|
BỘ TÀI CHÍNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
VIỆT NAM |
|
Số: 1229/QĐ-BTC |
Hà Nội, ngày 21 tháng 5 năm 2026 |
QUYẾT ĐỊNH
VỀ VIỆC CÔNG BỐ CÔNG KHAI QUYẾT TOÁN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC NĂM 2024
BỘ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH
Căn cứ Luật Ngân sách nhà nước số 83/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 59/2020/QH14 và Luật số 56/2024/QH15;
Căn cứ Nghị quyết số 21/2026/QH16 ngày 24/4/2026 của Quốc hội bổ sung dự toán thu ngân sách nhà nước năm 2024 và phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước năm 2024;
Căn cứ Nghị định số 29/2025/NĐ-CP ngày 24/2/2025 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính và Nghị định số 166/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 29/2025/NĐ-CP ngày 24/2/2025 của Chính phủ quy định chức nàng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính;
Căn cứ Nghị định số 163/2016/NĐ-CP ngày 21/12/2016 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Ngân sách nhà nước;
Căn cứ Thông tư số 343/2016/TT-BTC ngày 30/12/2016 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện công khai ngân sách nhà nước đối với các cấp ngân sách;
Căn cứ Báo cáo số 154/BC-CP ngày 05/4/2026 của Chính phủ về quyết toán ngân sách nhà nước năm 2024;
Theo đề nghị của Vụ trưởng Vụ Ngân sách nhà nước.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Công bố công khai số liệu quyết toán ngân sách nhà nước năm 2024 (các biểu và báo cáo thuyết minh kèm theo Quyết định này).
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký.
Điều 3. Chánh Văn phòng, Vụ trưởng Vụ Ngân sách nhà nước, Cục trưởng Cục Công nghệ thông tin và Chuyển đổi số, Cục trưởng Cục thuế, Cục trưởng Cục Hải quan, Giám đốc Kho bạc Nhà nước và Thủ trưởng các đơn vị có liên quan thuộc Bộ Tài chính tổ chức thực hiện Quyết định này./.
|
|
KT. BỘ TRƯỞNG |
BÁO CÁO THUYẾT MINH
QUYẾT TOÁN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
NĂM 2024
(Kèm theo Quyết định số 1229/QĐ-BTC ngày 21 tháng 5 năm 2026 của Bộ Tài chính)
Dự toán NSNN năm 2024 được Quốc hội quyết định[1] với tổng số thu là 1.701.085 tỷ đồng, tổng số chi là 2.174.449 tỷ đồng; bội chi NSNN là 399.400 tỷ đồng, tương đương 3,6%GDP, trong đó bội chi NSTW là 372.900 tỷ đồng, bội chi NSĐP là 26.500 tỷ đồng; tổng mức vay của NSNN là 690.553 tỷ đồng.
Năm 2024, tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến nhanh, phức tạp, tăng trưởng kinh tế toàn cầu chậm, nhiều rủi ro; xung đột vũ trang, bất ổn chính trị, xã hội tại một số quốc gia, khu vực còn diễn biến phức tạp; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, nhất là trong việc phát triển và ứng dụng công nghệ mới (chất bán dẫn, trí tuệ nhân tạo,...) để tạo động lực bứt phá cho phát triển kinh tế, thu hút đầu tư. Ở trong nước, kinh tế vĩ mô ổn định và có dấu hiệu phục hồi, tuy nhiên vẫn còn những khó khăn đan xen, tổng cầu tiêu dùng phục hồi còn chậm; sản xuất kinh doanh của một số ngành, lĩnh vực còn nhiều khó khăn; biến đổi khí hậu diễn biến bất thường, mưa bão, sạt lở đất nghiêm trọng diễn ra ở nhiều địa phương, đặc biệt là cơn bão số 3 (Yagi) gây thiệt hại lớn về hạ tầng kinh tế - xã hội và ảnh hưởng đến đời sống người dân.
