Quay lại

Quyết định 109/1999/QĐ-UB về việc phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện An Khê đến năm 2010

UBND TỈNH GIA LAI
-------

Số: 109/1999/QĐ-UB

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------------------------

tỉnh Gia Lai, ngày 26 tháng 10 năm 1999

QUYẾT ĐỊNH

CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

Về việc phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện An Khê đến năm 2010

__________________________

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

- Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 1994;

- Xét quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội huyện An Khê đến năm 2010 do Viện Chiến lược phát triển - Bộ Kế hoạch và Đầu tư lập, UBND huyện An Khê trình và theo kết quả cuộc họp nghiệm thu: Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện An Khê đến năm 2010 ngày 12 tháng 6 năm 1999 của Hội đồng nghiệm thu quy hoạch (theo Quyết định số 1779/QĐ-UB ngày 18 tháng 12 năm 1998 của UBND tỉnh Gia Lai).

- Xét đề nghị của Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư tại Tờ trình số 180/TT-KH ngày 30 tháng 9 năm 1999.

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1: Phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện An Khê đến năm 2010, với những nội dung chủ yếu sau:

I - MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN CHỦ YẾU:

- Phấn đấu nhịp độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm giai đoạn 1999 - 2000: 11 - 12%, giai đoạn 2001 - 2005: 12 - 13% và giai đoạn 2006 - 2010: 13 - 13,5% GDP bình quân đầu người năm 2005 đạt 5,9 - 6,3 triệu đồng và năm 2010 đạt 10 - 10,9 triệu đồng.

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá trên cơ sở tập trung hơn nữa vào phát triển công nghiệp và dịch vụ. Cơ cấu kinh tế đến năm 2005: CN -XD: 22,6%; NLN: 36,4%, dịch vụ: 41% và năm 2010: CN - XD: 26,3%, NLN: 30,4%, dịch vụ: 43,3%

- Nâng tỷ lệ huy động ngân sách so với GDP lên 11,5% năm 2005 và 15,8% năm 2010.

- Ưu tiên cho việc xây dựng kết cấu hạ tầng ở vùng nông thôn, vùng đồng bào dân tộc ít người, các vùng sản xuất nông lâm nghiệp tập trung, cụm công nghiệp... bằng việc huy động mọi nguồn vốn: Vốn ngân sách, vốn của các doanh nghiệp và vốn của các thành phần kinh tế khác.

- Tiếp tục triển khai các chính sách xã hội đi đôi với thực hiện công bằng xã hội. Thực hiện đầy đủ và đồng bộ các chương trình quốc gia về giáo dục, y tế, văn hoá, phát triển nguồn nhân lực, tăng cường đào tạo nghề, giải quyết cơ bản việc làm cho người lao động, thực hiện tốt mục tiêu xoá đói giảm nghèo: xoá hộ đói, giảm hộ nghèo xuống còn 18% năm 2005 và 10% vào năm 2010. Không ngừng nâng cao mức sống dân cư, đặc biệt là cư dân nông thôn.

- Kết hợp hài hoà giữa phát triển kinh tế xã hội với tăng cường củng cố an ninh quốc phòng, đảm bảo trật tự, an toàn xã hội; giảm thiểu các hiện tượng gây ô nhiễm môi trường, tạo sự trong sạch trong môi trường đô thị, bảo vệ môi trường sinh thái.

II - NHỮNG NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN CHỦ YẾU:

