2015 dành nguồn vốn để trang bị mới các tàu kiểm ngư đủ khả năng tuần tra kiểm soát bảo vệ nguồn lợi thủy sản trên vùng lộng cho các địa phương.


II. Đối với các Bộ, ngành Trung ương


Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tài chính và Bộ Kế hoạch Đầu tư ưu tiên bố trí nguồn vốn hỗ trợ cho tỉnh Ninh Thuận thực hiện:


- Đầu tư nâng cấp các cảng cá, bến cá (giai đoạn sau 2015);


- Trang bị mới tàu kiểm ngư;


- Cấp đủ kinh phí để tổ chức tốt tuần tra, kiểm soát và hướng dẫn ngư dân khai thác đúng vùng, đúng tuyến theo quy định./.


TM. ỦY BAN NHÂN DÂN


KT. CHỦ TỊCH


PHÓ CHỦ TỊCH


Trần Xuân Hoà

Phụ lục 2


NĂNG LỰC TÀU CÁ TỈNH NINH THUẬN


(tính đến tháng 6 năm 2013)


__________________


Đơn vị tính: chiếc/cv


STT


Địa phương


Tổng cộng


< 20CV


20 - 49CV


50 - 89CV


≥ 90CV


1


Thuận Bắc


19/231


19/231


Công Hải


19/231


19/231


2


Ninh Hải


966/40.791


638/8.880


126/4.201


83/5.293


119/22.417


Vĩnh Hải


153/2.706


135/1.797


14/359


2/150


2/400


Nhơn Hải


7/100


7/100


Thanh Hải


335/13.387


229/3.189


42/1.451


19/1.282


45/7.465


Tri Hải


95/10.021


24/326


25/725


14/830


32/8.140


Phương Hải


3/33


3/33


Khánh Hải


373/14.544


240/3.435


45/1.666


48/3.031


40/6.412


3


PR - TC


687/41.544


238/3.305


231/6.676


105/6.691


113/24.872


Đông Hải


543/29.731


189/2.639


194/5.413


84/5.311


79/16.368


Mỹ Đông


139/11.542


48/654


35/1.210


20/1.294


36/8.384


Mỹ Bình


1/33


1/33


Mỹ Hải


4/238


1/12


1/20


1/86


1/120


4


Thuận Nam


907/116.135


323/4.503


72/2.236


35/2.488


477/106.908


Phước Dinh


194/8.203


128/1.594


31/967


7/408


28/5.234


Cà Ná


64/13.585


8/252


4/302


52/13.031


Phước Diêm


649/94.347


195/2.909


33/1.017


24/1.778


397/88.643


5


Ninh Phước


1/56


1/56


An Hải


1/56


1/56


Toàn tỉnh


2.580/198.757


1.218/16.919


429/13.113


224/14.528


709/154.197


(nguồn: báo cáo của Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản, tháng 6/2012)

