Quay lại

Quyết định 119/2002/QĐ-UB v/v Ban hành Đề án Tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) và Phương hướng phát triển khoa học và công nghệ thành phố Đà Nẵng từ nay đến năm 2010

UBND THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
-------

Số: 119/2002/QĐ-UB

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------------------------

thành phố Đà Nẵng, ngày 19 tháng 11 năm 2002

QUYẾT ĐỊNH CỦA ỦY BAN NHÂN DẦN

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

V/v Ban hành Đề án Tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) và Phương hướng phát triển khoa học và công nghệ thành phố Đà Nẵng từ nay đến năm 2010

________________________

ỦY BAN NHÂN DÂN

- Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân (sửa đổi) ngày 21 tháng 6 năm 1994;

- Căn cứ Luật Khoa học và Công nghệ ngày 09 tháng 6 năm 2000;

- Căn cứ Nghị định số 81/2002/NĐ-CP ngày 17 tháng 10 năm 2002 của Chính phủ về việc Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Khoa học và Công nghệ;

- Căn cứ Kết luận của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa IX về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương II khóa VIII, phương hướng phát triển giáo dục - đào tạo, khoa học và công nghệ từ nay đến năm 2005 và đến năm 2010;

- Căn cứ ý kiến của Thường vụ Thành ủy Đà Nẵng góp ý dự thảo;

Theo đề nghị của Giám đốc Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường tại Công văn số 564/SKCM ngày 14 tháng 11 năm 2002,

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1: Ban hành kèm theo Quyết định này Đề án Tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) và Phương hướng phát triển khoa học và công nghệ thành phố Đà Nẵng từ nay đến năm 2010.

Điều 2: Giao Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường làm cơ quan thường trực thực hiện Đề án này; đồng thời, làm đầu mối tổng hợp tham mưu cho Ủy ban nhân dân thành phố chỉ đạo xử lý các vướng mắc, khó khăn (nếu có) trong quá trình thực hiện Đề án.

Giám đốc các Sở, Thủ trưởng các Ban, ngành và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các quận, huyện căn cứ chức năng, nhiệm vụ của mình và trách nhiệm được phân công chủ động phối hợp triển khai thực hiện có hiệu quả Đề án này.

Điều 3: Quyết định có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày ký.

Điều 4: Chánh Văn phòng HĐND và UBND thành phố, Giám đốc các Sở, Thủ trưởng các Ban, ngành; Chủ tịch UBND các quận, huyện căn cứ Quyết định thi hành.

TM. UBND THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

KT. CHỦ TỊCH

PHÓ CHỦ TỊCH

(Đã ký)

HOÀNG TUẤN ANH

ĐỀ ÁN

TIẾP TỤC THỰC HIỆN NGHỊ QUYT TRUNG ƯƠNG 2 (KHÓA VIII) VÀ PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THÀNH PHỐ TỪ NAY ĐN NĂM 2010

(Ban hành kèm theo Quyết định số: 119/2002/QĐ-UB ngày 19 tháng 11 năm 2002 của y ban nhân dân thành phố Đà Nẵng)

________________________

Phần 1

TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NGHỊ QUYT TRUNG ƯƠNG 2 (KHÓA VIII) V KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THÀNH PHỐ

I. ĐÁNH GIÁ KHÁI QUÁT VIỆC THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT

1. Những kết quả đạt được

Việc tổ chức triển khai quán triệt Nghị quyết đã được thực hiện tốt ở cấp thành phố, một số ngành, địa phương và cơ sở. Nhờ đó, đã tạo được một bước chuyển mới trong nhận thức của các cấp, các ngành và toàn thể nhân dân về vị trí, vai trò của KH&CN trong sự phát triển kinh tế - xã hội của thành phố. Các ngành, các cấp quan tâm, chú trọng hơn đến KH&CN. Một số doanh nghiệp đã có sự chuyển biến rõ rệt trong công tác nghiên cứu cải tiến công nghệ, đa dạng hóa sản phẩm.

Hoạt động nghiên cứu KH&CN bước đầu có những đóng góp quan trọng cung cấp các luận cứ khoa học và thực tiễn cho việc nâng cao năng lực quản lý và phát triển kinh tế-xã hội. Phần lớn các kết quả nghiên cứu được ứng dụng vào sản xuất, đời sống.

Việc đầu tư đổi mới thiết bị, công nghệ trong một số ngành được chú trọng. Hệ số đổi mới công nghệ toàn ngành công nghiệp thành phố năm 2001 khoảng 20%, riêng ngành dệt - may đạt khoảng 70%; ngày càng có nhiều sản phẩm đạt chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu thị trường trong và ngoài nước.