1. Phát triển nông lâm nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá:Phát triển nông lâm nghiệp gắn với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, hình thành các vùng cây công nghiệp ngắn ngày, cây lương thực, cây ăn quả, chăn nuôi đại gia súc, gia súc, bảo vệ diện tích rừng hiện có, trồng rừng nguyên liệu... gắn với công nghiệp chế biến, tăng được giá trị nông sản hàng hoá, đáp ứng nhu cầu của thị trường.
* Đối với trồng trọt:
- Cây lương thực, thực phẩm: Chọn cây lúa, ngô, sắn làm trọng tâm trên cơ sở đẩy mạnh thâm canh, phấn đấu đến năm 2010 đạt khoảng 42.000 - 43.000 tấn lương thực quy thóc, đảm bảo an ninh lương thực trên phạm vi toàn huyện. Đồng thời ưu tiên cho sự phát triển các loại rau theo hướng rau sạch, đáp ứng rau xanh tiêu dùng và làm hàng hoá, đến năm 2010 đạt khoảng 2.000 ha.
- Cây công nghiệp ngắn ngày: Tập trung phát triển cây mía, lạc, đậu các loại với giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt tạo hàng háo đáp ứng yêu cầu của thị trường và cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến với diện tích 6.000 - 7.000 ha. Bên cạnh đó cần quan tâm nghiên cứu kỹ về điều kiện khí hậu, đất đai, thị trường, tích cực hỗ trợ vốn, giống, hướng dẫn kỹ thuật để phát triển các loại cây ăn quả, diện tích khoảng 000 ha, nhất là các cây có giá trị kinh tế cao như: Nhãn, thanh long, táo...
* Về chăn nuôi:Chú trọng phát triển đàn bò, lợn thịt có tỷ lệ nạc cao; đẩy mạnh việc chăn nuôi gia cầm. Bình quân hàng năm đàn bò tăng khoảng 4 - 5%, đàn lợn tăng khoảng 6 - 7%.
* Về lâm nghiệp:Hoàn thành công tác giao đất khoán rừng để toàn dân bảo vệ tốt diện tích rừng hiện có, khoanh nuôi bảo vệ để cho rừng tự tái sinh, thực hiện trồng mới rừng ở những nơi có điều kiện, trồng rừng nguyên liệu cho Nhà máy MDF, bình quân mỗi năm trồng mới từ 200 - 300 ha rừng.
- Phát triển mô hình kinh tế trạng trại, vườn rừng gắn sản xuất nông lâm nghiệp với xoá đói giảm nghèo, định canh định cư.

2. Phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp:
Phát triển công nghiệp theo hướng tận dụng được nguồn nguyên liệu tại chỗ và sản phẩm làm ra có sức cạnh tranh trên thị trường, phấn đấu đạt nhịp tăng GDP bình quân của ngành 16% thời kỳ 2001 - 2005 và 17% thời kỳ 2006 - 2010, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá. Trong đó ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp như: Công nghiệp chế biến nông lâm sản; sản xuất vật liệu xây dựng; điện; công nghiệp cơ khí phục vụ nông lâm nghiệp và tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn. Xây dựng một số cơ sở công nghiệp quan trọng: Nhà máy MDF, Nhà máy đường, Nhà máy gạch Tuy nen... quy hoạch và xúc tiến hình thành cụm công nghiệp tại thị trấn An Khê.

3. Phát triển thương mại - dịch vụ:
Đẩy mạnh hoạt động thương mại cả nội - ngoại thương và các loại hình dịch vụ khác. Phát triển trung tâm thương mại - dịch vụ lớn ở thị trấn An Khê làm hạt nhân phát triển thương mại - dịch vụ của huyện. Đồng thời mở rộng mạng lưới chợ nông thôn, mỗi xã có một chợ để tận mua được nguồn hàng hoá, đáp ứng nhu cầu thị trường và bán được hàng hoá đến tận tay người tiêu dùng.
- Đẩy mạnh hơn nữa các hoạt động tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, tư vấn, chuyển giao công nghệ và các dịch vụ tổng hợp khác.
- Phát triển du lịch trên cơ sở đầu tư khai thác các di tích ở khu vực thị trấn An Khê, trục quốc lộ 19... Kết hợp với thành phố Pleiku và các huyện KBang, Kông Chro để phát triển các loại hình du lịch sinh thái, tham quan, cắm trại, lễ hội... hình thành tuyến du lịch.

4. Về phát triển cơ sở hạ tầng:
* Giao thông: Nâng cấp, mở rộng, mở mới một số đường nội thị, mở thêm một số tuyến đường vành đai ven thị trấn gắn với quy hoạch dân cư theo hướng nâng cấp lên thành thị xã sau năm 2000. Phấn đấu mỗi năm rải nhựa 1 - 2 km đường nội thị trấn để đến năm 2010 có 50% số km đường nội thị là đường nhựa. Tập trung tu sửa đường Gia Hội, Giang Bắc, Thành An và một số đường liên xã liên thôn khác.
* Thuỷ lợi và cấp nước: Tu bổ sửa chữa để khai thác có hiệu quả các công trình hiện có, chú trọng xây dựng các công trình thuỷ lợi vừa và nhỏ phù hợp với địa hình miền núi, đầu tư ít, hiệu quả cao để nâng cao năng lực tưới. Hoàn thành xây dựng hệ thống nước thị trấn, phát triển giếng khoan, giếng đào, hệ thống tự chảy, bể chứa... để đến năm 2005 có 80% và năm 2010 có trên 90% dân số được dùng nước sạch.
* Cấp điện: Nâng cấp, cải tạo kết hợp xây dựng mới để thay thế dần trạm và hệ thống lưới điện cũ tại thị trấn, mở rộng lưới điện đến các làng, phát triển thuỷ điện nhỏ ở những nơi có điều kiện để đến năm 2005 có 80% số hộ và đến năm 2010 hầu hết các làng, các hộ được dùng điện.
* Bưu chính viễn thông: Hiện đại hoá và mở rộng mạng lưới viễn thông trên phạm vi toàn huyện, đa dạng hoá các loại hình thông tin, phát triển mạng lưới bưu cục đến các xã, phấn đấu đến năm 2005 tất cả các xã có điện thoại, đạt 2 máy/100 dân và năm 2010 đạt 4 máy/100 dân.

