|
UBND THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG Số: 111/1999/QĐ-UB |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------------------------- thành phố Đà Nẵng, ngày 06 tháng 09 năm 1999 |
QUYẾT ĐỊNH CỦA UBND THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Phê duyệt Chương trình việc làm thành phố Đà Nẵng đến năm 2000
______________________________
ỦY BAN NHÂN DÂN
- Căn cứ Luật Tổ chức HĐND và UBND (sửa đổi) ngày 21 tháng 6 năm 1994;
- Căn cứ Bộ Luật Lao động ngày 26-6-1994;
- Căn cứ Quyết định số 126/1998/QĐ-TTg ngày 11 tháng 7 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm đến năm 2000;
- Xét đề nghị của Thường trực Ban chỉ đạo chương trình việc làm thành phố Đà Nẵng tại Văn bản số 746/LĐ-TBXH ngày 20 tháng 8 năm 1999,
QUYẾT ĐỊNH
Điều 1 : Phê duyệt chương trình việc làm thành phố Đà Nẵng đến năm 2000 (kèm theo Quyết định này) với những nội dung chủ yếu sau :
1- Tên chương trình : Chương trình việc làm thành phố Đà Nẵng đến năm 2000.
2- Mục tiêu của chương trình :
a) Mục tiêu cơ bản và lâu dài :
Tạo mở việc làm mới, bảo đảm việc làm cho người lao động có khả năng lao động, có nhu cầu tìm việc; thực hiện các biện pháp để trợ giúp cho người lao động thất nghiệp có được việc làm, người thiếu việc làm có đủ việc làm, tăng thu nhập, tạo việc làm có hiệu quả và tự do chọn lựa việc làm; thông qua đó giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với giải quyết việc làm cho người lao động, góp phần thực hiện công bằng và tiến bộ xã hội.
b) Mục tiêu cụ thể :
Mỗi năm thu hút thêm từ 14.000 đến 15.000 lao động có chỗ làm việc mới, giảm tỷ lệ thất nghiệp xuống 6% và nâng tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn lên trên 75% vào năm 2000.
3- Những nội dung chương trình :
a) Nghiên cứu có cơ chế, chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư vốn hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra nhiều chỗ làm việc mới thu hút lao động; thành lập tồ chức xúc tiến, tư vấn đầu tư hoạt động do ngân sách đài thọ để tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư có cơ hội đầu tư trên địa bàn thành phố, nhất là đầu tư nước ngoài;
b) Các ngành, các cấp trong xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội phải gắn liền với chỉ tiêu thu hút lao động mới, lao động mất việc làm; phân tích đánh giá các chủ trương, chính sách tác động đến việc làm cho người lao động, đề xuất biện pháp khắc phục; thực hiện chế độ kiểm soát chỉ tiêu sử dụng lao động và chỉ tiêu tạo việc làm mới đối với các ngành, các cấp, các đơn vi sử dụng lao động; các chương trình, dự án;
c) Mở các chi nhánh Trung tâm dịch vụ việc làm ở các quận, huyện và đầu tư phương tiện đảm bảo thực hiện hoạt động dịch vụ việc làm trong thị trường lao động;
d) Đầu tư xây dựng, nâng cấp trang thiết bi dạy nghề cho các cơ sơ dạy nghề thuộc hệ thông dịch vụ việc làm địa phương có đủ năng lực dạy nghề, cùng các cơ sở dạy nghề khác bảo đảm năng lực dạy nghề cho người lao động;
e) Tổ chức đào tạo, đào tạo lại nghề cho người lao động gắn với việc làm cho người thất nghiệp có đăng ký tìm việc làm, chủ yếu là thanh niên nông thôn; ưu tiên và hỗ trợ một phần kinh phí học nghề cho con gia đình chính sách, hộ gia đình khó khăn học nghề tại Trung tâm dịch vụ việc làm;
g) Tổ chức cho vay vốn đối với các đối tượng: người thất nghiệp, người thiếu việc làm tự tạo việc làm; người sử dụng lao động thu nhận những người thất nghiệp có đăng ký tìm việc làm, bố trí việc làm ổn định; doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ gặp khó khăn, lao động là người tàn tật;
h) Trên cơ sở các chính sách bổ sung thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm sẽ cụ thể hóa bổ sung để thực hiện chương trình việc làm thành phố. Tổ chức các hoạt động thông tin thị trường lao động, tuyên truyền, kiểm tra, đánh giá thực hiện chương trình;
i) Tổ chức điều tra lao động - việc làm và điều tra lao động qua đào tạo; thu thập, xử lý thông tin về thị trường lao động và báo cáo tình hình lao động việc làm hàng năm.
4- Kinh phí thực hiện chương trình :
Quỹ Quốc gia hỗ trợ việc làm đến năm 2000 ước khoảng 25 tỷ đồng gồm các nguồn : ngân sách Trung ương, ngân sách địa phương, trợ giúp của các tổ chức quốc tế và vốn đối ứng của đơn vị sử dụng lao động, của người lao động. Phần ngân sách địa phương dành cho chương trình sẽ được cụ thể hóa và bố trí trong kế hoạch hàng năm cho các nội dung.
