Quay lại

Quyết định 104/2003/QĐ-UB về việc Ban hành Đề án hỗ trợ các doanh nghiệp thuộc Thành phố quản lý áp dụng các hệ thống quản lý chát lượng tiên tiến và hệ thống quản lý môi trường, giai đoạn từ nay đến năm 2006

UBND THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
-------

Số: 104/2003/QĐ-UB

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------------------------

thành phố Đà Nẵng, ngày 25 tháng 06 năm 2003

QUYẾT ĐỊNH CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Về việc Ban hành Đề án hỗ trợ các doanh nghiệp thuộc Thành phố quản lý áp dụng các hệ thống quản lý chát lượng tiên tiến và hệ thống quản lý môi trường, giai đoạn từ nay đến năm 2006

___________________________________

ỦY BAN NHÂN DÂN

- Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhãn dân và ủy ban nhân dân ( sửa đổi) ngày 21 thúng 6 năm 1994;

- Căn cứ Pháp lệnh chất lượng hàng hóa ngày 24 tháng 12 năm 1999;

- Căn cứ nội dung Công văn 09-KL/TU ngày 31 thúng 5 năm 2002 của Thành ủy Đà Nằng vé kết luận Hội nghị cán bộ chủ chốt quán triệt các Nghị quyết Trung ương 5 (khóa IX);

- Căn cứ Quyết định 119/2000/QĐ-UB ngày 05 tháng 11 năm 2000 của UBND thành phô' Đà Nằng về Lập, sử dụng quản lý Quỹ hỗ trợ doanh nghiệp thành phố Đà

- Căn cứ nội dung Đề án sô 36/BC-UB ngày 08/7/2002 UBND thành phô' Đà Nang về một cơ chế chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhản trên địa bàn thành phố Đà Nằng;

Theo đề nghị của Giám đốc Sở khoa học, Công nghệ và Môi trường tại Công văn số: 18/TT-SKCM ngày 02 tháng 6 năm 2003,

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1: Ban hành kèm theo Quyết định này Đề án hỗ trợ doanh nghiệp thuộc Thành phố quản lý áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến và hệ thống quản lý môi trường, giai đoạn từ nay đến năm 2006.

Điều 2: Phân công nhiệm vụ:

- Giao Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường làm cơ quan thường trực thực hiện Đề án; đồng thời làm đầu mối tổng hợp tham mưu cho UBND thành phố chỉ đạo thực hiện Đề án này.

- Giám đốc các Sở, Thủ trưởng các Ban, ngành và các cơ quan liên quan căn cứ chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm được phân công tổ chức thực hiện có hiệu quả Đề án này.

Điều 3: Quyết định có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày ký.

Điều 4: Chánh Văn phòng Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân thành phố, Giám đốc các Sở, Thủ trưởng các Ban, ngành và các cơ quan liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.

TM. UBND THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

KT.CHỦ TỊCH

PHÓ CHỦ TỊCH

(Đã ký)

Hoàng Tuấn Anh

ĐỂ ÁN

HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP THUỘC THÀNH PHỐ QUẢN LÝ ÁP DỤNG CÁC HỆ THỐNG QUẢN LÝ CHẤT LUỢNG TIÊN TIẾN VÀ HỆ THỐNG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG, GIAI ĐOẠN TỪ NAY ĐẾN NĂM 2006

(Ban hành kèm theo Quyết định số 104/2003/QĐ-UB ngày 25 tháng 6 năm 2003 của UBND thành phố Đà Nẵng)

_______________________________

Hiện nay việc áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến (ISO 9000, TQM, HACCP, GMP) và hệ thống quản ly môi trường (ISO 14000) đang được các doanh nghiệp ở nhiều quốc gia quan tâm do tính hiệu quả và lợi ích lâu dài của nó. Tính đến thời điểm cuối nãm 2002, thế giới đã có hơn 510.000 tổ chức được chứng nhận áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo ISO 90Ỏ0 và hơn 40.000 tổ chức áp dụng hệ thống quản lý môi trường phù hợp ISO 14001. Điều đo đã khẳng định rõ vai trò quan trọng của việc áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến và hệ thống quản lý môi trường để nâng cao chất lượng hàng hóa và tăng khả năng cạnh tranh một cách bẻn vũng.