Trong bối cảnh đó, Quốc hội đặt ra mục tiêu tiếp tục ưu tiên tăng trưởng gắn với củng cố, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế với tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) từ 6-6,5%. Kết quả năm 2024, dưới sự lãnh đạo của Đảng, giám sát chặt chẽ của Quốc hội, sự chỉ đạo sát sao, điều hành linh hoạt, quyết liệt, kịp thời với nhiều phương châm và hành động cụ thể của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các cấp, các ngành, địa phương, cùng với sự nỗ lực của cộng đồng doanh nghiệp, người dân, các cân đối lớn của nền kinh tế tiếp tục được đảm bảo; lạm phát được kiểm soát; bội chi NSNN và nợ công giảm; việc triển khai các chính sách tài khóa được thực hiện có hiệu quả, đồng bộ với chính sách tiền tệ và các chính sách vĩ mô khác tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, người dân, thúc đẩy phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, thích ứng nhanh, kịp thời với những biến động của kinh tế thế giới, khắc phục hậu quả nặng nề do thiên tai. Nhờ đó, tình hình kinh tế - xã hội đã đạt được kết quả khá toàn diện, trong đó: đạt và vượt 15/15 chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2024 đã đề ra; tăng trưởng GDP cả năm đạt 7,09%, vượt mục tiêu 6-6,5% Quốc hội đề ra với tổng kim ngạch xuất khẩu tăng 15,4%, xuất siêu 24,77 tỷ USD, cán cân thương mại tiếp tục được cải thiện; lạm phát được kiểm soát, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng 3,63%, đạt mục tiêu Quốc hội đề ra; dư nợ công đạt 34,02% GDP, dư nợ Chính phủ đạt 31,76% GDP, giảm so với năm trước, thấp hơn mức trần và ngưỡng cảnh báo được Quốc hội cho phép, góp phần củng cố nền tảng vĩ mô, an ninh tài chính, tín nhiệm quốc gia; quốc phòng, an ninh được giữ vững; các chính sách an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, chăm lo cho các đối tượng chính sách, người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn, bị ảnh hưởng của thiên tai, dịch bệnh và bảo vệ sức khỏe người dân được quan tâm thực hiện tốt.
Kết quả trên tác động tích cực đến hoạt động thu, chi NSNN năm 2024 như sau:
I. QUYẾT TOÁN THU NSNN
Dự toán thu NSNN là 1.701.085 tỷ đồng[2]; quyết toán là 2.057.544 tỷ đồng, tăng 356.459 tỷ đồng (21%) so với dự toán, tỷ huy động vào NSNN đạt 17,9% GDP, riêng thu từ thuế, phí, lệ phí đạt 13,3% GDP, đảm bảo mục tiêu theo Nghị quyết số 23/2021/QH15 ngày 28/7/2021 của Quốc hội về Kế hoạch tài chính quốc gia và vay, trả nợ công 5 năm giai đoạn 2021 - 2025[3]. Trong đó:
1. Thu nội địa: Dự toán là 1.444.489 tỷ đồng; quyết toán là 1.723.643 tỷ đồng, tăng 279.154 tỷ đồng (19,3%) so với dự toán. Kết quả thực hiện thu ở một số khu vực, lĩnh vực như sau:
a) Thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước: Dự toán là 178.349 tỷ đồng; quyết toán là 180.215 tỷ đồng, tăng 1.866 tỷ đồng (1%) so với dự toán.
b) Thu từ khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể thu từ dầu thô): Dự toán là 232.781 tỷ đồng; quyết toán là 260.871 tỷ đồng, tăng 28.090 tỷ đồng (12,1%) so với dự toán.
c) Thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh: Dự toán là 324.747 tỷ đồng; quyết toán là 391.948 tỷ đồng, tăng 67.201 tỷ đồng (20,7%) so với dự toán.
d) Các khoản thu từ nhà, đất: Dự toán là 257.295 tỷ đồng, quyết toán là 293.931 tỷ đồng, tăng 36.636 tỷ đồng (14,2%) so với dự toán, trong đó thu tiền sử dụng đất tăng 6.094 tỷ đồng, tiền thuê mặt đất, mặt nước tăng 28.620 tỷ đồng so với dự toán. Một số địa phương tăng thu nhờ đẩy mạnh triển khai công tác giải phóng mặt bằng, hoàn tất thủ tục đấu giá đất và đôn đốc nộp tiền sử dụng đất, xử lý thu hồi nợ đọng của các dự án.
