|
UBND TỈNH QUẢNG BÌNH Số: 12/2000/QĐ-UB |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------------------------- tỉnh Quảng Bình, ngày 09 tháng 05 năm 2000 |
QUYẾT ĐỊNH CỦA UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH
Về việc ban hành chương trình hành động bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt giai đoạn 2000-2002
________________________
- Căn cứ Luật tổ chức HĐND và UBND ngày 21/6/1994;
- Căn cứ Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ngày 12/8/1991;
- Căn cứ Quyết định số 134/1999/QĐ-TTg, ngày 31/5/1999 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chương trình hành động bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt giai đoạn 1999-2000;
- Xét đề nghị của Chủ nhiệm Uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em tỉnh Quảng Bình,
QUYẾT ĐỊNH
Điều 1: Ban hành kèm theo quyết định này chương trình hành động bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt giai đoạn 2000-2002;
Điều 2: Giao cho Uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em tỉnh Quảng Bình trực tiếp giúp UBND tỉnh theo dõi việc thực hiện chương trình hành động bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt giai đoạn 2000-2002.
Điều 3: Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký.
Điều 4: Chánh Văn phòng UBND tỉnh, Giám đốc các Sở, Thủ trưởng các ban, ngành, đoàn thể có liên quan, Chủ tịch UBND các huyện, thị xã chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.
PHÓ CHỦ TỊCH
Phan Viết Dũng
CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG
________________________
I- CƠ SỞ XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH
1- Các văn bản pháp quy:
Việt Nam là nước đầu tiên ở Châu Á và là nước thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước của Liên hiệp Quốc về quyền trẻ em. Ngay sau khi phê chuẩn, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản nhằm thể chế hoá công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.
- Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1991.
- Luật phổ cập giáo dục tiểu học năm 1991.
- Nghị định 118/CP, ngày 7/9/1994 về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt Nam.
- Chỉ thị số 766/TTg ngày 17/9/1997 về việc tiếp tục lập lại trật tự trên lĩnh vực văn hoá xã hội, tập trung vào chống buôn lậu và sử dụng trái phép chất ma tuý, có các biện pháp hữu hiệu khắc phục tình trạng xâm hại trẻ em.
- Chỉ thị 298/TTg, ngày 11/5/1996 về việc kiểm điểm đánh giá 5 năm thi hành Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.
- Chỉ thị 06/1998/CT-TTg, ngày 23/01/1998 về việc tăng cường công tác bảo vệ trẻ em, ngăn ngừa và giải quyết tình trạng trẻ em lang thang, trẻ em bị lạm dụng sức lao động.
- Đặc biệt ngày 31/5/1999 Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 134/1999/TTg về việc phê duyệt Chương trình hành động bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt giai đoạn 1999-2002.
Tỉnh ta cũng đã có các văn bản cụ thể hoá các chương trình hành động Vì trẻ em tỉnh Quảng Bình từ 1992-2000, trong đó có mục tiêu thứ 7 là Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.
2- Thực trạng tình hình:
Thực hiện chương trình hành động vì trẻ em năm 1992000, tỉnh ta đã thu được những kết quả đáng kể trên các lĩnh vực: Học tập, chăm sóc sức khoẻ, vui chơi giải trí. Tuy nhiên đối tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt vẫn còn nhiều vấn đề cần phải quan tâm.
* Trẻ em lang thang, lao động sớm.
- Trẻ em lang thang không nơi nương tựa khoảng 20 em.
- Trẻ em lang thang cùng gia đình 20 em.
- Trẻ em lang thang bán hàng rong, bán vé số, đánh giày, nhặt phế liệu khoảng 100 em.
Phần l
ớn trẻ em lang thang tập trung ở thị xã Đồng Hới và ở các trung tâm huyện lỵ trong tỉnh. Để giải quyết tình trạng này, từ năm 1995 đến nay Uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em tỉnh phối hợp với các ngành liên quan đã mở 4 lớp vừa học vừa làm cho 100 em có nguy cơ lang thang kiếm sống, tại đây các em được học chữ, học nghề. Đến nay đã có em về địa phương sống bằng nghề được học tại các lớp trên. Đã triển khai dự án làm nấm, làm hương cho nhân dân xã Quảng Đông-Quảng Trạch, nhằm mục đích đưa các em lạy xin tại Đèo Ngang về với gia đình. Đến nay tình trạng trẻ em ăn xin (44 em) người xã Quảng Đông-Quảng Trạch ở Đèo Ngang được chấm dứt. Tình trạng trẻ em lang thang (khoảng 40 em) tại thị xã Đồng Hới vẫn chưa được điều tra một cách cụ thể và chưa có biện pháp gì giải quyết triệt để. Tình trạng trẻ em lao động sớm ở các nghề nguy hiểm và độc hại hầu như không có, tuy nhiên các em nghèo vẫn phải làm việc để kiếm sống và phụ giúp gia đình bằng các nghề đơn giản như đánh giày, bán vé số…
* Trẻ em bị lạm dụng tình dục
Những năm gần đây, số vụ hiếp dâm trẻ em có tính chất ngày càng nghiêm trọng:
+ Năm 1996: 1 vụ.
+ Năm 1997: 2 vụ.
+ Tính từ tháng 10/1998 đến tháng 10/1999 có 5 vụ/5 đối tượng. Trong đó từ 18 đến 30 tuổi có 4 đối tượng. Từ 31 tuổi trở lên có 4 đối tượng. Đặc biệt có vụ anh trai hiếp em gái và 1 công nhân hiếp 5 trẻ em gái.
Ngoài ra còn có những vụ án người lớn cố gắng gây thương tích cho trẻ em và dụ dỗ, chứa chấp trẻ phạm pháp.
Về tình trạng mại dâm trẻ em, theo báo cáo của Chi cục phòng chống tệ nạn xã hội đến nay chưa phát hiện được mại dâm trẻ em. Tuy nhiên, với sự phát triển các nhà hàng Karaoke - bia ôm chúng ta không thể lường trước hậu quả của nó.
* Trẻ em làm trái pháp luật:
a) Trẻ em làm trái pháp luật được giáo dục tại xã-phường:
+ Năm 1996: 56 em
+ Năm 1997: 49 em
+ Năm 1998: 58 em
b) Trẻ em làm trái pháp luật đưa đi trường giáo dưỡng:
+ Năm 1996: 01 em
+ Năm 1997: 12 em
+ Tính từ tháng 10/1998 đến tháng 10/1999 đã bắt và xử lý 249 vụ có 261 đối tượng là trẻ em.
Tình trạng trẻ em làm trái pháp luật diễn ra trên địa bàn 7/7 huyện, thị, nhiều nhất là ở Đồng Hới (75 đối tượng).
Tội danh mà trẻ em vi phạm là: Giết người, cướp giật, hiếp dâm, cưỡng đoạt tài sản công dân, trộm cắp… Trong 261 đối tượng có 117 đối tượng vi phạm lần 2 trở lên. Trẻ em làm trái pháp luật đa số ở lứa tuổi từ 12 đến 17, trình độ văn hóa PTTH và PTCS chiếm 70%, bỏ học chiếm 20%.
* Trẻ em sử dụng ma tuý - chất kích thích:
Năm 1997 phát hiện 11 em sử dụng chất kích thích là học sinh trường Trung học ở thị xã Đồng Hới, đến nay các em được gia đình và nhà trường giáo dục tốt. Đầu năm 1999 đã phát hiện có hiện tượng trẻ em sử dụng chất ma tuý. Thực tế và tốc độ lây lan của tệ nạn này đang là một điều nhức nhối trong toàn xã hội.
Qua các số liệu khảo sát trên chúng ta thấy thực trạng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt của tỉnh Quảng Bình so với các thành phố lớn và các tỉnh lân cận chưa đến mức độ báo động, song không phải là ít. Hiện nay với sự phát triển của các tệ nạn xã hội trên địa bàn tỉnh và các tỉnh lân cận thì chúng ta cần triển khai ngay các biện pháp phòng ngừa hữu hiệu chặn đứng các tệ nạn đã và đang xảy ra để bảo vệ trẻ em.
3- Nguyên nhân.
- Xét trên tổng thể trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn thường do các nguyên nhân sau:
* Nguyên nhân về kinh tế:Hiện nay, toàn tỉnh có trên 30% số hộ nghèo đói, đó chính là nguồn cung cấp trẻ em lang thang cơ nhở, trẻ em lao động sớm, trẻ em trộm cắp, làm trái pháp luật… Thêm vào đó là quá trình đô thị hoá diễn ra với tốc độ nhanh - hình thành các trung tâm đô thị nhộn nhịp có mức sống cao tạo sức thu hút lớn đối với các hộ nghèo ở nông thôn tỉnh ta thừa sức lao động, thiếu việc làm và trẻ em mồ côi không nơi nương tựa. (Qua khảo sát sơ bộ thì trong số trẻ em lang thang ở Quảng Bình có 20 em sống lang thang cùng gia đình. Phần lớn các em lang thang đều ra đi ở các xã nghèo, thiếu đất canh tác, thường gặp thiên tai như xã Quảng Thọ, Quảng Đông, huyện Quảng Trạch)…
* Nguyên nhân gia đình:Trước khi trở thành đứa trẻ có hoàn cảnh đặc biệt, hầu hết các em bắt đầu cuộc đời với cuộc sống gia đình có đầy đủ bố mẹ. Sự hình thành hân cách của các em phụ thuộc rất nhiều vào sự nuôi dưỡng của gia đình. Không ít em bỏ nhà ra đi lang thang, vi phạm pháp luật do sự khắt khe, áp đặt của bố mẹ. Sự tan vỡ của gia đình, bố mẹ thường xuyên cãi vã, đánh đập lẫn nhau đều có thể dẫn các em bỏ nhà đi tìm cuộc sống mới. Theo thống kê của các ngành chức năng có đến 71% trẻ em phạm pháp không được sự chăm sóc của gia đình. Qua khảo sát trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn ở các vùng trong nước cho thấy sự phân bố trẻ em lang thang vào các nguyên nhân sau:
- 20% do gia đình hắt hủi.
- 20% do kẻ xấu rủ đi.
- 40% bạn bè lôi kéo.
- 20% gia đình quá nghèo.
Như vậy gia đình chưa thấy hết trách nhiệm, thiếu kiến thức, kỹ năng bảo vệ con em mình trước các tệ nạn xã hội là nguyên nhân trước tiên làm cho trẻ em đi vào con đường sai trái.
* Nguyên nhân từ xã hội:Từ ngày tách tỉnh đến nay, tỉnh ta đã và đang hình thành nhiều trung tâm huyện lỵ phát triển theo hướng đô thị hoá nhanh, đặc biệt là trung tâm thị xã Đồng Hới. Từ sự phát triển của nền kinh tế thị trường đã làm phát sinh và phát triển các tệ nạn xã hội ảnh hưởng đến trẻ em như: Tệ nạn mại dâm, cờ bạc, rượu chè, bia ôm… Những tệ nạn trên kích thích bản tính tò mò thích làm người lớn của trẻ em đưa các em vào con đường hư hỏng.
* Sự quan tâm của các cấp chính quyền, đoàn thể:Có thể nói rằng tình trạng trẻ em có HCĐB ở tỉnh ta chưa được xã hội quan tâm đúng mức. Một số ban ngành và đoàn thể chưa xem tình trạng này là một vấn đề bức xúc của xã hội. Sự phối hợp của các cấp uỷ, chính quyền, ban ngành thiếu đồng bộ. Trong khi đó cơ quan Uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em tỉnh là cơ quan điều phối sự phối hợp liên ngành trên thì có mạng lưới chuyên trách từ tỉnh đến cơ sở quá mỏng (thường trực cấp huyện 1 người, cấp xã phường công tác BV & CSTE đang còn kiêm nhiệm không có phụ cấp) chưa đủ sức làm hết chức năng. Việc tuyên truyền giáo dục, hướng dẫn thực thi pháp luật đến được cơ sở đang còn hạn chế, nhiều vụ việc vi phạm đến quyền trẻ em còn bị bỏ qua (bố mẹ hành hạ con cái, người lớn đánh đập, mua chuộc, dụ dỗ trẻ em…).
II- NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH
1- Mục tiêu của chương trình:
* Mục tiêu chung:
Tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và hành động trong toàn xã hội về công tác bảo vệ trẻ em. Ngăn ngừa, giảm dần và tiến tới giải quyết cơ bản vào năm 2002 tình trạng trẻ em lang thang kiếm sống, trẻ em làm việc trong các điều kiện độc hại, trẻ em bị xâm hại tính mạng, sức khoẻ nhân phẩm, danh dự, trẻ em vi phạm pháp luật.