5. Phát triển các lĩnh vực xã hội:
* Về dân số: Đẩy mạnh công tác dân số kế hoạch hoá gia đình, giảm tỷ lệ tăng dân số tự nhiên xuống 2% năm 2005 và 1,8% năm 2010. Đến năm 2005 dân số toàn huyện khoảng 97.000 người và năm 2010 khoảng 106.000 người.
* Về giáo dục: Xã hội hoá sự nghiệp giáo dục đào tạo, quan tâm và hỗ trợ cho đồng bào dân tộc, những người nghèo và đối tượng chính sách. Phát triển giáo dục mầm non, tiểu học, phổ thông cơ sở, phổ thông trung học để đảm bảo gần 100% trẻ em trong độ tuổi đến lớp, đến năm 2005 phổ cập cấp II cho thanh niên thị trấn và một phần thanh niên nông thôn, phấn đấu có 3 - 4 trường phổ thông trung học. Tăng cường cơ sở vật chất, thiết bị dạy học cho các trường dân tộc nội trú, tăng hình thức bán trú. Tăng cường đào tạo bồi dưỡng giáo viên người địa phương để đảm bảo đủ giáo viên. Quy hoạch đào tạo cán bộ quản lý, khoa học kỹ thuật và công nhân lành nghề cho huyện, xây dựng trung tâm dạy nghề, mở rộng đào tạo nghề, khuyến khích dạy nghề và hướng nghiệp.
* Về y tế: Nâng cao toàn diện thể lực và chăm sóc sức khoẻ cho người dân, quan tâm các đối tượng chính sách, người có công, đồng bào dân tộc. Thực hiện tốt và có hiệu quả chương trình y tế quốc gia, khống chế và đẩy lùi các bệnh sốt rét, bướu cổ, giải quyết căn bản các bệnh nhiễm khuẩn, thanh toán bệnh phong. Phấn đấu đạt 100% trẻ em được tiêm chủng mở rộng, giảm nhanh trẻ em suy dinh dưỡng, đến năm 2010 còn khoảng 10%. Đầu tư trang thiết bị cho Trung tâm y tế huyện, phấn đấu đến năm 2000 có 100% trạm y tế xã đều được đầu tư xây dựng kiên cố và đến năm 2005 đủ đội ngũ cán bộ, đủ phương tiện, thuốc chữa bệnh cho nhân dân.
* Về văn hoá thông tin - phát thanh truyền hình - thể dục thể thao:
- Từ nay đến năm 2005 tập trung xây dựng cụm văn hoá thể thao tại thị trấn huyện, sau đó phát triển ra các trung tâm tiểu vùng và cụm xã. Xây dựng nhà rông văn hoá ở các xã, khôi phục và duy trì các hoạt động văn hoá cồng chiêng, lễ hội truyền thống của đồng bào các dân tộc. Bảo vệ và tôn tạo các di tích đã được xếp hạng, xây dựng làng văn hoá, gia đình văn hoá mới, khuyến khích các tổ chức, cá nhân hoạt động văn hoá nghệ thuật lành mạnh. Hình thành các thư viện, đội thông tin lưu động.
- Hoàn thành việc phủ sóng phát thanh truyền hình trên phạm vi toàn huyện.
- Hình thành được mạng lưới các cơ sở thể dục thể thao, phấn đấu mỗi xã, thị trấn có một đội bóng đá, một đội bóng chuyền, một nhà văn hoá kiêm thư viện và một sân vận động, tạo điều kiện thuận lợi cho việc luyện tập và thi đấu. Vận động tuyên truyền và thu hút ngày càng nhiều các nhà tài trợ cho các hoạt động và phát triển thể dục thể thao.
III - NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU:
Cần có những giải pháp đồng bộ, phù hợp, có hiệu quả nhằm huy động tối đa nội lực và thu hút các nguồn lực từ bên ngoài phục vụ cho công cuộc phát triển kinh tế xã hội.

