|
UBND TỈNH GIA LAI Số: 110/1999/QĐ-UB |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------------------------- tỉnh Gia Lai, ngày 27 tháng 10 năm 1999 |
QUYẾT ĐỊNH
CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
Về việc phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Ayun Pa đến năm 2010
__________________________
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 1994;
- Xét quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội huyện Ayun Pa đến năm 2010 do Viện Chiến lược Phát triển - Bộ Kế hoạch và Đầu tư lập, UBND huyện Ayun Pa trình và theo kết quả cuộc họp nghiệm thu: Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Ayun Pa đến năm 2010 ngày 11 tháng 6 năm 1999 của Hội đồng nghiệm thu quy hoạch (theo Quyết định số 1779/QĐ-UB ngày 18 tháng 12 năm 1998 của UBND tỉnh Gia Lai).
- Xét đề nghị của Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư tại Tờ trình số 201/TT-KH ngày 13 tháng 10 năm 1999.
QUYẾT ĐỊNH
Điều 1: Phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Ayun Pa đến năm 2010, với những nội dung chủ yếu sau:
I - MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN CHỦ YẾU:
- Phấn đấu nhịp độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm giai đoạn 2001 - 2005: 13 - 13,5% và giai đoạn 2006 - 2010: 14,3 - 15%. GDP bình quân đầu người của huyện năm 2005 đạt 3,15 - 3,28 triệu đồng và năm 2010 đạt 5,58 - 5,98 triệu đồng.
- Tạo sản phẩm nông nghiệp và công nghiệp mũi nhọn: lúa, đường, góp phần đảm bảo an ninh lương thực cho tỉnh.
- Chuyển đổi mạnh cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, giảm dần tỷ trọng ngành nông lâm nghiệp. Với nhịp độ tăng trưởng như trên, vào năm 2005 cơ cấu kinh tế của huyện sẽ là: NLN: 48,7%, CN - XD: 30,8%, dịch vụ: 20,5% và năm 2010: CN - XD: 40,8%, NLN: 36,3%, dịch vụ: 22,9%.
- Khai thác tốt các nguồn thu ngân sách để tăng tỷ lệ thu ngân sách so với tổng GDP lên 12,62% năm 2005 và 13,41% năm 2010.
- Hình thành các hạt nhân đô thị mới, chuẩn bị các điều kiện cần thiết về kinh tế - xã hội, cơ sở hạ tầng để nâng cấp lên thị xã sau năm 2000.
- Ưu tiên cho việc xây dựng kết cấu hạ tầng ở vùng nông thôn, vùng đồng bào dân tộc ít người. Đến năm 2005 có 85% số hộ được dùng điện và năm 2010 là 95%. Phấn đấu đạt 100% đường giao thông nông thôn đến các xã được cấp phối theo tiêu chuẩn quy định, 100% số hộ gia đình có nhà từ cấp 4 trở lên. Thực hiện tốt chương trình nước sạch và môi trường nông thôn, đảm bảo đến năm 2010 có ít nhất 90% dân số trong huyện được dùng nước sạch.
- Tiếp tục triển khai các chính sách xã hội đi đôi với việc thực hiện công bằng xã hội. Hoàn thành có chất lượng định canh định cư, giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 14% vào năm 2005 và năm 2010 hộ nghèo: 7 - 10%, hộ trung bình 50 - 55%, hộ khá và giàu: 35%. Nâng cao dân trí, phấn đấu đến năm 2010 phổ cập trung học cơ sở cho 2 thị trấn và ít nhất 50% số xã.
- Kết hợp hài hoà giữa phát triển kinh tế xã hội với tăng cường củng cố an ninh quốc phòng, đảm bảo trật tự, an toàn xã hội: giảm thiểu các hiện tượng gây ô nhiễm môi trường, tạo sự trong sạch cho môi trường đô thị, bảo vệ môi trường sinh thái.
II - NHỮNG NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN CHỦ YẾU:
1. Nông - lâm nghiệp:Phát triển nông lâm nghiệp gắn với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn. Tăng cường thâm canh và mở rộng diện tích, chú trọng cây lúa và các cây công nghiệp ngắn ngày như mía, lạc, đậu đỗ... Cải tạo giống và tăng chất lượng đàn gia súc, tạo nhiều sản phẩm hàng hoá trao đổi, từng bước đưa sản phẩm lúa, đường, thịt gia súc, gia cầm trở thành sản phẩm mũi nhọn của huyện. Bảo vệ diện tích rừng hiện có, ngăn chặn triệt để và có hiệu quả nạn khai thác gỗ trái phép, thực hiện giao đất, giao rừng cho các hộ gia đình.
