Quay lại

Quyết định 1151/2004/QĐ-UB về việc ban hành quy định về công tác hòa giải ở xã, phường, thị trấn và ở cơ sở

UBND TỈNH VĨNH LONG
-------

Số: 1151/2004/QĐ-UB

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------------------------

tỉnh Vĩnh Long, ngày 04 tháng 05 năm 2004

QUYẾT ĐỊNH

Về việc ban hành quy định về công tác hòa giải ở xã, phường, thị trấn và ở cơ sở

_____________________

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG

- Căn cứ Luật tổ chức Hội đồng Nhân dân và ủy ban Nhân dân được Quốc hội thông qua ngày 26/11/2003;

- Căn cứ Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở dược Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua ngày 25/12/1998 và Nghị định số 160/1999/NĐ-CP ngày 18/10/1999 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở;

- Xét tờ trình số 143/TTr-STP ngày 20/4/2004 của Giám đốc Sở Tư pháp.

QUYẾT ĐỊNH

Điều1. Nay ban hành kèm theo Quyết định này Quy định về công tác hòa giải ở xã, phường, thị trấn và ở cơ sở.

Điều 2. Giao Giám đốc Sở Tư pháp, Giám đốc Sở Tài chính chịu trách nhiệm hướng dẫn thi hành quy định này.

Điều 3. Các Ông, (bà): Chánh Văn phòng UBND tỉnh, Giám đốc Sở Tư pháp, Thủ trưởng các sở, ban, ngành có liên quan, Chủ tịch UBND các huyện, thị và Chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.

- Quyết định có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày ký./.

T.M ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH

KT. CHỦ TỊCH

PHÓ CHỦ TỊCH

(Đã ký)

Phạm Văn Đấu

QUY ĐỊNH

Về công tác hòa giải ở xã, phường, thị trấn và hòa giải ở cơ sở

(Ban hành kèm theo Quyết định số: /2004/QĐ.UB ngày tháng năm 2004 của UBND tỉnh Vĩnh Long)

____________________

Nhằm phát huy truyền thống tốt đẹp tương thân tương ái và đoàn kết trong cộng đồng dân cư, xây dựng tình làng nghĩa xóm, xây dựng một xã hội yên vui, cường thịnh, hạn chế khiếu kiện, không để phát sinh mâu thuẫn từ cơ sở, chủ động phòng ngừa vi phạm pháp luật, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Úy ban Nhân dân tỉnh Vĩnh Long quy định về công tác hòa giải ở xã, phường, thị trấn và ở cơ sở như sau:

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Quy định này được áp dụng cho:

- Việc hòa giải của chính quyền cấp xã, phường, thị trấn trong tỉnh.

- Việc hòa giải của các tổ hòa giải ở cơ sở.

Điều 2. Chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền hòa giải:

