Quay lại

Quyết định 107/2003/QĐ-UB về việc Phê duyệt Chiến lược xuất khẩu (điều chỉnh) của thành phố Đà Nẵng thời kỳ đến năm 2010

UBND THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
-------

Số: 107/2003/QĐ-UB

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------------------------

thành phố Đà Nẵng, ngày 02 tháng 07 năm 2003

QUYẾT ĐỊNH CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Về việc Phê duyệt Chiến lược xuất khẩu (điều chỉnh) của thành phố Đà Nẵng thời kỳ đến năm 2010

_____________________________________

ỦY BAN NHÂN DÂN

- Căn cứ Luật tổ chức Hội đồng nhân dãn và ủy ban nhân dân ( sửa đổi) ngày 21 tháng 6 năm

- Căn cứ Quyết đinh sô 09/2002/QĐ-UB ngày 25/01/2002 ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng v/v " chỉ tiêu kê' hoạch và dự toán ngân sách năm 2002";

- Căn cứ Quyết định số 150/2002/QĐ-UB ngày 27/12/2002 của Úy ban nhân dân thành phố Đà Nắng v/v "ban hành quy định một số vấn đề về mua sắm,quản lý đầu tư xây dựng địa bàn thành phố Đà Nang";

- Căn cứ Công văn số' 517/CV/TU ngày 02/6/2003 của Ban Thường vụ Thành ủy Đà Nằng về “ ý kiên Đề án Chiến lược xuất khẩu của thành phô'

- Theo đề nghị của Giám đốc Sở Thương mại tại Tờ trình số 398/TT-STM ngẩy 22/4/2003 V/v “đề nghị phê duyệt (điều chỉnh) Chiến lược xuất khẩu của thành phố Đà Nẵng đến năm 2010”;

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1: Phê duyệt kèm theo Quyết định này Chiến lược xuất khẩu (điểu chỉnh) cuả thành phô' Đà Nẵng thời kỳ đến năm 2010

Điều 2: Giao Giám đốc Sở Thương mại chịu trách nhiệm triển khai thực hiện Chiến lược. Các Sở, Ban, Ngành và UBND các quận, huyện theo chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm phối hợp, giúp đỡ trong quá trình thực hiện Chiến lược để có sự thống nhất giữa Chiến lược xuất khẩu với quy hoạch, chương trình hành động xuất khẩu của các ngành kinh tế - kỹ thuật trên địa bàn thành phố.

Điều 3: Quyết định có hiệu lực sau 10 ngày kể từ ngày ký ban hành.

Điều 4: Chánh Văn phòng HĐND và UBND thành phố, Giám đốc các Sở: Kế hoạch và Đầu tư, Công nghiệp, Thương mại, Thủy sản - Nông lâm, Tài chính - Vật giá, Du lịch, Xây dựng, Địa chính - Nhà đất, Giao thông - Công chính, Chi nhánh Ngân hàng nhà nước, Chi nhánh Quỹ hỗ trợ phát triển, Chủ tịch UBND các quận, huyện; Thủ trưởng các cơ quan đơn vị và Giám đốc các doanh nghiệp liên quan chịu trách nhiệm triển khai thực hiện các nội dung Quyết định này./.

TM. UBND THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG .

CHỦ TICH

(Đã ký)

Nguyễn Bá Thanh

CHIẾN LƯỢC XUẤT KHẨU (ĐIỂU CHỈNH) CỦA THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG THỜI KỲ ĐẾN NĂM 2010

(Ban hành kèm theo Quyết định số 107/2003/QĐ-UB ngày 2 tháng 7 năm 2003 của UBND thành phô Đà Nẵng)

_____________________________________

Chiến lược xuất khẩu của thành phố Đà Nẩng (sau đây gọi tắt là Chiến lược) thời kỳ 1998 - 2010 đã được Thành ủy thông qua tháng 5/1998. Sau gần 5 năm thực hiện, dưới sự lãnh đạo của Thành ủy, sự điều hành của ủy ban nhận dàn thành phố Đà Nắng, sự cố gắng của các Sở, các ngành; nhất là các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh hàng xuất khau; hoạt động xuất khẩu đã đạt được những kết quả nhất định. Tuy nhiên, khi xây dụng Chiến lược tiước đây, chúng ta chưa dự báo hết những nhân tố tích cực, những cơ hội và thách thức, những tiêu cực của quá trình toàn cầu hóa và tự do hóa thương mại; nhất là tiến trình thực hiện CEPT/AFTA, Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, Trung Quốc gia nhập WTO tác động đến tình hình xuất khẩu Đà Nans. Từ đó việc đánh giá và điều chỉnh một số đinh hướng, chỉ tiêu, giải pháp trong chiến lược phát ưiển xuất khẩu của Đà Nẵhg thòi kỳ đến năm 2010 là cần thiết.

I. Đánh giá tình hình thực hiện đề án Chiến lược xuất khẩu của thành phố Đà Nẵng thời kỳ 1998 - 2002.

Thời kỳ 1998 - 2002, hoạt động xuất khẩu đã không ngừng phát triển, cơ cấu hàng xuất khẩu chuyển dịch theo hướng tích cực, tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế - xã hội thành phố Đà Nẵng phát triển nhanh, với tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) cả thời kỳ tăng bình quân trên 10,93%, giá trị sản xuất công nghiệp tăng 19,1%, dịch vụ tăng 10,7%, góp phần kích thích phát triển kinh tế của khu vực miền Trung..

1. Một sô kết quả đạt được

1.1 Quy mô, tốc độ và cơ cấu.

- Về quy mô và tốc độ tăng trưởng: Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ thời kỳ 5 năm đạt trên 1.139 triệu USD, tăng bình quân 15%/năm. Trong đó, khối kinh tế trurig ương tăng 15%, khối kinh tế địa phương tăng 11,9% và khối kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tang 11,3% và xuất khẩu dịch vụ tăng 35,7%. Xuất khẩu bình quân đầu người đạt 382 USD/người/ĩíăm (2002).

- Vê cơ cấu mặt hùng xuất khẩu đã được cải tiến và đạt những kết quả khả quan. Tỷ trọng hàng xuất khẩu có hàm lượng tinh chế và chế biến liên tục tăng và đến năm 2002 đạt khoang 55% (năm 1997 đạt 40%). Điều đáng chú ý nhất là kim ngạch các sản phẩm công nghiệp chế biến và xuất khẩu dịch vụ tăng nhanh tạo sự chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo hướng tích cực.

Trong đó giá trị:

+ Nông lâm sản chiếm tỷ trọng 13,3%, tăng bình quân 10,3%/năm.

+ Thủy sản chiếm tỷ trọng 27,8%, tăng bình quân 12,3%/năm; trong đó hàng đông lạnh tăng 14,0%, hàng khô tăng 6,4%/năm.

+Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp chiếm tỷ trọng 50,8%, tăng bình quân 9,8%/năm. Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là sản phẩm may mặc đạt 135,1 triệu USD, tăng bình quân 9,6% (đạt 50,59 triệu sản phẩm, tăng 7,8%); Giày các loại: đạt 136,2 triệu USD tăng bình quân 7,7% (đạt 22,23 triệu đôi, tăng 8,2%); thực phẩm chế biến 20,3 triệu USD tăng 40,1%, đồ chơi tre em: đạt 72,6 triệu USD tăng 13,0 %/năm, dăm gỗ đạt 40,1 triệu USD, đến cầy đạt 27,01 triệu USD.

Xuất khẩu dịch vụ: chiếm tỷ trọng 8,1% trong tổng kim ngạch xuất khẩu, tăng bình quân 35,7 %/nảm (gồm dịch vụ tại chỗ: lưu trú, dịch vụ kiều hối, bán hàng lưu niệm, tạm nhập tai xuất).

Như vậy, các mặt hàng xuất khẩu chủ lực về cơ bản ổn định và có hướng phát triển cả về giá trị, cũng như khối lượng một số sản phẩm chủ lực: Thủy sản, da giày, may mặc, đồ chơi trẻ em, dăm gỗ và dịch vụ.

1.2. Thị trường và chủ thể tham gia xuất khẩu

- Nét nổi bật về thị trường trong nhũng năm qua: chủ động mở rộng theo hướng đa phương hóa quan hệ kinh tế, tích cực thâm nhập các thị trường truyền thống và phắt triển thị trường mới. Đến nay, Đà Nẵng đã có quan hệ thương mại với hơn 70 quốc gia và vùng lãnh thổ, tăng bình quân 6 thị trường / năm. Đây là một trong nhũng yếu tố có tầm quan trọng đặc biệt trong việc duy trì tốc độ tăng trưỏng xuất khẩu cao và ổn đinh trong thời gian tương đối dài.

