|
UBND TỈNH GIA LAI Số: 100/2001/QĐ-UB |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------------------------- tỉnh Gia Lai, ngày 12 tháng 12 năm 2001 |
QUYẾT ĐỊNH
CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
Về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Chư Sê, giai đoạn 2001 – 2010
________________________
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Căn cứ điều 41 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 1994;
- Xét quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Chư Sê, giai đoạn 2001-2010, tại Tờ trình số 79/TT-UB ngày 20 tháng 8 năm 2001 của UBND huyện Chư Sê (sau khi đã được chỉnh sửa theo tinh thần cuộc họp ngày 27 tháng 2 năm 2001 của Hội đồng nghiệm thu quy hoạch);
Theo đề nghị của Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư tại Tờ trình số 398/TT-KH ngày 22 tháng 10 năm 2001,
QUYẾT ĐỊNH
Điều 1: Phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Chư Sê, giai đoạn 2001 - 2010 với những nội dung chủ yếu sau:
I - MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN CHỦ YẾU:
1. Về kinh tế - xã hội:
- Phấn đấu nhịp độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm thời kỳ 2001 - 2010 đạt 10%, trong đó: giai đoạn 2001-2005: 8%, giai đoạn 2006-2010: 12,1%. GDP bình quân đầu người năm 2005 đạt 4 triệu đồng, đến năm 2010 đạt 6,1 triệu đồng. Phấn đấu mức huy động GDP và ngân sách đạt 8% năm 2005 lên 9% năm 2010.
- Từng bước tạo ra sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển thâm canh cây công nghiệp dài ngày, phát triển cây ngắn ngày, gắn với công nghiệp chế biến, chăn nuôi gia súc, đại gia súc; tăng cường quản lý bảo vệ, trồng rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng, gắn lâm nghiệp với định canh định cư, nhằm tạo cuộc sống ổn định cho đồng bào dân tộc. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ; đến năm 2005, CN - XD: 12,6%, NLN: 75%, dịch vụ: 12,4% và năm 2010: CN - XD: 21,6%, NLN: 59,4%, dịch vụ: 19%.
- Giảm tỷ lệ tăng dân số tự nhiên còn 2% vào năm 2005 và 1,8% vào năm 2010, tỷ lệ tăng cơ học bình quân hàng năm 0,65%. Thực hiện dãn dân tại chỗ theo hướng quy hoạch lại trên địa bàn để ổn định dân cư theo các bản làng, ổn định dân di cư tự do.
- Chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân theo quan điểm dự phòng tích cực và chủ động. Thực hiện tốt các chương trình y tế quốc gia, hạn chế và đẩy lùi các bệnh sốt rét, bướu cổ, phong và các dịch bệnh khác, giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng. Nâng cấp, trang bị phương tiện cho cơ sở y tế các cấp, tăng cường đội ngũ y bác sĩ.
- Phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục ở tất cả các cấp học; đáp ứng đủ giáo viên, chú trọng đào tạo giáo viên là người đồng bào dân tộc. Thực hiện chuẩn quốc gia về phổ cập tiểu học đúng độ tuổi, phổ cập trung học cơ sở vào năm 2010, tăng tỷ lệ học cấp III, đa dạng hoá đào tạo, chú trọng việc đào tạo nghề cho thanh niên.
- Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, xoá hết hộ đói, giảm số hộ nghèo xuống dưới 12% vào năm 2005 và dưới 7% vào năm 2010 (theo tiêu chí mới). Hình thành các khu vui chơi giải trí, các cụm văn hoá, củng cố và duy trì các hoạt động mang bản sắc văn hoá dân tộc. Mở rộng diện tích phủ sóng và nâng cao chất lượng truyền hình, xây dựng hệ thống truyền thanh đến xã, làng.
- Xây dựng thị trấn Chư Sê thành thị trấn mẫu; nâng cấp Nhơn Hoà thành thị trấn, xây dựng thị tứ tại Bơ Ngoong, Ia Hlốp chia tách thêm xã mới, chuẩn bị cơ sở để tách huyện theo quy hoạch của tỉnh.
2. Về an ninh - quốc phòng:
Giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, chú trọng đến hoạt động tín ngưỡng của các tôn giáo, không để các phần tử lợi dụng tôn giáo để gây rối, xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc.
II - NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN CHỦ YẾU:
1. Phát triển nông - lâm nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá:
Phát triển sản xuất nông - lâm kết hợp toàn diện, sử dụng đất bền vững. Chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi theo hướng thâm canh cây công nghiệp dài ngày, mở rộng diện tích cây lương thực, chuyên canh, xen canh cây công nghiệp ngắn ngày để đa dạng hoá sản phẩm, đưa chăn nuôi thành ngành chính trên cơ sở cải tạo và tăng chất lượng đàn gia súc. Đẩy mạnh thâm canh tăng vụ, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất để nâng cao năng suất và chất lượng cây trồng. Khuyến khích các hộ kinh doanh theo mô hình trang trại, vườn rừng, đặc biệt là các hộ vùng sâu, vùng xa. Phấn đấu nhịp độ tăng GDP bình quân của ngành đạt 5% giai đoạn 2001-2005 và 7% giai đoạn 2006-2010.
* Về trồng trọt:
- Sản xuất lương thực: mở rộng diện tích lúa nước, tăng diện tích lúa 2 vụ, ít nhất đạt 350 ha vào năm 2005 và 450 - 500 ha vào năm 2010, đồng thời phát triển lúa nước 1 vụ đạt 2.500 ha năm 2005 và 2.600 ha năm 2010, giảm diện tích lúa rẫy đến năm 2005 còn 900 ha và năm 2010 còn 800 ha; phát triển cây ngô (chủ yếu là ngô lai) đạt 3.250 ha vào năm 2005 và 3.400 ha vào năm 2010. Phấn đấu sản lượng lương thực đạt 32.500 tấn năm 2005 và 38.500 - 39.000 tấn vào năm 2010.
- Cây công nghiệp, cây ăn quả: Đối với các loại cây công nghiệp dài ngày: giảm 2.000 ha cà phê chuyển sang trồng các cây: bông, ngô lai và các cây ngắn ngày khác; đối với cao su, tiêu trong thời gian tới không mở rộng diện tích mà chỉ đầu tư phát triển theo hướng thâm canh, phát triển cây điều ghép ở các xã có đất đai phù hợp. Đồng thời chú trọng phát triển các loại cây công nghiệp ngắn ngày như: bông, lạc, đậu... đến năm 2005 có 2.000 ha và năm 2010 có 3.000 - 4.000 ha bông. Thực hiện tốt việc cải tạo vườn tạp, từng bước thử nghiệm và đưa vào trồng các giống cây ăn quả có giá trị cao.
* Về chăn nuôi: Phát triển đàn gia súc, gia cầm trên cơ sở lai tạo giống có năng suất cao, chất lượng tốt. Đến năm 2005, đàn trâu bò có 36.500 con, đàn heo: 45.000 con và đàn dê: 3.000 con; năm 2010 đàn trâu bò: 42.500 con, heo: 50.000 con, dê: 5.000 con; tỷ lệ bò lai đạt 35% năm 2005 và 50% năm 2010. Ngoài ra chú trọng phát triển đàn ong mật, nuôi cá nước ngọt.
* Về lâm nghiệp: Tăng cường công tác quản lý, bảo vệ và phát triển vốn rừng. Thực hiện tốt chương trình 5 triệu ha rừng; tiến hành giao đất, khoán rừng cho dân quản lý bảo vệ và trồng rừng. Phấn đấu trong giai đoạn 2001-2010 quản lý bảo vệ tốt diện tích rừng hiện có, khoanh nuôi phục hồi tự nhiên 2.478 ha, trồng mới 2.310 ha; nâng độ che phủ của rừng lên 49% vào năm 2010.
2. Phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp:
Phấn đấu nhịp tăng GDP bình quân của ngành đạt 18,9% thời kỳ 2001-2005 và 25% thời kỳ 2006-2010.
Phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp theo hướng hình thành các cụm, điểm công nghiệp tại thị trấn Chư Sê, Nhơn Hoà, Bờ Ngoong và Ia Hlốp. Tập trung đầu tư cho chế biến nông sản, trong đó trọng điểm là chế biến cà phê, cao su phục vụ cho xuất khẩu. Đồng thời chú trọng phát triển các lĩnh vực công nghiệp tạo ra sản phẩm phục vụ cho nhu cầu trong huyện trên cơ sở sử dụng lao động và nguồn nguyên liệu tại chỗ như: chế biến thức ăn gia súc, sản xuất vật liệu xây dựng, cơ khí nhỏ, từng bước thực hiện cơ khí hoá trong khâu gieo trồng, công nghệ sau thu hoạch...