đ) Thu từ hoạt động xổ số kiến thiết: Dự toán là 42.990 tỷ đồng; quyết toán là 49.990 tỷ đồng, tăng 7.000 tỷ đồng (16,3%) so với dự toán nhờ doanh số tiêu thụ khá, thuế thu nhập doanh nghiệp và lợi nhuận còn lại của các công ty xổ số nộp ngân sách tăng.
e) Thu hồi vốn, thu cổ tức, lợi nhuận, lợi nhuận sau thuế, chênh lệch thu, chi của Ngân hàng Nhà nước: Dự toán là 89.349 tỷ đồng, quyết toán là 138.682 tỷ đồng, tăng 49.333 tỷ đồng (55,2%) so với dự toán. Trong đó: thu từ chênh lệch thu, chi Ngân hàng Nhà nước nộp ngân sách đạt 52.741 tỷ đồng, tăng 34.541 tỷ đồng so với dự toán, chủ yếu do thu lãi hoạt động đầu tư ở nước ngoài của Ngân hàng Nhà nước tăng mạnh. Thu hồi vốn NSNN đầu tư tại các tổ chức kinh tế đạt 18.311 tỷ đồng, tăng 14.311 tỷ đồng so với dự toán.
g) Thu khác ngân sách: Dự toán là 39.176 tỷ đồng; quyết toán là 69.827 tỷ đồng, tăng 30.651 tỷ đồng (78,2%) so với dự toán chủ yếu do thu tiền phạt vi phạm hành chính là 17.916 tỷ đồng; thu hồi các khoản năm trước chi sai chế độ và thu hồi thông qua công tác thanh tra, kiểm toán là 4.672 tỷ đồng.
Việc triển khai thực hiện nhiệm vụ thu NSNN năm 2024 diễn ra trong bối cảnh kinh tế năm 2024 phục hồi mạnh mẽ, GDP tăng 7,09%, vượt mục tiêu Quốc hội đề ra (6-6,5%), chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 8,4%, kim ngạch xuất nhập khẩu tăng 15,4%, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng..., một số ngành, lĩnh vực có mức tăng trưởng khá đã tác động tích cực đến số thu nộp NSNN. Số thu nội địa năm 2024 vượt so với dự toán, do các nguyên nhân sau:
- Trong năm 2024, nhờ sự chỉ đạo sát sao của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, sự vào cuộc chủ động, quyết liệt của các Bộ, ngành, địa phương; sự nỗ lực của cộng đồng doanh nghiệp và người dân trong việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội; kịp thời ban hành và tập trung triển khai các chính sách tài khóa (miễn, giảm, gia hạn thuế, phí, lệ phí và tiền thuê đất tháo gỡ khó khăn, phát triển sản xuất kinh doanh; đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công), cùng với chính sách tiền tệ và chính sách vĩ mô khác; qua đó, thúc đẩy kinh tế phục hồi tích cực.
- Các bộ, ngành, địa phương tiếp tục đẩy mạnh rà soát, cắt giảm các thủ tục hành chính, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh, tạo điều kiện cho hoạt động sản xuất - kinh doanh.
- Bộ Tài chính đã chỉ đạo triển khai quyết liệt công tác thu NSNN, đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ thông tin, hiện đại hóa trong lĩnh vực thuế. Đẩy mạnh thông tin tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế. Tiếp tục mở rộng triển khai cung cấp các dịch vụ thuế điện tử cho người nộp thuế, triển khai hệ thống khai thuế điện tử tại tất cả các Cục Thuế, Chi cục Thuế; cơ bản thủ tục hành chính thuế đã thực hiện qua phương thức điện tử, tiếp tục triển khai ứng dụng eTax trên nền tảng thiết bị di động (eTax mobile) cho cá nhân, hộ kinh doanh; triển khai cổng dữ liệu thông tin về sàn thương mại điện tử và hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế khởi tạo từ máy tính tiền cho doanh nghiệp, hộ kinh doanh hoạt động, cung cấp hàng hóa, dịch vụ trực tiếp đến người tiêu dùng. Mở rộng ứng dụng hệ thống hóa đơn điện tử trên toàn quốc; áp dụng phân tích dữ liệu lớn (Big data) và trí tuệ nhân tạo (AI) trong công tác quản lý thuế, quản lý hóa đơn, góp phần kiểm soát, phát hiện nhanh các gian lận về hóa đơn, kê khai thuế; điện tử hóa việc ban hành thông báo nợ thuế gửi người nộp thuế, cung cấp thông tin cảnh báo tình hình nợ thuế, thông báo tạm xuất cảnh đối với các trường hợp chưa hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế,... Tăng cường kết nối liên thông giữa cơ quan thuế với cơ quan đăng ký kinh doanh để nắm bắt kịp thời số lượng người nộp thuế, phòng, chống mua bán hóa đơn, gian lận thuế, chiếm đoạt tiền hoàn thuế; quản lý thuế đối với hoạt động thương mại điện tử, hoạt động kinh doanh trên nền tảng số, kinh doanh xuyên biên giới; đưa vào vận hành chính thức hệ thống Cổng thông tin điện tử dành cho nhà cung cấp nước ngoài.
- Cơ quan Thuế và Hải quan đã nỗ lực, quyết liệt triển khai nhiệm vụ thu ngân sách, mở rộng cơ sở thuế, rà soát các nguồn thu để thu đúng, thu đủ, thu kịp thời các khoản thu theo quy định của pháp luật; đẩy mạnh chống thất thu ở các lĩnh vực, địa bàn trọng điểm, còn nhiều rủi ro, nhất là đất đai, kinh doanh bất động sản, xăng dầu, vàng, thương mại điện tử, giao dịch xuyên biên giới,... Tăng cường phối hợp chặt chẽ với các lực lượng chức năng trong công tác quản lý thu, đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về thuế, trốn thuế, gian lận thương mại; đôn đốc thu đầy đủ, kịp thời các khoản nợ thuế, khoản phải thu vào NSNN theo kết luận của cơ quan Thanh tra, Kiểm toán Nhà nước, phấn đấu tăng thu từ các địa bàn, lĩnh vực có điều kiện.
2. Thu dầu thô: Dự toán thu là 46.000 tỷ đồng; quyết toán là 58.646 tỷ đồng, tăng 12.646 tỷ đồng (27,5%) so với dự toán chủ yếu nhờ giá dầu thanh toán bình quân đạt 86 USD/thùng, tăng 16 USD/thùng so với giá dự toán (70 USD/thùng); sản lượng thanh toán đạt 8,03 triệu tấn, giảm 270 nghìn tấn so với kế hoạch (8,3 triệu tấn).
3. Thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu: Dự toán là 204.000 tỷ đồng; quyết toán là 272.006 tỷ đồng, tăng 68.006 tỷ đồng (33,3%) so với dự toán, chủ yếu do tình hình kinh tế thế giới và Việt Nam năm 2024 đã bắt đầu có những dấu hiệu tích cực sau thời gian khó khăn; xuất khẩu sau thời gian bị kìm hãm đã phục hồi khi nhu cầu thị trường thế giới tăng trở lại[4].
Số hoàn thuế giá trị gia tăng theo thực tế phát sinh là 155.427 tỷ đồng, giảm 15.573 tỷ đồng so với dự toán, chủ yếu do thực hiện chính sách giảm thuế giá trị gia tăng từ 10% xuống còn 8% cho cả năm 2024[5] và số hoàn thuế dự án đầu tư năm 2024 đạt thấp ngoài dự báo. Bên cạnh đó, cơ quan Thuế, Hải quan đã tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra sau hoàn thuế, kiểm soát chặt chẽ số hoàn, đảm bảo công tác hoàn thuế giá trị gia tăng đúng đối tượng, đúng quy định của pháp luật và thực tế phát sinh; đẩy mạnh công tác ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hoàn thuế, hoàn thuế điện tử; qua đó phát hiện, kiến nghị xử lý nghiêm các vụ việc vi phạm, thu hồi số tiền hoàn thuế sai quy định nộp NSNN.