1- Ban hòa giải được thành lập ở xã, phường, thị trấn (gọi chung là hòa giải ở cấp xã) do Chủ tịch UBND xã - Trưởng ban tiến hành hòa giải các tranh chấp theo quy định của pháp luật.
2- Tổ hòa giải ở cơ sở được thành lập ở khóm, ấp, cụm dân cư để tiến hành hòa giải đối với những mâu thuẫn, xích mích và tranh chấp nhỏ trong cộng đồng dân cư theo quy định của Pháp lệnh tố' chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở.
3- Các tranh chấp nhỏ trong nhân dân phải được tiến hành hòa giải tại Tổ hòa giải ở cơ sở nơi phát sinh tranh chấp. Trường hợp hòa giải không thành thì chuyển tiếp đến Ban hòa giải cấp xã tiếp nhận hòa giải.
4- Trong trường hợp hòa giải không thành thì các tài liệu liên quan đến việc hòa giải, được sử dụng cho việc giải quyết tranh chấp tiếp theo của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo qui định pháp luật.
Chương II
TRÌNH TỰ, THỦ TỤC HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ
Điều 3.Tiếp nhận vụ việc hòa giải:
- Tổ viên Tổ hòa giải tiếp nhận vụ việc hòa giải trong những trường hợp sau:
Theo đơn yêu cầu hoặc trình bày của một hoặc các bên tranh chấp.
2- Theo yêu cầu, đề nghị của đại diện chính quyền, Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể ở cơ sở.
3- Theo sự phân công của Tổ trưởng Tổ hòa giải.
4- Theo phát hiện của tổ viên tổ hòa giải trong những trường hợp xô xát, gây mất trật tự hoặc những hành vi vi phạm pháp luật nhỏ chưa đến mức xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.
Điều 4.Các bước hòa giải:
Việc hòa giải ở tổ hòa giải phải được tiến hành theo 3 bước sau:
Trước khi hòa giải:
Tổ viên Tổ hòa giải phải tìm hiểu, nắm chắc đối tượng, sự việc, nguyên nhân phát sinh tranh chấp, tham khảo ý kiến những người xung quanh (nếu cần) dự kiến thời gian, địa điểm, người tham gia hòa giải. Đối với những vụ xô xát, gây mất trật tự chung, nhắc nhở những người xung quanh không được kích động gây căng thẳng, dàn xếp ổn định trên tinh thần xây dựng. Trường hợp vụ việc phức tạp
phải hội ý trong tố’ hòa giải để đưa ra hướng hòa giải. Sau đó phân công cụ thể Tổ viên trong tổ hòa giải tiếp tục theo dõi, giải quyết tranh chấp.
2- Trong khi hòa giải:
Trong bước này, tổ viên tổ hòa giải có thể thực hiện những công việc sau:
- Trình bày tóm tắt nội dung sự việc đưa ra hòa giải.
- Giới thiệu những người có mặt trong cuộc hòa giải.
- Hướng dẫn các bên tranh chấp trình bày ý kiến của mình.
- Hòa giải viên trao đổi, phân tích vụ việc, làm rõ đúng sai, dựa vào qui định cửa pháp luật, truyền thống đạo đức, phong tục tập quán để phân tích cho các bên thấy rõ lỗi của mình.
- Nắm chắc đặc điểm, tâm lý của từng đương sự cũng như tính chất vụ việc để áp dụng nghệ thuật hòa giải, tránh vội vàng nôn nóng "chụp mũ" hoặc làm tổn hại đến danh dự tự ái cá nhân của các bên.
- Khi hòa giải chủ yếu dùng tình cảm, uy tín, lẽ phải, các qui định của pháp luật để thuyết phục các bên, không nên hình thức, phức tạp hóa trong khâu tổ chức thực hiện.
- Hòa giải viên mời người làm chứng, người đại diện các tổ chức hoặc người cao tuổi, có uy tín, có kinh nghiệm trong cuộc sống tham gia hòa giải phát biểu ý kiến.
- Các ý kiến trao đổi trong cuộc hòa giải phải tạo ra thân mật, thành thật, chân thành trên cơ sở "tình làng nghĩa xóm" không lấy biểu quyết hoặc áp lực, áp đặt thỏa thuận của các bên.
- Việc hòa giải phải lập thành biên bản, tùy theo vụ việc đưa ra hòa giải phức tạp hay dơn giản hoặc theo yêu cầu của các bên. Biên bản hòa giải phải ghi lại toàn bộ diễn biến cuộc hòa giải và kết quả hòa giải, có chữ ký (hoặc điểm chỉ) của các bên tham gia hòa giải,
người làm chứng, người có quyền và nghĩa vụ liên quan (nếu có) người chủ trì cuộc hòa giải... .