1. Huy động vốn đầu tư:Để đáp ứng được nhu cầu đầu tư: 3.535 tỷ đồng, trong giai đoạn 1999 - 2010, cần phải có giải pháp huy động vốn một cách tích cực, tập trung vào những nguồn chủ yếu sau đây:
- Từ tích luỹ nội bộ nền kinh tế khoảng 377 tỷ đồng, đáp ứng 39% nhu cầu đầu tư, trong đó huy động từ ngân sách 717 tỷ đồng, vốn đầu tư từ doanh nghiệp và dân là 660 tỷ đồng. Nguồn vốn đầu tư từ ngân sách chủ yếu cho phát triển cơ sở hạ tầng. Nguồn vốn của doanh nghiệp và của nhân dân, khuyến khích đầu tư phát triển nông lâm nghiệp và công nghiệp chế biến và dịch vụ.
- Nguồn vốn vay tín dụng: Chủ yếu tập trung vào sản xuất và kinh doanh, kể cả doanh nghiệp Nhà nước và khu vực ngoài quốc doanh, phấn đấu thu hút khoảng 905 tỷ đồng.
- Nguồn vốn thu hút từ bên ngoài: Khoảng 253 tỷ đồng, kể cả vốn ngân sách Trung ương, tỉnh và các nơi khác trong cả nước. Trong nguồn vốn này phần từ ngân sách Trung ương, tỉnh khoảng 933 tỷ đồng, chủ yếu tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng quan trọng như xây dựng các công trình thuỷ lợi, giao thông, cấp điện, cấp nước... Nguồn vốn từ nước ngoài, dự kiến thu hút khoảng 230 tỷ đồng, bao gồm cả vốn FDI và ODA.

2. Lựa chọn các công trình, các dự án ưu tiên đầu tư tạo khâu đột phá:
Trong điều kiện nguồn vốn đầu tư còn hạn hẹp, việc lựa chọn các công trình dự án ưu tiên đầu tư là rất cần thiết, tạo khâu đột phá cho nền kinh tế phát triển, tạo thế phát huy nhanh hiệu quả vốn đầu tư; mỗi một lĩnh vực cần chọn ra một dự án ưu tiên đầu tư phát triển. Việc lựa chọn phải hết sức khách quan, khoa học, thận trọng.

3. Tìm kiếm và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm:
Tích cực mở rộng và tìm kiếm thị trường mới, kể cả thị trường trong nước và thị trường ngoài nước. Đối với thị trường trong nước, trước hết cần phải đầu tư xây dựng tốt cơ sở hạ tầng, tạo điều kiện thuận lợi trong kinh doanh, coi trọng thị trường nông thôn. Đồng thời có chính sách khuyến khích các tổ chức, thương nhân ngoài huyện đến mở cửa hàng, đại lý kinh doanh trên địa bàn huyện. Đối với thị trường ngoài nước: Huyện chủ động phối hợp với các ngành của tỉnh và Trung ương để tăng sản phẩm, mặt hàng, mở rộng thị trường xuất khẩu, kêu gọi sự đầu tư để tăng chất lượng hàng xuất khẩu, hạn chế xuất khẩu sản phẩm ở dạng sơ chế.

4. Ứng dụng các tiến bộ về khoa học kỹ thuật và công nghệ:Coi trọng việc phổ biến, thử nghiệm, ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ tiên tiến vào trong sản xuất, lựa chọn và đưa vào sản xuất tập đoàn giống cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện của huyện, cho năng suất cao, kháng bệnh tốt đặc biệt chú ý công nghệ sau thu hoạch, công nghệ sinh học, công nghệ chế biến nông lâm sản chất lượng cao. Đẩy mạnh công tác khuyến nông, khuyến lâm, thường xuyên cung cấp thông tin, tài liệu tập huấn kỹ thuật và chuyển giao công nghệ cho nông dân, nhất là kiến thức về tuyển chọn giống, phương pháp canh tác, tưới tiêu khoa học, phòng trừ sâu bệnh, thu hoạch, bảo quản, chế biến... Chú trọng tổng kết, phổ biến, nhân rộng những mô hình sản xuất kinh doanh giỏi trên địa bàn huyện.

5. Đào tạo phát triển nguồn nhân lực:
- Cần có biện pháp nâng cao chất lượng và số lượng nguồn nhân lực trên cơ sở quy hoạch, có kế hoạch đào tạo lại, đào tạo mới đội ngũ cán bộ và công nhân kỹ thuật để đáp ứng tốt nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội huyện trong từng giai đoạn. Trong quá trình đào tạo, cần có chính sách, biện pháp ưu tiên cho những người có năng lực, gắn chặt việc đào tạo chuyên môn với bồi dưỡng chính trị, rèn luyện thể chất và đạo đức.
- Quy hoạch đào tạo cán bộ quản lý, khoa học kỹ thuật và công nhân lành nghề cho huyện, xây dựng trung tâm dạy nghề, mở rộng đào tạo nghề, khuyến khích dạy nghề và hướng nghiệp.
- Thường xuyên lựa chọn học sinh khá giỏi từ các trường phổ thông để gửi đi đào tạo tại các trường đại học những ngành nghề mà huyện có yêu cầu.
- Có chính sách thu hút những chuyên gia giỏi, đãi ngộ thoả đáng để sử dụng có hiệu quả và bổ sung nguồn cán bộ khoa học kỹ thuật cho huyện.

6. Thực hiện một số chính sách:
Thực hiện giao đất và nhanh chóng cấp quyền sử dụng đất cho nông dân để họ yên tâm sản xuất. Thực hiện tốt công tác xoá đói giảm nghèo, chính sách đền ơn đáp nghĩa, đãi ngộ thoả đáng những người có công, quan tâm những đối tượng chính sách. Thực hiện chính sách khuyến khích kinh tế thông qua thuế, phí, lệ phí, tín dụng, giao đất và cho thuê đất ưu đãi để thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển. Tích cực phát triển mô hình trang trại trong nông - lâm nghiệp, phát triển hợp tác xã theo Luật Hợp tác xã, khuyến khích tư nhân, cá thể phát triển sản xuất kinh doanh theo luật định.

7. Tổ chức thực hiện quy hoạch:Công khai hoá quy hoạch phát triển kinh tế xã hội cho toàn dân. Thường xuyên nghiên cứu, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch cho phù hợp với tình hình và thực tế. Cụ thể hoá các quy hoạch bằng các quy hoạch chi tiết như quy hoạch đất đai, quy hoạch xây dựng, quy hoạch cơ sở hạ tầng, quy hoạch khu dân cư đô thị, các kế hoạch trung hạn, ngắn hạn, các chương trình, dự án ưu tiên đầu tư... Tổ chức cho các ngành, các cấp và nhân dân thực hiện quy hoạch.

Điều 2: Giao cho UBND huyện An Khê chịu trách nhiệm quản lý lưu trữ báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội huyện để khai thác sử dụng có hiệu quả, phục vụ cho việc hoạch định, xây dựng các kế hoạch 5 năm và kế hoạch hàng năm của huyện. Các ngành khai thác sử dụng phục vụ cho việc xây dựng quy hoạch và kế hoạch phát triển của ngành trên địa bàn lãnh thổ huyện An Khê. Trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện cần tiếp tục nghiên cứu để có những bổ sung điều chỉnh kịp thời nhằm phát triển kinh tế xã hội đúng định hướng, đạt hiệu quả cao.

Điều 3: Các ông (bà): Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, Chủ tịch UBND huyện An Khê, Giám đốc các sở ban ngành, Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị có liên quan chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.

Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký.

Tổng quan văn bản

Số ký hiệu109/1999/QĐ-UB
Ngày ban hành26/10/1999
Loại văn bảnQuyết định
Ngày có hiệu lực26/10/1999
Nguồn thu thậpCơ sở dữ liệu
Ngày đăng công báo---
Cơ quan ban hành / Người kýUBND tỉnh Gia Lai / Đào Quang Phổ
Phạm viGia Lai
Trích yếuVề việc phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện An Khê đến năm 2010
Tình trạng hiệu lựcCòn hiệu lực

Chưa có thông tin lược đồ

Văn bản này hiện chưa được cập nhật dữ liệu về lược đồ liên quan.