4. Thu viện trợ không hoàn lại: Dự toán là 6.596 tỷ đồng; quyết toán là 3.249 tỷ đồng, giảm 3.347 tỷ đồng (50,7%) so với dự toán.
II. QUYẾT TOÁN CHI NSNN
Dự toán là 2.174.449 tỷ đồng; quyết toán là 2.148.477 tỷ đồng[6]; giảm 25.973 tỷ đồng (1,2%) so với dự toán.
Quyết toán chi NSNN theo các lĩnh vực chi chủ yếu như sau:
1. Chi đầu tư phát triển
Dự toán là 677.349 tỷ đồng; quyết toán là 720.862 tỷ đồng[7], tăng 43.513 tỷ đồng (6,4%) so với dự toán. Trong năm 2024, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành nhiều giải pháp điều hành, tổ chức các đoàn công tác của Chính phủ chỉ đạo tháo gỡ khó khăn, đôn đốc thực hiện; điều chỉnh kế hoạch vốn đầu tư công nguồn NSTW giữa các Bộ, cơ quan trung ương và địa phương nhằm đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công những tháng cuối năm 2024.
Chi đầu tư phát triển NSTW: dự toán là 130.690 tỷ đồng, quyết toán là 147.715 tỷ đồng[8], tăng 17.025 tỷ đồng (13%) so với dự toán Quốc hội giao.
Chi đầu tư phát triển NSĐP: Dự toán là 546.659 tỷ đồng, quyết toán là 573.147 tỷ đồng[9], tăng 26.488 tỷ đồng (4,8%) so với dự toán Quốc hội giao.
2. Chi thường xuyên (bao gồm chi cải cách tiền lương)
Dự toán là 1.259.652 tỷ đồng; quyết toán là 1.320.495 tỷ đồng, tăng 60.843 tỷ đồng (4,8%) so với dự toán chủ yếu do tăng chi bổ sung từ nguồn dự phòng ngân sách các cấp và nguồn thực hiện chính sách cải cách tiền lương.
Trong điều hành chi NSNN năm 2024, Chính phủ đã yêu cầu các bộ, ngành, địa phương thực hiện chủ động, chặt chẽ theo dự toán, đảm bảo đúng chính sách, chế độ, triệt để tiết kiệm chi thường xuyên, cắt giảm những nhiệm vụ chi chưa thực sự cần thiết, chậm triển khai; đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý nhà nước, khắc phục hậu quả thiên tai dịch bệnh, thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội. Ngân sách các cấp đã đảm bảo nguồn thực hiện tăng lương tối thiểu (từ 1,8 triệu đồng/tháng lên 2,34 triệu đồng/tháng) cho các đối tượng hưởng lương từ NSNN và tăng lương hưu, trợ cấp cho các đối tượng thuộc NSNN đảm bảo từ ngày 01/7/2024.
Năm 2024, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành nhiều Nghị quyết, Chỉ thị, Công điện yêu cầu các Bộ, cơ quan trung ương, địa phương tập trung thực hiện nhiệm vụ, giải pháp thu, chi, đảm bảo cân đối NSNN; cắt giảm những khoản chi NSTW đến ngày 30/6/2024 chưa phân bổ; thực hiện tiết kiệm 5% dự toán chi thường xuyên NSNN năm 2024, tổng số tiền tiết kiệm khoảng 5 nghìn tỷ đồng, đã trình Quốc hội quyết định bổ sung nguồn thực hiện mục tiêu xóa nhà tạm, nhà dột nát cho hộ nghèo, hộ cận nghèo trên phạm vi cả nước.