- Người chủ trì hòa giải phải có ý kiến kết luận, quyết định về vụ hòa giải.
3- Sau khi hòa giải:
Trong bước này người tiến hành hòa giải có thể thực hiện các công việc sau:
- Nếu vụ việc hòa giải thành: cần đi lại động viên, thăm hỏi các bên và nhắc nhở các bên thực hiện cam kết của mình; tạo điều kiện để họ thực hiện tốt cam kết. Có thể biểu dương động viên kịp thời việc thực hiện các cam kết của các bên trong các cuộc họp khóm, ấp, tổ tự quản...
- Nếu vụ việc hòa giải không thành thì tổ hòa giải cần dàn xếp ổn định và hướng dẫn các bên đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết.
- Việc hòa giải thành hoặc không thành người trực tiếp hòa giải cũng cần ghi chép vào sổ công tác về vụ việc hòa giải, để phục vụ cho việc thống kê báo cáo và tổ chức hội ý rút kinh nghiệm trong tổ hoặc dể xin ý kiến chỉ dạo của Ban tư pháp.
4- Một số chú ý khi tiến hành hòa giải:
Ngoài những nội dung trên đây, khi hòa giải ở cơ sở, người hòa giải cần chú ý một số điểm sau:
- Cần thường xuyên nắm tình hình để kịp thời phát hiện và có các biện pháp thích hợp để ngăn chặn các vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong nội bộ dân cư.
- Cần tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của các cá nhân, tổ chức có liên quan đến vụ việc hòa giải, đặc biệt là những người có vai trò quan trọng và uy tín cao trong gia đình, họ tộc và trong các cộng đồng dân cư.
- Chỉ được vận dụng các phong tục tập quán tốt đẹp vào việc hòa giải khi các phong tục tập quán đó không trái với những qui định của Đảng và nhà nước.
- Thời gian hòa giải ở cơ sở không quá 15 ngày kể từ ngày tiếp nhận vụ việc.
Điều 5. Hồ sơ hòa giải ở cơ sở:
Tổ hòa giải có sổ tiếp nhận việc hòa giải và theo dõi giải quyết việc hòa giải phát sinh ở cơ sở. Sổ theo dõi phải phản ảnh được những nội dung: ngày, tháng, năm tiếp nhận, tên, họ, địa chỉ của các bên tranh chấp, nội dung tranh chấp, tên, họ Tổ viên chịu trách nhiệm giải quyết, kết quả giải quyết.
2- Đối với một vụ hòa giải thành phải có những hồ sơ, tài liệu như sau:
- Đơn yêu cầu của một hoặc các bên tranh chấp (nếu có).
- Biên bản ghi nhận nội dung trình bày của các bên với tổ hòa giải.
- Các tài liệu, chứng cứ có liên quan đến nội dung tranh chấp( nêu có) do các bên cung cấp hoặc do tổ viên tổ hòa giải thu thập được (giấy tờ liên quan đến nhà, đất, thừa kế, mua bán, tặng cho tài sản...)
- Biên bản hòa giải có chữ ký (dấu vân tay, hoặc điểm chỉ) của các bên tranh chấp, người làm chứng, người có quyền và nghĩa vụ liên quan( nếu có).
3- Trong trường hợp hòa giải không thành, biên bản phải ghi rõ nguyên nhân, nội dung mâu thuẫn chưa thống nhất, hồ sơ hòa giải không thành được chuyển về Ban tư pháp xã thụ lý giải quyết tiếp hoặc cung cấp cho các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác ( nếu có yêu cầu).
Chương III:
TRÌNH TỰ, THỦ TỤC HÒA GIẢI Ở CẤP XÃ
Điều 6. Ban hòa giải thuộc UBND cấp xã tiếp nhận việc hòa giải đối với các nội dung tranh chấp sau:
Những việc vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong cộng đồng dân cư theo qui định của Pháp lệnh tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở, đã được hòa giải ở tổ hòa giải cơ sở nhưng kết quả không thành, các bên chưa đạt được thỏa thuận.
2- Các tranh chấp đất đai giữa cá nhân với cá nhân trong phạm vi ở xã theo quy định tại khoản 1, điều 38 Luật đất đai.
3- Các tranh chấp do Tòa án Nhân dân huyện, thị chuyển đến.
Điều 7.Thành phần tham dự cuộc hòa giải:
Chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn chủ trì cuộc hòa giải
2- Đại diện Ủy ban Mặt trận tổ quốc, dại diện các tổ chức thành viên của mặt trận ở cơ sở (nếu có).
