|
UBND TỈNH PHÚ THỌ Số: 1121/1997/QĐ-UB |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------------------------- tỉnh Phú Thọ, ngày 05 tháng 08 năm 1997 |
QUYẾT ĐỊNH CỦA UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
Về việc ban hành bản quy định về cấp dự báo cháy rừng và quy trình phòng cháy chữa cháy rừng.
UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
Căn cứ Luật tổ chức HĐND và UBND ngày 21/6/1994.
Căn cứ luật bảo vệ và phát triển rừng ban hành ngày 19/8/1991.
Xét đề nghị của Chi cục trưởng Chi cục kiểm lâm Phú Thọ.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1:
Điều 2:
Điều 3: Cấp dự báo cháy rừng và quy trình phòng cháy chữa cháy rừng
(Ban hành kèm theo QĐ số 1121/QĐ-UB ngày 5/8/1997)
Chương I
Điều khoản chung
Điều 1:
Điều 2:
Điều 3:
Điều 4:
Chương II
Quy định cấp dự báo cháy rừng, Nhiệm vụ PCCCR
Điều 5:
Điều 6:
Điều 7:
Điều 8:
Điều 9:
Chương III
Phòng cháy rừng
Mục I-
Điều 10:
Điều 11:
Điều 12:
Điều 13: Mục II:
Điều 14:
1. Xây dựng trạm dự báo cháy rừng để tính các nhân tố môi trường liên quan đến vật liệu cháy hàng ngày và dài ngày (Tuần khí tượng Đài khí tượng thuỷ văn cung cấp).
2. Xác định thời kỳ dễ phát sinh cháy phục vụ cho việc lập kế hoạch phòng và chữa cháy rừng trong mùa khô hanh.
3. Đo tính chỉ tiêu cấp dự báo cháy hàng ngày và dài ngày theo 5 cấp (từ I - V)
4. Phải đảm bảo thông tin thông suốt cấp dự báo cháy rừng trên các phương tiện thông tin đại chúng trong mùa khô hanh trên quy mô toàn tỉnh.
Điều 15: - Trạm phụ đặt ở các hạt kiểm lâm, các lâm trường có nhiệm vụ đo bổ sung các yếu tố: lượng mưa, nhiệt độ lúc 13h, gió, vật liệu cháy... để bổ sung số liệu cung cấp cháy cho trạm chính, góp phần nâng cao độ chính xác của dự báo chung toàn vùng.
Điều 16: Pi = K
Trong đó: K: hệ số điều chỉnh theo lượng mưa hàng ngày a
K có 2 giá trị: K = 1 khi a< 5mm
K = 0 khi a> 5mm
T°13: nhiệt độ đo lúc 13 h giờ cao điểm dễ xảy ra cháy rừng trong ngày.
Dn13: độ chênh lệch bão hoà lúc 13h
n: số ngày không mưa, hoặc mưa dưới 5 ly tiếp theo.
Điều 17: Hi= K( Hi - 1 + n) (2)
Trong đó:
- Hi: số ngày khô hạn liên tục không mưa
- K: có cùng ý nghĩa với công thức (1)
- n: số ngày không mưa, hoặc mưa dưới 5 ly tiếp theo
Điều 18:
Điều 19: Mục III:
Điều 20:
Điều 21:
Điều 22:
Điều 23:
1- Đường băng chính: Phải kết hợp với việc xây dựng đường giao thông nông thôn, đường dân sinh kinh tế.
a) Đối với rừng tự nhiên lá rộng: Đường băng chia rừng ra nhiều khoảnh, cự ly các đường băng chính cách nhau 2 -3 km.
b) Đối với rừng trồng và rừng lá kim tự nhiên: Đường băng chính có cự ly cách nhau 1 - 2 km.
2- Đường băng nhánh (phụ)
a) Đối với rừng tự nhiên lá rộng: Căn cứ vào điều kiện cụ thể từng nơi mà cự ly cách nhau giữa các đường băng từ 1 - 2 km.
b) Đối với rừng trồng và rừng lá kim tự nhiên: Căn cứ vào điều kiện từng nơi mà cự ly xây dựng giữa các đường băng cách nhau 300 - 500 m.
Điều 24: Đối với rừng trồng đã khép tán và rừng tự nhiên độ rộng của đường băng phải lớn hơn chiều cao của cây rừng.
a/ Đường băng chính: Đối với cả hai loại rừng tự nhiên và rừng trồng có độ rộng từ 10 - 20 m và phải trồng cây xanh.
b/ Đường băng nhánh (phụ) kể cả hai loại rừng: Rừng tự nhiên và rừng trồng phải có độ rộng tối thiểu từ 8 - 10 m và phải trồng cây xanh.
Điều 25: a/ Nơi có độ dốc dưới 15 độ: hướng đường băng phải vuông góc với hướng gió hai chiều trong mùa khô hanh.
b/ Nơi độ dốc lớn trên 15 độ: thì băng bố trí trùng với đường đồng mức, trường hợp có thể lợi dụng đường mòn, khe suối, động núi, đường dân sinh kinh tế miền núi để làm đường băng thì dọc hai bên đường băng đó phải xây dựng một hoặc hai vành đai cây xanh cản lửa, mỗi bề rộng 5 - 8 m hàng năm phải chăm sóc tu bổ băng cây xanh theo kỹ thuật chăm sóc rừng trồng.
Điều 26: Lựa chọn tập đoàn loài cây ở địa phương có sức sống chịu lửa giỏi, cây chứa nhiều nước, có khả năng chịu nhiệt cao, vỏ dày, không rụng lá trong mùa khô, cây có sức tái sinh hạt và chồi mạnh, sinh trưởng phát triển nhanh, không có cùng loài sâu bệnh hại với cây trồng rừng hoặc không là ký chủ của các loại sâu bệnh haị cây rừng, cây trồng tạo thành đai rừng phòng chấy, phải quy hoạch, cải tạo và lợi dụng các thung, khe, đầm, hồ, ao sẵn có để dự trữ nguồn nước cho chữa cháy rừng.
Mục IV:
Điều 27: a/ Chòi canh phải đặt ở vị trí có tầm nhìn xa nhất để dễ dàng phát hiện các đám khói hoặc lửa bốc lên, dự báo được mức độ lửa cháy to hay nhỏ để huy động kịp thời lực lượng và phương tiện đến dập tắt lửa rừng ngay tại chỗ không để lửa cháy lan.
b/ Chòi canh phải có độ cao hơn chiều cao của khu rừng, gồm hai loại chòi:
- Chòi chính: Đặt ở vị trí trung tâm của khu rừng dễ cháy, có tầm nhìn xa 10 - 15 km, làm chòi bằng sắt hoặc nguyên liệu bền chắc sẵn có ở địa phương đảm bảo sử dụng lâu bền.
- Chòi phụ: Được bố trí trong toàn bộ hệ thống chòi canh tầm nhìn xa 3 - 5 km.
c/ Phải đảm bảo an toàn cho việc sử dụng, khi xây dựng chòi chính và chòi phụ phải có thang lên xuống, xung quanh chân chòi phải dọn sạch cây trong phạm vi bán kính 20 - 30 m, có một gian nhà có 4 cửa để qun sát 4 phía, có bản đồ khu vực rừng cần bảo vệ, ống nhòm, kẻng báo động, cờ hiệu, bộ đàm để thông tin về cháy rừng.
Điều 28: Mỗi chòi có từ 2 - 3 người thay nhau làm việc. Vào thời kỳ cao điểm dễ xảy ra cháy rừng trong mùa khô hanh (tháng 11,12, 1, 2) dự báo cháy rừng ở cấp 4, 5 chòi phải có người làm việc thường xuyên đảm bảo 24/24 giờ/ngày. Khi nhân viên quan sát phát hiện thấy cháy rừng phải xác định rõ toạ độ của đám cháy, mức độ lửa rừng, báo cáo ngay về trung tâm chỉ huy và báo động kịp thời lực lượng phương tiện để cứu chữa không để lửa tràn lan lớn.
Mục V:
Điều 29: Hàng năm khi bước vào đầu mùa khô hanh (tháng 10) ở những khu rừng dễ cháy (rừng trồng và rừng tự nhiên) dưới sự hướng dẫn, chỉ đạo kỹ thuật, nghiệp vụ của Kiểm lâm, chủ rừng phải thực hiện dọn thực bì theo dải, theo băng, rộng từ 10-15 m dọc các đường giao thông, đường mòn, khu dân cư, kho tàng... vật liệu khô vun thành dải từ 6-8 m ở ngoài bìa rừng. Khi đốt phải có người canh gác, đốt vào sáng sớm hoặc buổi chiều lúc gió nhẹ, đốt ngược chiều gió, không được đốt vào ban trưa và lúc gió mạnh.
Điều 30: a/ Đối với rừng trồng: chủ rừng sử dụng dụng cụ thủ công hoặc cơ giới chăm sóc rừng, phải cày hoặc cuốc úp đất phủ lên lớp thảm tươi, cây bụi và chăm sóc cuốc gốc lần thứ nhất 0,6 - 0,8 m, chăm sóc lần hai cuốc xung quanh gốc rộng 1 - 1,2 m. Sang năm thứ hai phát thực bì và cuốc lật đất đồng thời tán cây rừng dần dần phát triển khép tán tiêu diệt lớp thảm tươi ở dưới. Trên các đất trồng rừng tuỳ theo độ dốc và tính chất đất rừng phải thực hiện trồng xen cây nông nghiệp ngắn ngày cho phù hợp.
b/ Đối với rừng trồng đã khép tán và rừng tự nhiên dễ cháy chủ rừng phải tiến hành chặt, phát thảm tươi cây bụi theo đám hoặc theo dải, thu dọn cành nhánh, chặt cây chết, cây sâu bệnh, thu đốt. Vật liệu còn lại kéo ra bìa rừng tạo nên các dải rồi đốt lúc gió nhẹ, có người canh gác.
Mục VI:
Điều 31: a/ Đối với các vùng cao xa, đồng bào các dân tộc thuộc huyện Thanh Sơn, Yên Lập vẫn còn tình trạng phát nương làm rẫy thì các Hạt kiểm lâm hàng năm phải thực hiện tốt việc thống kê quản lý quy vùng sử dụng đất đai tạm thời của dân. Nương rẫy phải thực hiện đúng quy hoạch, phân vùng vạch rõ ranh giới, có các bảng niêm yết ngoài thực địa, lập bản đồ quy hoạch phân loại đất đai dành cho sản xuất nương rẫy.
b/ Trong những vùng được phép sản xuất nương rẫy, Hạt kiểm lâm phải hướng dẫn đồng bào phát dọn toàn bộ thực bì, phơi khô vun thành dải rộng 2-3 m, dải nọ cách dải kia 5-6 m. Dải sát bìa rừng phải cách xa rừng 6-8 m, đốt lúc gió nhẹ vào buổi chiều tối hoặc buổi sáng, đốt lần lượt từng dải thứ tự từ trên sườn đồi xuống chân đồi, nơi đất bằng thì đốt lần lượt từ dải vật liệu cuối chiều gió cho đến dải vật liệu cuối cùng.
c/ Khi đốt phải có người canh gác cứ 10-15 m phải có một người canh gác băng không để lửa cháy lan vào rừng, khi đốt phải báo cáo với ban lâm nghiệp xã và tổ, đội bảo vệ rừng gần thôn, bản. Đốt xong phải kiểm tra toàn bộ nương, khi tắt lửa mới ra về.
Điều 32:
Chương IV
:
Chữa cháy rừng
Mục I:
Điều 33:
Điều 34: a/ Trong điều kiện thời tiết hạn kiệt, vật liệu trong rừng khô nỏ, độ ẩm vật liệu từ 20% trở xuống, khi cháy rừng phải:
Tạo ngay băng trắng đón đầu ngọn lửa theo một cự ly sao cho phù hợp, thi công xong trước khi ngọ lửa tràn đến, trên băng phải dọn và vun hết vật liệu cháy vào giữa băng và đốt cho hết các vật liệu trên băng.