3. Chi trả nợ lãi
Dự toán là 111.714 tỷ đồng; quyết toán là 102.571 tỷ đồng, giảm 9.143 tỷ đồng (8,2%) so với dự toán. Nguyên nhân chủ yếu do điều hành vay và phát hành trái phiếu Chính phủ sát với tiến độ thu ngân sách và nhu cầu sử dụng vốn, số thực vay trong năm 2023 thấp hơn dự kiến, góp phần làm giảm số chi trả nợ lãi năm 2024, tiết kiệm chi phí đi vay cho NSNN. Công tác trả nợ được thực hiện đầy đủ, đúng hạn theo cam kết, góp phần củng cố xếp hạng tín nhiệm quốc gia.
III. BỘI CHI NSNN, CÁC KHOẢN VAY CỦA NSNN VÀ NỢ CÔNG
1. Bội chi NSNN
Dự toán bội chi NSNN là 399.400 tỷ đồng, bằng 3,6% GDP; quyết toán là 323.308 tỷ đồng, bằng 2,8% GDP thực hiện[10], giảm 76.092 tỷ đồng (19,1%) so với dự toán. Trong đó: bội chi NSTW là 319.863 tỷ đồng, giảm 53.037 tỷ đồng (14,2%) so với dự toán; bội chi NSĐP là 3.445 tỷ đồng, giảm 23.055 tỷ đồng (87%) so với dự toán.
2. Tổng mức vay của NSNN
Dự toán là 690.553 tỷ đồng; quyết toán là 611.200 tỷ đồng, giảm 79.353 tỷ đồng (11,5%) so với dự toán.
3. Nợ công
Dư nợ công năm 2024 bằng 34,02% GDP, nợ Chính phủ bằng 31,76% GDP, nợ được Chính phủ bảo lãnh bằng 2,17%GDP, nợ Chính quyền địa phương bằng 0,56%GDP. Các chỉ tiêu nợ công năm 2024 trong giới hạn cho phép của Quốc hội./.
|
FILE ĐƯỢC ĐÍNH KÈM THEO VĂN BẢN
|
[1] Nghị quyết số 104/2023/QH15 ngày 10/11/2023 về dự toán NSNN năm 2024 và được bổ sung tại Nghị quyết số 159/2024/QH15 về dự toán NSNN năm 2025, Nghị quyết số 174/2024/QH15 kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XV.
[2] Dự toán thu NSNN năm 2024 sau khi được Quốc hội bổ sung tại Nghị quyết số 159/2024/QH15 về dự toán NSNN năm 2025
[3] Mục tiêu của Nghị quyết số 23/2021/QH15: Tỷ lệ huy động vào ngân sách nhà nước bình quân không thấp hơn 16% GDP, trong đó từ thuế, phí khoảng 13 - 14% GDP.
[4] Tổng trị giá xuất nhập khẩu của cả nước năm 2024 đạt 786,9 tỷ USD, tăng 15,5% (tương đương tăng 105,8 tỷ USD) so với năm 2023 và tăng 9,9% (tương đương tăng 70,6 tỷ USD) so với dự toán.
[5] theo Nghị quyết của Quốc hội và các Nghị định số 95/2023/NĐ-CP ngày 28/12/2023, số 72/2024/NĐ-CP ngày 30/6/2024 của Chính phủ (khi xây dựng dự toán chưa ban hành)
[6] Bao gồm số chi từ nguồn năm trước chuyển sang theo quy định.
[7] Bao gồm cả nguồn từ năm trước chuyển sang, đồng thời được bổ sung từ nguồn dự phòng NSNN và tăng thu tiền sử dụng đất, thu xổ số kiến thiết và thu cổ phần hóa, thoái vốn tại doanh nghiệp nhà nước của các địa phương.
[8] Bao gồm số giải ngân từ nguồn năm trước chuyển sang theo quy định.
[9] Bao gồm số giải ngân từ nguồn năm trước chuyển sang theo quy định và nguồn bổ sung từ dự phòng NSTW, tăng thu NSĐP.
[10] GDP thực hiện là 11.511.867 tỷ đồng.