Xuất khẩu của Đà Nẵng chủ yếu hướng vào những thị trường có sức nhập khẩu lón: Nhật Bản, EU, Mỹ, Trung Quốc, Đài Loan... và đã có sự chuyển dịch từ EU sang Đông Bắc Á và Hoa Kỳ; cơ cấu thị trường xuất khẩu của Đà Nẵng: Nhật Bản: 25%, Hoa kỳ: 14,6%, EU: 27,5%, Asean: 8,4%, Trung Quốc: 4,5%, các nước khác 20%. Đặc biệt sau 1 năm hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ có hiệu lực xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ tăng 72,1 %. (Thị trường Đông Bắc Á tăng bình quân 13,6%, Đông Nam Á tăng 12,8%, EU giảm (-1,9%), Đông Âu tăng 21,9%, Tây Á - Trung Đông tăng 13,7%, Châu Uc tăng 100,2% về giá trị kim ngạch xuất khẩu)

- Các chủ thể tham gia xuất khẩu ngày càng tăng nhanh và đa dạng thành phần, năm 1997 chỉ có khoảng 1000 doanh nghiệp, nẳm 2002 có gần 2.400 doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp đã không ngừng đầu tư mở rộng và đổi mới máy móc thiết bị tiên tiến, theo hướng tiếp cận các phương thức kinh doanh hiện đại của thế giới một cách nhạy bén, hiệu quả và tìm được chỗ đứng vững trên thị trường quốc tế.

- Hoạt động dịch vụ phát triển theo xu thế tiếp cận hội nhập quốc tế và đa phương thức như hiện diện thể nhân, sử dụng dịch vụ ngoài lãnh thổ, qua biên giới, bưóc đầu đáp ứng được những nhu cầu và định chế cơ bản của tổ chức thương mại thế giới (WTO). Kết quả lượng khách quốc tế vào Việt Nam tăng bình quân trên 15%/năm, giá trị xuất khẩu dịch vụ tăng 35,7%/năm và tăng gấp 15 lần năm 1998. Các loại hình dịch vụ: ngân hàng; bưu chính viễn thồng tăng bình quân 25 -30 %/năm.

Tóm lại, với những kết quả trên, xuất khẩu được đánh giá là một trong nhữnp yếu tố quan trọng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế phát triển, góp phần đáng kể vào việc hoan thành cơ bản các mục tiêu kinh tế - xã hội của thành phố, tạo nhiều việc làm, kích thích GDP tăng trưởng ổn định.

1.3. Một số nguyên nhân đạt được

Một là:Đường lối đổi mới và những cơ chế chính sách hợp lý của thành phố Đà Nẵng đã khơi dậy trí sáng tạo và thúc đẩy cac thành phần kinh tế phát triển, tăng thiĩ nhập dân cư, tích luỹ phát triển sản xuất, đổi mới công nghệ, mẫu mã, ha giá thành và nâng cao chất lượng sản phẩm từ đó thúc đẩy xuất khấu và cải thiện cơ cấu sản xuất;

Hai là:Những đổi mới cơ bản về quan điểm và đặc biệt là lãnh đạo thành phố luôn coi trọng và đật xuất khẩu là nhiệm vụ trọng tâm như: kịp thời hỗ trợ tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc phát triển sản xuất; gắn lưu thông trong nước và xuất khẩu; tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp và các ngành sản xuất tham gia dịch vụ và hoạt động xuất khẩu;

Ba là:Chính phủ, các Bộ, Ngành trung ương đã ban hành nhiều hệ thống chính sách, pháp lụật liên quan đến công tác xuất khẩu và hội nhập kinh tế quốc tế tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho doanh nghiệp ; Nhà nước luôn dành sự quan tâm đặc biệt cho hoạt động xuất khẩu như các chương trình : trợ cấp, trợ giá, lập Quỹ hỗ trợ, Quỹ thưởng xuất khẩu, thành lập các trung tâm giới thiệu sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam tại nước ngoài...

2. Những hạn chế và nguyên nhân tồn tại:

2.1. Một số hạn chế:

- Quy mô xuất khẩu còn nhỏ, tốc độ tăng trưởng còn thấp, hiệu quả chưa cao, chưa đạt được mục tiêu kế hoạch đề ra (tăng 20%/năm) nên chưa tương xứng với tiềm năng và vị thế của thành phố Đà Nẵng;

- Nguồn hàng xuất khẩu tuy đa dạng hơn, song nhìn chung tỷ trọng hàng gia công vẫn còn lớn, mặt hang đơn điệu, nguồn hàng manh mún dẫn đến lộ thuộc thái quá vào một số mặt hàng chu lực. Cơ cấu hàng xuất khẩu mới dịch chuyển theo chiều rộng, chưa đi vào chiều sâu, chưa hình thành những ngành công nghiệp gắn kết với nhau để cùng hướng về xuất khẩu và tạo ra nhiều mặt hàng có giá trị cao, chất lượng ổn định. Việc đầu tư mở rộng sản xuất hàng xuất khẩu có quy mô lớn, công nghệ cao mang tính đột phá... của các doanh nghiệp chưa được ưu tiên; Nhiều ngành hàng kể cả những ngành hàng quan trọng như: may mặc; giày da, còn phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu (70%). Ngoài ra những sản phẩm khác như: thủ công mỹ nghệ, cơ điện... tính cạnh tranh còn thấp ngay cả thị trường trong nước;

- Một số doanh nghiệp đã quan tâm đổi mới công nghệ, khuôn, mẫu... song vẫn chưa tạo được sức bật trong sản xuất hàng xuất khẩu, nhiều doanh nghiệp còn lúng túng trong việc đầu tư quảng bá sản phẩm, thương hiệu hàng hóa, thiết kế mẫu mã và đa dạng hóa -chủng loại sản phẩm làm cho khả năng cạnh ưanh của hàng hóa còn yếu.

- Việc mở rộng thị trưòng xuất khẩu tuy đã có nhiều cố gắng nhưng chưa đáp ứng nhu cầu; nhũng bạn hàng lớn ổn đinh không nhiều; hàng xuất khẩu vào thị trường trưng gian chiếm tỷ lộ cao (20%); sự hiểu biết về thị trường nước ngoài còn hạn chế. Qúa trình chuyển dịch thị trường chưa được tiến hành trên thế chủ động, chưa định hướng trên tầm nhìn dài hạn, chủ yếu mới là sự tự thích úng của các doanh nghiệp trước những thay đổi đột biến của tình hình. Có nhũng thị trường mới nhiều tiềm năng chưa được quan tâm khai phá;

- Số lượng doanh nghiệp đăng ký mã số xuất nhập khẩu nhiều nhưng số lượng doanh nghiệp tham gia xuất khấu còn ít (gần 100 doanh nghiệp chiếm 1/4 tống doanh nghiệp XNK và đại bộ phận là những doanh nghiệp vừa và nhỏ), thành phố chưa có các doanh nghiệp Nhà nước đầu đàn đủ mạnh để đảm bảo năng lực cạnh tranh trong khâu thiết kế mẫu mã, mở rộng thị trường; tổ chức gia công - sản xuất và cung ứng hàng hóa với số lượng lớn, chất lượng ổn định...;

- Đầu tư FDI vào chậm (51 dự án), nhiều doanh nghiệp FDI ngại mở rộng đầu tư sản xuất, đổi mới công nghệ, phát triển hàng xuất khẩu. Kim ngạch xuất khẩu khối này tăng trưởng thấp (11,3%) so với nhũng khối khác; Chưa đóng vai trò động lực trong tổ chức gia công, thị trường... cho những thành phần khác. Các thành phần kinh tế khác: tư nhân, HTX chỉ một số rất ít đầu tư hàng xuất khẩu còn lại chủ yếu làm dịch vụ thương mại trong nước.