3. Phát triển thương mại - du lịch:
Phấn đấu nhịp độ tăng trưởng GDP bình quân của ngành đạt 25,76% giai đoạn 2001-2005 và 22% giai đoạn 2006-2010.
Hình thành khu trung tâm thương mại ở thị trấn huyện và các trung tâm theo các cụm công nghiệp làm đầu mối cho việc trao đổi hàng hoá; tăng cường củng cố và mở rộng các hợp tác xã mua bán; từng bước xây dựng và phát triển hệ thống chợ nông thôn; phấn đấu 100% các xã vùng sâu vùng xa có cửa hàng, quầy hàng chính sách để phục vụ cho nhân dân, nhất là trong mùa mưa.
Tăng cường đầu tư mở rộng, phát triển các điểm du lịch trên địa bàn huyện như: thác Phú Cường, hồ Ayun Hạ, làng voi Nhơn Hoà... liên kết với mạng lưới du lịch của tỉnh để tổ chức thành các tuyến, tour du lịch.
4. Phát triển cơ sở hạ tầng:
* Giao thông: Huy động các nguồn vốn đầu tư kết hợp với đóng góp của nhân dân để nhanh chóng hoàn chỉnh các hệ thống giao thông trên địa bàn huyện. Đến năm 2005 hoàn thành nhựa hoá các tuyến đường từ thị trấn đi các xã: Dun, AlBá, Bơ Ngoong; từng bước rải nhựa, nâng cấp, duy tu bảo dưỡng các tuyến đường nội thị để ít nhất 50% đường nội thị được nhựa hoá và cấp phối; nâng cấp các tuyến liên xã, phát triển giao thông nông thôn đảm bảo giao thông thuận lợi trong mùa mưa.
* Thuỷ lợi: Đầu tư xây dựng mới các công trình thuỷ lợi như Ia Ring, Ia Hlốp, Ia Pết, Ia Pát... nâng cấp và xây dựng mới một công trình thủy lợi vừa và nhỏ khác, kiên cố hoá kênh mương để đảm bảo đủ nước tưới cho diện tích lúa 2 vụ và các cây công nghiệp trên địa bàn huyện.
* Cấp điện: Mở rộng hệ thống điện đến các xã chưa có điện, xây dựng thuỷ điện nhỏ ở những nơi có điều kiện. Phấn đấu đến năm 2005 đạt 100% xã có điện năm 2010 có 90% làng, bản có điện, 80% số hộ được dùng điện.
* Cấp nước: Hoàn thành xây dựng nhà máy nước thị trấn Chư Sê, xây dựng nhà máy nước tại Nhơn Hoà. Tranh thủ mọi nguồn vốn để đầu tư hệ thống cấp nước cho các cụm công nghiệp, xây dựng hệ thống giếng đào, giếng khoan và giọt nước ở vùng nông thôn, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc để đến năm 2005 có 70% và năm 2010 có 90% số dân được dùng nước sạch.
* Bưu chính viễn thông: Hiện đại hoá mạng lưới thông tin liên lạc ở thị trấn và mở rộng ở các xã. Đến năm 2005 hoàn thành xây dựng các bưu cục tại các xã còn lại, đa số xã có điểm bưu điện văn hoá.
5. Các lĩnh vực văn hoá - xã hội:
* Dân số - lao động và việc làm: Đẩy mạnh công tác dân số - kế hoạch hoá gia đình, phấn đấu giảm tỷ lệ tăng dân số tự nhiên còn 2% năm 2005 và 1,8% năm 2010. Đến năm 2005 quy mô dân số toàn huyện: 128.500 người, trong đó 57.100 người ở độ tuổi lao động: năm 2010: 148.200 người, trong đó 6800 người ở độ tuổi lao động.
Khai thác, sử dụng nguồn lao động tại chỗ thông qua việc đào tạo, hướng nghiệp nâng cao trình độ kỹ thuật, chuyên môn nghiệp vụ; ưu tiên đào tạo cán bộ là người dân tộc thiểu số để về phục vụ cho địa phương.
* Giáo dục - đào tạo: Thực hiện xã hội hoá sự nghiệp giáo dục - đào tạo; mở rộng các hình thức dân lập, tư thục và các hoạt động hướng nghiệp, dạy nghề; hỗ trợ và tạo điều kiện cho con em đồng bào dân tộc, những người nghèo, đối tượng chính sách có điều kiện đi học. Nâng cao chất lượng dạy và học ở giáo dục mầm non và các cấp phổ thông; tăng cường bồi dưỡng giáo viên người địa phương để đảm bảo đủ giáo viên. Đặc biệt quan tâm tăng cường cơ sở vật chất và thiết bị dạy học cho các trường dân tộc nội trú.
Đến năm 2005, huy động 95% và đến năm 2010 gần 100% học sinh trong độ tuổi tiểu học được đến trường, từng bước phổ cập trung học cơ sở, tăng tỷ lệ học sinh học cấp III. Tăng cường cơ sở vật chất về trường lớp, thiết bị dạy và học, xoá bỏ tình trạng học ca 3.
* Y tế: Nâng cao toàn diện thể lực cho dân, thực hiện hoá công tác y tế, hạn chế và đẩy lùi các bệnh sốt rét, bướu cổ, phong... giải quyết căn bản các bệnh nhiễm khuẩn thực hiện tốt và có hiệu quả chương trình y tế quốc gia. Giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em xuống dưới 20% vào năm 2010. Mở rộng mạng lưới y tế cơ sở, tăng cường đội ngũ cán bộ y tế cả về số lượng và chất lượng. Phấn đấu đến năm 2005, 100% số trạm y tế cơ sở được xây dựng kiên cố, tăng cường đội ngũ cán bộ, phương tiện, thuốc chữa bệnh cho nhân dân, đến năm 2010 đạt 3 bác sỹ/vạn dân và 9 y sỹ/vạn dân.
* Văn hoá thông tin - Phát thanh truyền hình: Xây dựng làng văn hoá, nhà rông văn hoá ở các xã, khôi phục và duy trì các hoạt động văn hoá cồng chiêng, các lễ hội truyền thống của đồng bào các dân tộc.
Hình thành các thư viện, đội thông tin lưu động đi cơ sở và tổ chức công tác tuyên truyền rộng khắp trong huyện. Mở rộng hệ thống truyền thanh hữu tuyến ở thị trấn, xây dựng hệ thống cụm truyền thanh không dây, có dây ở xã, sử dụng có hiệu quả điểm phát thanh truyền hình ở vùng lõm thuộc xã Ayun.
* Thể dục - Thể thao: Hình thành mạng lưới các cơ sở thể dục - thể thao rộng khắp từ thôn làng đến xã, huyện tạo điều kiện thuận lợi cho việc luyện tập và thi đấu. Vận động, tuyên truyền và thu hút các nhà tài trợ cho các hoạt động thể dục thể thao, chú trọng bồi dưỡng các tài năng trẻ.
* Các lĩnh vực khác:
- An ninh quốc phòng: Tăng cường đầu tư cho việc xây dựng lực lượng dân quân tự vệ theo quan điểm quốc phòng toàn dân, đảm bảo 100% các xã, thị trấn tham gia huấn luyện dân quân tự vệ định kỳ. Tổ chức các hoạt động tuyên truyền nhằm nâng cao ý thức cảnh giác cách mạng cho nhân dân, chống âm mưu diễn biến hoà bình của các thế lực thù địch; rà soát, bổ sung các phương án, kế hoạch bảo vệ an ninh quốc gia.
- Tôn giáo: Tăng cường các biện pháp chỉ đạo, điều hành có hiệu quả nhằm ngăn chặn các hoạt động lợi dụng tôn giáo gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.
III - NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐỂ THỰC HIỆN QUY HOẠCH:
Để thực hiện được các nhiệm vụ và mục tiêu của quy hoạch đề ra, cần có những giải pháp đồng bộ, phù hợp, có hiệu quả nhằm huy động tối đa nội lực và thu hút nguồn lực từ bên ngoài phục vụ công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của huyện.
1. Huy động vốn đầu tư:
Để đáp ứng được nhu cầu đầu tư 359 tỷ đồng trong giai đoạn 2001 - 2010, cần có những giải pháp huy động vốn tích cực, tập trung vào những nguồn chủ yếu sau:
- Từ tích luỹ nội bộ nền kinh tế: Khoảng 380,3 tỷ đồng; chiếm 28% nhu cầu vốn đầu tư. Trong đó huy động từ ngân sách : 29,3 tỷ đồng; vốn đầu tư từ doanh nghiệp và nhân dân: 351 tỷ đồng.