- Cây lương thực, thực phẩm: Cải tiến và đưa dần vào sản xuất những giống lúa mới cho năng suất cao, phát huy có hiệu quả công trình thuỷ lợi Ayun Hạ, đưa diện tích lúa 2 vụ lên 6.500 ha vào năm 2005 và 8.500 vào năm 2010. Đồng thời phát triển sản xuất các loại cây khác như ngô, sắn... Phấn đấu sản lượng lương thực quy thóc của huyện đạt 90.000 tấn vào năm 2005 và 103.900 tấn vào năm 2010.
- Cây công nghiệp: Hình thành vùng nguyên liệu mía phục vụ cho Nhà máy đường Ayun Pa trên cơ sở đầu tư về vốn, giống, kỹ thuật, cải tiến khâu mua và chính sách giá cả để nông dân an tâm đầu tư trong sản xuất. Việc mở rộng diện tích mía, phải đi đôi với khả năng nâng công suất nhà máy và tình hình tiêu thụ đường. Phát triển các cây lạc, lúa, đậu đỗ và trồng cây công nghiệp lâu năm như điều và một số loại cây ăn quả như dừa, xoài, na... Trồng thử nghiệm và lai tạo các loại cây ăn quả mới có giá trị kinh tế cao như nhãn, hoa, cây cảnh, cây dược liệu. Dự kiến đến năm 2005 có 200 ha điều, 200 ha cây ăn quả và năm 2010 có 700 ha điều, 300 ha cây ăn quả.
* Về chăn nuôi: Chăn nuôi phát triển theo quan điểm vừa tăng số lượng đàn gia súc, gia cầm, vừa cải tạo đàn giống để tăng chất lượng sản phẩm. Phấn đấu giai đoạn 2001 - 2005 nhịp độ tăng bình quân của đàn bò: 4,7%, đàn trâu: 3,7%, đàn lợn: 5,5% và thời kỳ 2006 - 2010 đàn bò: 6,0%, đàn trâu: 4,6% và đàn lợn: 6,0%.
* Về lâm nghiệp: Hoàn thành công tác giao đất khoán rừng để toàn dân bảo vệ tốt diện tích rừng hiện có, khoanh nuôi bảo vệ để cho rừng tự tái sinh, thực hiện trồng rừng phòng hộ công trình Ayun Hạ.
Phát triển mô hình kinh tế trang trại, kinh tế vườn, vườn rừng gắn sản xuất nông lâm nghiệp với xoá đói giảm nghèo, định canh định cư.
2. Phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp:
Phấn đấu nhịp độ tăng GDP bình quân của ngành đạt 21 - 22% thời kỳ 2001 - 2005 và 22 - 24% thời kỳ 2006 - 2010, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá. Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp của huyện phát triển theo hướng hình thành các ngành nghề mũi nhọn, đầu tư có trọng điểm vào các ngành công nghiệp có lợi thế so sánh như: chế biến nông sản thực phẩm (chủ yếu là công nghiệp mía đường, chế biến lương thực, thực phẩm), công nghiệp vật liệu xây dựng, công nghiệp điện, trên cơ sở tận dụng nguồn nguyên liệu và lao động tại chỗ, phát triển thêm nhiều khâu trong quy trình từ thu hoạch sang bảo quản, sơ chế, chế biến nông sản nhằm tăng thêm giá trị và tạo công ăn việc làm, đồng thời tăng cường khâu tiêu thụ sản phẩm. Từng bước hình thành và phát triển cụm công nghiệp thị trấn Ayun Pa và điểm công nghiệp Phú Thiện.
3. Phát triển thương mại - dịch vụ:
- Đẩy mạnh hoạt động thương mại cả nội - ngoại thương và các loại hình dịch vụ khác. Phát triển trung tâm thương mại huyện, tạo đầu mối lớn cho việc tiêu thụ và trao đổi hàng hoá. Đồng thời mở rộng thị trường nông thôn, xây dựng hệ thống chợ ở các xã, để mỗi xã đều có 1 chợ và các điểm bán hàng, tạo điều kiện cho việc trao đổi sản phẩm hàng hoá, đảm bảo các mặt hàng thiết yếu và cung cấp các mặt hàng chính sách kịp thời và đầy đủ tới tay người dân ở các xã vùng sâu, vùng xa.
- Đẩy mạnh hơn nữa các hoạt động tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, tư vấn, chuyển giao công nghệ và các dịch vụ tổng hợp khác.