2.2. Một số nguyên nhãn tồn tại

Thứ nhất:Điểm xuất phát về phát triển kinh tế của Đà Nẵng và khu vực miển Trung còn thấp, cơ cấu kinh tế (công nghiệp - Dịch vụ - Nông nghiệp) chưa được chuyển dịch đúng hướng. Nhiều doanh nghiệp chưa đi sâu nghiên cứu chiến lược phát triển kinh tế và chiến lược xuất khẩu của Đà Nẵng để phát triển nhằm khai thác lợi thế về vị trí, nguồn nguyên liệu, nguồn nhân lực để đầu tư, đổi mới công nghệ, sản xuất hàng xuất khẩu;

Thứ hai: Hoạt động xúc tiến thương mại, xúc tiên đầu tư, du lịch... mở rộng thị trường, kêu gọi đầu tư tuy đã có nhiều cố gắng; song hoạt động xúc tiến phần lớn theo sự vụ, trình độ, năng lực để tiếp cận, xử lý những định chế, thông lệ, luật pháp quốc tế vẫn còn mới mẻ. Do đó không thể tránh khỏi những lúng túng bị động; chưa đủ điều kiên để giám sát, phát hiện, hướng dãn những thiếu sót, sai phạm cho đối tác để phát triển mở rộng và hợp tác ổn đinh lâu dài;

Thứ ha: Công tác quản lý Nhà nước liên quan đến xuất khẩu của một số Sở, Ban ngành tuy đã có nhiều cải tiến, nhất là trong khâu cải cách thủ tục hành chính; nhưng nhìn chung còn khá thụ động; trong công tác định hướng, hỗ trợ giải quyết vướng mắc cho doanh nghiệp xuất khẩu còn nhiều lúng túng; thiếu cán bộ có trình độ cao vể chuyên môn nghiệp vụ;

Thứ tư:Việc hội nhập vào kinh tế khu vực và thế giới còn không ít lúng túng; cho tới nay có thể đánh giá vẩn đề này chỉ diễn ra ở cấp quản lý Nhà nước, một số ít doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp còn ưông chờ vào sự bảo hộ của Chính phủ và chính quyền địa phương. Chưa thấy tác động và thực thi trực tiếp từ doanh nghiệp, chưa hình thành chiến lược phát triển trung hạn, dài hạn của doanh nghiệp để tiếp cận và khai thác lợi thế của các lộ trình cắt giảm thuế quan va dỡ bỏ các rào cản phi quan thuế.

II. Định hướng, mục tiêu phát triển xuất khẩu trong thời kỳ đến năm 2010

Hoạt động xuất khẩu trong thời kỳ đến năm 2010 là thực hiện những mục tiêu chung đã được Đại hội Đảng bộ thành phố Đà Nang lần thứ xvin với nội dung cỡ bản:

1. Tiếp tục đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thành phố theo hướng "Công nghiệp - Dịch vụ - Nông nghiệp”, chú trọng chuyển dịch cơ cấu sản xuất hướng về xuất khẩu; ưu tiên đầu tư phát triển các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ có lợi thế và khả năng cạnh tranh trên thị trường phù hợp với tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế; nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội. Tăng cường xúc tiến thương mại, xúc tiến đầu tư và tiếp tục duy trì ổn định và mở rộng thị trường xuất khẩu đi đôi với đẩy mạnh hoạt động trung chuyển hàng hóa, phát luồng - bán buôn; xây dựng Đà Nẵng trở thành trung tâm XNK của khu vực.

2. Thực hiện Quyết định số 113/2001/QĐ-TTg ngày 30/7/2001 của Thủ tướng Chính phủ V/v phê duyệt (điều chỉnh) Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố Đà Nẵng thời kỳ 2001 - 2010 và Nghị Quyết Thành Đảng Bộ lần thứ XVIII về các chỉ tiêu phát triển kinh tế thời kỳ 2001 - 2005.
- về kim ngạch xuất khẩu:phấn đấu kim ngạch xuất khẩu vào năm 2010 đạt 1.720 triệu USD. Trong đó chỉ tiêu tăng trưởng xuất khẩu thời kỳ 2001-2005 là: 20% /năm, đạt 580 triệu USD vào năm 2005.
- Về cơ cấu:Tiếp tục gia tăng tỷ trọng của sản phẩm chế biến, chế tạo, chú trọng phát triển sản phẩm có hàm lượng công nghệ và trí thức cao, giảm dần tỷ trọng hàng thô.
- Về thị trường: Đa dạng hóa, đa phương hóa thị trường, tập trung những thị trường trọng điểm có sức mua (nhập khẩu) lớn của Việt Nam nói chung và Đà Nẵng nói riêng.
III. Một số giải pháp để hoàn thiện và phát triển xuất khẩu của thành phố Đà Nâng thời kỳ đến năm 2010.

3. 1. Giải pháp phát triển các nhóm mặt hàng xuất khẩu chủ lực.

3. 1.1. Nhóm sản phẩm thủy nông lãm sản; hạt nhãn của nhóm này là thủy hải sản xuất khẩu.
* Mục tiêu chiên lược phát tr thủy sản của thành phố Đà Nẵng thời kỳ đến năm 2010:
- Đà Nẵng là trung tâm khai thác, thu mua, dự trữ và chế biến lớn của khu vực miền Trung và cả nước.
+ Thủy sản đông lạnh và khô: Tốc độ tăng trưởng bình quân thời kỳ 2003 - 2005 lẩ 21,4%, đạt giá trị 120 triệu USD vào năm 2005; thời kỳ 2006 - 2010 đạt 11%, đạt giá trị 200 triệu USD vào năm 2010; Gía trị thủy sản tinh chế đạt 22 triệu USD vào năm 2005 và 90 triệu USD vào năm 2010;
+Sản lượng khai thác thủy sản và nuôi trổng: 64.450 tấn, trong đó sản phẩm xuất khẩu chiếm 25-30%;
+Một số sản phẩm chính: tôm, cá, mực đông lạnh và sản phẩm tinh chế: surimi, fillet...;
+ 100% cơ sở chế biến thủy sản xuất khẩu lớn áp dụng hệ thống quản lý chất lượng quốc tế.
* Một sô' giải pháp cụ thể:
- Xây dựng, phát triển hạ tầng và có cơ chế khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào khu công nghiệp chế biến thủy sản Thọ Quang, tạo điều kiện để kinh tế tư nhân đầu tư sản xuất hàng thủy sản xuất khẩu như địa điểm sản xuất, ưu đãi tiền thuê đất, vốn vay tín dụng nhằm khai thác, thu mua, tập trung chế biến nguyên liệu thủy sản của các tàu đánh bắt thủy sản của khu vực miền Trung và cả nước;
- Khuyến khích các thành phần kinh tế có chương trình liên doanh, liên kết các tỉnh duyên hải miền Trung để đầu tư vùng nguyên liệu, phối hợp cung ứng nguyên liệu phục vụ cho sản xuất xuất khẩu;
- Có chính sách hỗ trợ và phát huy nội lực của các doanh nghiệp thủy sản nhằm đổi mới, mở rộng và gia tăng đầu tư máy móc thiết bị, công nghệ hiện đại để sản xuất thủy sản chế biến đông lạnh và thủy sản tinh chế tại các doanh nghiệp như: Công ty Thủy sản thương mại Thuận Phước, Công tỵ Kinh doanh chế biến hàng xuất khẩu, Công ty xuất nhập khấu Thủy sản miền Trung...;
- Nghiên cứu thị hiếu tiêu dùng của một số thị trường có sức nhập khẩu thủy sản lớn như: Nhật, EU, Mỹ, Trung Quốc để đa dạng hóa mặt hàng, nâng cao chất lượng, bảo vệ uy tín sản phẩm, xây dựng thương hiệu và nhãn hiệu hàng hóa để thâm nhập sâu và ổn định;
- Xây dựng Đà Nẵng trở thành điểm đi và đến của xuất khẩu hàng hóa, là đầu mối giao lưu trung chuyển hàng thủy sản, nông, lâm sản xuất khẩu của khu vực. Xây dựng Trung tâm (sàn) giao dịch hàng thủy sản (Thọ Quang); Chú trọng phát triển hệ thống các doanh nghiệp thương mại làm chức năng thu gom xuất khẩu. Xây dựng Chợ đầu mối, bán buôn hàng nông, lâm sản, thu hút hàng hóa của các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên.
1.2. Nhóm sản ựhẩtn chế biến và chế tạo; hạt nhân của nhóm này là sản phẩm may mặc, da giày, xăm lốp ô tô.
a. Nhóm sản phẩm dệt máy - da giày.
- Tập trung đưa Đà Nẵng trở thành khu vực sản xuất và xuất khẩu hàng dột may- giày lớn nhất khu vực miền Trung.
- Về kim ngạch:
+ Mục tiêu kim ngạch xuất khẩu dệt may đến năm 2005 đạt 80 triệu USD, tăng bình quân từ 15,2%; Và đến năm 2010 đạt từ 155 triệu USD, tăng bình quân 14,1% thời kỳ 2006 - 2010;
+ Mục tiêu kim ngạch xuất khẩu da giày đến năm 2005 đạt từ 55 triệu USD, tăng bình quân 24,8%; Và đến năm 2010 đạt từ 106 triệu USD, tăng bình quân 14% thời kỳ 2006 - 2010.
- Về sản lượng: Theo Quyết định số 15/QĐ-UB ngày 3/1/2003 của ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng ”V/v Phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành dệt may thành phố Đà Nẵng đến năm 2010”.
+ Phát triển công nghệ dệt sợi đến năm 2005 tương ứng đạt 25 triệu mét vải, 4.800 tấn sản phẩm dệt khác và 8.200 tấn sợi các loại; đến năm 2010 đạt 30 triệu mét vải, 7.000 tấn sản phẩm dệt khác và 12.000 - 15.000 tấn sợi các loại; sản phẩm xuất khẩu đến năm 2005 là 30 triệu sản phẩm và đến năm 2010 đạt 50 - 55 triệu sản phẩm may sẵn quy chuẩn; ngành giày đạt 12 triệu đôi vào năm 2005 và 18 triệu đôi vào năm 2010.
*Một sô' giải pháp phát triển cụ thể:
- Đầu tư chiều sâu các doanh nghiệp hiện có (Công ty Dệt Hòa Thọ, Công ty Dệt Đà Nang, Công ty Dệt may 29/3, Công ty Hữu Nghị...) va đầu tư mới một số nha máy sản xuất đồng bộ tại các khu công nghiệp theo các công nghệ mới như kéo sợi rôto, dệt thổi khí, công nghệ sản xuất vải kỹ thuật, đủ khả năng vế vốn, kỹ thuật và tạo mẫu sản phẩm để định hướng dẫn dắt thị trường, tạo mẫu, đảm bảo chất lượng ổn định với số lượng lón;
- Đầu tư một số nhà máy sản xuất các phụ kiện sản xuất nguyên liệu phục vụ cho ngành may nhằm giảm bớt phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu từ nước ngoài như: nút, dây kéo, chỉ, nịt... hỗ trợ tại chỗ phục vụ cho sản xuất và xuất khẩu;
- Xây dựng một số cơ sở sản xuất nguyên phụ liệu cho giày thề thao và giày thời trang như: đế giày, vải giả da, dây giày, tấm lót, phom, vải bạt, vải lưới, giả da... phục vụ cho khu vực. Vì hiện tại nếu nhập nguyên phụ liệu đầy đủ để sản xuất phải mất 1 tháng (trong khi Trung Quốc chỉ mất có 1 tuần) - nên việc xử lý đơn hàng rất khó khăn;
- Phát triển, duy trì và ổn định thị trường truyền thống (EU, Nhật, Hoa Kỳ, Đài Loan) đồng thời gia tăng nỗ lực thâm nhập vào những thị trường mới đặc biệt thị trường Hoa Kỳ, Trung Đông, Châu Đại Dương, các thị trường phi quota. Chuyển dần hình thức gia công sang tăng tỷ lệ nội địa hóa để bán dạng FOB, ngoài ra thu hút mạnh đầu tư FDI trong lĩnh vực sản xuất giày.
b. Nhóm sản phẩm xăm lốp ôtô, cơ khí, điện, điện tử, công nghệ cao.
Đây là những ngành hàng hoàn toàn mới trong thời gian hiện nay. Mặc dù kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 400 ngẳn USD/năm, nhưng có kha nãng tổng kim ngạch lên 15 triệu USD vào năm 2005 và 200 triệu USD vào năm 2010. Trong lĩnh vực này đang có dấu hiệu khá tích cực như: Công ty cao su Đà Nẩng (xăm lốp ôtô), Công ty cơ khí ôtô (xe đạp, quạt điện), dự án sản xuất máy vi tính, máy điện thoại di động... Định hướng thị trường xuất khẩu đối với những sản phẩm này là EŨ, Hoa Ky (xe đạp), các sản phẩm khác là những nước ASEAN, Trung Quốc, Châu Phi nên phải có chính sách thu hút đầu tư trong và ngoài nước, hỗ trợ tái đầu tư, chuyển đổi mẫu mã, nâng cao chất lượng, hạ ệiả thành hoặc đặt hàng cho giám đốc doanh nghiệp để có sản phâm hưóng về xuất khẩu;
Hình thành và phát triển các cơ sở sản xuất thiết bị điện, sản xuất linh kiện, các vi mạch, lắp ráp điện thoại, lắp rap điện tử xuất khẩu. Đây là lĩnh vực mới, hàm lượng khoa học cao chỏ nên đề nghị thành phố chú trọng đầu tư cho các doanh nghiệp tiếp cận công nghẹ nước ngoài có thể trực tiếp hoặc thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Đà Nang.
Đối với ngành điện tử: chú trọng sản xuất linh kiện điện tử, linh kiện máy vi tính và sản phẩm hoàn chỉnh: tủ lạnh, máy lạnh, quạt nước, máy vi tính, đồ điện gia dụng khác...
Tập trung đầu tư Trung tâm công nghệ phần mềm (SOFTECH) nhằm đào tạo nguồn nhân lực công nghệ thông tin và tiến đến xuất khẩu phần mềm.
Ngoài ra cần có chiến lược nghiên cứu sản xuất sản phẩm mới; sản phẩm công nghệ cao, có giá trị gia tăng lớn cho xuất khẩu, coi đây giải pháp để thúc đẩy xuất khẩu tăng nhanh.
c. Nhóm sản phẩm hàng thủ công mỹ nghệ, gỗ gia dụng, nhựa, đồ chơi trẻ êm.
- Mục tiêu xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ - gỗ gia dụng của thành phố đến năm 2005 đạt 11 triệu USD, tăng bình quân 42,5%/năm. Và đến năm 2010 đạt từ 45 triệu USD tăng bình quân 32,6%.
- Mục tiêu xuất khẩu nhựa, đổ chơi trẻ em đến năm 2005 đạt 25 triệũ USD tăng bình quân 34,8%/năm; Và đến năm 2010 đạt kim ngạch xuất khẩu: 40 triệu USD, tăng bình quân 10%.
*Một số giải pháp phát triển cụ thể:
+ Tăng cường thu hút nguồn nguyên liệu từ gỗ rừng trổng, nhập khẩu ở một số quốc gia ASEAN hoặc nước khác. Nghiên cứu để cơ khí hóa công đoạn sản xuất sản phẩm gỗ, mây, tre; chú trọng sản xuất sản phẩm duy trì và phát huy những nét độc đáo mang đậm sắc thái văn hóa dân tộc.
+ Quy hoạch, khôi phục và đầu tư vốn vào các làng nghề truyền thống như: làng đá mỹ nghệ Non Nước, dệt chiếu, tơ tằm, dệt thảm, mành trúc, đồ gốm và các cơ sở sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ khác bằng những ưu đãi như cho vay vốn, hỗ trợ lãi suất tín dụng, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp nhằm khuyến khích các nghệ nhân luôn luôn sáng tạo sản xuất ra các sản phẩm mới, độc đáo có hàm lượng nghệ thuật cao và tinh xảo.
+ Thu hút các Công ty sản xuất sản phẩm nhựa dân dụng, đồ chơi trẻ em trong nước và nước ngoài đầu tư tại Đà Nẩng.
1. Nhóm hàng vật liệu xây dựng
Ngành công nghiệp sản xuất gạch ốp lát, sứ vệ sinh, xi măng, kính của Đà Nẵng tuy mới phát triển, song đã sớm xâm nhập thị trường và có tính cạnh tranh cao so với nhóm hàng cùng loại của khu vực và quốc tế (xi măng Hải Vân, gạch Cosevco...). Một số nhà máy sản xuất ở Đà Nẵng có công nghệ tiên tiến chất lượng sản phẩm đạt ISO và hoàn toàn có khả năng cạnh tranh được hàng ngoại. Mặt khác đây là nhóm sản phẩm tiêu dùng có đến 70-80% nguyên liệu (đất sét, thạch cao, cát...) tronp nước. Nếu tập trung khai thác tốt thị trường xuất khẩu, sản phẩm này sẽ có giá trị gia tăng cao. Đồng thời theo định hướng phát triển của Bộ Công nghiệp đến năm 2010, sản phẩm kính là công nghiệp mũi nhọn phục vụ trong nước và xuất khẩu. Định hướng phát triển thị trường cho nhóm này: Myanmar, Lào, Đông Bắc Thái Lan, Campuchia, Bangladesh, Trung Đông, Châu Phi, Đông Au... Hiện nay kim ngạch xuất khẩu đạt 600 ngàn USD. Mục tiêu đến năm 2005 đạt 5 triệu USD và đến năm 2010 đạt 18 triệu USD tăng bình quân 50 %/năm.
1.4. Nhóm xuất khẩu dịch vụ
Lâu nay, ở Việt Nam nói chung, Đà Nẵng nói riêng ít chú ý đến xuất khẩu dịch vụ, thậm chí chưa có sô' liệu thống kê một cách có hộ thống. Tuy nhiẽn qua tổng hợp số liệu của các ngành đóng tại Đà Nẵng có thể ước tính năm 2002 đạt khoảng 40 triệu USD. Các ngành dịch vụ thu ngoại tệ bao gồm nhiều lĩnh vực (theo WTO thì có tới 155 loại hình dịch vụ) song trong phạm vi một địa phương chúng ta chỉ đề cập một số loại hình cơ bản: du lịch, xuất khẩu lao động, vận tải hàng không, bưu chính viễn thông, ngân hàng, tạm nhập tái xuất, chuyển khẩu... và dự kiến đến năm 2005 đạt 140 triệu USD tăng bình quân 50%/năm thời kỳ 2003 đến 2005 và đến năm 2010 đạt 535 triệu USD tăng bình quân 30%/năm thời kỳ 2006 - 2010.

a. Dịch vụ du lịch:Thực hiện Nghị Quyết số 03-NQ/TU ngày 14/8/2002 của Ban chấp hành Đảng bộ thành phố về “đẩy mạnh phát triển du lích thành phố Đà Nang trong thời kỳ mới”; du lịch là một ngành dịch vụ có ý nghĩa kinh tế xã hội quan trọng, theo ngành du lịch, mục tiêu phát triển đến năm 2005 đón khoảng 850.000 lượt khách (trong đó có 350 - 400 nghìn lượt khách quốc tế), doanh thu trên 650 tỷ đồng (~ 42,3 triệu USD ) tăng trưởng bình quân 16-17%; và năm 2010 đạt 100 triệu USD tăng trưởng bình quân 19%.
* Một số giải pháp cơ bản:
- Xây dựng hình ảnh du lịch Đà Nang với các tiêu chí: điểm đến thuận lợi, an toàn, văn minh, lịch sự, thật sự hấp dẫn. Phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp: đa ngành, đa thành phần, đa nguồn lực, đa miền, đa quốc gia để phát triển du lịch thành phố. Xây dựng Đà Nẵng trở thành trung tâm du lịch phục vụ du lịch lớn của mién Trung và cả nước;
- Khai thác tốt những lợi thế vé 3 di sản văn hóa thế giới: Huế - Hội An - Mỹ Sơn. Tổ chức các dịch vụ hỗ trợ và giữ chân khách làm điểm đến và đi như: Lễ hội truyền thống, sự kiện văn hóa lớn, khu nghỉ mát (Resort), khu ẩm thực đặc trưng của địa phương....;
-Nâng cấp xây dựng nhà ga khách tại Cảng Đà Nẵng để làm thủ tục xuất nhập cảnh cho khách được thuận lợi.

b. Dịch vụ tài chính,ngân hàng, bảo bưu thông, tạm nhập tái xuất..Hiện nay thu ngoại tệ của loại hình này ước tính: 40 triệu USD chiếm tỷ trọng lớn là dịch vụ ngân hàng (thanh toán quốc tế, chuyển tiền, kiều hối, tạm nhập tái xuất), bưu chính viễn thông, sóng, để tương xứng la thành phố động lực miền Trung, Đà Nẵng cần tập trung phát triển mạnh lĩnh vực này.
*Một số giải pháp chủ yếu:
- Phát triển thị trường trái phiếu, cổ phiếu và ngoại hối; thành lập Trung tâm giao dịch chứng khoán hoạt động phù hợp với sự phát triển của Đà Nẵng, miền Trung - Tây Nguyên;
- Phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin, thương mại điện tử khuyến khích mở rộng việc dùng các loại thẻ điện tử (Visa Card, MASTER Card...) và các loại dịch vụ bảo hiểm hàng hóa xuất khẩu;
- Theo chiến lược phát triển của ngành Bưu chính viễn thông trong thời gian tới hướng đầu tư Đà Nẵng là trung tâm khu vực miền Trung và Tây Nguyên. Năm 2002 bình quân 15,3 máy diện thoại/100 dân, gần 13.000 kết nối internet. Dự kiến thời gian đến dịch vụ này phát triển cao;
- Khuyến khích các hãng hàng không nước ngoài khai thác các chuyến bay tới Đà Nẵng;
- Mở rộng kho bãi chứa hàng, trang bị các phương tiện bốc dỡ hiện đại, công suất lớn, nghiên cứu áp dụng công nghệ tiên tiến trong quản lý, theo dõi hàng xuất, hàng nhập. Xây dựng mức giá hợp lý như cước phí qua cảng, kho bãi, cước phí vận tải... Hình thành các khu kho ngoại quan phục vụ cho hàng hóa trung chuyển, quá cảnh, tạm nhập - tải xuất...

c. Xuất khẩu lao động
- Trong nhiều năm qua xuất khẩu lao động là ngành thu ngoại tệ quan trọng, bình quân hằng năm cả nước có tới 3-4 vạn lao động xuất khẩu, thu nhập bình quân: 4500 - 5000 USD/năm. Song Đà Nẵng chưa khai thác được nhiều, bình quân: 1000 người/năm (năm 2002: 153 người, năm 2003: trên 1300 người, tổng thu nhập: 5 triệu USD (số liệu của ngành TB-XH). Mục tiêu phấn đấu tăng bình quân 15-20%/năm đến năm 2010 dự kiến đạt 20-30 triệu USD
Như vậy đặt ra: Đẩy mạnh đào tạo nghề, tổ chức và khai thác tốt thị trường xuất khẩu lao động ở nước ngoài...., sắp xếp lại các đơn vị tư vấn và làm dịch vụ xuất khẩu lao động theo hướng chuyên nghiệp, đảm bảo lợi ích cho người lao động.
Tóm lại, đến năm 2005, 2010 kim ngạch và cơ cấu xuất khẩu của thành phố Đà Nẵng dự kiến như sau:
Nhóm hàng xuất khẩu
Kim ngach (tr.USD)
Tỷ trọng (%)
2002
2005
2010
2002
2005
2010

l. Thủy hải, nông lâm sản
83,7
162,0
340,0
29,7
27,9
19,8

1. Thủy sản đông lanh và khô
67,0
120,0
200,0
23,8
20,7
11,6

1. 2. Thủy sản tinh chế
2,9
22,0
90,0

1. 0
3,8
5,2

1. 2. Nông lâm sản
13,8
20,0
50,0
4,9
3,4
3,0

2. Chế biến, chế tạo
95,0
186,0
546,0
33,7
32,1
31,7

2. 1. Dệt may
52,3
80,0
155,0
18,5
13,8
9,0

2. Giày da, túi cặp da
28,3
55,0
106,0
10,0
9,5
6,2

2. 3. Xăm lốp ôtô, cơ khí, điện, điện tử, công nghệ cao
0,4
15,0
200,0
0,3
2,6
11,6

2. 4. Đồ gỗ gia dụng, TCMN
3,8
11,0
45,0
1,3
1,9
2,6

2. 5. Nhựa, đồ chơi trẻ em
10,2
25,0
40,0
3,6
4,3
2,3

3. Vật liệu xây dựng .
0,3
5
18
0,3
0,9
1,1

4. Hàng khác
63,0
87
281
22,1
15,0
16,3
-Tổng kim ngạch XKHH
242,0
450,0
1185,0
85,8
75,9
68,9
- Tổng kim ngạch XKDV
40,0
140,0
535,0
14,2
24,1
31,1
* Tổng cộng
282,0
580,0
1720,0
100,0
100,0
100,0

3. 2. Giải pháp huy động tổng thể các nguồn lực phục vụ chiến lược phát triển xuất khẩu.

3. 2.1. Thu hút đầu tư trong và ngoài nước sản xuất hàng xuất
khẩu.
- Cải thiện môi trường đầu tư với những cơ chế chính sách đồng bộ và hấp dẫn hơn để thu hút ngày càng nhiều dự án đầu tư nhất là đầu tư sản xuất hàng xuất khẩu.
- Đa dạng hóa các hoạt động xúc tiến đầu tư trên các diễn đàn trong nước và nước ngoài, bằng nhiều hình thức và các kênh khác nhau. Ưu tiên xúc tiến đầu tư cho các dự án trọng điểm, các dự án trong danh mục kêu gọi vốn giai đoạn 2001-2010. Đẩy mạnh tuyên truvền qũảng bá về Đà Nang với bạn bè quốc tế; vừa thu thập, cung cấp thông tin tới các doanh nghiệp, nhà đầu tư có nhu cầu và tăng khả năng hợp tác với Đà Nẵng.
- Hệ thống hóa các văn bản pháp lụật kinh tế của Chính quyền trung ương và địa phương liên quan để cung cấp cho các nhà đầu tư nước ngoài.
- Hướng tới xóa bỏ tâm lý phân biệt về chính sách giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài. Cơ sở hạ tầng cần được liên tục đầu tư, nâng cấp hoàn chỉnh để đảm bảo chi phí cho đầu tư, sản xuất phải luôn ở mức thấp nhất.

3. 2.2. Gia tăng đầu tư trong nước sản xuất hàng xuất khẩu.
- Mỗi năm dự kiến thu hút đầu tư từ 3 đến 5 dự án sản xuất hàng xuất khẩu và ưu tiên hơn cho các dự án thuộc các nhóm mặt hàng xuất khẩu chủ lực.
- Nguồn đầu tư từ vốn vay của các Chi nhánh Quỹ hỗ trợ phát triển, ngân hàng hoặc từ Quỹ đầu tư của thành phố được thành lập (nếu có thể).

3. Giải pháp phát triển mở rộng thị trường xuất khẩu.

3. 1. Giải pháp tăng cường sự phối hợp giữa Nhà nước, doanh nghiệp và hiệp hội trong tiếp cận, mở rộng thị trường xuất khẩu.
Công tác phát triển thị trường cần được đổi mới cả tầm vĩ mô (Chính quyền, Sở, Ngành) vi mô (doanh nghiệp) theo hướng phân định rõ trách nhiệm của Nhà nước, hội hiệp, doanh nghiệp;

a. Nhà nước (Chính quyền địa phương, Sở ngành):
- Xây dựng hành lang pháp lý, tạo cơ chế chính sách thuận lợi trong khuồn khổ luật pháp để giúp doanh nghiệp phát triển thị trường;
- Tang cường mạnh mẽ công tác thu nhập và phổ biến thông tin về thị trường (Trung tâm xúc tiến thương mại, xúc tiến đầu tư, xúc tiến du lịch) từ dự báo tình hình chung cho đến nhu cầu, cung và cầu hàng hóa, dịch vụ... đến doanh nghiệp bằng con đường ngắn nhất, tiết kiệm nhất, tốt nhất qua những trang website;
- Hỗ trợ một phẩn kinh phí, nguồn vốn để mở rộng thị trường, đặt chi nhánh, văn phòng đại diện, triển lãm hội chợ, đầu tư ra nước ngoài, giới thiệu và quảng bá sản phẩm....;

b. Hiệp hội ngành hàng:Các hiệp hội ngành hàng là những tổ
chức, tập hợp đại diện cho doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, chế biến trong từng ngành hàng. Cần nâng cao vai trò của hiệp hội trong lĩnh vực hợp tác quốc tế; thốnẹ nhất tổ chức và phôi hợp sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản pham một cách hiệu quả nhất, cùng tìm kiếm thị trường phân bố lại sản phẩm gia công và định hướng sản xuất phát triển.

c. Các doanh nghiệp:Chủ động hội nhập quốc tế, hơn ai hết chính doanh nghiệp là những người thực hiện và đối mặt với môi trường cạnh tranh gay gắt trong và ngoài nướ Chính vì vậy doanh nghiệp phải chủ động xây dựng một chiến lược kinh doanh, chiến lược thị trường với tầm nhìn dài hạn, hạn chế trông chờ vào sự bảo hộ của Nhà nướ
Thu nhập, xử lý, chọn lọc thông tin là hết sức quan trọng đối với quá trình phát triển của doanh nghiệp như: nắm bắt kịp thời cơ chế chính sách thay đổi của nhà nước (thuế, ưu đãi đầu tư...) và thông tin chiều sâu thị trường khu vực và quốc tế (các hàng rào phi thuế, tiẽu chuẩn kỹ thuật, kiểm dịch...)
Qua nhiều kênh để tiếp cận thị trường ngoài nước như: hội thảo, hội nghị, triển lãm, hội chợ, đào tạo nước ngoài từ đó tìm kiếm cơ hội hợp tác, đầu tư, tiêu thụ sản phẩm.

3. 2. Giải pháp phát triển một số thị trường trọng điểm.
Theo phương châm: Tập trung vào một số thị trường cỏ sức nhập khẩu lớn, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, mỏ rộng thị trường mới, giữ vững va ổn định thị trường truyền thống.

a. Thị trường Châu Á - Thái Bình Dương: Hạt nhân của
khu vực này là Nhật Bản, Trung Quốc, ASEAN, Hồng Kông, Hùn Quốc, Đài Loan.
Dự kiến xuất khẩu sang thị trường Châu Á - Thái Bình Dương đến năm 2010 đạt 475 - 544,5 triệu USD tăng bình quân 15,0% - 16,7%/năm và chiếm tỷ trọng 49,5%,
* Thị trường Nhật Bản: Hiện nay dân số 126,3 triệu người, GDP đạt 4.149 tỷ USD năm 2001. Nhật Bản là thị trường tiêu thụ hàng hóa lớn thứ hai trên thế giới sau Hoa Kỳ và có quan hệ tốt với Việt Nam.
Cơ cấu sản phẩm xuất khẩu vào Nhật đơn giản, diện hàng hẹp trong đó 50% là nguyên liệu thô và sản phẩm sơ chế chủ yếu: thủy sản, dệt may, giày...
Năm 2002 kim ngạch xuất khẩu của Đà Nang vào Nhât: 48,3 triệu USD chiếm tỷ trọng 20,1% tổng kim ngạch xuất khẩu; Việt Nam xuất khẩu: 2,83 tỷ USD chiếm tỷ trọng 18,7% tổng kim ngạch xuất khẩu.
Thời gian đến xuất khẩu vào Nhật một số biện
pháp:
- Khai thác lợi thế Hiệp định song phương để dành ưu tiên hàng hóa của Đà Nẵng theo quy chế MFN.
- Các Trung tâm xúc tiến đầu tư, thương mại, du lịch phối hợp tốt với tổ chức xúc tiến Nhật JETRO để thu hút đầu tư, giới thiệu sản phẩm.
- Các doanh nghiệp Đà Nẵng tập trung đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trường này hàng dệt may, hải sản, giày dép và sản phẩm da, rau quả, đồ gốm sứ và sản phẩm gỗ.
* Thị trường Trung Quốc: với dân số 1,29 tỷ người, GDP đạt 1.159 tỷ USD (nãm 2001, không kể Hồng Kông) Trung Quốc hiện là bạn hàng lớn thứ 2 của Việt Narn sau Nhật Bản. Năm 2002 tổng kim ngạch xuất khẩu của Đà Nẵng vào Trung Quốc đạt 10 triệu USD chiếm 4,16% tổng kim ngạch xuất khẩu và Việt Nam xuất khẩu vào Trung Quốc: 1,55 tỷ USD chiếm 10,26 % tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hó Hướng xuất khẩu vào Trung Quốc nhằm:
- Tiêu thụ nhiều mặt hàng khó tiêu thụ sang thị trường khác (vì dân đông, thị trường dễ tính);
- Tận dụng chính sách ưu đãi thương mại vùng biên, các doanh nghiệp Đà Nẵng có thể đẩy manh xuất khẩu hàng hóa mà còn thực hiện tạm nhập, tái xuất hàng từ nước ngoài vào Trung Quốc;
- Một số sản phẩm Đà Nẵng có lợi thế xuất khẩu vào Trung Quốc: hải sản, rau quả, hàng bách hóa, cao su. Song chú trọng đến khâu thanh toán, tốt nhất là thanh toán qua ngân hàng.
* Thị trường ASEAN: Năm 2002 kim ngạch xuất khẩu của Đà Nang vào thị trường ASEAN: 17,2 triệu USD, chiếm 7,16 % tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hó
Hiện nay Việt Nam đang nhập siêu từ ASEAN (1,9 tỷ USD /năm 2000). Vấn đề quan trọng là tính tương đồng trong sản phẩm của Việt Nam, Đà Nẵng và ASEAN cao, có nghĩa là những mặt hàng ta có thế mạnh thì ASEAN cũng có và thậm chí manh hơn. Song, hiện nay chúng ta đang thực hiện tiến trình tham gia CEPT/AFTA do đó cần khai thác lọi thế đó để đứng chân trong thị trường 500 triệu dân này và tái xuất vào quốc gia khác.
Một số sản phẩm xuất khẩu chủ yếu vào thị trường ASEAN: dột may, thủy san, gạo.

b. Thị trường Châu Ầu: (trọng tám là EU và Ngu).
- Năm 2002 xuất khẩu Đà Nẩng vào Châu Âu đạt 57,7 triệu USD chiếm tỷ trọng 24%, trong đó EU đạt 52,2 triệu USD chiếm 21,8% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa. Dự kiến kim ngạch xuất khẩu đến năm 2010 đạt 225-260 triệu USD tăng bình quẩn 15-17 %/năm và chiếm tỷ trọng 23,5%.
- Là thị trường tiêu thụ trực tiếp với dân số hơn 500 triệu người, nhung chiêm 40% kim ngạch buôn bán thế giới trong đó EU là 35%. Khu vực thị trường EU đang có xu hướng mở rộng thành 25 quốc gia, có nền kinh tế ổn định, ít biến động, nhưng đòi hỏi vể chất lượng hàng hóa rất cao, giá cả thường cao hơn các thị trường khác. Các mặt hàng trọng tâm cần đẩy mạnh xuất khẩu là: thủy sản và thực phẩm (bán nhạy cảm và không nhạy cảm) có lợi thế về thuế quan nên phải gia tăng mạnh xuất khâu; đồ gỗ, nhựa gia dụng, thực phẩm chế biến, sản phẩm điện tử, thủ công mỹ nghệ là nhũng mặt hàng được ưa chuộng; nông sản, giày dép, dệt may (rất nhạy cảm) vãn tăng nhưng tốc độ không cao.
- Xuất khẩu vào thị trường EU cần chú ý và thực hiện một số giải pháp:
+ Chế độ quản lý nhập khẩu vào thị trường EU hết sức phức tạp nên việc thu nhập thông tin và phổ biến thông tin đến doanh nghiệp là vấn để quan trọng hàng đầu. Theo UNTAD, do thiếu thông tin và không hiểu rõ các quy định về thủ tục EU, nhiều quốc gia chỉ sử dụng được 48% các ưu đãi của EU hoặc chế độ thuế quan phổ cập ưu đãi của EU (GSP).
+ Chế độ hạn ngạch cho hàng dệt may dự kiến sẽ hết hiệu lực vào năm 2005. Do đó yêu cầu doanh nghiệp hết sức nâng cao chất lượng hàng hóa, giữ uy tín đối với bạn hang, hợp đồng7đảm bảo duy trì các mối quan hệ để chuẩn bị cho thời ky hậu “GSP” và hậu hạn ngạch dệt may.

c. Thị trường Châu Mỹ: (hao gồm Hoa Kỳ,
vù Nam Mỹ)
- Trọng tâm của khu vực này là Hoa Kỳ đây Là thị trường nhập khẩu lớn nhất thế giới nhưng không yêu cầu khắc khe như người tiêu dùng châu Âu và Nhật; nên tất cả các nưóc nhất là các quốc gia đang phát triển đều cố gắng xuất khẩu sản phẩm của mình với những mặt hàng trọng tâm vào thị trường này là: tôm đông, mực đông, hàng hải sản chế biến tinh; may mặc, giày; rau quả; hàng TCMN đồ gốm sứ; đá Non Nước; bàn ghế gỗ cáo cấp (kết họp nhiều chất liệu khác: đá granite, thủy tinh chịu nhiệt, inox, pha lê...); tuy nhiên có một số rào cản như áp dụng hạn ngạch hàng may mặ...
- Sau hơn một nãm Hiệp định song phương Việt Nam - Hoa Kỳ có hiệu lực, xuất khẩu của Đà Nẵng vào thị trường này tăng 72,1% và dự kiến xuất khẩu đến năm 2010 đạt 225 - 258 triệu USD, tăng bình quân 27,0 - 29% và chiếm tỷ trọng 23,5%.
Một sô giải pháp phát triển thị trường Hoa Kỳ: Xây dựng chiến lược quảng bá mặt hàng thông qua hệ thống siêu thị, trung tâm thương mại, nhà hàng lớn; mở rộng hợp tác với thương nhân Việt kiều, Hoa kiều tại Mỹ. Hạn chế gia công, bán và phân phối qua trung gian để đưa hàng thủy sản, may mặc, da giày vào các nước Bắc Mỹ; đẩy mạnh xuất khẩu trực tiếp, phát triển mạnh hoạt động Marketing, tập trung đầu tư thiết kế thời trang; xây dựng thương hiệu và tăng cường hợp tác với lực lượng Việt Kiều để tiêu thụ tại thị trường Mỹ. Tham gia tích cực các cuộc hội chợ hàng đồ chơi và quà tặng (gifts and presents), bàn ghế gỗ kết hợp với các vật liệu cao cấp... được tổ chức thường niên tại nhiều tiểu bang của nước Mỹ.

d. Thị trường Tây Á - Trung Đông - Châu Phi: Tập trung vào một số thị trường có sức mua tương đối lớn như Nam Phi, Các Tiểu Vương quốc Arập thống nhất (UAE), Ân Độ. Các mặt hàng trọng tâm là may mặc, giày dép, cà phê, rau quả, lương thực thực phẩm...
Dự kiến thị trường Tây Á - Trung Đông tăng bình quân 9 - 11% và chiếm tỷ trọng 1% và Châu Phi tăng bình quân 37 - 38%/năm và chiêm tỷ trọng 0,5%.

e. Thị trường úc - New Zealand: Dự kiến xuất khẩu đến năm 2010 đạt 19 - 22 triệu USD tăng bình quân 18 - 20% và chiếm tỷ trọng 2% với các mặt hàng may mặc, giày da và hàng thủ công mỹ nghệ.

4. Giải pháp phát triển nguồn nhân lực phục vụ công tác phát triển xuât khẩu.
- Ưu tiên đào tạo cán bộ đầu đàn làm công tác kinh tế đối ngoại, tài chính, kinh tế và tin học. Tổ chức đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ giám đốc để hình thành lớp doanh nhân trẻ có năng lực, trình độ, có khả năng xử lý linh hoạt các vấn đề thị trường; tận dụng tốt các cơ hội; đổng thời có chính sách khuyến khích doanh nhân giỏi, thực hiện tính nhất quán, tính chiêu hiền đãi sĩ một cách xác thực... nhằm đáp ứng yêu cầu công tác xuất nhập khẩu trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
- Chú trọng chất lượng đào tạo cho cỏng nhân lành nghề bậc cao, có thể tiếp cận và thành thạo các dây chuyền kỹ thuật hiện đại, tự động hóa... hướng đào tạo tập trung vào các mặt hàng xuất khẩu chủ lực như may mặc, giày, cơ khí, lắp ráp điện tử hiện nay đang có nhu cầu lớn. Bởi vì cứ xuất khẩu 1 triệu USD hàng may mặc hoặc giày hoặc thủ công mỹ nghệ cần 3000 đến 4000 công nhân
- Đào tạo cho được nguồn nhân lực (sinh viên ngoại ngữ) cung ứng cho các doanh nghiệp (nhất là doanh nghiệp FDI) có nghiệp vụ về thủ tục chuẩn bị đầu tư, về thủ tục hải quan, về nghiệp vụ xuất nhập khẩu, về nghiệp vụ ngân hàng, các lĩnh vực liên quan đến người lao động (nguồn này rất thiếu, vì có nghiệp vụ về kinh tế lại yếu về ngoại ngữ và ngược lại).

5. Giải pháp phát triẻn gia tăng doanh nghiệp xuất khẩu; nâng cao nănp lực cạnh tranh và xây dựng thường hiệu cho hàng xuất khãu.

5. 1. Gia tăng và hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu.
- Trong thời gian đến cần phát triển và khuyến khích thêm nhiều doanh nghiệp tham gia hoạt động xuất khẩu, chú trọng các doanh nghiệp vừa và nhỏ để làm đại lý, vệ tinh hoặc gia công cho các doanh nghiệp nước ngoài, các doanh nghiệp xuất khẩu lớn của thành phố .
- Hỗ trợ, đào tạo và tư vấn về hoạt động ngoại thương.
- Tiếp cận và xây dựng chiến lược phát triển thương mại điện tử trong hoạt động ngoại thương. Phối hợp với Bộ Thương mại xây dựng và triển khai Sàn Thương mại điện tử phục vụ cho cả khu vực miền Trung và Tây Nguyên.
- Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng hỗ trợ cho xuất khẩu như: mở rộng cảng biển, xây dựng nhà ga khách tại Cảng Đà Nẵng, bưu cục ngoại dịch và trang bị máy móc kiểm tra kiểm soát hiện đại để thông quan nhanh hàng hóa tạo thuận lợi cho doanh nghiệp.

5. 2. Tăng cường năng lực, hiện đại hóa doanh nghiệp.
- Thời gian tới cần có hướng đầu tư mới thiết bị công nghệ nguồn từ các nước có nền công nghệ phát triển, dây chuyền nhập khẩu để sản xuất cần phải đồng bộ theo hướng tự động hóa cho việc sản xuất các sản phẩm chủ lực hiện nay như da giày, dệt vải, chế biến thủy sản.
- Tập trung xử lý dứt điểm các tồn tại để lành mạnh hóa tài chính doanh nghiệp nhà nước; sắp xếp và hình thành các Công ty đủ mạnh cả về tổ chức lẫn nội dung, phương thức hoạt động nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường.
- Nghiên cứu thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ; Quỹ Hỗ trợ phát triển làng nghề truyền thống để hỗ trợ cho việc truyền nghề từ các nghệ nhân và tài trợ một phần việc mở rộng phát triển làng nghề.
- Thực tiện tốt các chính sách ưu đãi, khuyên khích đầu tư nước ngoài của Chính phủ và UBND thành phố đã ban hành, tiến hành đổng thời các biện pháp như: hoàn thiện cơ sở hạ tầng và dịch vụ hỗ trợ, chú trọng đến vấn đề vệ sinh môi trường; giúp nhà đầu tư giảm chi phí, nâng cao năng lực cạnh tranh; khuyến khích, hỗ trợ và tạo điều kiện cho các nhà đầu tư tiếp cận nguồn vốn tín dụng, ưu đãi để mở rộng sản xuất.

5. 3. Nâng cao năng lực cạnh tranh và xây dựng thương hiệu hàng hóa.

a. Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và sản phẩm xuất khẩu.
- Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và sản phẩm được đo bằng khả năng duy trì và mở rông thị phần của sản phẩm và dịch vụ; lợi nhuận của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong và ngoài nước.
- Năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ được quyết định bởi công nghệ, chất lượng giá cả, thời hạn, điều kiện giao hàng, độ tin cậy và ổn định của sản phẩm, tính độc đáo.
- Hiện nay năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp còn thấp và vì vậy trong thời gian tới để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, sản phẩm và dịch vụ doanh nghiệp cần phải:
+ Thực hiện việc áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế cho các mặt hàng chu lực của thành phố như: ISO, SA 8000, HACCP để giảm chi phí sản xuất gồm: chi phí nguyên nhiên vật liệu, nhân công, năng lượng, nâng cao năng suất lao động nhằm giảm giá thành, chú trọng chiến lược xây dựng giá thành.
+ Mỗi doanh nghiệp cần phải tự nghiên cứu, thiết kế mẫu mã hợp thời trang theo mùa và có tính đặc trưng riêng phù hợp với thị hiếu tiêu dùng cho từng thị trường và sự chuyên môn hóa về sản phẩm dịch vụ.

b. Xây dựng thương hiệu hàng hóa.
- Thương hiệu là tài sản vô hình của doanh nghiệp, tuỳ thuộc vào thị trường mục tiêu, chiến lược của doanh nghiệp, vị thế cạnh tranh và các yếu tố môi trường tiếp thị, doanh nghiệp có thể xây dựng thương hiệu của mình, về kỹ thuật có thể cân nhắc một số nguyên tắc cơ bản khi quyết định:
- Thương hiệu dễ nhón đây là điều kiện cần thiết tạo nhận thức thương hiệu đối với người tiêu dùng.
- Thương hiệu phải có ý nghĩa: nhằm gây ấn tượng và tác động tâm lý đến người tiêu dùng.
- Thương hiệu phải có tính dễ hảo thực hiện khía cạnh
pháp lụật và cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nưóc, hạn chế tính bắt chước
- Thương hiệu dễ thích ứng, phút vù khuếch trương.
Như vậy doanh nghiệp phải nhanh chóng xây dựng, hình thành và tiến hành đăng ký: thương hiệu, biểu trưng (logo), mã vạch (bar code), nhãn hiệu hàng hóa (trademark) của mình tại các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam; tại nước xuất nhập khẩu và tại các tổ chức Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp trên toàn thế giới. Chọn một số doanh nghiệp xuất khẩu lớn để tham gia vào Chương trình quốc gia xây dựng thương hiệu Việt Nam.
Một khi doanh nghiệp có ý thức đầu tư đúng mức cho quảng bá thương hiệu thì uy tín, hình ảnh và giá trị niểm tin của khách hàng sẽ được củng cố và do đó tài sản vô hình của doanh nghiệp sẽ tăng lên tương ứng.

6. Tăng cường mối quan hệ với các Bộ, Ngành trung ương, địa phương nhằm nắm bắt kịp thời những cơ chế, chính sách ưu đãi, nguồn vốn, nguồn quỹ phát triên... cho hoạt động xuất khẩu như : Nguồn từ Quy hỗ trợ xuất khẩu của thành phố ; Quỹ hỗ trợ phát triển của Chính phủ và các nguồn tín dụng khác; Chương trình xúc tiến thương mại trọng điểm quốc gia....
Phối hợp đổng bộ giữa các ngành chức năng: Thương mại, Công nghiệp, Kế hoạch - Đầu tư, Hải Quan, Thống kê, Thuế, Cảnh sát kinh tế và các ngành liên quan khác nhằm quản lv tốt hoạt động xuất nhập khẩu, hướng các doanh nghiệp kinh doanh theo đúng pháp lụật.
II. Tổ chức thực hiện.

1. Trên cơ sở Chiến lược này các Sở, Ngành và các địa phương quận, huyện sớm hình thành kế hoạch xuất khẩu dài hạn của Ngành và địa phương mình.

2. Sở Thương mại chủ trì phối hợp với Sở, ngành chức năng triển khai Chiến lược đến các thành phần kinh tế và doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng và tiến hành hướng dẫn, quảng bá thương hiệu (Trung tâm Thông tin xúc tiến thương mại).

3. Sở Tài chính - Vật giá để xuất những cơ chế, chính sách tài chính phù hợp để kích thích các thành phần kinh tế, doanh nghiệp triển khai thực hiện chiến lược có hiệu quả;

4. Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì phối hợp vói các Sở, ngành địa phương xây dựng và bố trí kế hoạch hằng năm dài hạn, phối hợp với chiến lược này để đầu tư phát triển xuất khẩu, xúc tiến kêu gọi dự án đầu tư (Trung tâm xúc tiến đầu tư) phát triển hàng xuất khẩu;

5. Sở Công nghiệp chủ trì phối hợp với các Sở, ngành liên quan đánh giá tình hình máy móc thiết bị của doanh nghiệp và có đề xuất giải đáp đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng, số lượng hàng xuất khẩu.

6. Sở Thủy sản - Nông lâm chủ trì cùng các Sở, ngành địa phương xây dựng phát triển vùng nguyên liệu theo quy hoạch của thành phố để tạo nguyên liệu phục vụ cho chế biến thủy sản, nông lâm xuất khẩu. Xây dựng triền khai đề án chợ đầu môi thủy sản khu vực miền Trung.

7. Sở Du lịch, Sở Thương mại chủ trì, phối hợp với Sở Giao thông - Công chính, Sở Lao động - Thương binh và xã hội, Ngân hàng, Hải quan, Cảng... đề xuất các giải pháp để phát triển các loại hình dịch vụ, nhất là khai thác lợi thế về Cảng, Sân bay nhằm phát triển du lịch và các dịch vụ thu ngoại tệ khác.

8. Sở Tư pháp lập Đề án phát triển luật sư giỏi về thương mại để có khả nãng tư vấn hoặc giải quyết các tranh chấp về ngoại thương.

9. Ban Tổ chức Chính quyền thành phô phối hợp với các ngành liên quan rà soát đội ngũ cán bộ các Sở, Ban, Ngành và các doanh nghiệp để hằng năm chọn từ 5 đến 10 cán bộ đi học tập trung về: ngoại ngữ, ngoại thương, kiến thức về một số thị trường trọng điểm nhằm đào tạo cán bộ có năng lực và trình độ đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế, phục vụ cho công tác xuất khẩu.

10. Sở Thương mại làm đầu mối giúp Chủ tịch UBND thành phố chỉ đạo việc triển khai Chiến lược. Hằng nãm kiểm tra, đánh giá xây dựng kế hoạch. Chủ trì phối hợp các cơ quan liên quan trong nước và quốc tế tổ chức các hội nghị, hội thảo... về từng thị trường: nhu cầu, tập quán, thị hiếu... trong công tác phát triển thị trường. Tổ chức phát triển mạnh xúc tiến thương mại nhất là thương mại điện tử. Tham mưu cho UBND thành phố thực hiên các chính sách mới của Chính phủ, thành phố nhằm thúc đẩy xuất khẩu đạt được mục tiêu đề ra./.

Tổng quan văn bản

Số ký hiệu107/2003/QĐ-UB
Ngày ban hành02/07/2003
Loại văn bảnQuyết định
Ngày có hiệu lực12/07/2003
Nguồn thu thậpCơ sở dữ liệu
Ngày đăng công báo---
Cơ quan ban hành / Người kýUBND thành phố Đà Nẵng / Nguyễn Bá Thanh
Phạm viĐà Nẵng
Trích yếuVề việc Phê duyệt Chiến lược xuất khẩu (điều chỉnh) của thành phố Đà Nẵng thời kỳ đến năm 2010
Tình trạng hiệu lựcHết hiệu lực toàn bộ

Chưa có thông tin lược đồ

Văn bản này hiện chưa được cập nhật dữ liệu về lược đồ liên quan.