Hoạt động sáng kiến, cải tiến kỹ thuật đã được chú trọng. Phong trào thi đua lao động sáng tạo được nhiều doanh nghiệp, đơn vị hưởng ứng và đạt kết quả tốt.

Kinh phí đầu tư cho KH&CN tăng dần hàng năm; hoạt động hợp tác trong nước và quốc tế đạt kết quả tốt. Nhờ đó, tiềm lực KH&CN bước đầu được củng cố và tăng cường, đáp ứng một phần yêu cầu phát triển và quản lý KH&CN của thành phố.

Với sự hình thành và đi vào hoạt động của Trung tâm Công nghệ phần mềm từ cuối năm 2000 đến nay, nền công nghệ thông tin nói chung và công nghệ phần mềm nói riêng của thành phố đã có khởi sắc đáng khích lệ.

2. Tồn tại

Chưa xác định được trọng tâm thật rõ ràng trong lĩnh vực nghiên cứu triển khai, số lượng đề tài tuy nhiều, nhưng qui mô quá nhỏ bé, manh mún, nên chỉ giải quyết những vấn đề đơn lẻ, tuy cần thiết, nhưng không mang tính đột phá. Không có các chương trình nghiên cứu tổng hợp, toàn diện cho từng lĩnh vực. Công tác điều tra cơ bản điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội chưa được chú trọng. Lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn chưa được quan tâm đúng mức. Việc ứng dụng kết quả nghiên cứu vào sản xuất và đời sống còn gặp nhiều khó khăn.

Công tác quản lý nhà nước về công nghệ còn lúng túng. Việc thẩm định công nghệ dự án đầu tư chưa theo đúng các qui định của Nhà nước. Còn nhiều dự án được triển khai mà không qua thẩm định công nghệ. Đổi mới công nghệ chưa trở thành nhu cầu thiết yếu của nhiều doanh nghiệp, dẫn đến tình trạng hiện phần lớn các ngành, doanh nghiệp có công nghệ sản xuất lạc hậu nhưng. chậm đổi mới. Thành phố cũng chưa có cơ chế, chính sách đủ mạnh để tạo bước chuyển biến căn bản trong lĩnh vực này.

Thị trường công nghệ ở thành phố vẫn chưa hình thành. Sự liên kết, hợp tác giữa khoa học và sản xuất còn yếu.

Đội ngũ cán bộ KH&CN ở thành phố, tuy đông về số lượng, nhưng vẫn thiếu chuyên gia giỏi có khả năng tổ chức thực hiện những chương trình, dự án nghiên cứu lớn. Trình độ cán bộ quản lý còn hạn chế, sự yếu kém thể hiện rõ nhất ở năng lực thẩm định, đánh giá công nghệ, xây dựng dự án hay xem xét những vấn đề có tính khoa học phức tạp. Đội ngũ cán bộ chưa được chuẩn bị tốt để thực hiện chủ trương "đi tắt đón đầu". Thành phố chưa có cơ chế phù hợp để thu hút lực lượng cán bộ KH&CN đông đảo có trên địa bàn.

3. Nguyên nhân

Các ngành, các cấp chưa được quán triệt và nhận thức một cách thực sự đầy đủ và sâu sắc, quan điểm"Khoa học và công nghệ là nội dung then chốt trong mọi hoạt động của tất cả các ngành, các cấp... Khoa học và công nghệ không chỉ là công việc của các nhà khoa học và công nghệ, các nhà quản lý khoa học và công nghệ, mà là công việc của mọi ngành, mọi cấp"chưa có sự quan tâm đúng mức đối với KH&CN.

Năng lực nghiên cứu khoa học ở các ngành, các doanh nghiệp hạn chế. Cơ chế quản lý nghiên cứu triển khai hiện hành không phát huy được sự chủ động và năng lực sáng tạo của các ngành và cả đội ngũ cán bộ KH&CN.

Hệ thống quản lý KH&CN chậm được kiện toàn và củng cố; cơ chế quản lý chậm được đổi mới, đã có ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển KH&CN nói chung và việc triển khai thực hiện Nghị quyết nói riêng. Năng lực của cơ quan quản lý KH&CN các cấp còn hạn chế cả về số lượng và chất lượng.