- Phát triển du lịch trên cơ sở đầu tư khai thác những tài nguyên du lịch sẵn có như hồ Ayun Hạ, cảnh quan sông Ba. Thác suối Tiên, di tích Vua Lửa, Bến Mộng... Kết hợp với thành phố Pleiku và các huyện để phát triển các loại hình du lịch sinh thái, tham quan, cắm trại, lễ hội... hình thành tuyến du lịch.
4. Về phát triển cơ sở hạ tầng:
* Giao thông: Huy động mọi nguồn vốn để nâng cấp, mở rộng giao thông nội thị của thị trấn huyện và thị trấn Phú Thiện, hệ thống đường giao thông nông thôn, đặc biệt là xây dựng cầu Bến Mộng, đường giao thông tới 2 xã Ia Tul, Chư Mố và 4 xã mới được chia tách. Phấn đấu đến năm 2002, tất cả các xã có đường giao thông đến trung tâm xã và năm 2003 nâng cấp xong quốc lộ 25, các tỉnh lộ 668 và 662 nối với Đăk Lăk và các huyện khác trong tỉnh.
* Thuỷ lợi và cấp nước: Khai thác triệt để và sử dụng có hiệu quả nguồn nước Ayun Hạ. Huy động sức dân cùng với sự đầu tư của Nhà nước để xây dựng kênh mương nội đồng, san bằng đồng ruộng. Đề nghị tỉnh và Trung ương nghiên cứu đầu tư xây dựng hồ chứa nước Ia Tul, đập tràn Đăk Ptó, các công trình thuỷ lợi vừa và nhỏ khác; thay thế các trạm bơm than bằng bơm điện.
Nâng cấp hệ thống nước thị trấn huyện, xây dựng hệ thống cấp nước thị trấn Phú Thiện và các công trình cung cấp nước sạch cho nông thôn để đến năm 2005 có 70% và năm 2010 có 90% số hộ được dùng nước sạch.
* Cấp điện: Xây dựng và đưa vào khai thác hiệu quả thuỷ điện Ayun Hạ; nâng cấp, cải tạo kết hợp xây dựng mới để thay thế dần trạm và hệ thống lưới điện cũ tại thị trấn huyện, mở rộng lưới điện đến các làng; phát triển thuỷ điện nhỏ, thí điểm sử dụng pin mặt trời, năng lượng gió ở những nơi không có điều kiện kéo lưới điện được để đến năm 2005 có 85% số hộ và năm 2010 có 95% số hộ được dùng điện.
* Bưu chính viễn thông: Hiện đại hoá và mở rộng mạng lưới viễn thông trên phạm vi toàn huyện, đa dạng hoá các loại hình thông tin, phát triển mạng lưới bưu cục đến các xã và khu vực đông dân cư để đến năm 2005 dân số các xã có điện thoại, bình quân 1 vạn dân có 175 máy điện thoại vào năm 2005 và 250 máy vào năm 2010.
5. Phát triển các lĩnh vực xã hội:
* Về dân số: Đẩy mạnh công tác dân số kế hoạch hoá gia đình, giảm tỷ lệ tăng dân số xuống 2,5% năm 2005 và 2% năm 2010. Đến năm 2005 dân số toàn huyện khoảng 139.700 người và năm 2010 khoảng 154.200 người. Tiếp tục nhận dân kinh tế mới theo tiến độ đầu tư khai thác của công trình thuỷ lợi Ayun Hạ và xây dựng cơ sở hạ tầng, mỗi năm nhận khoảng 70 - 80 hộ.
* Về giáo dục: Xã hội hoá sự nghiệp giáo dục đào tạo, quan tâm và hỗ trợ cho đồng bào dân tộc, những người nghèo và đối tượng chính sách. Thực hiện đa dạng hóa các loại hình giáo dục để nâng cao dân trí và chất lượng nguồn lao động. Bố trí mạng lưới các trường lớp tiểu học, phổ thông trung học trên địa bàn các xã hợp lý, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại học tập của học sinh. Phấn đấu đến năm 2005 huy động được 100% trẻ em trong độ tuổi đến trường và đến năm 2010 phổ cập trung học cơ sở cho 2 thị trấn và ít nhất 50% số xã, 100% số trường lớp có nhà được xây dựng từ cấp 4 trở lên.
Xây dựng mới và nâng cao chất lượng các trung tâm dạy nghề, có kế hoạch đào tạo cán bộ quản lý, khoa học kỹ thuật và công nhân lành nghề cho huyện, quan tâm đào tạo cán bộ người địa phương.
* Về y tế: Nâng cao toàn diện thể lực và chăm sóc sức khoẻ cho người dân, quan tâm các đối tượng chính sách, người có công, đồng bào dân tộc. Thực hiện tốt và có hiệu quả chương trình y tế quốc gia, khống chế và đẩy lùi các bệnh sốt rét, bướu cổ, giải quyết căn bản các bệnh nhiễm khuẩn, thanh toán bệnh phong, giảm nhanh tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng. Đầu tư trang thiết bị cho Trung tâm Y tế huyện, phòng khám khu vực Ia Sol phấn đấu đến năm 2000 có 100% trạm y tế xã đều được đầu tư xây dựng kiên cố và đến năm 2005 đủ đội ngũ cán bộ, phương tiện, thuốc chữa bệnh cho nhân dân, đưa số giường bệnh/vạn dân lên 14 giường năm 2005 và 20 giường vào năm 2010.
* Về văn hoá thông tin - phát thanh truyền hình - thể dục thể thao:
- Từng bước nâng cấp và xây dựng nhà văn hoá, công viên, sân vận động trung tâm huyện và các công trình văn hoá thể thao của các cụm xã. Xây dựng nhà rông văn hoá hoặc nhà văn hoá ở các xã, khôi phục và duy trì các hoạt động văn hoá cồng chiêng, lễ hội truyền thống của đồng bào các dân tộc. Bảo vệ và tôn tạo các di tích, xây dựng làng văn hoá, gia đình văn hoá mới. Đến năm 2005 phấn đấu có 50% và năm 2010 có 80% số làng được công nhận làng văn hoá. Hình thành các thư viện, đội thông tin lưu động.
- Hoàn thành việc phủ sóng phát thanh truyền hình trên phạm vi toàn huyện.
- Hình thành được mạng lưới các cơ sở thể dục thể thao, phấn đấu mỗi xã, thị trấn có một đội bóng đá, một đội bóng chuyền, một nhà văn hoá kiêm thư viện và một sân vận động, tạo điều kiện thuận lợi cho việc luyện tập và thi đấu. Vận động tuyên truyền và thu hút ngày càng nhiều các nhà tài trợ cho các hoạt động và phát triển thể dục thể thao.
III - NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU:
Cần có những giải pháp đồng bộ, phù hợp, có hiệu quả nhằm huy động tối đa nội lực và thu hút các nguồn lực từ bên ngoài phục vụ cho công cuộc phát triển kinh tế xã hội.
1. Huy động vốn đầu tư:Để đáp ứng được nhu cầu đầu tư: 2.049 - 2.241 tỷ đồng, trong giai đoạn 1999 - 2010, cần phải có giải pháp huy động vốn một cách tích cực, tập trung vào những nguồn chủ yếu sau đây:
- Từ tích luỹ nội bộ nền kinh tế khoảng 388 - 448 tỷ đồng, đáp ứng 18,9 - 20% nhu cầu đầu tư, trong đó huy động từ ngân sách 294 - 301 tỷ đồng, vốn đầu tư từ doanh nghiệp và dân khoảng 94 - 147 tỷ đồng. Nguồn vốn đầu tư từ ngân sách chủ yếu cho phát triển cơ sở hạ tầng. Nguồn vốn của doanh nghiệp và của nhân dân, khuyến khích đầu tư phát triển nông lâm nghiệp, công nghiệp chế biến và dịch vụ.
- Nguồn vốn vay tín dụng: Chủ yếu tập trung vào sản xuất và kinh doanh, kể cả doanh nghiệp Nhà nước và khu vực ngoài quốc doanh, phấn đấu thu hút khoảng 72 - 78 tỷ đồng.
- Nguồn vốn thu hút từ bên ngoài: Khoảng 589 - 741 tỷ đồng, kể cả vốn ngân sách Trung ương, tỉnh và các nơi khác trong cả nước. Trong nguồn vốn này phần từ ngân sách Trung ương, tỉnh khoảng 67 - 116 tỷ đồng, chủ yếu tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng quan trọng như xây dựng các công trình thuỷ lợi, giao thông, cấp điện, cấp nước... Nguồn vốn từ nước ngoài, dự kiến thu hút khoảng 522 - 598 tỷ đồng, bao gồm cả FDI và ODA, trong đó vốn FDI chủ yếu cho nâng công suất Nhà máy đường.
2. Nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực:
- Để nguồn lao động đáp ứng được yêu cầu phát triển của nền kinh tế, bên cạnh những chính sách và biện pháp nhằm nâng cao dân trí cho toàn dân, huyện cần phải có kế hoạch đào tạo các cán bộ khoa học kỹ thuật, lao động lành nghề theo cơ cấu ngành nghề và theo yêu cầu phát triển kinh tế của từng giai đoạn. Trong quá trình đào tạo, cần có chính sách, biện pháp ưu tiên cho những người có năng lực, con em đồng bào dân tộc, gắn chặt việc đào tạo chuyên môn với bồi dưỡng chính trị, rèn luyện thể chất và đạo đức.
- Quy hoạch đào tạo cán bộ quản lý, khoa học kỹ thuật và công nhân lành nghề cho huyện, xây dựng trung tâm dạy nghề, mở rộng đào tạo nghề, khuyến khích dạy nghề và hướng nghiệp.
- Khuyến khích và hỗ trợ người lao động tìm đến các trung tâm dạy nghề có chất lượng và uy tín ở các thành phố, đô thị để học nghề.
- Thường xuyên lựa chọn học sinh khá giỏi từ các trường phổ thông để gửi đi đào tạo lại các trường đại học những ngành nghề mà huyện có nhu cầu.
- Có chính sách thu hút những chuyên gia giỏi, đãi ngộ thoả đáng để sử dụng có hiệu quả và bổ sung nguồn cán bộ khoa học kỹ thuật cho huyện.
3. Ứng dụng các tiến bộ về khoa học công nghệ:
Coi trọng việc phổ biến, thử nghiệm, ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ tiên tiến vào trong sản xuất, lựa chọn và đưa vào sản xuất tập đoàn giống cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện của huyện, cho năng suất cao, kháng bệnh tốt, đặc biệt chú ý công nghệ sau thu hoạch, công nghệ sinh học, công nghệ chế biến nông lâm sản chất lượng cao. Đẩy mạnh công tác khuyến nông, khuyến lâm, thường xuyên cung cấp thông tin, tài liệu, tập huấn kỹ thuật và chuyển giao công nghệ cho nông dân, nhất là kiến thức về tuyển chọn giống, phương pháp canh tác, tưới tiêu khoa học, phòng trừ sâu bệnh, thu hoạch, bảo quản, chế biến... Chú trọng tổng kết, phổ biến, nhân rộng những mô hình sản xuất kinh doanh giỏi trên địa bàn huyện.
4. Chính sách về thị trường:
Tích cực mở rộng và tìm kiếm thị trường mới, kể cả thị trường trong nước và thị trường ngoài nước. Cần đẩy mạnh công tác tiếp thị, giới thiệu sản phẩm, khuyến mãi, quảng cáo. Trước hết coi trọng và mở rộng thị trường nông thôn, thị trường trong tỉnh, thị trường các tỉnh miền Trung và phía Nam... Tìm các đối tác để đầu tư nâng cao chất lượng hàng xuất khẩu, hạn chế xuất khẩu sản phẩm ở dạng sơ chế, và tìm kiếm thị trường nước ngoài ổn định để xuất khẩu sản phẩm.
5. Tổ chức thực hiện quy hoạch:Công khai hoá quy hoạch phát triển kinh tế xã hội cho toàn dân. Thường xuyên nghiên cứu điều chỉnh, bổ sung quy hoạch cho phù hợp với tình hình thực tế. Cụ thể hoá các quy hoạch bằng các quy hoạch chi tiết như quy hoạch đất đai, quy hoạch xây dựng, quy hoạch cơ sở hạ tầng, quy hoạch khu dân cư đô thị, các kế hoạch trung hạn, ngắn hạn, các chương trình, dự án ưu tiên đầu tư... Tổ chức cho các ngành, các cấp và nhân dân thực hiện quy hoạch.
Điều 2: Giao cho UBND huyện Ayun Pa chịu trách nhiệm quản lý lưu trữ báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội huyện để khai thác sử dụng có hiệu quả, phục vụ cho việc hoạch định, xây dựng các kế hoạch 5 năm và kế hoạch hàng năm của huyện. Các ngành khai thác sử dụng phục vụ cho việc xây dựng quy hoạch và kế hoạch phát triển của ngành trên địa bàn lãnh thổ huyện Ayun Pa. Trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện cần tiếp tục nghiên cứu để có những bổ sung điều chỉnh kịp thời nhằm phát triển kinh tế xã hội đúng định hướng, đạt hiệu quả cao.
Điều 3: Các ông (bà): Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, Chủ tịch UBND huyện Ayun Pa, Giám đốc các sở, ban, ngành, Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị có liên quan chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.
Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký.