Quay lại

Quyết định 113/2003/QĐ-UB về việc ban hành Đề án thực hiện chính sách đối với người lang thang xin ăn trên địa bàn tỉnh Gia Lai

UBND TỈNH GIA LAI
-------

Số: 113/2003/QĐ-UB

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------------------------

tỉnh Gia Lai, ngày 13 tháng 11 năm 2003

QUYẾT ĐỊNH

CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

Về việc ban hành Đề án thực hiện chính sách đối với người lang thang xin ăn trên địa bàn tỉnh Gia Lai

_______________________________

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

- Căn cứ Điều 41 Luật tổ chức HĐND và UBND năm 1994;

- Căn cứ Công văn số 1415/CP-VX ngày 14/10/2003 của Chính phủ về kế hoạch đưa trẻ em lang thang về với gia đình & hòa nhập cộng đồng năm 2003;

- Thực hiện Hướng dẫn của Bộ Lao động – Thương binh & Xã hội tại Công văn số 2886/LĐTBXH-BTXH ngày 22/8/2003 về việc giải quyết vấn đề người lang thang xin ăn sinh sống nơi công cộng và xây dựng mô hình chăm sóc thay thế dựa vào cộng đồng;

- Xét đề nghị của Sở Lao động - Thương binh & Xã hội tại Tờ trình số 450/TT-LĐTBXH ngày 19/8/2003 về việc xin phê duyệt đề án thực hiện chính sách đối với người lang thang ăn xin trên địa bàn tỉnh;

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1: Nay ban hành Đề án thực hiện chính sách đối với người lang thang ăn xin trên địa bàn tỉnh Gia Lai (có Đề án kèm theo).

Điều 2: Các ông (bà) Chánh Văn phòng HĐND & UBND tỉnh, Giám đốc Sở Lao động - Thương binh & Xã hội, Giám đốc các Sở, Thủ trưởng các ban ngành, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.

Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký. Các quy định trước đây trái với quyết định này đều bãi bỏ./.

TM. ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNHCHỦ TỊCH

(Đã ký)Nguyễn Vỹ Hà


ĐỀ ÁN

Thực hiện chính sách đối với người lang thang ăn xin trên địa bàn tỉnh Gia Lai

(Ban hành kèm theo Quyết định số 113/2003/QĐ-UB
ngày 13 tháng 11 năm 2003 của Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai)

____________________

I- Đặt vấn đề:

- Căn cứ Thông tư số 18/2000/TT-BLĐTBXH ngày 28/7/2000 của Bộ Lao động - Thương binh & Xã hội hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 07/2000/NĐ-CP ngày 09/3/2000 của Chính phủ về chính sách cứu trợ xã hội;

- Thực hiện Công văn số 1415/CP-VX ngày 14/10/2003 của Chính phủ về kế hoạch đưa trẻ em lang thang về với gia đình & hoà nhập cộng đồng năm 2003;

- Thực hiện chỉ đạo của Bộ Lao động - Thương binh & Xã hội tại văn bản số 2886/LĐTBXH ngày 22/8/2003 về việc hướng dẫn giải quyết vấn đề người lang thang xin ăn sinh sống nơi công cộng và xây dựng mô hình chăm sóc thay thế dựa vào cộng đồng;

- Theo đề nghị của Sở Lao động - Thương binh & Xã hội, đã được các Sở, ban ngành chức năng và Ủy ban nhân dân một số huyện và thành phố liên quan tham gia ý kiến; Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai ban hành Đề án thực hiện chính sách đối với người lang thang xin ăn trên địa bàn tỉnh với các nội dung như sau:

II- Tình hình:

Hiện nay, trên địa bàn thành phố Pleiku và một số thị trấn thuộc các huyện có đông dân cư đã xuất hiện nhiều đối tượng lang thang xin ăn làm ảnh hưởng đến vẻ mỹ quan, văn minh của thành thị, gây ảnh hưởng đến tính ưu việt của chế độ ta. Các đối tượng lang thang ăn xin vì nhiều hoàn cảnh khác nhau, hoạt động dưới nhiều hình thức, ở mọi nơi, nhất là trong những quán ăn, nhà hàng, nơi buôn bán tập trung. Đặc biệt có những trường hợp giả dạng người bị tật nguyền bò lê trên những con đường vào nơi tham quan, du lịch, dã ngoại tạo nên những cảnh tượng không đẹp và nguy hiểm hơn khi có một số người dùng thủ đoạn cưỡng bức trẻ em để xin ăn để trục lợi bất chính cũng là một vấn nạn thiếu nhân tính mà mỗi người chúng ta phải quan tâm loại bỏ.

Theo số liệu thống kê, hiện nay trên địa bàn tỉnh ta có 11.143 đối tượng xã hội. Trong đó có 4.457 người già cô đơn, 3.342 người tàn tật, trong đó có 2.353 trẻ em bị tàn tật; có 1.978 trẻ em mồ côi, 33 trẻ em lang thang, 271 trẻ em phải lao động sớm, 11 trẻ em bị xâm hại tình dục. Hơn thế nữa trong trời gian qua đồng bào ở một số tỉnh phía Bắc và Miền Trung di cư tự do vào sinh sống làm cho công tác quản lý nhân hộ khẩu ở tỉnh ta ngày càng thêm khó khăn, phức tạp hơn.

Đây thật sự là nhóm có khả năng làm tăng số đối tượng lang thang xin ăn bao gồm các diện nghèo đói, người không nơi nương tựa, trẻ mồ côi, người tàn tật, tâm thần, nghiện ma túy, mại dâm trà trộn tạo nên những vấn đề bức xúc cho xã hội.

Qua điều tra sơ bộ, thì số người lang thang xin ăn hiện nay trên địa bàn tỉnh ta có vào khoảng trên 100 người, tập trung chủ yếu ở thành phố Pleiku; thị trấn An Khê và thị trấn AyunPa và một số huyện khác chưa được thống kê đầy đủ.

III- Nguyên nhân và hậu quả:

1- Nguyên nhân:

Người lang thang xin ăn là một hiện tượng xã hội tiêu cực gắn liền với tình trạng di cư tự do không thể kiểm soát được và do quá trình đô thị hóa nhanh. Nguyên nhân của hiện tượng lang thang xin ăn không đơn thuần do con người gây ra mà còn chịu sự tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của nhiều nguyên nhân khác nhau. Đa số người lang thang xin ăn là do hoàn cảnh kinh tế khó khăn, chủ yếu họ xuất thân từ những vùng nông thôn, có mức thu nhập thấp, phần lớn thuộc diện đói nghèo, trình độ văn hóa thấp nên không nhận thức được hành vi lang thang xin ăn của mình. Bên cạnh đó có một bộ phận lười lao động cho rằng đi lang thang xin ăn là một nghề dễ dàng kiếm sống và thu nhập cao.

2- Hậu quả:

Tình trạng người lang thang xin ăn là một vấn đề hết sức bức súc mà toàn xã hội phải quan tâm, nó làm ảnh hưởng xấu một bộ phận dân cư tuy không lớn nhưng thuộc nhiều thế hệ: trẻ em, người trong độ tuổi lao động, người già, người tàn tật. Nếu không có chính sách để quản lý, giáo dục và giải quyết tốt vấn đề này sẽ làm ảnh hưởng đến môi trường, cảnh quan đô thị, làm nảy sinh phát triển các hiện tượng tiêu cực của xã hội.

IV- Mục tiêu của đề án:

1- Tạo ra sự chuyển biến mạnh về nhận thức cho đối tượng, gia đình đối tượng và toàn xã hội đối với tình trạng người lang thang xin ăn, từng bước giảm dần tiến tới chấm dứt tình trạng người lang thang xin ăn trên địa bàn thành phố Pleiku nói riêng và trên địa bàn tỉnh ta nói chung. Đây là việc làm thể hiện tính nhân đạo và nhân văn của chế độ xã hội chủ nghĩa.

2- Giai đoạn từ nay đến năm 2004 giải quyết cơ bản tình trạng người lang thang xin ăn ở các nơi công cộng trên các địa phương trong toàn tỉnh.

- Giai đoạn từ 2005 trở đi vừa tiếp tục tổ chức tập trung người lang thang ăn xin, vừa xây dựng mô hình nuôi dưỡng tập trung, vừa xây dựng mô hình đưa về cộng đồng. Về lâu dài phải đưa phần lớn các đối tượng về gia đình, cộng đồng… để nuôi dưỡng, đảm bảo tính bền vững của việc trở lại cộng đồng.