Việc tập hợp và huy động đội ngũ cán bộ KH&CN trên địa bàn lúng túng, thụ động và chưa có cơ chế rõ ràng. Chưa tạo được không khí dân chủ thực sự để huy động nguồn lực "chất xám" trên địa bàn.

Trung ương chậm ban hành các chính sách, giải pháp về kiện toàn hệ thống tổ chức quản lý KH&CN, chính sách đối với cán bộ KH&CN, chính sách đa dạng hóa nguồn vốn, mô hình quản lý KH, CN & MT cấp huyện... về phía thành phố cũng chưa có được các chính sách phù hợp với điều kiện địa phương để thúc đẩy KH&CN phát triển.

Vì nhiều lý do như đã nêu trên, các kết quả đạt được so với yêu cầu và mục tiêu của Chương trình hành động của Thành ủy thực hiện Nghị quyết còn hạn chế.Khoa học và công nghệ chưa có những đóng góp lớn có ý nghĩa tạo ra những chuyển biến mạnh về mặt năng suất, chất lượng và hiệu quả, chưa thực sự trở thành động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội của thành phố.

II. THỰC TRẠNG TIỀM LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

1. Độingũ cán bộ khoa học và công nghệ

Trên địa bàn Đà Nẵng có 25.000 người có trình độ đại học và trên đại học (25 người/1000 dân); số có trình độ trên đại học là 717 người (0,7 người/ 1000 dân), tập trung chủ yếu ở Đại học Đà Nẵng, Phân viện Đà Nẵng - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Đây là nguồn nhân lực khá đông đảo phục vụ cho sự phát triển của thành phố. Tuy nhiên, số ngưòi có học hàm, học vị cao còn ít.

Phần lớn cán bộ có trình độ từ đại học trở lên do Thành phố quản lý làm việc trong ngành giáo dục - đào tạo và y tế. Khối công nghiệp, thương mại, dịch vụ có tỉ lệ cán bộ trình độ đại học trở lên thấp. Việc bố trí sử dụng đội ngũ này chưa thật hợp lý; sự phân bổ theo vùng lãnh thổ rất mất cân đối, chủ yếu tập trung ở cấp thành phố, số làm trực tiếp ở cơ sở rất ít.

Trong những năm qua, đội ngũ KH&CN đã có những đóng góp tích cực cho sự phát triển của Thành phố. Nhìn chung, đội ngũ KH&CN tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và sự nghiệp đổi mới của đất nước. Tuy nhiên, một bộ phận không nhỏ còn có tư tưởng "an phận", thiếu năng động.

2. Cơ sở vật chất kỹ thuật

Nhìn chung, cơ sở vật chất kỹ thuật về KH&CN còn yếu kém và lạc hậu, trừ một số ít đơn vị của Trung ương và Thành phố được đầu tư hiện đại.

Nguồn lực thông tin KH&CN và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ công tác thông tin còn nghèo nàn, chủ yếu là nguồn tư liệu giấy, như sách, báo, tạp chí trong nước. Các loại tư liệu khác như CD-ROM, băng, đĩa hình, sách, báo, tạp chí nước ngoài rất ít.

3. Hệ thống tổ chức hoạt động khoa học và công nghệ

Trên địa bàn Đà Nẵng hiện có: Đại học Đà Nẵng với 4 trường thành viên; Đại học dân lập Duy Tân, Phân viện Đà Nẵng - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh và 11 trường cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, 34 đơn vị KHCN, 35 phòng thí nghiệm. Không có cơ quan nghiên cứu triển khai của Trung ương cũng như của Thành phố. Nhiệm vụ nghiên cứu triển khai chỉ là một trong nhiều nhiệm vụ của các đơn vị. Chưa có doanh nghiệp nào hình thành được đơn vị nghiên cứu triển khai của mình.

Hệ thống quản lý nhà nước về KH&CN chưa được kiện toàn. Cơ quan duy nhất làm công tác quản lý Nhà nước về KH&CN là sở KHCN&MT, với 22 biên chế.

Liên hiệp các Hội KH&KT thành phố, hiện có 26 hội thành viên và 10 Trung tâm trực thuộc, đã bước đầu được củng cố và có nhiều chuyển biến tích cực hơn trước. Tuy nhiên, hoạt động của Liên hiệp hội còn lúng túng về nội dung, phương thức và chưa được quan tâm đúng mức.

4. Đầu tư tài chính cho khoa học và công nghệ

Mức đầu tư kinh phí cho KH&CN tăng dần hàng năm. Tuy nhiên, nguồn kinh phí chủ yếu vẫn dựa vào ngân sách địa phương.