Ở nước ta, trong thời gian bốn năm (từ năm 1999 đến năm 2002) số lượng các doanh nghiệp áp dụng thành công các hệ thống quản lý chất lượng cũng đã tăng lên nhanh chóng, tập trung chủ yếu ở các địa phương thuộc khu vực phía Nam và phía Bắc. Tính đến nay, có him 1000 doanh nghiệp trong cả nước đã được chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng theo ISO 9000; hơn 200 doanh nghiệp khác cũng đã áp dụng có hiệu quả các hệ thống quản lý chất lượng theo GMP, HACCP, trong đó khoảng 100 doanh nghiệp liên quan đến ngành chế biến thực phẩm xuất khẩu. Chiếm tỉ lệ cao là các địa phưcmg như thành phố Hổ Chí Minh, Hà Nôi, Đổng Nai, Bình Dương, Hải Phòng.

Trong khi đó, việc triển khai áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến và hệ thống quản lý môi trường ở các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng vẫn còn rất chậm. Do vậy, khả năng cạnh tranh thị trường khu vực và thế giới của hàng hóa do các doanh nghiệp Đà Nang sản xuất rất hạn chế, chủ yếu là các mặt hàng truyền thống (dệt may, giày da, thủy sản, lâm đặc sản,...), còn phần lớn tiêu thụ tại thị trường địa phương và trong nước, nhưng sức cạnh tranh kém.

Thực hiện chủ trương của Thành ủy về việc tiếp tục sắp xếp, đổi mới phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Nhà nước và Đề án so 36/BC-UB ngày 08/7/2Ỏ02 về một số cơ chế chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp đẩy mạnh việc áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến và hệ thống quản lý môi trường để không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước, khu vực và thế giới, UBND thành phố xây dựng Đề án “Hỗ trợ doanh nghiệp thuộc Thành phố quản lý áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến và hệ thống quản lý môi trường, giai đoạn từ nay đến năm 2006”.

Phần thứ nhất

TÌNH HÌNH ÁP DỤNG CÁC HỆ THỐNG QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG TIÊN TIẾN VÀ HỆ THỐNG QUẢN LỶ MÔI TRUÔNG
I. Thực trạng quản lý chất lượng hàng hóa