5- Cơ chế quản lý chương trình :
Các hoạt động thuộc dự án thành phần của chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm được tố chức thực hiện theo Quyết định số 05/1998/QĐ-TTg ngày 14 tháng 01 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ về quản lý các chương trình mục tiêu quốc gia.
Các nội dung hoạt động từ nguồn ngân sách địa phương dành cho chương trình được thực hiện theo quy định của Luật Ngân sách.
Điều 2 : Giao cho các cơ quan sau đây có nhiệm vụ giúp UBND thành phố quản lý và thực hiện chương trình về việc làm thành phố :
1- Ban chỉ đạo chương trình việc làm thành phố có trách nhiệm chỉ đạo việc triển khai thực hiện chương trình cho các địa phương và các ngành của thành phố;
2- Sở Lao động - Thương binh và Xã hội có trách nhiệm chủ trì phối hợp với các ngành, đoàn thể liên quan tổ chức triển khai thực hiện chương trình; hàng năm tổng hợp, đánh giá kết quả thực hiện báo cáo Chủ tịch UBND thành phố và Ban quản lý chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm;
3- Sở Kế hoạch và Đầu tư có trách nhiệm cân đối và bố trí kế hoạch hàng năm để thực hiện chương trình trên cơ sở thống nhất với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội. Khi hướng dẫn xây dựng và theo dõi thực hiện kế hoạch của các ngành, các cấp cần phải lưu ý chỉ tiêu thu hút lao động mới;
4- Sở Tài chính - Vật giá có trách nhiệm bố trí và bảo đảm phần ngân sách địa phương hàng năm dành cho việc thực hiện chương trình việc làm của thành phố;
5- UBND các quận, huyện có trách nhiệm tổ chức xây dựng và thực hiện chương trình việc làm của địa phương; thực hiện triển khai các nội dung của chương trình việc làm thành phố; định kỳ báo cáo với Chủ tịch UBND thành phố (thông qua Sở Lao động - Thương binh và xã hội) về tình hình thực hiện chương trình.
Điều 3 : Đề nghị các đoàn thể, hội quần chủng tham gia thực hiện chương trình việc làm thành phố trong phạm vi hoạt động của đoàn thể, hội mình, đồng thời tham gia giám sát việc thực hiện chương trình việc làm của các cấp chính quyền liên quan.
Điều 4 : Quyết định này có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày ký.
Điều 5 : Chánh Văn phòng UBND thành phố, Giám đốc các Sở : Lao động - Thương binh và Xã hội, Kế hoạch và đầu tư,
Tài chính - Vật giá, Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị có liên quan, Chủ tịch UBND các quận, huyện chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.
TM.UBND THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
CHỦ TỊCH
(Đã ký)
Nguyễn Bá Thanh
CHƯƠNG TRÌNH VIỆC LÀM THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNGĐẾN NĂM 2000
(Kèm theo Quyết định số 111/1999/QĐ-UB, ngày 06 tháng 9
năm 1999 của Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng)
____________________
PHẦN I
TÌNH HÌNH LAO ĐỘNG - VIỆC LÀM CỦA THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
I- TÌNH HÌNH GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM TRONG THỜI GIAN QUA:
1- Tình hình giải quyết việc làm :
Tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới của Đảng theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa, thành phố Đà Nẵng không ngừng phấn đấu phát triển kinh tế - xã hội, từ đó tốc độ tăng trưởng kinh tế từ năm 1995 đến nay đạt mức khá, tạo ra nhiều chỗ làm việc mới thu hút thêm lao động.
Đồng thời băng những nỗ lực của các cấp, các ngành, các tổ chức xã hội và người lao động đã chủ động, sáng tạo giải quyết việc làm tại chỗ. Thông qua các chính sách của Nhà nước đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, hỗ trợ vốn theo dự án v.v... từ năm 1995 đến nay đã có trên 50 ngàn lao động được giải quyết việc làm hoặc có thêm việc làm đầy đủ, đã từng bước giảm tỷ lệ thất nghiệp và tăng tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn. Năm 1998 khoảng trên 14 ngàn người tìm được việc làm. Kết quả có được là nhờ :
- Đã có sự thay đổi căn bản nhận thức về việc làm ở các ngành, các cấp, các tổ chức xã hội, của người sử dụng lao động và cả người lao động " Mọi hoạt động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật ngăn cấm đều được thừa nhận là việc làm". Đã chuyển từ bước thụ động sang chủ động tạo ra việc làm theo hướng tích cực;
- Chỉ tiêu giải quyết việc làm hàng năm được đưa vào kế hoạch và được triển khai thực hiện. Bên cạnh đó, thực hiện chỉ đạo của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và của UBND thành phố, hàng năm từ 1996 đến nay thường xuyên tổ chức điều tra lao động - việc làm, trên cơ sở đó đa góp phần định hướng giải quyết việc làm cho người lao động;
- Các trung tâm đào tạo nghề, giới thiệu việc làm, trung tâm xúc tiến việc làm là tiền thân trung tâm dịch vụ hiện nay Nhà nước đã có chính sách và hỗ trợ kinh phí để hình thành, tạo điều kiện hoạt động góp phần tác động vào việc giúp người lao động tìm việc làm và hoạt động ngày càng theo hướng tích cực hơn;
- Đi đôi với tạo môi trường thu hút vốn đầu tư nước ngoài cũng như trong nước tạo thêm chỗ việc làm thu hút lao động. Giải quyết việc làm cho người lao động đã phát triền nhiều hình thức phong phú, đa dạng, bước đầu đã lồng ghép được nguồn lực từ các chương trình và phong trào chăm lo giải quyết việc làm cho người lao động như : vốn hỗ trợ cho vay giải quyết việc làm 120, chương trình 327, 773, xóa đói, giảm nghèo, phụ nữ giúp nhau làm kinh tế, nông dân sản xuất giỏi, thanh niên lập nghiệp.,. Từng dự án đã gắn liền với từng nhóm đốì tượng cụ thể, gắn kết với chương trình phát triển kinh tế tạo việc làm, ổn định đời sống người lao động. Riêng nguồn vốn hỗ trợ cho vay giải quyết việc làm 120, từ năm 1995 đến nay đã hỗ trợ cho 600 dự án, với tổng số vốn vay là 17 tỷ đồng, đã tạo việc làm mới và tạo việc làm thêm cho trên 5. 000 lao động.
2- Những khó khăn hạn chế :
Hoạt động giải quyết việc làm cua các ngành, các cấp và các tổ chức đã đem lại kết quả ban đầu đáng khích lệ, góp phần quan trọng ổn định tình hình xã hội, tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội. Song, trước sự vận động của nền kinh tế theo cơ chế thị trường về nhận thức và hoạt động giải quyết việc làm cũng gặp những khó khăn nhất định.
- Qua điều tra lao động - việc làm hàng năm, mặc dù có nhiều hoạt động giải quyết việc làm tích cực, nhưng lao động thất nghiệp và lao động thiếu việc làm giảm ở mức chậm. Tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn có tăng nhưng chưa đáng kể;
- Chất lượng lao động chưa đáp ứng yêu cầu. Lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật còn chiếm tỷ lệ thấp chưa đáp ứng được cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa;
- Hàng năm số người tìm việc làm tăng, năm sau cao hơn năm trước. Tuy nhiên, chỗ việc làm mời được tạo ra chưa đáp ứng được lực lượng lao động tăng. Bên cạnh đó số người chấm dứt hợp đồng lao động, người mất việc làm thường diễn ra, nên số người cần việc làm thường xuyên tăng cao;
- Việc kiểm soát tình hình sử dụng lao động và kết quả giải quyết việc làm chưa đồng bộ và đều khắp. Diễn biến lao động - việc làm trên địa bàn chưa được phản ánh thường xuyên. Số người thất nghiệp thống kê không được cụ thể, lao động mất việc do tác động nhiều lý do chưa kiểm soát được. Các ngành, địa phương, chưa đề cập đến chỉ tiêu thu hút lao động được tạo ra cùng với kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, các chương trình, dự án cũng như tình hình thực hiện hàng năm của ngành, địa phương;
- Nghị quyết 120/HĐBT năm 1992 với nhiều giải pháp, nhưng triển khai thực hiện chưa đồng bộ. Hoạt động hỗ trợ vốn cho vay giải quyết việc làm đối tượng thụ hưởng rộng, hỗ trợ vốn dàn trải chậm khắc phục, nên đánh giá hỗ trợ giải quyết việc làm từ cho vay vốn giải quyết việc làm chưa đích thực;
- Chương trình mục tiêu quốc gia về giải quyết việc làm Trung ương chậm triển khai nên địa phương lúng túng, nhất là nguồn lực hỗ trợ để thực hiện chương trình;
- Các trung tâm dịch vụ việc làm tuy được sắp xếp lại, hình thành theo Nghị định 72/TTg, nhưng chưa tổ chức thành hệ thống để thực hiện tốt các nhiệm vụ được quy định, việc hỗ trợ giải quyết việc làm còn phân tán. Đào tạo nghề cho người lao động chưa tập trung đúng mức, nên việc cung ứng lao động có kỹ thuật chưa đáp ứng yêu cầu các cơ sở sản xuất kinh doanh.
II- THỰC TRẠNG DÂN SỐ, LAO ĐỘNG - VIỆC LÀM :
1- Về dân số, lao động :
- Theo số liệu thống kê dân số thành phố Đà Nẵng đến cuối năm 1998 là : 695.756 người. So với năm 1990 tăng 123.445 người bình quân tốc độ tăng hằng năm 2,50%. Những năm đến cùng với mức độ đô thị hóa, tốc độ tăng dân số dự kiến có mức tăng cao hơn. Đến năm 2000 dân số thành phố Đà Nẵng khoảng 736 nghìn người;
- Số người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động chiếm gần 53% so với dân số. Lực lượng lao động năm 1998 gần 310 ngàn người;
- Số lao động có chuyên môn kỹ thuật chiếm gần 22% so với lực lượng lao động. Trong đó, lao động có trình độ đại học và cao đẳng chiếm trên 37% , lao động có trình độ trung học chuyên nghiệp gần 20% và công nhân lao động kỹ thuật chiếm xấp xỉ 43%. Như vậy cơ cấu lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật có quan hệ tỉ lệ chưa hợp lý. Lao động chưa qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật còn chiếm tỉ lệ lớn trong lực lượng lao động (phấn đấu đến năm 2000 đạt 30% lao động qua đào tạo như Nghị quyết đại hội Đảng bộ thành phố Đà Nẵng lần thứ 17 đề ra cần có biện pháp tích cực hơn nữa trong đào tạo nguồn nhân lực).
BIỂU CƠ CẤU CHẤT LƯỢNG LAO ĐỘNG :
TT
CHỈ TIÊU
năm 1990
NĂM 1997
NĂM 1998
Lực lượng lao động
265.443
299.574
309.160
1
Sơ cấp
4.416
4.416
2
CNKT không bằng
9.430
11.660
12.976
3
CNKT có bằng
10.915
11.868
4
Trung học chuyên nghiệp
22.466
12.820
13.472
5
Cao đẳng, Đại học
12.829
24.772
25.520
Tổng cộng
44.725
64.523
68.252
Tỷ lệ lao động qua đào tạo
16,85
21,53
22,00
2- Về việc làm, thất nghiệp và thiếu việc làm :
Những năm qua, số người tìm được việc làm năm sau cao hơn năm trước. Tuy nhiên, chỗ việc làm mới được tạo ra hàng năm còn thấp, chưa đáp ứng nhu cầu lực lượng lao động tăng thêm. Tính ổn định của việc làm chưa cao, có trên 30% làm công việc tạm thời, nên dễ mất việc, tiếp tục tham gia lực lượng tìm việc làm;
- Tỉ lệ lao động thất nghiệp trong những năm qua có xu hướng giảm, nhưng giảm mức độ chậm, hai năm 1996 và 1997 giảm bình quân năm 0,19% . Bước sang năm 1998 tỉ lệ thất nghiệp có xu hướng tăng từ 5,41% năm 1997 lên 6,17% năm 1998;
- Tỉ lệ lao động thiếu việc làm năm 1997 chiếm trên 20% trong lực lượng lao động hoạt động kinh tế thường xuyên (bình quân cả nước 23,56%), trong đó, độ tuổi dưới 45 tuổi chiếm 87%.
- Tỉ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn được nâng dần từ 71, 53% lên 73,77% năm 1998.
3- Dự báo lực lượng lao động và nhu cầu giải quyết việc làm từ nay đến năm 2000 :
Lực lượng lao động thành phố Đà Nẵng năm 1998 có khoảng gần 310 ngàn người, dự kiến đến năm 2000 khoảng trên 331 ngàn người. Như vậy, tốc độ tăng lực lượng lao động giai đoạn từ nay đến năm 2000 bình quân năm trên 3,3%. Lực lượng lao động mới tăng thêm khoảng 21 ngàn người, cùng số người thất nghiệp chuyển sang khoảng trên 19 ngàn người, số lao động phải tìm việc làm mới với nhiều lý do khác nhau khoảng 6 ngàn người. Dự tính từ nay đến năm 2000 số người cần tìm việc làm khoảng gần 47 ngàn người.
Bên cạnh đó phấn đấu ổn định việc làm, giảm số người thiếu việc làm, nâng cao tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn, tạo thêm việc làm cho người về hưu, mất sức, tàn tật có nhu cầu việc làm tăng thu nhập, từng bước tạo dù việc làm cho người lao động... đòi hỏi phải có sự nỗ lực rất lớn của các ngành, các cấp với phương hướng tích cực và các giải pháp khả thi.
PHẦN II
MỤC TIÊU PHƯƠNG HƯƠNG GIẢI QUYẾT
VIỆC LÀM-ĐẾN NĂM 2000
I- MỤC TIÊU :
1- Mục tiêu cơ bản lâu dài :
Tạo mở việc làm mới, bảo đảm việc làm cho người lao động có khả năng lao động, có nhu cầu làm việc; thực hiện các biện pháp để trợ giúp cho lao động thất nghiệp có được việc làm, người thiếu việc làm có đủ việc làm, tăng thu nhập, tạo việc làm có hiệu quả hơn. Tiến tới mục tiêu việc làm đầy đủ, việc làm có hiệu quả và tự do chọn lựa việc làm; thông qua đó giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với giải quyết việc làm cho người lao động, góp phần thực hiện công bằng và tiến bộ xã hội.
2- Mục tiêu cụ thể :
- Mỗi năm thu hút thêm từ 14-15 nghìn lao động có chỗ làm việc mới;
- Giảm tỉ lệ thất nghiệp ở thành phố Đà Nẵng từ 6,17% hiện nay xuống dưới 6% năm 2000;
- Nâng tỉ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn từ 73,77% lên trên 75% năm 2000;
Để đạt được mục tiêu trên, từ nay đến năm 2000 phải phấn đấu thực hiện được các chỉ tiêu sau :
- Tập trung đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, ổn định việc làm hiện có, tạo mở thu hút thêm 30.000 người có chỗ việc làm mới;
- Đào tạo và đào tạo lại 20 ngàn lao động, để nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên 25-26% lực lượng lao động vào năm 2000.
Riêng đào tạo nghề từ 10 đến 12 ngàn người;
Trong đó, các hoạt động hỗ trợ trực tiếp của chương trình cho vay vốn để giải quyết việc làm cho 4.000 người, tồ chức dạy nghề gắn liền với việc làm 2.500 người.
- Nâng cao năng lực hoạt động các trung tâm dịch vụ việc làm trên địa bàn thành phố. Hình thành một số chi nhánh ở khu vực hoặc quận, huyện trực thuộc trung tâm dịch vụ việc làm Đà Nẵng tạo thành hệ thống để nắm được thông tin về thị trường lao động.
II- PHƯƠNG HƯỚNG :
Để thực hiện được mục tiêu giải quyết việc làm, chương trình việc làm thành phố Đà Nẵng từ nay đến năm 2000 triển khai trên các hướng sau :
1- Tổ chức thực hiện đồng bộ các chủ trương, chính sách của Nhà nước :
Tổ chức thực hiện đồng bộ các chủ trương, chính sách của Nhà nước; Đầu tư hoàn chỉnh các nhà máy hiện có sử dụng nhiều lao động đề phát huy thiết bị, cơ sở vật chất và khai thác tốt, ổn định việc làm và thu hút thêm lao động; Giải quyết kịp thời thủ tục các dự án đầu tư để đưa nhanh vào hoạt động nhằm thúc đẩy tạo mở nhiều chỗ việc làm mới. Tích cực tháo gỡ khó khăn vướng mắc, tiếp tục chuyển đổi hợp tác xã và khuyến khích phát triển loại hình hợp tác xã, doanh nghiệp nhỏ với công nghệ sử dụng nhiều lao động. Đẩy mạnh thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, phát triển kinh tế nông thôn toàn diện để giải quyết việc làm tại chỗ.
2- Duy trì, bảo đảm việc làm cho người lao dộng, khắc phục thôi việc hàng loạt :
Trước mắt, trong quá trình đổi mới quản lý doanh nghiệp, sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nước đi đôi với bảo đảm việc làm cho người lao động. Kịp thời hỗ trợ các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động đang gặp khó khăn có nguy cơ mất việc hàng loạt xảy ra.
3- Tăng cường hoạt động hỗ trợ trực tiếp để giải quyết việc làm cho lao động thất nghiệp, lao động thiếu việc làm và những đối tượng yếu thế :
- Tổ chức mạng lưới dịch vụ việc làm thành hệ thống từ các chi nhánh khu vực quận, huyện, kịp thời nắm thông tin về thất nghiệp, thông tin thị trường lao động;
- Hỗ trợ trung tâm dịch vụ việc làm thành phố và các chi nhánh về cơ sở vật chất, hướng đến đào tạo miễn giảm một phần học phí cho lao động hộ gia đình chính sách, hộ gia đình thuộc diện khó khăn và cung cấp dịch vụ miễn phí cho họ;
- Tổ chức thực hiện có hiệu quả nguồn vốn cho vay giải quyết việc làm hiện có, nguồn bổ sung của trung ương và huy động tại địa phương; chuyển từ cho vay dự án nhỏ lẻ sang cho vay dự án có tổ chức gắn liền phát triển kinh tế của địa phương, thực sự tạo được việc làm mới cho người lao động.
PHẦN III
CÁC GIẢI PHÁP VÀ HOẠT ĐỘNG ĐỂ THỰC HIỆN
CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM
Để thực hiện được các mục tiêu và phương hướng giải quyết việc làm nêu trên, cần tiến hành một số giải pháp chủ yếu sau đây :
I- GIẢI PHÁP GẮN LIỀN VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ TẠO MỞ VIỆC LÀM:
Phát triển kinh tê tạo mở việc làm là nhóm hoạt động quan trọng và cơ bản, quyết định tăng hoặc giảm chỗ việc làm. Chương trình mục tiêu giải quyết việc làm không trực tiếp hoạch định phát triển kinh tế, mà nghiên cứu tham gia việc hoạch định, bổ sung, điều chỉnh các chính sách nhằm giải quyết hợp lý mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với giải quyết việc làm, để trong các năm đến bình quân mỗi năm tạo trên 11 ngàn chỗ việc làm mới ổn định và mở rộng xuất khẩu lao động càng tích cực hơn.
1- Trong quá trình xây dựng kế hoạch và thực hiện kế hoạch kinh tế - xã hội, các chương trình mục tiêu, các dự án các ngành, các quận, huyện phải gắn liền với chỉ tiêu tạo việc làm mới thu hút lao động và xem nó là một trong những chỉ tiêu kế hoạch để có thể thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội;
- Trong quá trình thực hiện các ngành, các quận, huyện phân tích đánh giá tác động của các chủ trương, chính sách cụ thể ảnh hương đến việc làm thuộc lĩnh vực ngành, địa phương để chủ động đề xuất biện pháp tháo gỡ, tạo thêm chỗ việc làm và khắc phục mất việc làm;
2- Có cơ chế chính sách khuyến khích và tạo thuận lợi cho các thành phần kinh tế đầu tư vốn vào hoạt động sản xuất kinh doanh, nhất là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Thông báo công khai các thủ tục thành lập, các chính sách ưu đãi và các quy định của địa phương. Đối với khu vực sản xuất kinh doanh nhỏ, cần được tạo điều kiện hơn, rà soát lại các loại phí, lệ phí, nhằm tạo điều kiện ngày càng phát triển đế giải quyết việc làm thuộc hộ sản xuất kinh doanh, dịch vụ. Các đơn vị sản xuất kinh doanh thực hiện chính sách thu nhận lao động nữ, lao động tàn tật vào làm việc đề nâng cao vai trò phụ nữ và hòa nhập lao động tàn tật với cộng đồng trong quá trình lao động;
3- Cùng với cơ chế, chính sách ưu đãi thu hút vồn đầu tư, thành lập tổ chức xúc tiến - tư vấn đầu tư không vì mục đích kinh tế, chi phí hoạt động do ngân sách đài thọ để cung cấp thông tin và tư vấn hỗ trợ cho các nhà đầu tư, nhất là đầu tư nước ngoài;
4- Củng cố đơn vị kinh tế được phép đưa lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài hiện có của địa phương, hỗ trợ tạo điều kiện các doanh nghiệp tham gia xuất khẩu lao động trên địa bàn, từng bước khai thác thị trường xuất khẩu lao động;
5- Thiết lập hệ thông thông tin nắm số lao động được giải quyết việc làm và số lao động mất việc làm, đề xuất các giải pháp xử lý kịp thời.
II- GIẢI PHÁP HỖ TRỢ TRƯC TIẾP ĐỂ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG THẤT NGHIỆP, NGƯỜI THIẾU VIỆC LÀM:
Trong cơ chế thi trường, thường xuyên có một bộ phận yếu thế, không tự lo được việc làm cho mình như : người thất nghiệp, người thiếu việc làm, các đối tượng thuộc diện ưu đãi, các đối tượng xã hội... Nhóm hoạt động trực tiếp trong chương trình mục tiêu về việc làm là trực tiếp tổ chức thực hiện để hỗ trợ tạo việc làm mới, đảm bảo việc làm và tạo cơ hội tìm kiếm việc làm cho họ.
1- Tổ chức về dịch vụ việc làm :
Hiện nay có 5 trung tâm đang hoạt động, trong đó có 4 trung tâm dịch vụ việc làm hoạt động theo Nghị định 72/CP và 1 Trung tâm giới thiệu việc làm thanh niên. Với quy mô thành phố Đà Nẵng từ nay đến năm 2000 ổn định các Trung tâm dịch vụ việc làm hiện có, không tiếp tục mở thêm. Tuy nhiên, tập trung củng cố, tạo thành hệ thống hoạt động thống nhất và tạo cho mỗi trung tâm có thế mạnh riêng đáp ứng nhu cầu đa dạng của xã hội.
a) Tồ chức cho người lao động có nhu cầu làm việc đăng ký tìm việc làm ở tất cả các chi nhánh ở từng khu vực hoặc quận, huyện của Trung tâm dịch vụ việc làm trên địa bàn;
b) Cung cấp các dịch vụ việc làm miễn phí dối vói người lao động thất nghiệp, người thiêu việc làm đã đăng ký tìm việc. Nội dung các hoạt động dịch vụ việc làm gồm :
- Tư vấn lựa chọn việc làm, nơi làm việc;
- Tư vấn lựa chọn nghề học, hình thức và nơi học nghề;
- Tư vấn về pháp luật lao động liên quan đến việc làm;
- Giới thiệu việc làm;
- Các dịch vụ khác liên quan đến tạo việc làm khi được yêu cầu.
c) Tố chức cung ứng các dịch vụ việc làm cho người sử dụng lao dộng theo hợp đồng lao động. Nội dung các dịch vụ việc làm đôi với người sử dụng lao động bao gồm :
- Giúp tuyển lao động, cung ứng lao động;
- Tư vấn pháp luật về lao động - việc làm;
- Trao đổi thông tin về thị trường lao động;
- Các dịch vụ khác về lao động - việc làm khi có yêu cầu.
d) Tổ chức khảo sát, thu thập, xử lý và traọ đổi thông tin về thị trường lao động;
e) Đầu tư xây dựng, trang thiết bị, phương tiện làm việc cho Trung tâm dịch vụ việc làm thuộc địa phương quản lý và các chi nhánh của Trung tâm tại các quận, huyện để bảo đảm nội dung hoạt động dịch vụ việc làm.
2- Tổ chức dạy nghề gắn với việc làm :
Có kế hoạch tổ chức tốt việc đào tạo nghề ở các trường và đào tạo theo hợp đồng học nghề khoảng 12.000 người.
Chia ra :
- Đào tạo tại các trường : 2.500 - 3.000 người
- Đào tạo tại các trung tâm : 3.000 - 3.500 người
- Đào tạo tại các cơ sở dạy nghề và sản xuất : 4.500 - 5.000 người
Trong đó, đặc biệt chú ý con hộ gia đình chính sách, hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn không có nghề. Thực hiện chính sách hỗ trợ từ quỹ giải quyết việc làm của địa phương đối với đối tượng này : học nghề ngắn hạn từ 50% đến 100% học phí.
3- Tổ chức cho vay vốn giải quyết việc làm :
a) Tổ chức hỗ trợ cho 2.000 người trong số lao động thất nghiệp đăng ký tìm việc làm được vay vốn để tạo việc làm hoặc tạo thêm việc làm có hiệu quả, gắn liền dự án tiểu vùng, phát triển ngành nghề ở vùng nông thôn;
b) Tố chức hỗ trợ cho người sử dụng lao động vay vốn để tạo thêm việc làm mới thu hút 1.500 lao động thất nghiệp. Ưu tiên hỗ trợ doanh nghiệp thu hút nhiều lao động, doanh nghiệp vùng nông thôn;
c) Tổ chức hỗ trợ các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ gặp khó khăn về vốn, khắc phục nguy cơ mất việc, giữ chỗ việc làm cho người lao động để bảo đảm việc làm cho lao động nữ;
d) Tổ chức hỗ trợ cho các cơ sở kinh doanh người tàn tật, các đơn vị cơ sở thu hút lao động là người tàn tật được vay vốn dạy nghề và tạo việc làm cho người tàn tật.
III- GIẢI PHÁP VỀ THÔNG TIN THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG, ĐIỀU TRA LAO ĐỘNG - VIỆC LÀM :
1- Điều tra lao động - việc làm :
Ngoài việc thực hiện điều tra lao động - việc làm theo chỉ đạo của Trung ương hàng năm, địa phương tổ chức xử lý thông tin tại chỗ phân tích hiện trạng lao động - việc làm địa phương để kịp thời xử lý.
2- Thông tin về thị trường lao động :
Các nguồn thông tin từ các Trung tâm dịch vụ việc làm và kế hoạch thu hút lao động hàng năm của các ngành, các cấp, được bộ phận quản lý chương trình về việc làm tổng hợp trong kế hoạch thực hiện chương trình hàng năm.
Trong thực hiện được kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động tạo việc làm cho người lao động. Qua đó thông tin các mô hình, sáng kiến trong hoạt động giải quyết việc làm cho người lao động.
3- Thông tin, tuyên truyền về chương trình :
Tổ chức thông tin tuyên truyền về chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm và chương trình địa phương, nhất là phạm vi chương trình, đối tượng thụ hưởng trực tiếp của chương trình và các chính sách trong giải quyết việc làm đến hầu hết các ngành, các cấp và người lao động.
Tuyên truyền có thể bằng nhiều hình thức như : Tập san thông tin về lao động việc làm. Ngoài ra thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, giúp người lao động nắm bắt kịp thời thông tin về việc làm và giải quyết việc làm trên địa bàn.
PHẦN IV
TÀI CHÍNH ĐỂ THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH
Để thực hiện chương trình mục tiêu việc làm đến năm 2000 là tập trung thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và hình thành nguồn tài chính riêng để hỗ trợ trực tiếp cho người lao động và bảo đảm hoạt động chương trình.
I- QUỸ QUỐC GIA HỖ TRỢ VIỆC LÀM :
1- Nguồn hình thành :
Để thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm và chương trình mục tiêu thành phố Đà Nẵng đến năm 2000 gồm :
- Nguồn ngân sách Nhà nước Trung ương hỗ trợ :
- Nguồn quỹ giải quyết việc làm thu hồi trên địa bàn thành phố Đà Nẵng và nguồn vốn hỗ trợ giải quyết việc làm do Ngân sách Trung ương hỗ trợ mới năm 1999 và năm 2000.
- Nguồn quỹ do ngân sách địa phương hỗ trợ, trích ngân sách địa phương từ 0,17% đến 0,20% trong tổng chi ngân sách hăng năm.
- Nguồn từ người sử dụng lao động và người lao động tham gia đối ứng với vốn hỗ trợ của Nhà nước tự tạo việc làm và tạo việc làm thu hút lao động.
- Các nguồn khác :
Nguồn hỗ trợ từ các tổ chức quốc tế hỗ trợ về giải quyết việc làm và đào tạo nghề gắn với việc làm cho người lao động.
2- Cơ chế quản lý và vận hành quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm :
- Hàng năm căn cứ nguồn quỹ quốc gia Trung ương phân bổ cho địa phương và nguồn vốn ngân sách địa phương hỗ trợ để giải quyết việc làm (gồm vốn hỗ trợ cho vay giải quyết việc làm và các hoạt động khác), Ban chỉ đạo tham mưu phân bổ hạn mức vốn hỗ trợ các quận, huyện và các hoạt động khác thuộc chương trình việc làm trình UBND thành phố quyết định;
- UBND các quận, huyện, các tổ chức căn cứ nguồn quỹ quốc gia được phân bổ, có trách nhiệm quản lý và sử dụng quỷ giải quyết việc làm theo mục đích được phân bố của chương trình. Đối với vốn hỗ trợ cho vay giải quyết việc làm, ưu tiên hỗ trợ những dự án thu hút được nhiều lao động có việc làm mới.
II- DỰ KIẾN NGUỒN TÀI CHÍNH VÀ DỰ TOÁN SỬ DỤNG QUỸ QUỐC GIA GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM 1999 - 2000 :
Đơn vị tính : Triệu đồng
NGUỒN VÀ NỘI DUNG SỬ DỤNG
THỰC HIỆN 1998
DỰ KIẾN 1999
DỰ KIẾN 2000
DỰ KIẾN 1999-2000
Tổng số :
8.316
11.300
13.750
25.050
I/- Ngân sách Nhà nước
5.566
8.050
10.000
18.050
1/ Ngân sách cấp mới
1.060
2.550
3.500
6.050
Ngân sách Trung ương
1.080
1.950
2.600
4.550
+ Cho vay giải quyết v/làm
1080
1.500
2.000
3.500
+ Hỗ trợ TTDV việc làm
400
500
900
+ Hỗ trợ tuyên tuyển, q/lý
50
100
150
- Ngân sách địa phương
600
900
1.500
+ Hỗ trợ dạy nghề cho con em hộ gia đình chính sách và hộ đặc biệt khó khăn
ị
480
670
1.150
+ Hỗ trợ đầu tư chi nhánh dịch vụ việc làm quận, huyện
100
200
300
+ Hỗ trợ điều tra, quản lý
20
30
50
2/Nguồn vốn thu hồi cho vay giải quyết việc làm
4.486
5.500
6.500
12.000
II- Nguồn của các tổ chức
250
250
250
500
Vốn cho vay giải quyết việc làm Việt – Tiệp
250
250
250
500
III- Nguồn đối ứng tham gia giải quyết việc làm của người sử dụng lao động, người LĐ
2.500
3.000
3.500
6.500
PHẦN V
TỔ CHỨC THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH
I- THÀNH LẬP BAN CHỈ ĐẠO THƯC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH :
Để giúp UBND các cấp quản lý và điều hành chương trình việc làm địa phương, từng cấp thành lập Ban chỉ đạo thực hiện chương trình việc làm địa phương.
1- Thành lập BCĐ thực hiện chương trình việc làm thành phố
UBND thành phố đã thành lập BCĐ thực hiện chương trình việc làm thành phố theo QĐ số 6577/QĐ-UB ngày 19-11-1998 gồm :
Trưởng ban :
Phó Chủ tịch UBND thành phố
Phó trưởng ban trực:
Giám đốc Sở Lao động - TBXH
Phó trưởng ban:
Giám đốc Sở Kế hoạch đầu tư
Các ủy viên :
Sở Tài chính, Sở Công nghiệp, Sở Thủy sản - Nông - Lâm.
Mời tham gia ủy viên:
Phó Chủ tịch Liên đoàn lao động thành phố.
Giúp việc BCĐ có tổ chuyên viên giúp việc của các ngành, đại diện Sở Lao động- TBXH làm tổ trưởng.
Để chỉ đạo thực hiện chương trình có hiệu quả, BCĐ xây dựng quy chế hoạt động của BCĐ việc làm, trong đó thường trực Ban chỉ đạo có trách nhiệm chủ trì phối hợp với các ngành đoàn thể triển khai chương trình, hàng năm tổng hợp đánh giá kết quả thực hiện chương trình.
2- Thành lập BCĐ thực hiện chương trình cấp quận, huyện :
- Ở mỗi quận, huyện thành lập Ban chỉ đạo cấp mình, do đồng chí Phó Chủ tịch làm trưởng ban, Trưởng phòng Lao động - TBXH quận, huyện làm phó ban trực.
Ban chỉ đạo thực hiện chương trình việc làm quận, huyện có nhiệm vụ cụ thể hóa chương trình việc làm thành phố phù hợp với đặc điểm, tình hình của địa phương và tổ chức các hoạt động thực hiện chương trình để giải quyết việc làm cho người lao động.
Giúp việc Ban chỉ đạo có tổ chuyên viên liên ngành do đại diện Phòng Lao động - TBXH làm tổ trưởng.
II- CÁC TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ, XÃ HỘI THAM GIA CHƯƠNG TRÌNH :
1- Các tổ chức chính trị, xã hội tham gia xây dựng chương trình việc làm với cơ quan Nhà nước cùng cấp;
2- Tổ chức tuyên truyền, hướng dẫn cho các thành viên thuộc tổ chức mình về các chính sách và hoạt động của chương trình thu hút họ vào các hoạt động tự tạo việc làm và tạo việc làm thêm cho người lao động. Kịp thời phổ biến các mô hình, tạo việc làm có hiệu quả;
3- Tổ chức hướng dẫn các hội viên xây dựng dự án vay vốn tạo việc làm. Thực hiện việc tín chấp cho đoàn viên, hội viên khi tham gia vay vốn đầu tư tạo việc làm.
III- KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ VÀ BÁO CÁO TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH :
1- BCĐ tổ chức duy trì việc kiểm tra chế độ báo cáo tình hình thực hiện chương trình ở các ngành, đoàn thể địa phương và thực hiện chế độ báo cáo với ban quản lý chương trình mục tiêu quốc gia và UBND thành phố
2- BCĐ các địa phương thực hiện chế độ báo cáo định kỳ và thường xuyên tổ chức kiểm tra, thăm các dự án tạo việc làm cho người lao động.
3- Sáu tháng và hàng năm tổ chức sơ, tổng kết đánh giá tình hình thực hiện chương trình mục tiêu về việc làm toàn diện các mặt, kịp thời tháo gỡ vướng mắc để hoạt động chương trình ngày càng hiệu quả.