Tổng đầu tư ngân sách cho KHCN & MT (cấp qua Sở KHCN& MT), trong 5 năm (1997 - 2001), là 39,796 tỷ đồng, trong đó: TW - 2,31 tỷ; Thành phố - 37,486 tỷ (Năm 2001 có mức tăng đột biến (22 tỉ) do đầu tư dự án Trung tâm Công nghệ phần mềm). Ngoài ra, còn có sự hỗ trợ đáng kể từ các dự án hợp tác quốc tế bằng tiền mặt, trang thiết bị và thông qua hoạt động đào tạo, tư vấn chuyên gia...

Kinh phí sự nghiệp khoa học trong 5 năm là 16,58 tỷ đồng (chiếm 41,7% tổng kinh phí ngân sách KHCN & MT); trong đó: XDCB - 21,194 tỷ, chiếm 53,5%; mua sắm trang thiết bị -1,316 tỷ (chiếm 3,3%); đề tài, dự án - 6,8 tỷ, bằng 41% tổng kinh phí SNKH.

Phần 2

QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁPPHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆCỦA THÀNH PHỐ ĐẾN NĂM 2010

I. QUAN ĐIỂM

1. Quán triệt sâu sắc trong nhận thức cũng như trong hành động quan điểm của Đảng "KH&CN thực sự là quốc sách hàng đầu, là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế - xã hội".

2. Phải coi đầu tư cho KH&CN là đầu tư cho phát triển. Thành phố dành ưu tiên cho phát triển KH&CN để phát huy vai trò quốc sách hàng đầu của KH&CN.

3. Việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) không chỉ là nhiệm vụ của ngành KH&CN mà là sự nghiệp của toàn Đảng bộ, Chính quyền và nhân dân thành phố.

4. Phát triển KH&CN gắn với bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái và phát triển bền vững.

5. Phát huy năng lực nội sinh thông qua đào tạo, bồi dưỡng, đãi ngộ và sử dụng hợp lý đội ngũ cán bộ KH&CN của thành phố và thu hút nhân tài.

II. PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN KH&CN ĐẾN NĂM 2010

1. Tập trung nghiên cứu ứng dụng, đồng thời chuẩn bị điều kiện cho nghiên cứu cơ bản có định hướng ứng dụng. Tạo bước phát triển mới, có hiệu quả trong nghiên cứu và ứng dụng các thành tựu KH&CN vào sản xuất, kinh doanh.

2. Chú trọng khoa học xã hội và nhân văn, đưa ngành này có vị trí xứng đáng trong nghiên cứu học thuật phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của thành phố.

3. Thúc đẩy nhanh lộ trình đổi mới công nghệ theo hướng: Đi thẳng vào công nghệ hiện đại tiên tiến; chuyển giao, làm chủ những công nghệ mới nhằm tạo bước tăng trưởng mạnh mẽ về chất lượng và hiệu quả của nền kinh tế thành phố.

4. Xây dựng và phát triển có trọng điểm các ngành công nghệ cao: công nghệ thông tin, sinh học, tự động hóa, vật liệu mới.

5. Nâng cao năng lực nội sinh trên cơ sở xây dựng và phát triển tiềm lực KH&CN của thành phố.

III. MỤC TIÊU

1. Khoa học và công nghệ phải tạo được sự chuyển biến thực sự trong sự phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội của thành phố.

2. Đảm bảo tốc độ đổi mới công nghệ trung bình 20 - 30%/năm, riêng các lĩnh vực ưu tiên phải đạt 30 - 40%/năm.

3. Hình thành thị trường KH&CN.

4. Đổi mới căn bản cơ chế quản lý KH&CN. Nâng cao năng lực quản lý Nhà nước về KH&CN xây dựng một cơ chế quản lý thích hợp để phát huy hết tiềm năng của KH&CN.

5. Xây dựng và phát triển nguồn lực con người đảm bảo đủ khả năng tiếp thu, ứng dụng, làm chủ và phát triển công nghệ hiện đại. Tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật cho KH&CN.

IV. CÁC NHIỆM VỤ CHỦ YẾU

1. Khoa học xã hội và nhân văn

Khoa học xã hội và nhân văn tập trung vào những vấn đề sau đây:

- Tổng kết kịp thời thực tiễn quá trình đổi mới để xây dựng Đà Nẵng theo hướng CNH, HĐH.

- Cung cấp luận cứ khoa học vững chắc cho các qui hoạch, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế - xã hội, các chủ trương, chính sách; hỗ trợ quá trình ra quyết định của các cấp, các ngành.

- Các giải pháp về phát triển, quản lý kinh tế, quản lý hành chính, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển kinh tế biển, khai thác lợi thế so sánh của thành phố.

- Các vấn đề về lịch sử, văn hóa, xã hội, giáo dục.

- Tham gia thẩm định về mặt xã hội và nhân văn đối với các dự án phát triển kinh tế - xã hội của thành phố.

2. Khoa học công nghệ

2.1. Tài nguyên, môi trường

- Ưu tiên điều tra cơ bản tài nguyên khoáng sản, nguồn nước mặt và nước ngầm, nguồn lợi biển, rừng, khí hậu, thủy văn, đất đai, địa chất công trình đô thị để xây dựng cơ sở dữ liệu cơ bản, cung cấp căn cứ khoa học cho các dự án phát triển kinh tế-xã hội.

- Nghiên cứu tác động và dự báo diễn biến môi trường thành phố trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội theo qui hoạch đã được phê duyệt; các giải pháp phòng, tránh và giảm nhẹ hậu quả thiên tai.

- Ứng dụng công nghệ xử lý chất thải công nghiệp, sinh hoạt, các nguồn nước và không khí bị ô nhiễm. Các giải pháp bảo vệ môi trường biển và vùng bờ.

2.2. Công nghệ thông tin (CNTT)

- Triển khai tích cực và đồng bộ Chỉ thị 58-CT/TW của Bộ Chính trị về ứng dụng và phát triển CNTT, trong đó chú trọng: Triển khai có hiệu quả Đề án tin học hóa quản lý nhà nước; đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong quản lý sản xuất, kinh doanh; đào tạo nguồn nhân lực CNTT; xây dựng cơ sở hạ tầng CNTT.

- Tiếp tục phát triển ngành công nghiệp phần mềm; triển khai có hiệu quả Dự án Trung tâm Công nghệ phần mềm theo tinh thần Nghị quyết 07-NQ/TU của Thành ủy về phát triển công nghiệp phần mềm của thành phố.

2.3. Công nghiệp

- Tập trung đổi mới, phát triển công nghệ ở các nhóm ngành: dệt, may, da giày; công nghệ chế biến và bảo quản sau thu hoạch; cơ khí (trọng tâm: cải tiến, đổi mới công nghệ sửa chữa, đóng mới ô tô, tàu thuyền); chú trọng sản phẩm mới phục vụ xuất khẩu, hoặc thay thế nhập khẩu,

- Hiện đại hóa các công nghệ cổ truyền, xây dựng các làng nghề mới, phát huy làng nghề truyền thống, tập trung vào các lĩnh vực: thủ công mỹ nghệ (đá mỹ nghệ, thêu ren, dệt chiêu,...), sản xuất cơ khí, vật liệu xây dựng, chế biến thủy sản...

- Lựa chọn và áp dụng các thiết bị cơ khí tiên tiến, tự động hóa; làm chủ các công nghệ nhập trong một số ngành chủ chốt; phát triển mạnh ngành cơ điện tử.

- Nghiên cứu các giải pháp phát huy hiệu quả các khu công nghiệp, các cụm công nghiệp vừa và nhỏ tập trung.

2.4. Nông nghiệp và phát triển nông thôn

- Đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao công nghệ nhằm từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế, CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn.

- Phát triển nuôi trồng thủy sản, trong đó chú trọng nuôi tôm công nghiệp và bán công nghiệp.

- Nghiên cứu và chuyển giao thành tựu KH&CN về giống, kỹ thuật thâm canh cây lúa, rau, hoa, cây ăn quả, gia súc và gia cầm, trên cơ sở ứng dụng tiến bộ công nghệ sinh học.

- Xây dựng và phát triển các mô hình sản xuất nông nghiệp sạch, chú trọng sản phẩm rau, quả. Tổng kết thực tiễn mô hình kinh tế trang trại và kinh tế hợp tác để có giải pháp phát triển hợp lý.

- Nghiên cứu giải pháp bảo vệ, sử dụng một cách hợp lý, hiệu quả các loại đất nông nghiệp trên cơ sở điều tra đánh giá đất.

- Chuyển giao công nghệ, phát triển công nghiệp vừa và nhỏ trong bảo quản, chế biến nông sản cho các vùng nông thôn.