* Mục tiêu cụ thể:
- Ngăn chặn giảm dần và tiến tới giải quyết cơ bản vào năm 2002 tình trạng trẻ em lang thang kiếm sống. Tình trạng trẻ em dưới 15 tuổi phải làm việc trong các điều kiện nặng nhọc độc hại và nguy hiểm.
- Ngăn ngừa, giảm dần và tiến tới giảm cơ bản vào năm 2002 tình trạng trẻ em bị xâm hại nhân phẩm, danh dự, bị xâm hại tình dục, đặc biệt vì mục đích thương mại. Tổ chức giáo dục, chữa bệnh và tái hoà nhập cộng đồng cho những đối tượng trên.
- Chặn đứng phát sinh mới tệ nạn ma tuý trong trẻ em.
- Đấu tranh ngăn chặn, giảm dần các loại tội phạm xâm hại đến trẻ em (như hiếp dâm, giết, bắt cóc, mua bán hoặc đánh tráo trẻ em, tổ chức cho trẻ em sử dụng chất ma tuý, ngược đãi nghiêm trọng đối với trẻ em…) và tội phạm trong độ tuổi trẻ em. Giảm cơ bản vào năm 2002 tình trạng trẻ em phạm các tội nghiêm trọng.
2- Các đề án chủ yếu của chương trình.
- Đề án 1:Ngăn chặn và giải quyết tình trạng trẻ em lang thang kiếm sống và bị lạm dụng sức lao động.
- Đề án 2:Phòng ngừa tình trạng trẻ em bị xâm hại nhân phẩm, danh dự, trẻ em bị xâm hại tình dục, đặc biệt vì mục đích thương mại.
- Đề án 3:Phòng chống tệ nạn sử dụng ma tuý trong trẻ em.
- Đề án 4:Đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm xâm hại trẻ em, tội phạm trong lứa tuổi trẻ em.
- Đề án 5:Tổ chức công tác truyền thông, giáo dục, tư vấn với nhiều hình thức (như trung tâm truyền thông, giáo dục, tư vấn…) cho gia đình và cộng đồng về bảo vệ, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.
3- Các giải pháp chủ yếu:
* Các ngành, các cấp dưới sự chỉ đạo trực tiếp của UBND tỉnh, căn cứ vào chức năng nhiệm vụ của mình để xây dựng kế hoạch cụ thể cho từng năm, phối hợp liên ngành, chủ động triển khai các đề án của chương trình do ngành quản lý. Các địa phương phải làm tốt công tác lồng ghép các chương trình Quốc gia, chương trình kinh tế - xã hội của địa phương với việc quản lý các mục tiêu vì trẻ em. Và cần xây dựng kế hoạch hỗ trợ cho các gia đình có trẻ em gặp khó khăn và cho bản thân trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.
* Đẩy mạnh công tác giáo dục pháp luật, tổ chức tuyên truyền giáo dục thường xuyên và các chiến dịch truyền thông rộng khắp trong cả tỉnh cũng như các vùng trọng điểm nhằm nâng cao hiểu biết, ý thức trách nhiệm, nghĩa vụ của mọi ngành, mọi cấp cộng đồng và mọi gia đình đối với công tác bảo vệ trẻ em. Coi trọng hướng dẫn gia đình, cộng đồng trong việc giáo dục trẻ em đặc biệt là trẻ em gái và trẻ em ở lứa tuổi 12-16 tuổi.
* Huy động sức mạnh của toàn xã hội vào công tác bảo vệ trẻ em.
Xây dựng môi trường sống lành mạnh trong xã hội. Tiếp tục phát động phong trào toàn dân tham gia bảo vệ trẻ em, xây dựng và thực hiện quy chế phối hợp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em trong gia đình, nhà trường và xã hội. Khuyến khích thiết lập các mạng lưới và hoạt động liên kết, hợp tác giữa các cơ quan bảo vệ pháp luật và cơ quan chuyên trách về trẻ em, cơ quan truyền thông, đoàn thể nhân dân, tổ chức xã hội, gia đình các đơn vị kinh tế và cá nhân có lòng hảo tâm.
* Đẩy mạnh hợp tác tiểu vùng trong tỉnh, với các tỉnh bạn nhằm ngăn chặn tình trạng trẻ em lang thang, ăn xin tại thị xã Đồng Hới và các trung tâm khác trong tỉnh. Tăng cường trao đổi thông tin, kinh nghiệm với các tỉnh, thành phố trong cả nước có mô hình tốt về chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. Tăng cường vận động các nguồn lực ở trong nước và quốc tế hỗ trợ cho chương trình.
* Xây dựng cơ chế phối hợp hoạt động liên ngành, xây dựng chính sách đối với lực lượng làm công tác xã hội, mạng lưới tình nguyện viên làm việc với trẻ em ở cơ sở. Nâng cao năng lực làm việc của các cơ quan, đoàn thể, nhân dân có liên quan đến các chiến lược bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt (bao gồm: Phòng ngừa, giải quyết, phục hồi, tái hoà nhập) tăng cường các hoạt động nghiên cứu đối tượng và chiến lược nhằm bảo vệ trẻ em.
III- TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC NGÀNH ĐOÀN THỂ
Bảo vệ và chăm sóc trẻ em nhất là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là trách nhiệm chung của toàn xã hội, vì vậy UBND tỉnh yêu cầu các ngành các cấp căn cứ vào chức năng nhiệm vụ của mình xây dựng chương trình “hành động bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt” giai đoạn 1992-2002 phù hợp với ngành mình quản lý và phối hợp với các ngành có liên quan để thực hiện.
1- Ngành Giáo dục - Đào tạo:
Cùng với việc hoàn thành tốt nhiệm vụ ngành, cần thường xuyên đẩy mạnh công tác tuyên truyền vận động, giáo dục, phòng ngừa, ngăn chặn ma tuý xâm nhập học đường. Chú trọng giáo dục đạo đức, truyền thống, thẩm mỹ cho học sinh thực hiện tốt các chính sách của Đảng và Nhà nước đối với học sinh trong diện ưu tiên.
2- Ngành tư pháp, Hội đồng phối hợp công tác phổ biến GDPL:
+ Tuyên truyền giáo dục pháp luật chung và pháp luật chế độ, chính sách về trẻ em.
+ Giải quyết triệt để vấn đề khai sinh cho trẻ em ở nông thôn, miền núi.
3- Toà án nhân dân và Viện Kiểm sát nhân dân:
- Thành lập hệ thống theo dõi chỉ số thống kê, đánh giá riêng những vụ việc tội phạm liên quan đến trẻ em ở một số bộ luật hình sự, dân sự, hôn nhân gia đình.
- Xử lý nghiêm và đúng luật các vụ án xâm hại trẻ em.
- Ưu tiên giải quyết các vụ việc liên quan đến trẻ em trong thời gian gắn nhất.
4- Ngành Văn hoá - Thông tin, Sở Thể dục - thể thao:
- Quy hoạch và phát triển các công trình văn hoá, xây dựng làng văn hoá, câu lạc bộ văn hoá và gia đình văn hoá.
- Phát triển các ấn phẩm văn hóa dành cho trẻ em, ngăn chặn sự phổ biến các ấn phẩm độc hại và đồ chơi có tính chất không lành mạnh cho trẻ em.
- Tổ chức tốt Nghị quyết TW5 của TW Đảng về “Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc.
- Tổ chức vui chơi giải trí cho trẻ em ở các điểm vui chơi, các nhà văn hoá, trong nhà trường…
5- Ngành Thương mại và Du lịch:
- Chịu trách nhiệm về thị trường đồ chơi và sản xuất đồ chơi cho trẻ em.
- Kiểm soát và phòng chống mại dâm trẻ em, quan hệ tình dục đồng giới với trẻ em tại các nhà hàng, khách sạn, điểm du lịch, tham quan.
6- Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh:
Chủ trì cùng các ngành chức năng tăng cường chỉ đạo đẩy mạnh phong trào “Người lớn gương mẫu - trẻ em chăm ngoan” trong cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư”.
7- Đoàn Thanh niên CSHCM:
- Tăng cường giáo dục đạo đức lý tưởng cách mạng của Bác Hồ, giáo dục truyền thống lịch sử dân tộc cho thiếu nhi.
- Thành lập nhóm thiếu nhi tự quản ở cộng đồng dân cư, quản lý, giáo dục trẻ em trong kỳ nghỉ hè.
8- Hội Liên hiệp phụ nữ, Hội nông dân và các đoàn thể tổ chức xã hội khác(do Hội phụ nữ đề xuất tham gia).
Nâng cao vai trò giáo dục của gia đình nhằm hạn chế trẻ em làm trái pháp luật và bỏ học.
9- Liên đoàn Lao động tỉnh:
Chủ trì phối hợp với các cơ quan, đoàn thể, các cấp chính quyền. Triển khai kế hoạch ngăn ngừa tình trạng lạm dụng sức lao động ở trẻ em tại tổ chức Công đoàn cơ sở, các cơ sở sản xuất, kinh doanh.
10- Sở Kế hoạch - Đầu tư, Sở Tài chính-Vật giá:
Phối hợp với Uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em tỉnh và các ngành, đoàn thể liên quan trong việc xây dựng các kế hoạch cho đề án, tìm phương án lồng ghép các đề án đó với các chương trình do ngành, đoàn thể đang thực hiện, tham mưu.
1) Uỷ ban Bảo vệ và chăm sóc trẻ em tỉnh:
- Trực tiếp xây dựng và thực hiện đề án 5.
- Phối hợp với các ngành, đoàn thể xây dựng, triển khai thực hiện các đề án, kế hoạch, kiểm tra, giám sát kết quả thực hiện các chính sách, chế độ liên quan đến trẻ em.
- Tham mưu cho UBND tỉnh có chế độ chính sách đối với các gia đình có trẻ em đặc biệt khó khăn.
- Cung cấp tài liệu Truyền thông Vận động-Xã hội, tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ xã hội và cán bộ làm việc với trẻ em đặc biệt khó khăn.
- Tăng cường công tác truyền thông vận động - xã hội.
- Phát huy vai trò Văn phòng tư vấn các vấn đề vè trẻ em.
- Kiện toàn, củng cố hoạt động quỹ bảo trợ trẻ em.
2) Ngành Lao động Thương binh - Xã hội:
- Chịu trách nhiệm xây dựng và phối hợp với các ngành khác có liên quan để thực hiện các đề án 1,2&3.
+ Phục hồi chức năng, hướng nghiệp, dạy nghề cho các đối tượng trẻ em có hoàn cảnh ĐBKK.
+ Giải quyết tình trạng trẻ em lao động sớm, nặng nhọc, trẻ em lang thang cơ nhở.
+ Thực hiện Quyết định 167/TTg, ngày 08/4/1994 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số cơ chế trợ cấp đối với đối tượng cứu trợ xã hội.
3) Ngành Công an:
+ Chịu trách nhiệm xây dựng và phối hợp với các ngành khác có liên quan để thực hiện đề án 4.
+ Thực hiện Nghị định 19/CP, ngày 06/4/1996 của Chính phủ về việc ban hành quy chế giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với những người vi phạm pháp luật.
+ Phối hợp với Uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em tỉnh nắm tình hình trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn tại cộng đồng.
+ Phối hợp với Sở Lao động - Thương binh & Xã hội giải quyết triệt để các tệ nạn xã hội trên địa bàn toàn tỉnh, cùng phối hợp thực hiện các đề án do Sở Lao động - Thương binh & Xã hội tỉnh chủ trì.
+ Quản lý, giúp đỡ, hướng nghiệp, dạy nghề, tạo việc làm cho trẻ em hết thời gian chấp hành hình phạt tù hoặc ở Trường giáo dưỡng trở về địa phương.
+ Ưu tiên giải quyết các vụ việc liên quan đến trẻ em trong thời gian ngắn nhất.
IV- BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO
- Các ngành UBBV & CSTE, Sở Lao động - Thương binh & Xã hội , Sở Công an tiến hành xây dựng các đề án thuộc ngành mình quản lý kèm theo dự toán kinh phí đưa vào kế hoạch hàng năm của ngành.
- Sở Tài chính-Vật giá và Sở Kế hoạch-Đầu tư căn cứ vào dự toán kinh phí của chương trình và các đề án để có kế hoạch phân bổ ngân sách do chương trình và các đề án thực hiện.
- UBND tỉnh giao cho Thủ trưởng các ban, ngành cấp tỉnh, Chủ tịch UBND huyện, thị xã có nhiệm vụ chỉ đạo việc thực hiện tốt chương trình trên địa bàn mình quản lý.
- UBBV & CSTE tỉnh là cơ quan thường trực trong việc thực hiện chương trình hành động này, có trách nhiệm báo cáo kết quả thực hiện chương trình theo định kỳ 6 tháng và 1 năm cho UBND, đồng thời tham mưu cho UBND tỉnh mở các hội nghị đánh giá thực hiện chương trình giữa kỳ và tổng kết.