Phụ lục 3


SO SÁNH VỚI CÁC TỈNH TRONG KHU VỰC


1. So với tỉnh Bình Thuận (tính đến tháng 6 năm 2012):


STT


Nội dung


Bình Thuận


Ninh Thuận


Số lượng


Tỷ lệ % so với tổng số


Số lượng


Tỷ lệ % so với tổng số


1


Năng lực khai thác tính đến tháng 6/2012


Tổng số


7.945 tàu


2.580 tàu


Tàu nhỏ dưới 20cv


2.775 tàu


34,9


1.218 tàu


47,2


Tàu từ 20 đến dưới 90cv


3.179 tàu


40,0


653 tàu


25,3


Tàu từ 90cv trở lên


1.991 tàu


25,1


709 tàu


27,5


2


Về cơ cấu nghề khai thác


Nghề kéo lưới


1.194 tàu


15,0


117 tàu


4,5


Nghề vay rút chì


438 tàu


5,5


127 tàu


4,9


Nghề lưới rê


2.844 tàu


35,8


1.080 tàu


41,9


Nghề câu


2.394 tàu


30,1


222 tàu


8,6


Nghề dịch vụ hậu cần


141 tàu


1,7


20 tàu


0,7


Nghề khác


934 tàu


11,9


1.014 tàu


39,4


3


Về sản lượng khai thác hải sản năm 2012


Tổng sản lượng


174.849 tấn


64.195 tấn


Năng suất bình quân


22,1 tấn/tàu


24,8 tấn/tàu


Cá có giá trị kinh tế


34.970 tấn


20,00


5.148 tấn


8,02


Sản lượng tôm


2.227 tấn


1,27


76 tấn


0,11


Sản lượng mực


19.204 tấn


10,98


755 tấn


1,17


4


Về dịch vụ hậu cần nghề cá


Tàu dịch vụ hậu cần trên biển


141 tàu


20 tàu


Đóng sửa tàu thuyền


40 cơ sơ


07 cơ sở


Chế biến hải sản


334 nhà máy


01 nhà máy


2. So với tỉnh Quảng Ngãi (tính đến tháng 12 năm 2012):


STT


Nội dung


Bình Thuận


Ninh Thuận


Số lượng


Tỷ lệ % so với tổng số


Số lượng


Tỷ lệ % so với tổng số


1


Năng lực khai thác tính đến tháng 6/2012


Tổng số tàu cá


5.543 tàu


2.608 tàu


Tổng công suất


808.462cv


214.661cv


Công suất bình quân


145,8cv/tàu


82,3cv/tàu


Tàu dưới 20cv


1.174 tàu


21,17


1.215 tàu


47,09


Tàu từ 90cv trở lên


2.4111tàu


43,49


759 tàu


29,41


2


Về cơ cấu nghề khai thác


Nghề lưới kéo


1.860 tàu


33,56


117 tàu


04,48


Nghề vây rút chì


754 tàu


13,60


127 tàu


04,86


Nghề lưới rê


1.228 tàu


22,15


1.080 tàu


41,41


Nghề câu


818 tàu


14,76


222 tàu


08,51


Nghề khác


883 tàu


15,93


1.062 tàu


40,74


3


Về sản lượng khai thác hải sản


Tổng sản lượng


126.400 tấn


64.195 tấn


Năng suất bình quân


23,1 tấn/tàu


24,8 tấn/tàu


4


Về dịch vụ sản xuất trên biển


4.1


Nghiệp đoàn nghề cá


07 nghiệp đoàn


/


Đoàn viên


2.350 ngư dân


/


Số tàu cá tham gia


405 tàu


/


4.2


Tổ ngư dân đoàn kết


269 tổ


41 tổ


Tổ viên


13.208 ngư dân


615 ngư dân


Số tàu tham gia


1.708 tàu


187 tàu


3. So với tỉnh Trung và Nam Trung bộ (tính đến tháng 06 năm 2012):


Đơn vị tính: chiếc


Nội dung


Ninh Thuận


Khánh Hoà


Phú Yên


Bình Định


Tổng số tàu cá


2.580


9.799


7.253


8.098


Nhỏ dưới 20cv


1.218


5.535


4.710


2.695


Từ 20 đến dưới 90cv


653


3.154


1.907


3.711


Tàu từ 90cv trở lên


709


1.110


636


1.692

Phụ lục 5


QUY HOẠCH THUYỀN NGHỀ THEO VÙNG KHAI


Đơn vị tính: chiếc


Loại nghề


Tháng 6/2012 (*)


Năm 2015


Năm 2020


Ven bờ


Lộng


Khơi


Ven bờ


Lộng


Khơi


Ven bờ


Lộng


Khơi


Lưới kéo


2


107


8


0


65


55


0


30


58


Ninh Hải


2


43


25


20


10


20


Phan Rang - Tháp Chàm


62


8


40


30


20


30


Thuận Nam


2


5


8


Lưới vây


7


50


25


0


115


85


0


95


105


Ninh Hải


7


48


25


80


60


70


70


Phan Rang - Tháp Chàm


2


10


10


5


15


Thuận Nam


25


15


20


20


Lưới rê


735


330


15


735


280


125


570


465


140


Ninh Hải


325


58


1


325


70


10


270


135


15


Phan Rang - Tháp Chàm


182


261


14


182


190


110


140


240


115


Thuận Nam


209


11


209


20


5


150


80


10


Thuận Bắc


19


19


10


10


Pha xúc


0


535


0


0


340


320


0


305


355


Ninh Hải


36


25


15


20


20


Phan Rang - Tháp Chàm


13


15


5


5


15


Thuận Nam


486


300


300


280


320


Câu các loại


202


18


2


190


45


25


170


142


35


Ninh Hải


85


7


2


85


20


15


70


50


20


Phan Rang - Tháp Chàm


35


10


35


15


5


30


70


10


Thuận Nam


82


1


70


10


5


70


22


5


Vây rút mùng


29


92


0


0


0


0


0


0


0


Ninh Hải


23


29


Phan Rang - Tháp Chàm


5


1


Thuận Nam


1


62


Khác


260


163


0


0


180


140


0


190


140


Ninh Hải


207


67


120


90


120


90


Phan Rang - Tháp Chàm


21


73


40


35


50


35


Thuận Nam


32


23


20


15


20


15


Tổng cộng


1.235


1.295


50


925


1.025


750


740


1.227


833


Ninh Hải


649


288


28


410


340


210


340


405


235


Phan Rang - Tháp Chàm


243


422


22


217


310


195


170


390


220


Thuận Nam


324


585


0


279


375


345


220


422


378


Thuận Bắc


19


0


0


19


0


0


10


10


0


Phụ lục 1

Phụ lục 1


SẢN LƯỢNG VÀ GIÁ TRỊ KHAI THÁC HẢI SẢN QUA CÁC NĂM


Phân theo năm


Sản lượng khai thác (tấn)


Giá trị sản xuất theo giá hiện hành (triệu đồng)


Giá trị tính theo GDP



các loại


Tôm


Mực


Hải sản khác


Tổng cộng


Ngành


Thủy sản


Nghề khai thác


Ngành


Thủy sản


Nghề khai thác


Giá trị


Tỷ lệ %


Giá trị


Tỷ lệ %


Năm 2005


40.320


280


2.900


300


44.800


733.910


416.505


56,75


412.362


298.702


72,44


Năm 2006


41.955


282


3.905


358


46.500


862.572


430.626


49,92


493.108


329.431


66,81


Năm 2007


45.462


182


1.817


437


48.078


1.138.772


553.492


48,60


673.837


356.880


52,96


Năm 2008


47.463


361


2.760


416


51.000


1.564.612


976.284


62,40


902.987


592.359


65,62


Năm 2009


48.000


640


1.460


400


50.500


1.537.232


879.675


57,22


882.074


546.850


61,99


Năm 2010


49.109


240


762


443


50.554


3.118.525


2.079.326


66,68


1.024.889


693.184


67,64


Năm 2011


54.223


1.085


234


358


55.900


4.041.443


2.744.904


67,92


1.459.338


940.709


64,46


Năm 2012


63.086


76


755


278


64.195


5.051.649


3.407.527


67,45


1.743.363


1.109.625


63,65


(Nguồn: niên giám thống kê các năm của Cục Thống kê tỉnh Ninh Thuận)

Phụ lục 6


DỰ TOÁN NGÂN SÁCH ĐỊA PHƯƠNG ĐỂ THỰC HIỆN ĐỀ ÁN


STT


Nội dung thực hiện


Nhu cầu vốn đầu tư (tỷ đồng)


Nguồn kinh phí


Giai đoạn 2013 - 2015


2020


Tổng cộng


Thường xuyên


Không


thường xuyên


Đầu tư mua sắm


Sự nghiệp khoa học


Mỗi năm


Cộng


Mỗi năm


Cộng


I


Phân cấp quản lý (UBND huyện, thành phố)


0,223


0,670


1,960


12,200


12,870


3,670


6,800


2,400


1


Kinh phí hoạt động (lương, bảo hiểm, …


0,223


0,670


0,600


3,000


3,670


3,670


2,400


2


Trang bị phương tiện tuần tra, kiểm soát BVNT TS


2,400


2,400


2,400


3


Hoạt động tuần tra, kiểm soát BVNL TS ven bờ


1,360


6,800


6,800


6,800


II


Điều tra thực trạng, quy hoạch thuyền nghề


3,000


2,500


5,500


5,500


1


Điều tra thực trạng


(năm 2013)


0,500


0,500


0,500


2


Nghiên cứu cải tiến một số nghề khai thác


(năm


2013-2014)


0,500


0,500


0,500


3


Hỗ trợ chuyển đổi nghề


2,000


2,500


4,500


4,500


III


Dự án đóng mới tàu dịch vụ hậu cần


1,200


1,200


1,200


IV


Chuyển giao khoa học - công nghệ, đào tạo nhân lực


0,500


1,500


0,600


3,000


4,500


4,500


1


Đào tạo nhân lực quản lý


0,200


0,600


0,300


1,500


2,100


2,100


2


Mô hình ứng dụng, chuyển giao


0,300


0,900


0,300


1,500


2,400


2,400


V


Tuần tra, kiểm soát (Chi cục KT & BVNL TS)


0,667


4,500


4,400


22,00


26,500


26,500


1


Kinh phí tuần tra


2,500


3,600


18,00


20,500


20,500


2


Kinh phí bảo dưỡng, sửa chữa tàu


0,667


2,000


0,800


4,000


6,000


6,000


Tổng cộng


10,870


6,960


39,700


50,570


3,670


37,800


2,400


6,700

Phụ lục 7


DỰ TOÁN NGÂN SÁCH TRUNG ƯƠNG VÀ KINH PHÍ KHÁC ĐỂ THỰC HIỆN ĐỀ ÁN


STT


Nội dung thực hiện


Vốn đầu tư (tỷ đồng)


Chủ trì thực hiện


Nguồn vốn thực hiện


2013-2015


2016-2020


Tổng cộng


I


Quy hoạch thuyền nghề


306,00


957,50


1.263,50


1


Phát triển (cải hoán, đóng mới, mua mới) tàu cá


300


950,00


1.250,00


Ngư dân và các thành phần kinh tế


Vay tín dụng; tự có trong dân


2


Hỗ trợ chuyển đổi nghề


6,00


7,50


13,50


Chi cục Khai thác &BVNLTS


Ngân sách Trung ương


II


Đầu tư phát triển, nâng cấp cơ sở hạ tầng nghề Cá


50,00


670,00


720,00


1


Cảng cá Đông Hải


270,00


270,00


BQL Dự án ngành Nông nghiệp


Vốn xây dựng cơ bản tập trung theo các Quyết định số 346/QĐ-TTg ngày 15/3/2010 và số 1349/QĐ-TTg ngày 09/8/2011


2


Biển cá Mỹ Tân


100,00


100,00


BQL Dự án ngành Nông nghiệp


3


Khu neo đậu trú tránh bão Cà Ná


200,00


200,00


BQL Dự án ngành Nông nghiệp


4


Bến cá Sơn Hải


100,00


100,00


BQL Dự án ngành Nông nghiệp


5


Khu chế biến thủy sản tập trung


Ngân sách Trung ương. Dự án do các Bộ, ngành đầu tư trên địa bàn tỉnh theo QĐ số 1222/QĐ-TTg


- Huyện Thuận Nam


30,00


30,00


UBND các huyện


- Huyện Ninh Hải


20,00


20,00


UBND các huyện


III


Đào tạo nhân lực


6,50


6,50


13,00


1


Đào tạo dạy nghề cho ngư dân


6,50


6,50


13,00


Chi cục Khai thác&BVNL TS


Đề án 1956 của Chính phủ


IV


Tuần tra, kiểm soát (Chi cục KT&BVNL TS)


0,00


30,00


30,00


1


Kinh phí mua sắm mới tàu tuần tra


30,00


30,00


Chi cục Khai thác&BVNL TS


Ngân sách TW theo Đề án


V


Hỗ trợ tàu cá khai thác xa bờ


30,00


50,00


80,00


Các cơ quản lý Nhà nuớc


Ngân sách TW theo Quyết định sô 48/QĐ-TTg


Tổng cộng


329,50


1.714.000


2.106,50






































































































Tổng quan văn bản

Số ký hiệu04/2014/QĐ-UBND
Ngày ban hành21/01/2014
Loại văn bảnQuyết định
Ngày có hiệu lực31/01/2014
Nguồn thu thậpCơ sở dữ liệu
Ngày đăng công báo---
Cơ quan ban hành / Người kýUBND tỉnh Ninh Thuận / Trần Xuân Hoà
Phạm viNinh Thuận
Trích yếuVề việc ban hành Đề án tổ chức lại nghề khai thác hải sản tỉnh Ninh Thuận, giai đoạn 2013 - 2020
Tình trạng hiệu lựcCòn hiệu lực

Chưa có thông tin lược đồ

Văn bản này hiện chưa được cập nhật dữ liệu về lược đồ liên quan.