2.5. Giao thông, xây dựng, quản lý đô thị

- Nghiên cứu sản xuất các loại vật liệu mới từ nguyên liệu tại chỗ và mở rộng việc ứng dụng vật liệu mới.

- Các nghiên cứu phục vụ việc hoàn chỉnh các qui hoạch đô thị, quản lý theo qui hoạch; phát triển đồng bộ và từng bước hiện đại hóa hệ thông kết cấu hạ tầng đô thị.

- Ứng dụng công nghệ mới trong thiết kế, thi công các công trình hạ tầng; áp dụng CNTT, tự động hóa trong quản lý điều hành và khai thác vận tải, quản lý nhà, đất đô thị.

- Hoàn chỉnh qui hoạch giao thông Đà Nẵng đến năm 2020. Nghiên cứu phương án phát triển giao thông công cộng nội thành và các công trình dịch vụ công cộng khác.

- Phát triển, nâng cao năng lực quản lý và hoàn chỉnh các dịch vụ công cộng (cấp, thoát nước, xử lý chất thải rắn, nước thải, thu gom rác...).

2.6. Y tế và chăm sóc sức khỏe cộng đồng

- Nghiên cứu biện pháp phòng ngừa, khắc phục các bệnh xã hội, mô hình chăm sóc sức khỏe tại cộng đồng; Giải pháp nâng cao thể chất, sức khỏe cho nhân dân, chú trọng thế hệ trẻ.

- Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật mới trong chẩn đoán, điều trị và y học dự phòng.

- Nghiên cứu giải pháp đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm.

- Quản lý, sử dụng an toàn dược phẩm và vật tư y tế.

V. GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KH&CN

1. Xây dựng và phát triển đội ngũ KH&CN

- Trên cơ sở điều tra, đánh giá lại nguồn nhân lực, xây dựng qui hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng và đào tạo lại cán bộ KH&CN xúc tiến nhanh các chương trình đào tạo đội ngũ chuyên gia KH&CN, quản lý doanh nghiệp, công nhân có tay nghề cao của thành phố.

- Có chính sách thu hút chuyên gia giỏi, kể cả thuê chuyên gia nước ngoài, ưu tiên cho các lĩnh vực thành phố đang còn yếu, như qui hoạch, quản lý đô thị, CNTT,...

- Cần có ngay chính sách khuyến khích, đồng thời với việc tạo dựng không khí dân chủ thực sự trong khoa học để phát huy tiềm năng trí tuệ và năng lực sáng tạo của đội ngũ KH&CN đang có trên địa bàn thành phố. Có cơ chế, biện pháp phù hợp để huy động đội ngũ này tham gia vào hoạt động KH&CN.

- Có chế độ và hình thức khen thưởng thỏa đáng đối với các công trình, sản phẩm nghiên cứu có hiệu quả cao, những cá nhân, tập thể có thành tích xuất sắc trong hoạt động KH&CN.

2. Đổi mới tổ chức và quản lý KH&CN

- Kiện toàn và đổi mới hệ thống quản lý nhà nước về KH&CN ở cấp thành phố, trên cơ sở tổ chức lại sở KHCN & MT và hình thành hệ thống quản lý KH&CN ở cấp quận, huyện.

- Xây dựng Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn, Trung tâm nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao KH&CN và Trung tâm công nghệ sinh học nhằm bước đầu hình thành hệ thống cơ quan nghiên cứu trên địa bàn. Nghiên cứu thành lập Viện nghiên cứu kinh tế.

- Khuyến khích việc hình thành và phát triển các tổ chức nghiên cứu khoa học thuộc các thành phần kinh tế. Nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của Liên hiệp các Hội KH & KT thành phố.

- Đổi mới căn bản công tác quản lý hoạt động nghiên cứu triển khai từ việc xây dựng, tổ chức thực hiện đến đánh giá nghiệm thu các nhiệm vụ nghiên cứu. Hình thành các chương trình nghiên cứu mang tính tổng hợp với hệ thống các đề tài, bên cạnh đó vẫn có các đề tài độc lập.

- Tập trung đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng CNTT, trang thiết bị cho phòng thí nghiệm về đo lường, thử nghiệm, quan trắc môi trường ở một số đơn vị KH&CN phục vụ quản lý và nghiên cứu.

- Tăng cường tiềm lực thông tin khoa học, công nghệ để đáp ứng nhu cầu thông tin phục vụ phát triển KH&CN, bảo vệ môi trường và kinh tế xã hội của thành phố.

3. Đầu tư tài chính cho KH&CN

Đổi mới cơ chế, chính sách tài chính cho hoạt động KH&CN, đặc biệt là quản lý tài chính các chương trình, đề tài:

- Tăng dần nguồn vốn hàng năm cho hoạt động KH&CN, đảm bảo ngân sách tối thiểu bằng mức kinh phí Trung ương cân đối qua ngân sách địa phương cho hoạt động này.

- Đổi mới cơ chế đầu tư cho KH&CN theo hướng Ngân sách chỉ đầu tư cho các chương trình KH&CN trọng điểm, vốn đầu tư cho đổi mới công nghệ chủ yếu là của doanh nghiệp.

- Đổi mới cơ chế đầu tư cho các đề tài, chương trình nghiên cứu KH&CN theo hướng đảm bảo đầu tư đúng mức, hạn chế đầu tư các đề tài qui mô quá nhỏ.

- Đổi mới chính sách và cơ chế quản lý nhằm khuyến khích doanh nghiệp nghiên cứu khoa học, đổi mới công nghệ.

- Thành lập Qũi phát triển KH&CN của thành phố theo tinh thần của Luật Khoa học và Công nghệ. Đồng thời, tranh thủ sự hỗ trợ của Trung ương và quốc tế thông qua các chương trình, dự án.

- Dành một tỉ lệ thỏa đáng nguồn vốn sự nghiệp kinh tế, vốn đầu tư XDCB để đầu tư cho các dự án về môi trường và điều tra cơ bản.

4. Tạo lập thị trường cho KH&CN

- Hỗ trợ tạo lập thị trường cho sản phẩm KH&CN. Hình thành và mở rộng mạng lưới dịch vụ tư vấn KH&CN, chuyển giao công nghệ.

- Có các chính sách đồng bộ để tạo ra môi trường cho sự gắn kết chặt chẽ giữa KH&CN và sản xuất. Thúc đẩy sự hình thành các liên kết giữa các trường đại học, cao đẳng, các trung tâm KHKT với các doanh nghiệp.

- Hỗ trợ thông tin công nghệ cho doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế.

- Tăng cường công tác quản lý nhà nước về công nghệ, sở hữu công nghiệp. Có qui định cụ thể đảm bảo cho việc xây dựng và thực hiện các dự án đầu tư, chương trình phát triển kinh tế-xã hội có đủ căn cứ khoa học và phải được thẩm định chặt chẽ về KH&CN

5. Đẩy mạnh hoạt động hợp tác quốc tế về KH&CN

- Xây dựng và triển khai các dự án phát triển KH&CN sử dụng nguồn vốn ODA, ưu tiên các dự án về CNTT và các lĩnh vực công nghệ cao khác.

- Tranh thủ sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế và các cơ quan Trung ương để xây dựng và triển khai các dự án viện trợ trong lĩnh vực đầu tư nâng cao tiềm lực KH&CN cho Thành phố.

- Trong các dự án đầu tư nước ngoài có liên quan đến ứng dụng và phát triển công nghệ tiên tiến cần có nội dung chuyển giao công nghệ.

- Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ KH&CN, nhất là cán bộ trẻ, được đi bồi dưỡng, tập huấn và trao đổi khoa học ở nước ngoài. Thành phố dành một khoản ngân sách thích đáng cho việc đào tạo ở nước ngoài để đào tạo cán bộ KH&CN thuộc những lĩnh vực ưu tiên của thành phố.

Phần 3

TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Để đảm bảo tốt việc triển khai thực hiện Đề án, UBND thành phố phân công trách nhiệm cụ thể như sau:

I. CÁC NHIỆM VỤ CHUNG:

1. Các ngành, UBND các quận, huyện cần kiểm điểm sâu sắc việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) về KH&CN ở ngành, địa phương mình. Trên cơ sở đó, xây dựng kế hoạch phát triển KH&CN của ngành và địa phương thời hạn hoàn thành: Chậm nhất trong tháng 12 năm 2002.

2. Các Sở: Công nghiệp, Xây dựng, Giao thông công chính, Thủy sản - Nông lâm xây dựng đề án đổi mới công nghệ sản xuất của ngành mình và chỉ đạo hướng dẫn các doanh nghiệp sản xuất trực thuộc xây dựng lộ trình đổi mới công nghệ sản phẩm của đơn vị. Trình UBND thành phố phê duyệt vào quí I năm 2003.