V- Các biện pháp chủ yếu để triển khai thực hiện:

A- Về tổ chức:

1- Giám đốc Sở Lao động - Thương binh & Xã hội, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố có trách nhiệm phối hợp các cơ quan liên quan để tổ chức thực hiện Đề án này và chịu trách nhiệm trước Ủy ban nhân dân tỉnh.

2- Sở Lao động - Thương binh & Xã hội thành lập Đội thường trực gồm những cán bộ của Sở Lao động - Thương binh & Xã hội trong số biên chế hiện có để tiếp nhận và chuyển đối tượng đến Trung tâm Bảo trợ Xã hội Tổng hợp tỉnh để xác minh, phân loại trình các cấp xử lý theo quy định của Đề án này. Sở Lao động - Thương binh & Xã hội mời cơ quan Công an tỉnh tham gia khi trực tiếp tập trung các đối tượng theo thông tin của nhân dân…

3- Đối với các huyện, thành phố do đồng chí Chủ tịch Ủy ban nhân dân trực tiếp chỉ đạo phòng Tổ chức - Lao động và Công an triển khai thực hiện việc tập trung đối tượng và giao về tỉnh…

B- Các giải pháp:

1- Làm tốt công tác tuyên truyền trước khi thực hiện chính sách đối với người lang thang ăn xin; làm tốt công tác vận động gia đình, dòng họ; kêu gọi đối tượng lang thang xin ăn trở về gia đình, cộng đồng.

2- Sở Lao động - Thương binh & Xã hội chủ trì, phối hợp với Công an tỉnh, các cơ quan liên quan và Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố tiến hành xác minh lập danh sách, phát hiện và thực hiện tập trung các đối tượng về Trung tâm Bảo trợ Xã hội Tổng hợp tỉnh để phân loại đối tượng theo hướng:

- Loại đối tượng có địa chỉ:

+ Có gia đình, người thân thì thông báo cho gia đình, người thân đến nhận về.

+ Có địa chỉ nhưng không có gia đình, người thân thì lập hồ sơ đưa vào Trung tâm Bảo trợ Xã hội Tổng hợp tỉnh quản lý, nuôi dưỡng.

- Loại đối tượng không có địa chỉ:

+ Xác minh, làm rõ thời gian từ 7-10 ngày.

+ Khi xác minh rõ nhân thân, địa chỉ thì xử lý như đã nêu ở phần trên.

3- Qua xác minh phân loại, đối tượng nào thực sự cần đưa vào Trung tâm Bảo trợ Xã hội Tổng hợp tỉnh quản lý, nuôi dưỡng thì tiến hành lập hồ sơ đua vào Trung tâm nuôi dưỡng theo đúng quy định.

4- Những đối tượng lang thang xin ăn có bệnh tâm thần, bệnh lây nhiễm, người tàn tật thì phối hợp với ngành y tế đưa họ vào các cơ sở y tế để theo dõi điều trị.

5- Các đối tượng đã đưa về Trung tâm Bảo trợ Xã hội Tổng hợp tỉnh, sau thời gian phân loại phải tổ chức đưa họ về gia đình, cộng đồng; vận dụng thực hiện hỗ trợ sinh hoạt phí có thời hạn như ở tại Trung tâm. Làm tốt công tác vận động để họ không quay lại lang thang ăn xin. Những người đã vào Trung tâm Bảo trợ Xã hội khi về với gia đình, cộng đồng đã được Nhà nước hỗ trợ chi phí nhưng lại tái phạm thì lập hồ sơ đưa đi cải tạo cưỡng bức lao động theo quy định chung.

6- Tổ chức vận động gia đình, dòng họ, thôn, làng cùng nâng đỡ người lang thang ăn xin. Kêu gọi, khuyến khích các nhà hảo tâm, các tổ chức hỗ trợ hoặc nhận đỡ đầu nuôi dưỡng. Tăng cường công tác quản lý hộ tịch, hộ khẩu ở các tụ điểm có người lang thang xin ăn. Phối hợp chặt chẽ với gia đình, xã hội, các cơ quan quản lý ở địa phương để làm tốt công tác giáo dục, tuyên truyền, vận động.

7- Tổ chức các hoạt động dạy nghề, các hoạt động sản xuất để tạo cơ hội cho các đối tượng có cơ hội lao động nuôi dưỡng bản thân; về lâu dài phải đưa trở lại gia đình và cộng đồng. Đối với những trường hợp sau khi phân loại đưa vào Trung tâm Bảo trợ Xã hội Tổng hợp tỉnh.

8- Những tổ chức, cá nhân có trách nhiệm khai báo, chỉ chỗ và phối hợp để cơ quan chức năng tập trung đối tượng lang thang ăn xin về cơ sở bảo trợ xã hội, Sở Lao động-Thương binh & Xã hội tổng hợp đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh khen thưởng. Tổ chức, cá nhân nào có hành vi chống lại chủ trương này đều bị coi là vi phạm pháp luật và phải được xử lý theo đúng pháp luật.

VI/ Phân công trách nhiệm:

Sở Lao động - Thương binh & Xã hội là cơ quan chủ trì, phối hợp với các cơ quan, hội đoàn thể có liên quan và Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố chịu trách nhiệm chủ trì, lập kế hoạch, hướng dẫn thực hiện chính sách đối với người lang thang xin ăn; tiếp nhận, nuôi dưỡng đối tượng trong thời gian chờ phân loại đối tượng tại các cơ sở bảo trợ xã hội thuộc Sở Lao động - Thương binh & Xã hội; hoàn chỉnh hồ sơ, thủ tục đưa đối tượng vào các cơ sở bảo trợ xã hội thuộc Sở Lao động - Thương binh & Xã hội để nuôi dưỡng khi đủ điều kiện theo quy định gởi về địa phương tiếp tục theo dõi quản lý. Đối với các đối tượng lang thang ăn xin ở ngoài tỉnh đến tỉnh Gia Lai thì lập hồ sơ và thông báo cho các địa phương đó tới tiếp nhận về. Hàng tháng được tổng hợp báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh để theo dõi chỉ đạo.

Các ngành của tỉnh: Công an tỉnh, Sở Tài chính - Vật giá, Sở Kế hoạch - Đầu tư, Ủy ban Dân số - Gia đình & Trẻ em tỉnh, Sở Y tế, các tổ chức chính trị - xã hội có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với sở Lao động - Thương binh & Xã hội để thực hiện tốt Đề án này.

Ủy ban Dân số - Gia đình & Trẻ em tỉnh có kế hoạch phối hợp với các ngành chức năng và Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố triển khai tốt chỉ đạo của Chính phủ tại Công văn số 1415/CP-VX ngày 14/10/2003.

Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố phối hợp với Sở Lao động - Thương binh & Xã hội và các cơ quan liên quan của tỉnh có kế hoạch triển khai tốt Đề án này ngay tại địa phương.

Sở Lao động - Thương binh & Xã hội phối hợp với Sở Kế hoạch & Đầu tư và Sở Tài chính - Vật giá và các cơ quan liên quan căn cứ vào số lượng các nhóm đối tượng xã hội, các nhu cầu kinh phí như xây dựng thêm nhà ở cho đối tượng tại cơ sở bảo trợ xã hội, trang thiết bị thiết yếu cho cơ sở bảo trợ xã hội để có nơi tập trung, quản lý, nuôi dưỡng; hỗ trợ kinh phí chi cho hoạt động của các đội thường trực, thành lập đường dây nóng, hoạt động tuyên truyền, sơ, tổng kết, khen thưởng... các mức cứu trợ xã hội và kinh phí hoạt động thuộc nguồn đảm bảo xã hội để chi cho công tác này trình Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét quyết định./.

Tổng quan văn bản

Số ký hiệu113/2003/QĐ-UB
Ngày ban hành13/11/2003
Loại văn bảnQuyết định
Ngày có hiệu lực13/11/2003
Nguồn thu thậpCơ sở dữ liệu
Ngày đăng công báo---
Cơ quan ban hành / Người kýUBND tỉnh Gia Lai / Nguyễn Vỹ Hà
Phạm viGia Lai
Trích yếuVề việc ban hành Đề án thực hiện chính sách đối với người lang thang xin ăn trên địa bàn tỉnh Gia Lai
Tình trạng hiệu lựcCòn hiệu lực

Chưa có thông tin lược đồ

Văn bản này hiện chưa được cập nhật dữ liệu về lược đồ liên quan.