1. Quản lý chất lượng hàng hóa trong doanh nghiệp
Ngay từ những năm cuối của thập kỷ 1980, các hoạt động đảm bảo chất lượng qua chương trình cấp dấu chất lượng đã được một sô' doanh nghiệp trên địa bàn thành phố quan tâm như Nhà máy Điện cơ Đà Nang, Nhà máy Cơ khí Đà Nẵng, Nhà máy Cao su Đà Nang, Xí nghiệp Chế biến Thủy sản Nam o, Nhà máy Dệt Hòa Thọ,... Những sản phẩm truyển thống như quạt điện, baỉat đèn huỳnh quang, săm lốp, kem giặt Hải Vân..., được người tiêu dùng chấp nhận. Từ khi Pháp lệnh chất lượng hàng hóa được ban hành, các doanh nghiệp có thêm cơ sở để thực hiộn cam kết cung cấp cho thị trường những sản phẩm đạt các yêu cầu chất lượng đã công bố, đồng thời là căn cứ để các cơ quan quản lý Nhà nước về chất lượng hàng hóa thực hiện việc thanh tra, kiểm tra.
Trong xu thế phát triển và hội nhập, áp lực cạnh tranh thị trường ngày càng khốc liệt, yêu cầu các doanh nghiệp phải nhanh chóng đổi mới phương thức quản lý để hội nhập kinh tế. Cùng với doanh nghiệp trong cả nước, một số doanh nghiệp ở Đà Nẵng đã sớm tiếp cận, xây dựng và áp dụng thành công hộ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9000, mở ra cho doanh nghiệp những lợi thế nhất định trong sản xuất kinh doanh.
Tuy nhiên, việc quản lý chất lượng ở các doanh nghiệp hiện nay chủ yếu vẫn dựa vào kinh nghiêm của cán bộ kỹ thuật, hoặc của bộ phận kiểm tra chất lượng. Trước nhũng thay đổi liên tục về nhu cầu của người tiêu dùng đối với các sản phẩm, nhiéu doanh nghiệp khó có thể đứng vững vì chậm thích nghi với cơ chế khắc nghiệt của nền kinh tế thị trường.
Trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, việc thực thi các quy định pháp lụật về bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp vẫn chưa có gì chuyển biến tích cực. Đặc biệt, hiện tượng vi phạm các cam kết trong Báo cáo tác động môi trường vẫn khá phổ biến, ít doanh nghiệp đảm bảo tuân thủ kiểm soát tốt các tác động môi trường có hại gây ra bởi hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.
Kết quả điều tra, khảo sát ở 50 doanh nghiệp cho thấy, chỉ có 10% doanh nghiệp đáp ứng được tối đa 50% mức yêu cầu của tiêu chuẩn ISO 9001: 2000 về hệ thống quản lý chất lượng quy định ; trong khi đó 100% doanh nghiệp chỉ đáp ứng được tối đa là 30% mức yêu cầu của tiêu chuẩn IS014001:1996 về hệ thống quản lý môi trường. Qua đó có thể thấy được rằng, tỉ lệ các doanh nghiệp tiếp cận và áp dụng các hệ thống quản lý dựa trên các tiêu chuẩn quốc tế vẫn còn rất thấp. Thực trạng này đòi hỏi các doanh nghiệp phải có sự thay đổi cơ bản về nhận thức theo xu hướng quản lý tiên tiến, phù hợp với cơ chế thị trường, đồng thời phải phát huy mạnh mẽ nội lực để xây dựng và áp dụng các hệ thống quản lý này.
Điển hình như Công ty xi măng Hải Vân, Công ty Hữu Nghị là những doanh nghiệp đi đầu trong việc xây dựng và áp dụng thành công hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuan ISO 9000. Do đó chất lượng sản phẩm hàng hóa của doanh nghiệp đã ổn định và từng bước được nâng cao, đáp ứng được mong muốn của khách hàng, thị phần của doanh nghiệp không ngừng được mở rộng, kể cả trong nước và thế giới.
Tuy vậy, việc triển khai xây dựng và áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng, hệ thống quản lý môi trường của các doanh nghiệp tại Đà Nẵng còn rất chậm so với nhiều địa phương khác trong cả nước. Tính đến thời điểm hiện nay trên địa bàn thành phố có 23/1348 doanh nghiệp hoạt động được cấp chứng nhận hệ thống ISO 9000, 01 doanh nghiệp được chưng nhận ISO 14000, 06 doanh nghiệp đã áp dụng HACCP/GMP; trong đó chỉ có 05 doanh nghiệp thuộc thành phố quản lý.
2. Quản lý Nhà nước vé chất lượng hàng hóa:
Trong những năm gần đây, Việt nam đã có những đổi mới cơ bản về cơ chế quản lý trong lĩnh vực Tiêu chuẩn-Đo lường-Chát lượng nói chung và chất lượng hàng hóa nói riêng.
Do nhận thức được tầm quan trọng của việc quản lý chất lượng theò hệ thống nên từ nam 1999, khi Pháp lệnh chất lượng hàng hóa được ban hành, UBND thành phố đã chỉ đạo các ngành Thương mại, Khoa học, Cồng nghệ và Môi trường tiến hành mở các lớp tập huấn nghiệp vụ, truyền thông quảng bá lợi ích của việc áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng theo ISO 9000, TQM, HACCP, GMP và hệ thống quản lý môi trường ISO 14000 cho các doanh nghiệp tại Đà Nẵng. Thành phố cũng đã ban hành một số cơ chế chính sách về tài chính hỗ trợ cho các doanh nghiệp Nhà nước thuộc Thành phố quản lý được chứng nhận hệ thống quản lý theo tiêu chuẩn quốc tế. Tuy nhiên, số lượng các doanh nghiệp được chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng vẫn rất ít.
Để hỗ trợ doanh nghiệp áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến, Uy ban nhân dân thành phố đã ban hành Quyết đinh số 119/2000/QD-UB ngày 05/11/2000 về việc “Lập, sử dụng va quản lý Quỹ hỗ trợ doanh nghiệp thành phố Đà Nẵng” vói mức hỗ trợ tối đa 25 triệu đồng cho mỗi doanh nghiệp Nhà nước được cấp Chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế. Trong số 5 doanh nghiệp của thành phố được cấp Giấy chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế thời gian qua, có 3 doanh nghiệp Nhà nước được hỗ trợ mức tối đa từ Qũi hỗ trợ doanh nghiệp (Công ty Hữu Nghị, Công ty Dệt May 29/3 và Công ty Phát triển Công nghệ và Tư vấn đầu tư).
Có thể nói, trong lĩnh vực quản lý chất lượng hàng hóa vẫn chưa có sự phối hợp đồng bộ thống nhất. Thành phố vẫn chưa có những cơ chế, chính sách thích hợp và thực sự có tác dụng mạnh mẽ trong việc hỗ trợ, khuyến khích các doanh nghiệp áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến và hệ thống quản lý môi trường.
II. Những thuận lợi, khó khăn trong việc triển khai áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến và hệ thống quản lý môi trường
Thuận lại
- Hiện nay, UBND thành phố rất quan tâm đến vấn đề hỗ trợ các doanh nghiệp nâng cao chất lượng hàng hóa, tăng khả năng cạnh tranh thị trường và hiệu quả sản xuất kinh doanh. Bên cạnh các biện pháp khác, việc áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiên và hệ thống quản lý môi trường giữ một vai trò hết sức quan trọng.
- Bước đầu một số doanh nghiệp đã nhận thức được tầm quan trọng của việc áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến, coi đó là điều kiện để nâng cao chất lượng hàng hóa, tăng khả năng cạnh tranh thị trường trong nước, khu vực và thế giới trong tiến trình hội nhập.
- Từ năm 2000 đến nay, một số doanh nghiệp áp dụng thành công hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000 như Công ty Xi măng Hải Vân, Công ty TNHH Thực phẩm Minh Anh, Công ty Hữu Nghị. Đây là những mô hình cho các doanh nghiệp thành phố học tập, rút kinh nghiệm trong quá trình xây dựng và áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng.
- Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý sản xuất kinh doanh, quản lý chất lượng đã làm tăng khả năng tiếp cận nhanh chóng, nắm bắt đầy đủ các thông tin cần thiết trong qúa trình vận hành hệ thống quản lý chất lượng.
2. Khó khăn
- Phần lớn các doanh nghiệp đều gặp khó khăn trong việc huy động các nguồn lực cần thiết để triển khai xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng. Các nguồn lực này bao gồm: nhân lực, tài chính, thời gian để đảm bảo cho việc xây dựng, áp dụng và vận hành hệ thống.
- Nhiều doanh nghiệp chưa thục sự nhận thức được lợi thế cạnh tranh khi áp dụng các hộ thống quản lý chất lượng tiên tiến và hệ thống quản lý môi trường.
- Năng lực tiếp cận quản lý theo phương pháp quá trình và có hệ thống của lãnh đạo và cán bộ công nhân viên trong một số doanh nghiệp còn yếu, chưa đáp ứng được yêu cầu của việc quản lý chất lượng theo hệ thống.
- Công nghệ sản xuất của nhiều doanh nghiệp còn lạc hậu, cơ sở hạ tầng kỹ thuật còn yếu, năng lực khoa học - công nghệ nội sinh không đảm bảo yêu cầu của quá trình đổi mới thiết bị, công nghệ sản xuất, phòng ngừa kiểm soát ô nhiễm để phát triển bền vững.
- Số doanh nghiệp tiếp cận với hệ thống quản lý môi trường để làm nền tảng cho việc cải thiện các kết quả hoạt động về môi trường và đáp ứng các yêu cầu pháp lụật vẫn rất hạn chế. Bên cạnh đó, việc đầu tư tài chính cho các hoạt động bảo vệ môi trường, kiểm soát ô nhiễm thường đòi hỏi chi phí khá lớn nên việc vi phạm các quy định về môi trường vẫn còn khá phổ biến.
3. Nguyên nhân
- Đa số các doanh nghiệp thành phố chưa phải chịu áp lực cạnh tranh lớn nên chưa nhận thức được sự cấp thiết phải nhanh chóng nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hóa để tăng khả năng cạnh tranh thị trường. Một số doanh nghiệp của Nhà nước vẫn còn mang tư tưởng bao cấp, chỉ muốn tìm kiếm sự ưu đãi của Nhà nước thay vì phải đổi mới công nghệ, áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến, hệ thống quản lý môi trường để ổn định và nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hóa. Mặt khác, do trình độ và năng lực của một bộ phận cán bộ quản lý chất lượng của doanh nghiệp chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa.
- Vai trò của các cơ quan quản lý Nhà nước trong lĩnh vực quản lý chất lượng hàng hóa còn chưa mạnh, còn thiếu những cơ chế, chính sách hỗ trợ thích hợp (Hỗ trợ tài chính, chính sách thuế, chính sách vốn ưu đãi, chính sách xúc tiến thị trường...), tạo ra sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế và thực sự có tác dụng mạnh mẽ trong việc khuyến khích các doanh nghiệp tham gia xây dựng và áp dụng các hệ thống quản lý. Quyết định 119/2000/QĐ-UB quy định chỉ áp dụng đối với các doanh nghiệp Nhà nước do thành phố quản lý, có thể là một trong những nguyên nhân làm giảm động lực thúc đẩy các doanh nghiệp dân doanh áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng tiẽn tiến và hệ thống quản lý môi trường.
Phần thứ hai
MỤC HÊU VÀ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH VIỆC ÁP DỤNG CÁC HỆ THỐNG QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG TIÊN TIẾN VÀ HỆ THỐNG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
I. Mục tiêu
Tiếp tục tuyên truyền, nâng cao nhận thức, tạo ra một sự chuyển biến mạnh mẽ về áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến và hệ thống quản lý môi trường, cũng như một phong trào nâng suất - chất lượng ngày càng sâu rộng trong các doanh nghiệp thành phố. Phấn đấu đến năm 2006 có ít nhất 30 doanh nghiệp được cấp chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến và hệ thống quản lý môi trường.
2. Tăng cường hỗ trợ các doanh nghiệp đẩy mạnh việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến và hệ thống quản lý môi trường phù hop với ngành nghề sản xuất kinh doanh, dịch vụ của mình, nhằm ổn định và nâng cao chất lượng hàng hóa, tăng khả năng cạnh tranh thị trường trong nước, khu vực và thế giới một cách bền vững.
I. Đối tượng tham gia
Các doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế do thành phố quản lý, trong đó ưu tiên các lĩnh vực kinh tế mũi nhọn của thành phố như dệt - may, giày - da, chế biến thủy sản, sản xuất hàng lâm sản xuất khẩu...
II. Giải pháp thực hiện
Đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền nâng cao nhận thức, phổ biến giới thiệu nội dung và trình tự triển khai xây dựng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến và hệ thống quản lý môi trường trên các phương tiện thông tin đại chúng.
- Đưa nội dung tuyên truyền về vai trò và lợi ích của việc áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến và hệ thống quản lý môi trường lên chuyên mục Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Đài Phát thanh và Truyển hình Đà Năng, Báo Đà Nẵng và trên Website của thành phô.
- Khảo sát để có sô' liệu chính xác về ngành nghề sản xuất kinh doanh và nhu cầu của từng nhóm doanh nghiệp để có nội dung thông tin về các loại hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến phù hợp vói từng nhóm doanh nghiệp.

2. Tăng cường công tác tư vấn đào tạo kiến thức về các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến, hệ thống quản lý môi trường và phương thức áp dụng các hệ thống đó, nham mở ra khả năng áp dụng cho từng loại hình doanh nghiệp.
- Tổ chức tốt các khóa tập huấn, đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến và hệ thống quản lý môi trường. Chú trọng khâu chọn lựa nội dung, phương pháp, hình thức và đội ngũ bao cáo viên phù hợp với lĩnh vực sản xuất kinh doanh của tùng nhóm doanh nghiệp khác nhau.
- Tổ chức các hội thảo, hội nghị chuyên đề, trao đổi kinh nghiệm với quy mô thích ứng và nội dung thiết thực cho từng loại hình doanh nghiệp hoặc theo hệ thống cơ quan chủ quản.
- Biên soạn các tài liệu hướng dẫn vế các hệ thống quản lý chất lượng và hệ thống quản lý môi trường phải ngắn gọn, dễ hiểu, dễ phổ biên.
- Tổ chức các đợt tham quan học tập các mô hình áp dụng thành công các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến và hệ thống quản lý môi trường tại Thành phố và các địa phương khác như thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội.

3. Gắn việc áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến và hệ thống quản lý môi trường với việc triển khai các hoạt động khác như:
- Hoạt động đổi mói thiết bị-công nghệ của các doanh nghiệp;
- Chương trình tin học hóa hoạt động doanh nghiệp;
- Chương trình tham gia thương mại điện tử;
- Hoạt động hỗ trợ vốn đầu tư từ Quỹ hỗ trợ doanh nghiệp...

4. Chỉ đạo triển khai áp dụng có trọng điểm một số hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến (ISO 9000, TQM) và hệ thống quản lý môi trường (ISO 14000).
- Khảo sát các điều kiện hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để lựa chọn các doanh nghiệp có đủ khả năng áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến và hệ thống quản lý môi trường. Việc lựa chọn các doanh nghiệp phải có sự phối hợp thống nhất giữa các ngành liên quan và cơ quan chủ quản.
- Xây dựng kế hoạch và tiến độ triển khai thực hiện Đề án cho từng năm và cho cả toàn bộ thời gian thực hiện Đề án.

5. Rà soát, điều chỉnh chính sách hỗ trợ doanh nghiệp được quy định tại Quyết định 119/2000/QĐ-UB ngày 05/11/2000 của UBND thành phố Đà Nẵng để khuyến khích doanh nghiệp đẩy mạnh áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến và hệ thống quản lý môi trường theo hướng mở rộng đối tượng được hỗ trợ và mức hỗ trợ hợp lý cho cả doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp dân doanh thuộc thành phố quản lý.

6. Tăng cường vai trò chỉ đạo của các cơ quan quản lý Nhà nước trong quá trình triển khai thực hiện Đề án nhằm hỗ trợ doanh nghiệp áp dụng thành công các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến và hệ thống quản lý môi trường.

7. Xây dựng kế hoạch kinh phí hàng năm để tổ chức thực hiện

Đề án :

- Kinh phí đào tạo, tập huấn nghiệp vụ.

- Cung cấp thông tin, tuyên truyền quảng bá nâng cao nhận thức.

- Kinh phí tổ chức hội thảo, hội nghị....

Phần thứ ba

TỔ CHỨC THỰC HIỆN

I. Nhiệm vụ chung

1. Giao Sở Khoa học, Cồng nghệ và Môi trường làm cơ quan thường trực thực hiện Đề án ; đồng thời làm đầu mối tỏng hợp tham mưu giúp UBND thanh phô chỉ đạo triển khai thực hiện Đề án này.

2. Giám đốc các Sở, Thủ trưởng các Ban, ngành liên quan căn cứ chức năng, nhiệm vụ của mình chủ động phối hợp triển khai thực hiện có hiệu quả Đề án này.

II. Nhiệm vụ cụ thể

1. Giao Sở Khoa học, Cónp nghệ và Môi trường chủ trì, phối hợp với các cơ quan thuộc Tông cục Tiêu chuẩn Đo lưòmg Chất lượng và các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan:

- Tập hợp và biên soạn hệ thống tài liệu, tổ chức các khóa đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ cho các doanh nghiệp theo đúng kế hoạch.

- Tổ chức các đoàn tham quan học tập mô hình áp dụng thành công hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến và hệ thống quản lý môi trường của các doanh nghiệp trong và ngoài thành phố.

- Tranh thủ sự giúp đỡ của các tổ chức, cá nhân trong nước và quốc tế hoạt động trong lĩnh vực này.

2. Giao các Sở Công nghiệp, Thủy sản - Nông lâm, Giao thông Công chính, Thương mại, Giáo dục và Đào tạo, Tài chính - Vật giá, Văn hóa - Thông tin (chủ quản các doanh nghiệp là đối tượng tham gia thực hiện Đề án) chủ trì:

- Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện Đề án của ngành mình trên cơ sở kế hoạch chung của thành phố, đồng thời tiến hành tổ chức thực hiện việc đăng ký tham gia cho các doanh nghiệp theo đúng mục đích, đối tượng.

- Theo dõi, đôn đốc việc tổ chức thực hiện Đề án của các doanh nghiệp thuộc ngành quản lý; định kỳ tổ chức sơ kết, tổng kết việc thực hiện Đề án và báo cao kết quả về Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường để tổng hợp báo cáo UBND thành phố.

- Xây dựng kế hoạch kinh phí hàng năm để tổ chức thực hiện Đề án.

Việc xây dựng kế hoạch hoạt động và kế hoạch kinh phí để tổ chức thực hiện Đề án được tiến hành đúng thời gian xây dựng kế hoạch kinh tế - xã hội hàng năm của thành phố.

3. Giao Sở Văn hóa Thông tin chủ trì, phối hợp với Đài Phát thanh và Truyền hình Đà Nẵng, Báo Đà Nẵng, Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường và các cơ quan liên quan đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền nâng cao nhận thức, thông tin tình hình triển khai thực hiện và kết quả áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến và hệ thống quản lý môi trường của các doanh nghiệp.

4. Giao Sở Tài chính - Vật giá chủ trì, phối hợp với Sở Kế hoạch Đầu tư, Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường, Sở Thương mại tổ chức rà soát, điều chỉnh đối tượng được hỗ trợ và mức hỗ trợ cho các doanh nghiệp được cấp chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế, quy định tại Quyết định 119/2000/QĐ-UB ngày 05 tháng 11 nam 2000 củã UBND thành phố Đà Nẵng.

Hoàn thành và trình UBND thành phố phê duyệt vào quý III năm 2003.

5. Giao Sở Kế hoạch Đầu tư chủ trì, phối hợp với Sở Tài chính - Vật giá, Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường, và các Sở chủ quản, cân đối kinh phí hàng năm theo đúng kế hoạch thực hiện Đề án.

Trong quá trình thực hiện nếu có vướng mắc, các cơ quan đơn vị phản ánh bằng văn bân về UBND thành phố (thông qua Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường) để nghiên cứu, chỉnh sửa cho phù hợp./.

Tổng quan văn bản

Số ký hiệu104/2003/QĐ-UB
Ngày ban hành25/06/2003
Loại văn bảnQuyết định
Ngày có hiệu lực10/07/2003
Nguồn thu thậpCơ sở dữ liệu
Ngày đăng công báo---
Cơ quan ban hành / Người kýUBND thành phố Đà Nẵng / Hoàng Tuấn Anh
Phạm viĐà Nẵng
Trích yếuVề việc Ban hành Đề án hỗ trợ các doanh nghiệp thuộc Thành phố quản lý áp dụng các hệ thống quản lý chát lượng tiên tiến và hệ thống quản lý môi trường, giai đoạn từ nay đến năm 2006
Tình trạng hiệu lựcHết hiệu lực toàn bộ

Chưa có thông tin lược đồ

Văn bản này hiện chưa được cập nhật dữ liệu về lược đồ liên quan.