3. Giao Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường làm cơ quan thường trực thực hiện Đề án này.

II. CÁC NHIỆM VỤ CỤ THỂ KHÁC

1. Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường: Chủ trì triển khai các nhiệm vụ:

- Xây dựng Đề án đổi mới cơ chế quản lý KH&CN Đề án sắp xếp lại tổ chức bộ máy của sở.

- Xây dựng Đề án thành lập Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn, Trung tâm nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao KH&CN, Trung tâm tiếp thị sản phẩm và dịch vụ KH&CN.

- Nghiên cứu đề xuất việc thành lập Viện nghiên cứu kinh tế.

+ Hoàn thành và trình UBND thành phố phê duyệt vào quí III năm 2003.

- Tham mưu cho thành phố về việc củng cố, kiện toàn hoạt động của Hội đồng KH&CN thành phố.

2. Ban Tổ chức chính quyền: Chủ trì triển khai các nhiệm vụ sau:

- Xây dựng Đề án về hệ thống tổ chức quản lý Nhà nước về KH&CN của thành phố.

- Nghiên cứu đề xuất các chính sách khuyến khích nhằm phát huy nội lực của đội ngũ cán bộ KH&CN đang có trên địa bàn thành phố.

- Xây dựng các Chương trình đào tạo cán bộ KH&CN có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ; công nhân có tay nghề cao; doanh nhân.

+ Các nhiệm vụ trên hoàn thành và trình UBND thành phố phê duyệt vào quí II năm 2003.

3. Sở Kế hoạch và Đầu tư

- Lồng ghép các nội dung KH&CN trong qui hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của thành phố, địa phương và qui hoạch, kế hoạch phát triển của các ngành.

- Thực hiện nhiệm vụ cân đối và phân bổ nguồn vốn thực hiện Đề án.

4. Sở Tài chính - Vật giá

- Chủ trì nghiên cứu xây dựng Quĩ phát triển KH&CN của thành phố theo tinh thần của Luật Khoa học và Công nghệ. Rà soát và đề xuất các chính sách nhằm thúc đây hoạt động nghiên cứu, đổi mới công nghệ của doanh nghiệp. Trình UBND thành phố phê duyệt vào quí II năm 2003.

- Thực hiện chức năng thẩm tra và cấp phát vốn thực hiện Đề án.

5. Sở Công nghiệp

- Chủ trì tổ chức đánh giá định kỳ trình độ công nghệ sản xuất; phối hợp với Sở KHCN & MT hướng dẫn doanh nghiệp công nghiệp đánh giá trình độ công nghệ.

- Xây dựng chương trình nghiên cứu nâng cao chất lượng sản phẩm công nghiệp của thành phố. Trình UBND thành phố phê duyệt vào quí I năm 2003.

6. Sở Thủy sản - Nông lâm

- Xây dựng Chương trình KH&CN phục vụ triển khai Đề án "Đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2001 - 2010", trong đó chú trọng các dự án chuyển giao KH&CN. Trình UBND thành phố phê duyệt vào quí I năm 2003.

7. Liên hiệp các Hội KH & KT thành phố

- Tiếp tục đổi mới phương thức hoạt động và đề xuất cơ chế nhằm tập hợp lực lượng cán bộ KH&CN trên địa bàn phục vụ phát triển KT-XH của thành phố.

- Tham mưu đề xuất việc triển khai thực hiện nhiệm vụ tư vấn, phản biện, giám định xã hội theo qui định của Chính phủ.

8. UBND các quận, huyện: Có trách nhiệm phối hợp với các Sở, ban, ngành, trong việc triển khai thực hiện đềán.

Trong quá trình thực hiện nếu có vướng mắc, các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm phản ảnh kịp thời về Ủy ban nhân dân thành phố, thông qua cơ quan thường trực là Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường để xem xét, chỉnh sửa cho phù hợp./.

Tổng quan văn bản

Số ký hiệu119/2002/QĐ-UB
Ngày ban hành19/11/2002
Loại văn bảnQuyết định
Ngày có hiệu lực04/12/2002
Nguồn thu thậpCơ sở dữ liệu
Ngày đăng công báo---
Cơ quan ban hành / Người kýUBND thành phố Đà Nẵng / Hoàng Tuấn Anh
Phạm viĐà Nẵng
Trích yếuV/v Ban hành Đề án Tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) và Phương hướng phát triển khoa học và công nghệ thành phố Đà Nẵng từ nay đến năm 2010
Tình trạng hiệu lựcHết hiệu lực toàn bộ

Chưa có thông tin lược đồ

Văn bản này hiện chưa được cập nhật dữ liệu về lược đồ liên quan.