3- Cán bộ Tư pháp, Địa chính, Thanh tra, công an... (tùy theo tính chất các vụ việc hòa giải)
4- Các bên tranh chấp (Trường hợp liên quan nhiều người thì có thể cử đại diện hoặc tất cả cùng tham dự)
5- Đại diện Tổ hòa giải ở cơ sở đã giải quyết vụ hòa giải không thành:
Đối với các tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia dinh cuộc họp phải có Ban Tư pháp xã tham gia.
Điều 8. Trình tự, thủ tục hòa giải ở cấp xã:
Tổ chức đối thoại giữa các bên tranh chấp dưới sự chứng kiến của Ban hòa giải xã; Cuộc họp được tiến hành theo trình tự sau:
a/- Các bên có tranh châp được quyền tranh luận dưới sự điều khiển của chủ tọa cuộc họp.
b/- Thành viên tham dự cuộc hòa giải được quyền hỏi thêm một số vấn dề chưa rõ qua trình bày của các bên, không tranh luận, chưa xác định quan điểm đúng sai trong vụ tranh chấp đang được hòa giải.
d- Trên cơ sở quy định của pháp luật và kết quả xác minh, thu thập được qua hòa giải, chủ tọa cuộc họp nhận xét, kết luận vụ việc.
2- Biên bản cuộc họp hòa giải (nếu có) phải ghi đầy đủ thành phần tham dự cuộc họp, những chi tiết sự kiện có liên quan, những nội dung các bên chưa thống nhất để phục vụ cho việc xác minh, giải quyết tiếp sau này đối với các trường hợp hòa giải không thành.
3- Đối với những vụ việc phức tạp, trước khi tổ chức hòa giải, phải tiến hành xác minh làm rõ sự việc.
Trong tổ chức đối thoại giữa các bên tham gia hòa giải, Ban hòa giải có thể cho đốì chất làm rõ các nội dung này và được ghi vào biên bản đầy đủ.
4- Thời gian hòa giải ở cấp xã không quá 30 ngày, trường hợp hòa giải thấy khả năng có thể hòa giải được thì có thể kéo dài việc hòa giải quá thời hạn quy định cho đến khi một trong hai bên yêu cầu chuyển tiếp lên cơ quan có thẩm quyền cấp trên thì mới chuyển.
Điều 9.Hồ sơ vụ hòa giải ở cấp xã:
Đơn yêu cầu của một hoặc các bên tranh chấp.
2- Tài liệu, chứng cứ có liên quan đến nội dung hòa giải (nếu có) do các bên cung cấp hoặc Ban hòa giải thu thập được từ các nguồn;
3- Biên bản hòa giải không thành của tổ hòa giải ở cơ sở.
4- Biên bản hòa giải của Ban hòa giải cấp xã phải có chữ ký của các bên hòa giải, người chủ trì cuộc họp, đóng dấu UBND, giao cho các bên hòa giải mỗi bên 01 bản.
5- Hồ sơ hòa giải phải dược đánh số bút lục và phải được chuyển cho cơ quan có thẩm quyền cấp trên khi có yêu cầu.
Điều 10.Ban Tư pháp xã, phường, thị trấn chịu trách nhiệm lập hồ sơ theo dõi quản lý toàn bộ tài liệu, chứng từ có liên quan đến vụ việc hòa giải thuộc phạm vi, thẩm quyền của Ban hòa giải xã giải quyết.
Chương IV
TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Điều 11. Kiện toàn tổ chức hòa giải ở cơ sở:
- Đối với các tổ chức hòa giải hiện có: Ban tư pháp phối hợp với Ủy ban MTTQ xã, phường, thị trấn và trưởng khóm, ấp tiến hành rà soát sô' Tổ hòa giải, sô' Tổ viên Tổ hòa giái về sô' lượng, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và khả năng đáp ứng nhu cầu công tác, sô' người cần được bổ sung, các trường hợp thôi không làm tổ hòa giải (nếu có); Trên cơ sở đó đề xuất ý kiến về mặt tổ chức, hoạt dộng, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho Tổ viên Tổ hòa giải và trình danh sách sô' Tổ hòa giải, Tổ viên Tổ hòa giải đủ điều kiện để Chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn xem xét ra quyết định công nhận.
- Đôi với những nơi cần thành lập Tổ hòa giải, Ban tư pháp phối hợp với MTTQ xã, phường, thị trấn xác định sô' lượng Tổ hòa giải cần thành lập mới, hướng dẫn việc bầu Tổ trưởng Tổ hòa giải và chuẩn bị thủ tục cần thiết trình Chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn quyết định công nhận việc thành lập Tổ hòa giải và kết quả bầu Tổ' trưởng Tổ hòa giải.

Điều 12. Tập huấn nghiệp vụ hòa giải:

Tập huấn nghiệp vụ hòa giải do UBND cấp huyện tổ chức trên địa bàn từng xã, cụm xã hoặc tất cả các xã trong huyện, tùy tình hình cụ thể ở mỗi địa phương. Các lớp tập huấn này có thể được tổ chức định kỳ mỗi năm một lần hoặc tổ chức theo chuyên đề khi có những văn bản pháp luật mới được thông qua liên quan trực tiếp đến đời sống nhân dân địa phương. Nội dung các đợt tập huấn nên xây dựng linh hoạt mềm dẻo và phù hợp với đặc thù công tác hòa giải ở từng địa phương. Có thể tập huấn về kỹ năng hòa giải kết hợp giới thiệu các qui định của pháp luật liên quan trực tiếp đến hoạt dộng hòa giải ở cơ sở.

Điều 13. Tổ chức hội nghị sơ kết, tổng kết hoặc tọa dàm trao dổi kinh nghiệm về hoạt dộng hòa giải ở cơ sở được tổ chức định kỳ 6 tháng, 1 năm do UBND cấp xã tổ chức. Đây là diễn đàn để các hòa giải viên có điều kiện giao lưu trao đổi kinh nghiệm với nhau, giúp nhau tháo gỡ những khó khăn trong thực tiễn công tác.

Điều 14. Cung cấp tài liệu, văn bản pháp luật cho đội ngũ hòa giải viên, đây là biện pháp nhằm giúp các hòa giải viên kịp thời cập nhật các văn bản pháp luật mới ban hành. Vì vậy, Phòng tư pháp cấp huyện, Ban tư pháp cấp xã cần có kế hoạch và biện pháp cụ thể để cung cấp đầy đủ các văn bản pháp luật liên quan đến công tác hòa giải ở cơ sở cho các hòa giải viên.

Việc cung cấp tài liệu, văn bản pháp luật cho đội ngũ hòa giải viên hiện chưa đáp ứng được, thì UBND cấp xã cần đẩy mạnh công tác xây dựng, quản lý tủ sách pháp luật, mua sách bổ sung hàng năm đầy đủ theo qui định, để có nguồn văn bản pháp luật cho các hòa giải viên tham khảo, vận dụng trong hoạt động hòa giải.

Điều 15. Kinh phí phục vụ cho công tác hòa giải:

Kinh phí phục vụ cho công tác hòa giải ở cơ sở và hòa giải ở cấp xã (Bao gồm hòa giải ở Ban và hòa giải ở Tổ) do ngân sách xã, phường, thị trấn chi và được ghi vào định mức chi ngân sách hàng năm thuộc cấp mình quản lý. Mức chi bồi dưỡng là 20.000đ cho một cuộc hòa giải theo nội dung công văn số 552/UB ngày 21/4/2003 của UBND tỉnh về việc hỗ trợ kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở.

Điều 16. Giám đốc Sở Tài chính chịu trách nhiệm hướng dẫn, quy định cụ thể định mức ngân sách các cấp phục vụ cho công tác hòa giải và bồi dưỡng theo chức năng của ngành tài chính để cơ sở tổ chức thực hiện.

Điều 17. Giám đốc Sở Tư pháp chịu trách nhiệm phôi hợp với Giám đốc Sở Tài nguyên môi trường, Chánh Thanh tra tỉnh, Giám đốc Sở Tài chính, các ngành chức năng có liên quan và Chủ tịch UBND các huyện, thị xã triển khai thực hiện việc củng cố) kiện toàn, chỉ đạo công tác hòa giải ở cơ sở, hòa giải ở xã, phường, thị trấn theo Pháp lệnh, Nghị định hướng dẫn của Chính phủ và nội dung quy định này.

Tổng quan văn bản

Số ký hiệu1151/2004/QĐ-UB
Ngày ban hành04/05/2004
Loại văn bảnQuyết định
Ngày có hiệu lực19/05/2004
Nguồn thu thậpCơ sở dữ liệu
Ngày đăng công báo---
Cơ quan ban hành / Người kýUBND tỉnh Vĩnh Long / Phạm Văn Đấu
Phạm viVĩnh Long
Trích yếuVề việc ban hành quy định về công tác hòa giải ở xã, phường, thị trấn và ở cơ sở
Tình trạng hiệu lựcCòn hiệu lực

Chưa có thông tin lược đồ

Văn bản này hiện chưa được cập nhật dữ liệu về lược đồ liên quan.