Cự ly của hai tuyến dọn sạch vật liệu cháy quy định như sau:
1. Nếu tốc độ gió 3-5 m/s thì khoảng cách giữa hai tuyến dọn sạch vật liệu cháy là 20-30 m.
2. Nếu tốc độ gió trên 6m/s thì khoảng cách giữa hai tuyến dọn sạch vật liệu cháy là 30-50 m.
b/ Trong trường hợp có nguồn vật liệu lớn, chịu ảnh hưởng của nhiệt độ cao, nắng nóng kéo dài, gió thổi mạnh... cả những cây còn sống cũng bị khô héo, khi chữa cháy phải làm nhiều đai cản lửa dự phòng để ngăn lửa làm giảm tốc độ lan truyền của ngọn lửa. Khoảng cách giữa các đai cách nhau 50m, đai có hướng vuông góc với hướng gió chính trong thời kỳ cháy.
Mục II:
Điều 35: a/ Khi chữa cháy, lực lượng chữa cháy phải chuẩn bị đủ nước uống, bông băng thuốc bỏng, cáng; trường hợp bị thương phải sơ cứu và đưa đi cấp cứu. Nếu bị thương nặng hoặc tử vong phải lập biên bản để sau này tiện việc giải quyết chính sách chế độ.
b/ Lực lượng chữa cháy phải được tập huấn nghiệp vụ, khi chữa cháy phải được bố trí theo tổ, nhóm có người điều hành thống nhất, có bộ đàm chỉ huy. Lực lượng chữa cháy phải tập kết phía sau ngọn lửa, cách xa đám cháy trên 100m. Xung quanh nơi tập kết phải làm băng trắng ngăn cách có độ rộng trên 50m. Nếu dùng cành cây tươi chữa cháy phải phát hết cành cây non và có đoạn cán tay cầm dài 40-50 m. Phải có chế độ bồi dưỡng vật chất và khen thưởng cho người tham gia chữa cháy.
c/ Nguyên tắc bố trí lực lượng, phương tiện khi chữa cháy:
Nếu ngọn lửa có xu hướng phát triển và lan tràn chậm, cháy về cả hai phía trái và phải thì đội hình phải bố trí thành từng tiểu đội gồm 8-10 người, lực lượng chữa cháy tiến từ phía sau đám cháy về cả hai phía dùng nước hoặc đất cát hay bàn dập, cành cây tươi dập lửa bao vây không cho lửa lan tràn. Đội hình cứ thế tiến đến bao vây khép kín về phía đầu ngọn lửa và dập cho đến khi ngọn lửa tắt hẳn.
Nếu tốc độ gió mạnh trên 6m/s ngọn lửa lan tràn nhanh về phía trước thì đội hình phải bố trí để phát băng, cuốc đất hoặc dội nước từ phía trước ngọn lửa tiến về phía sau theo hai cánh cung cho đến khi khép kín và dập cho lửa tắt hẳn không còn than lửa cháy lại.
Sử dụng các công cụ chữa cháy như: cào, cuốc, xẻng, cưa, dao, bình đeo vai, xe ô tô chữa cháy, máy bay, xe ủi để lợi dụng nguồn nước, đất cát hoặc hoá chật như P2O5, K2PO4, CO2... để làm suy yếu ngay một trong ba yếu tố tham gia quá trình cháy: vật liệu, ô xy và nhiệt.
Điều 36:
Chương V
Điều khoản thi hành
Mục I:
Điều 37: Đối với những diện tích rừng và đất lâm nghiệp của các chủ rừng thì chủ rừng phải lập kế hoạch PCCCR trình cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Đối với rừng trồng, chỉ tiêu về PCCCR được hạch toán vào giá thành trồng rừng hàng năm.
Mục II:
Điều 38:
Điều 39: Mục III:
Điều 40:
Điều 41: