Quay lại

Quyết định 108/1999/QĐ-UB về việc phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Chư Păh đến năm 2010

UBND TỈNH GIA LAI
-------

Số: 108/1999/QĐ-UB

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------------------------

tỉnh Gia Lai, ngày 26 tháng 10 năm 1999

QUYẾT ĐỊNH

CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

Về việc phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Chư Păh đến năm 2010

__________________________

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

- Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 1994;

- Xét quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội huyện Chư Păh đến năm 2010 do Viện Chiến lược phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư lập;

- Xét đề nghị của Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư tại Tờ trình số 150/TT-KH ngày 10 tháng 9 năm 1999.

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1: Phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Chư Păh đến năm 2010, với những nội dung sau:

I - MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN CHỦ YẾU:

Thống nhất chọn phương án I trong báo cáo làm phương án chính để phát triển kinh tế xã hội của huyện Chư Păh đến năm 2010.

a) Về kinh tế xã hội:
Phấn đấu nhịp tăng trưởng GDP bình quân hàng năm giai đoạn 1999 - 2000: 12%, 2001 - 2005: 13%, 2006 - 2010: 13,5%. GDP bình quân đầu người đến năm 2005 đạt 5,14 triệu đồng và năm 2010 đạt 8,6 triệu đồng.
- Từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn huyện (kể cả kinh tế Trung ương) theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ; đến năm 2005: CN - XD: 33,43%, NLN: 47,93% và DV: 18,64%; năm 2010: CN - XD: 40,61%, NLN: 37,39%, DV: 22%.
- Phấn đấu tăng tỷ lệ tích luỹ đầu tư phát triển từ ngân sách so với GDP lên 7% năm 2005 và 11% năm 2010.
- Thực hiện đầy đủ và đồng bộ các chương trình quốc gia về giáo dục, y tế, văn hoá xã hội, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực, giải quyết về cơ bản việc làm cho người lao động, cải thiện điều kiện môi trường, thực hiện tốt các mục tiêu xoá đói giảm nghèo, không ngừng nâng cao mức sống dân cư, đặc biệt là vùng sâu vùng xa.

b) Về môi trường:Giảm thiểu các hiện tượng ô nhiễm môi trường, nhất là ở khu công nghiệp, các nhà máy như: sơ chế mủ cao su, xi măng, sản xuất phân vi sinh, tạo sự trong sạch môi trường đô thị bằng cách xây dựng, nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng như: đường xá, hệ thống cấp nước, xử lý chất thải, phát triển cây xanh, vườn cây trong thị trấn.

c) Về an ninh chính trị:Giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn huyện.
II - NHỮNG NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN CHỦ YẾU:

1. Phát triển nông lâm nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá:Trên cơ sở tập trung thâm canh tăng vụ, mở rộng diện tích, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, chú trọng sản xuất cây công nghiệp dài ngày, nhất là cà phê, cao su, tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi trong cơ cấu.
- Sản xuất lương thực: Khai thác triệt để diện tích lúa 2 vụ kết hợp với xây dựng và củng cố các công trình thuỷ lợi để đưa diện tích lúa đông xuân lên 400 - 500 ha vào năm 2005 và đến 2010: 600 - 700 ha, đồng thời phát triển cây ngô, sắn. Từng bước thay thế dần diện tích lúa cạn có năng suất thấp bằng các cây trồng có năng suất và giá trị kinh tế cao. Sản lượng lương thực quy thóc đạt 22.030 tấn năm 2005 và 24.550 tấn vào năm 2010.
- Cây công nghiệp: Tập trung thâm canh cao trên diện tích hiện có, đầu tư trồng mới cà phê ở những địa bàn đủ nước để đến năm 2005 có 6.200 ha và năm 2010 đạt 6.500 ha, phát triển thêm gần 300 ha cao su để đạt diện tích 3.000 ha, đi đôi phát triển cây mía, lạc đến năm 2010 đạt 2.500 - 3.000 ha mía và 800 - 000 ha lạc. Khuyến khích đầu tư hỗ trợ hộ gia đình cải tạo vườn tạp để trồng cà phê, cây ăn quả như: sầu riêng, nhãn, chuối... đạt khoảng 500 ha cây ăn quả.
* Về chăn nuôi: Phát triển đàn gia súc với mức tăng trưởng bình quân hàng năm 7 - 8%, đến năm 2010 có khoảng 30.000 con trâu bò, 45.000 - 50.000 con lợn.
* Về lâm nghiệp: Tăng cường công tác bảo vệ để quản lý bảo vệ cho được diện tích rừng hiện có, đẩy mạnh khoanh nuôi súc sinh và trồng rừng trên đất trống đồi núi trọc, bình quân mỗi năm trồng 100 - 150 ha rừng.
Thực hiện tốt công tác phòng cháy rừng với nhiều biện pháp thích hợp, hạn chế tối đa nạn đốt rừng làm rẫy, khai thác gỗ trái phép.

2. Phát triển công nghiệp - tiểu thu công nghiệp:
Phát triển ngành CN- TTCN với quy mô thích hợp, góp phần thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phấn đấu nhịp tăng GDP bình quân 17% thời kỳ 2001 - 2005 và 18% thời kỳ 2006 - 2010, góp phần tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Phát triển công nghiệp theo hướng đầu tư có trọng điểm vào các ngành, đặc biệt là các ngành có lợi thế so sánh như: công nghiệp chế biến nông lâm sản, công nghiệp năng lượng (thuỷ điện), sản xuất vật liệu xây dựng... Huy động tốt năng lực hiện có, cải tạo, mở rộng, đổi mới thiết bị công nghệ ở các cơ sở đã có, xây dựng mới một số cơ sở với công nghệ tiên tiến, hiện đại để đủ sức cạnh tranh khi có nhu cầu và điều kiện.
Đầu tư cơ sở hạ tầng để hình thành cụm công nghiệp Chư Păh (một trong 5 cụm công nghiệp đã được xác định của tỉnh).

3. Phát triển thương mại - du lịch:
Đẩy mạnh hoạt động thương mại dịch vụ khác, nhằm lưu thông thông suốt hàng hoá, thúc đẩy sản xuất phát triển, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của các tầng lớp dân cư trong huyện.
Xây dựng trung tâm thương mại thị trấn Phú Hoà, xây dựng và phát triển mạng lưới chợ ở các xã.
Hướng dẫn các thành phần kinh tế tham gia phát triển thương nghiệp thực hiện đúng chính sách, pháp luật của Nhà nước, đẩy mạnh và tăng cường công tác quản lý thị trường, chống trốn lậu thuế.

4. Về phát triển cơ sở hạ tầng:
* Giao thông: Huy động nhiều nguồn vốn để xây dựng, cải tạo và nâng cấp các tuyến đường liên xã, trước mắt là các tuyến: Chư Jôr - Nghĩa Hưng, Ia Phí - Ia Kha, Ia Phí - Ia Mơ Nông, Nghĩa Hoà - Ia Sao, ngã ba Dak Tơ Ver đi Hà Tây... và một số cầu cống qua đường.
Rãi nhựa khoảng 10 km đường nội thị trấn, số còn lại san ủi, rải cấp phối, chú ý đến việc bố trí dân cư dọc trục đường 14 (theo hướng mở rộng xa lộ Bắc Nam).
* Cấp điện, cấp nước:
- Xây dựng hệ thống điện lưới đến các xã chưa có điện: Chư Đang Ya, Dak Tơ Ver, Ia Phí - Ia Mơ Nông, Ia Ka, phát triển thuỷ điện nhỏ ở vùng sâu, vùng xa, thí điểm năng lượng mặt trời, sức gió ở những nơi không có điều kiện kéo lưới điện được để đến năm 2005 có 60 - 70% số hộ được dùng điện và năm 2010 giải quyết tối đa các hộ ở những làng, xã có điều kiện.
- Hoàn thiện việc xây dựng hệ thống nước thị trấn và nâng cấp mở rộng sau năm 2005, xây dựng các công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn để đến năm 2005 có 80 - 85% và năm 2010 có gần 100% dân số được dùng nước sạch.
* Bưu chính viễn thông:
Tiếp tục hiện đại hoá mạng lưới thông tin liên lạc ở khu vực thị trấn, phát triển bưu cục ở các khu vực đông dân cư, mở rộng mạng lưới điện thoại đến các xã, để đến năm 2005 hầu hết các xã có điện thoại.

5. Phát triển các lĩnh vực xã hội:
*Về dân số:Đẩy mạnh công tác dân số kế hoạch hoá gia đình, giảm tỷ lệ tăng dân số tự nhiên xuống 1,9% năm 2005 và 1,8% năm 2010. Đến năm 2005 dân số toàn huyện khoảng 54.900 - 5300 người và năm 2010 từ 61.500 - 62.200 người.
*Về giáo dục:Giữ vững các tiêu chuẩn đã đạt được về phổ cập giáo dục tiểu học, chống tái mù, tiếp tục phát triển các loại hình giáo dục sau xoá mù chữ và bổ túc văn hoá. Huy động trên 95% trẻ em trong độ tuổi đến trường.
Phát triển giáo dục mầm non, tiểu học, phổ thông cơ sở, phổ thông trung học, xây dựng trường lớp cơ bản đáp ứng được yêu cầu của giáo dục, xây dựng trường bán trú ở các cụm xã, trường phổ thông dân tộc nội trú ở các thị trấn huyện. Xây dựng 3 - 5 trường đạt tiêu chuẩn quốc gia vào năm 2010. Đẩy mạnh mọi cuộc vận động "xã hội hoá giáo dục".
* Về Y tế:
Nâng cao chất lượng bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ cho người dân. Tiến tới thanh toán cơ bản bệnh phong, giảm đến mức thấp nhất người mắc các bệnh sốt rét, lao, bướu cổ và các bệnh truyền nhiễm, thực hiện chương trình tiêm chủng mở rộng cho trẻ em đạt gần 100%. Củng cố mạng lưới y tế, nhất là y tế cơ sở, xây dựng thêm 6 trạm y tế xã ở các xã chưa có trạm y tế. Phấn đấu đến năm 2010: 100% số xã có bác sỹ.
*Về văn hoá thông tin:
Củng cố các hoạt động văn hoá, thể thao, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, từng bước đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hoá của nhân dân, phát triển phong trào thể dục thể thao rộng khắp ở tất cả các xã, công, nông, lâm trường, trường học...
- Hình thành đội thông tin lưu động, xây dựng trạm thu, phát sóng truyền hình vùng lõm, phấn đấu đến năm 2005 phủ sóng phát thanh 100% và 80% địa bàn được phủ sóng truyền hình.
- Xây dựng khu vui chơi, văn hoá, thể thao tại thị trấn Phú Hoà.
* Việc làm, mức sống:
Phát triển các ngành sản xuất và dịch vụ để hàng năm có thể giải quyết thêm việc làm cho 2.000 lao động. Tiếp tục cuộc vận động xoá đói giảm nghèo, cơ bản xoá hộ đói vào năm 2000; giảm hộ nghèo xuống còn 10%, hộ trung bình lên 55%, hộ khá lên 25%. Hộ giàu 10% vào năm 2010.
III - NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU:
Cần có những giải pháp đồng bộ, phù hợp, có hiệu quả nhằm huy động tối đa nội lực và nguồn lực từ bên ngoài phục vụ cho công cuộc phát triển kinh tế xã hội.

1. Huy động vốn đầu tư: Để đáp ứng được nhu cầu đầu tư 518 tỷ đồng trong giai đoạn 1999 - 2010 cần phải có biện pháp huy động vốn một cách tích cực, tập trung vào những nguồn chủ yếu sau đây:
- Từ tích luỹ nội bộ nền kinh tế khoảng 571 tỷ đồng, đáp ứng 37,6% nhu cầu đầu tư, trong đó huy động từ ngân sách 278 tỷ đồng, vốn đầu tư từ doanh nghiệp và nhân dân là 284 tỷ đồng. Nguồn vốn đầu tư từ ngân sách chủ yếu cho phát triển cơ sở hạ tầng. Nguồn vốn của doanh nghiệp, ngoài việc đầu tư tái sản xuất mở rộng cần huy động đóng góp của các doanh nghiệp vào xây dựng kết cấu hạ tầng và công trình công cộng, nhất là các doanh nghiệp đóng trên địa bàn huyện. Nguồn vốn của nhân dân là một tiềm lực tiềm tàng trong nhân dân, cần được huy động tốt trong giai đoạn tới để đầu tư sản xuất nông nghiệp như trồng cây dài ngày, phát triển chăn nuôi, bỏ vốn kinh doanh trong khu vực TTCN, thương mại, dịch vụ, vận tải...
- Nguồn vốn vay tín dụng: 371 tỷ đồng, chủ yếu tập trung vào sản xuất và kinh doanh, kể cả doanh nghiệp Nhà nước và khu vực ngoài quốc doanh.
- Nguồn vốn thu hút từ bên ngoài: 576 tỷ đồng, kể cả vốn ngân sách Trung ương, tỉnh và các nơi khác trong cả nước. Trong nguồn vốn này phần từ ngân sách Trung ương, tỉnh chủ yếu tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng quan trọng, phần từ các tỉnh khác đầu tư vào để sản xuất kinh doanh là chủ yếu. Trong đó nguồn vốn từ nước ngoài, dự kiến thu hút khoảng 177 tỷ đồng, bao gồm cả FDI, ODA và viện trợ.
- Thực hiện chính sách khuyến khích kinh tế như: miễn giảm thuế, cho vay tín dụng với lãi suất thấp... đối với những doanh nghiệp, những ngành tạo ra sản phẩm có sức cạnh tranh, đầu tư đổi mới công nghệ, sản xuất các sản phẩm qua chế biến, nhất là chế biến tinh. Khai thác Quỹ Hỗ trợ đầu tư quốc gia để cung cấp tín dụng trung và dài hạn.

2. Ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới vào lĩnh vực đời sống và xã hội như: lựa chọn và đưa vào sản xuất những giống cây trồng, vật nuôi cho năng suất cao, khả năng kháng bệnh tốt, ứng dụng công nghệ sau thu hoạch, công nghệ sản xuất xi măng, VLXD, chế biến nông lâm sản chất lượng cao.
- Đẩy nhanh công tác khuyến nông, khuyến lâm đến tận hộ gia đình, tập huấn chuyển giao công nghệ cho hộ nông dân. Chú trọng tổng kết, phổ biến, nhân rộng những mô hình sản xuất kinh doanh giỏi trên địa bàn huyện.
- Có chính sách thu hút, đãi ngộ thoả đáng để sử dụng có hiệu quả và bổ sung nguồn cán bộ khoa học kỹ thuật cho huyện.

3. Phát huy sức mạnh tổng hợp của các thành phần kinh tế:
- Khuyến khích và hỗ trợ các thành phần kinh tế hợp tác xã, kinh tế tư nhân, cá thể phát triển sản xuất kinh doanh theo luật định.
- Nghiên cứu tổng hợp để có định hướng cho mô hình kinh tế trang trại, với những biện pháp thích hợp.

4. Tổ chức thực hiện quy hoạch: Công khai hoá quy hoạch phát triển kinh tế xã hội cho toàn dân và thu hút các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài thực hiện quy hoạch. Thường xuyên nghiên cứu, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch cho phù hợp với tình hình và nhiệm vụ mới. Cụ thể hoá các quy hoạch bằng các quy hoạch chi tiết như quy hoạch đất đai, quy hoạch xây dựng, quy hoạch cơ sở hạ tầng, quy hoạch khu dân cư đô thị, quy hoạch khu công nghiệp, các kế hoạch trung hạn, ngắn hạn, các chương trình, dự án ưu tiên đầu tư...

Điều 2: Giao cho UBND huyện Chư Păh chịu trách nhiệm quản lý lưu trữ báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện để khai thác sử dụng có hiệu quả, phục vụ cho việc hoạch định, xây dựng các kế hoạch 5 năm và kế hoạch hàng năm của huyện. Các ngành khai thác sử dụng phục vụ cho việc xây dựng quy hoạch và kế hoạch phát triển của ngành trên địa bàn lãnh thổ huyện Chư Păh. Trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện cần tiếp tục nghiên cứu để có những bổ sung điều chỉnh kịp thời nhằm phát triển kinh tế xã hội đúng định hướng, đạt hiệu quả cao.

Điều 3: Các ông (bà) Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, Chủ tịch UBND huyện Chư Păh, Giám đốc các sở, ban, ngành, Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị có liên quan chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.

Quyết định này có hiệu lực từ ngày ký.

Tổng quan văn bản

Số ký hiệu108/1999/QĐ-UB
Ngày ban hành26/10/1999
Loại văn bảnQuyết định
Ngày có hiệu lực26/10/1999
Nguồn thu thậpCơ sở dữ liệu
Ngày đăng công báo---
Cơ quan ban hành / Người kýUBND tỉnh Gia Lai / Đào Quang Phổ
Phạm viGia Lai
Trích yếuVề việc phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Chư Păh đến năm 2010
Tình trạng hiệu lựcCòn hiệu lực

Chưa có thông tin lược đồ

Văn bản này hiện chưa được cập nhật dữ liệu về lược đồ liên quan.