- Nguồn vốn tín dụng: Phấn đấu thu hút khoảng 337 tỷ đồng, chiếm 24,8% vốn đầu tư, chủ yếu tập trung vào sản xuất và kinh doanh.
- Nguồn vốn thu hút từ bên ngoài: Khoảng 641,6 tỷ đồng, chiếm 47,2% vốn đầu tư, trong đó: vốn từ ngân sách Trung ương, tỉnh và các tỉnh khác dự kiến thu hút 436 tỷ đồng, chủ yếu tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng quan trọng, phát triển công nghiệp, dịch vụ; nguồn vốn thu hút từ nước ngoài dự kiến khoảng 205,6 tỷ đồng, bao gồm cả vốn FDI, ODA và các nguồn viện trợ khác.
2. Các dự án ưu tiên đầu tư tạo khâu đột phá:
Trong điều kiện nguồn vốn đầu tư còn hạn hẹp, việc lựa chọn các công trình, dự án ưu tiên đầu tư có ý nghĩa rất quan trọng, tạo động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Đó là các dự án về nâng cấp, xây dựng cơ sở hạ tầng sản xuất và xã hội, các cơ sở chế biến nông lâm sản, đầu tư thâm canh, phát triển cây công nghiệp, trồng rừng, phát triển dịch vụ, du lịch...
3. Ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới:
Đẩy mạnh việc ứng dụng, thử nghiệm những tiến bộ kỹ thuật về giống cây trồng, vật nuôi như lai ghép, nhân giống bằng công nghệ mô, hom, công nghệ sau thu hoạch và chế biến nông - lâm sản chất lượng cao...
Đẩy nhanh công tác khuyến nông, khuyến lâm, tập huấn kỹ thuật, chuyển giao công nghệ, nhất là kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi, các mô hình về kinh tế vườn - rừng, mô hình sản xuất kinh doanh giỏi cho các hộ nông dân, nhất là đối với đồng bào dân tộc ở vùng sâu, vùng xa.
Có chính sách thu hút, đãi ngộ thoả đáng các nhân tài, cán bộ đầu đàn, chuyên gia giỏi để bổ sung nguồn cán bộ khoa học kỹ thuật cho huyện.
4. Tìm kiếm và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm:
Tích cực mở rộng và tìm kiếm thị trường mới. Đối với thị trường trong nước cần tạo điều kiện để kích cầu, tăng sức mua và mở rộng thị trường nông thôn, khuyến khích các tổ chức, cá nhân ở ngoài huyện đến buôn bán, trao đổi sản phẩm hàng hoá. Đối với thị trường nước ngoài, cần có những giải pháp nhằm tăng cường việc xuất khẩu các sản phẩm chủ lực, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế trên địa bàn huyện tham gia xuất khẩu, tiếp cận thị trường.
5. Tổ chức thực hiện quy hoạch:
Công khai hoá quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện cho các cấp, các ngành và nhân dân trên địa bàn huyện biết. Thường xuyên nghiên cứu, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch cho phù hợp với nhiệm vụ và tình hình mới. Cụ thể hoá quy hoạch bằng các quy hoạch chi tiết như: quy hoạch đất đai, quy hoạch cơ sở hạ tầng, quy hoạch khu dân cư và đô thị, các kế hoạch trung hạn, ngắn hạn và các chương trình, dự án ưu tiên đầu tư. Tổ chức cho các ngành, các cấp và nhân dân thực hiện quy hoạch.
Điều 2: Giao cho Uỷ ban nhân dân huyện Chư Sê chịu trách nhiệm quản lý lưu trữ tài liệuQuy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Chư Sê, giai đoạn 2001-2010để khai thác sử dụng có hiệu quả. Trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện, cần tiếp tục nghiên cứu để có những bổ sung, điều chỉnh kịp thời nhằm phát triển kinh tế - xã hội của huyện đúng định hướng, đạt hiệu quả cao.
Điều 3: Các ông (bà): Chánh Văn phòng HĐND và UBND tỉnh, Chủ tịch UBND huyện Chư Sê, Giám đốc các Sở: Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính - Vật giá và Giám đốc các sở, ban ngành, Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị có liên quan chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.
Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký.