|
UBND TỈNH GIA LAI Số: 13/1999/QĐ-UB |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------------------------- tỉnh Gia Lai, ngày 03 tháng 02 năm 1999 |
QUYẾT ĐỊNH
CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
Về việc ban hành quy định phân cấp quản lý khai thác bảo vệ công trình thủy lợi
_____________________________
UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Căn cứ Điều 41, Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 1994;
- Căn cứ Pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi do Ủy ban Thường vụ Quốc hội công bố ngày 31-8-1994;
- Theo đề nghị của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
QUYẾT ĐỊNH
Điều 1: Nay ban hành kèm theo Quyết định này bản quy định về phân cấp quản lý khai thác bảo vệ công trình thủy lợi đã xây dựng xong đưa vào phục vụ sản xuất.
Điều 2: Các ông Chánh Văn phòng HĐND và UBND tỉnh, Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT; Chủ tịch UBND các huyện, thị xã, Giám đốc doanh nghiệp thủy nông, các đơn vị và cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.
Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký và bãi bỏ các quyết định trước đây của UBND tỉnh trái với quyết định này.
TM/ ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH
CHỦ TỊCH
(Đã ký)
Đào Quang Phổ
QUY ĐỊNH
(Ban hành kèm theo Quyết định số 13/1999/QĐ-UBngày 03 tháng 2 năm 1999 của UBND tỉnh Gia Lai)
"Về việc phân cấp đầu tư và xây dựng quản lý khai thác bảo vệ công trình thủy lợi đã xây dựng xong đưa vào sản xuất"
_____________________
Chương I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1: Quy định này áp dụng đối với những công trình thủy lợi xây dựng trên địa bàn tỉnh Gia Lai từ giai đoạn đầu tư xây dựng đến khi đưa vào quản lý khai thác sử dụng.
Điều 2: Nhà nước khuyến khích các tổ chức, cá nhân, đầu tư xây dựng công trình thủy lợi tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp và phục vụ các nhu cầu khác có lợi cho phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Gia Lai.
Điều 3: Công trình thủy lợi được xây dựng từ mọi nguồn vốn đều phải tuân theo quy hoạch, kế hoạch, dự án được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, trong đó chỉ rõ tổ chức hoặc cá nhân chịu trách nhiệm quản lý, khai thác, bảo vệ.
Điều 4: Tất cả các đối tượng sử dụng nước từ công trình thủy lợi đều phải trả phí thủy lợi để đảm bảo có chi phí cho công tác quản lý khai thác và duy tu bảo dưỡng công trình an toàn. Mức đóng góp phí thủy lợi theo quy định của Nhà nước trong lĩnh vực này.
Điều 5: Đối tượng được tổ chức làm nhiệm vụ quản lý khai thác, bảo vệ công trình thủy lợi tùy theo nguồn vốn đầu tư xây dựng công trình như vốn ngân sách Nhà nước, không bằng vốn ngân sách Nhà nước, không có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước, tương ứng sẽ tổ chức các đơn vị quản lý khai thác bảo vệ là các doanh nghiệp Nhà nước, giao cho các huyện, thị tổ chức các trạm hoặc các đội quản lý, các tổ chức thuộc doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn theo quy định của pháp luật.
Điều 6: Quản lý chặt chẽ việc khai thác sử dụng nước dưới đất, các tổ chức, cá nhân khi có nhu cầu khai thác sử dụng nước dưới đất cho mục đích sản xuất đều phải xin phép. Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tổ chức kiểm tra, giám sát để ngăn chặn việc khai thác nước dưới đất trái pháp luật. Nghiêm cấm việc khai thác nguồn nước ngầm tùy tiện gây ảnh hưởng xấu tới trữ lượng và chất lượng nước dưới đất, nguy cơ cạn kiệt hoặc phá vỡ kết cấu các tầng nước ngầm trong đất.
Điều 7: Quy định này chỉ quy định cụ thể về phân cấp đầu tư xây dựng và quản lý khai thác bảo vệ công trình thủy lợi, trách nhiệm của các cấp, các đơn vị làm nhiệm vụ quản lý thủy nông phù hợp đặc thù của tỉnh Gia Lai. Những phần không nêu ở Quy định này thực hiện theo tinh thần của Luật tài nguyên nước, Pháp lệnh khai thác bảo vệ công trình thủy lợi và các văn bản của Nhà nước đã ban hành trong công tác đầu tư xây dựng và quản lý khai thác bảo vệ công trình thủy lợi.
Chương II
ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH THỦY LỢI
Điều 8: Việc đầu tư xây dựng các công trình thủy lợi được nêu trong bản quy định này chỉ áp dụng cho những công trình xây dựng từ nguồn kinh phí ngân sách đầu tư tập trung do tỉnh quản lý; nguồn kinh phí từ các nguồn thu để lại cho tỉnh quản lý hoặc phân cấp cho huyện quản lý như: (nguồn kinh phí từ thuế nông nghiệp hàng năm, nguồn kinh phí khác...).
Điều 9: Trên cơ sở quy hoạch, kế hoạch phát triển sản xuất, yêu cầu đề nghị của nhân dân. Hàng năm Sở Nông nghiệp và PTNT chịu trách nhiệm rà xét xác định những danh mục công trình có đủ điều kiện về kinh tế, kỹ thuật có quy hoạch và phân chia đất cho từng hộ gia đình, cùng với Sở Kế hoạch và Đầu tư thống nhất các danh mục công trình, trên cơ sở đó trình UBND tỉnh xem xét quyết định đầu tư cho từng công trình.
Điều 10: Phân cấp kinh phí đầu tư xây dựng công trình thủy lợi:
- Kinh phí ngân sách Nhà nươc đầu tư đồng bộ cả cụm đầu mối và kênh mương cho những công trình thủy lợi có diện tich tưới từ 50 ha trở lên.
- Những công trình có diện tích tưới nhỏ hơn 50 ha, kinh phí ngân sách Nhà nước chỉ đầu tư hỗ trợ, nhân dân tự làm; tùy theo quy mô tính chất phức tạp của từng công trình, UBND tỉnh quyết định mức đầu tư hỗ trợ toàn bộ hoặc một phần cụm công trình. Mà khả năng cơ sở và nhân dân không thể làm được.
- Kinh phí sự nghiệp thủy lợi tỉnh phân cấp cho các huyện, thị quản lý chủ yếu bố trí cho tu sửa, kiên cố hóa công trình nội đồng để duy trì và phát huy năng lực các công trình đã có, hạn chế việc bố trí xây dựng công trình mới.
- Các huyện, thị xã, phường, xã, thị trấn hàng năm phải xây dựng kế hoạch và tổ chức triển khai làm công tác thủy lợi; trên cơ sở nguồn kinh phí tự huy động từ khả năng đóng góp của dân, huy động ngày công lao động công ích và các điều kiện khác ở địa phương nhằm đáp ứng yêu cầu về thủy lợi cho sản xuất và sinh hoạt ở địa phương mình.
Chương III
PHÂN CẤP QUẢN LÝ KHAI THÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI
Việc khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi thực hiện theo hệ thống công trình và được phân cấp như sau:
Điều 11: Những công trình thủy lợi được xây dựng bằng vốn của ngân sách Nhà nước đầu tư cho công tác thủy lợi với quy mô công trình có diện tích tưới từ 100 ha trở lên đối với công trình riêng lẻ, những công trình hồ chứa có dung tích chứa từ 1 triệu m3nước trở lên thì giao cho Công ty Thủy nông trực tiếp quản lý khai thác và bảo vệ. Trong trường hợp các công trình thủy lợi có diện tích tưới nhỏ hơn 100 ha nằm trong địa bàn Công ty Thủy nông đang tổ chức quản lý mà các huyện, thị không tổ chức được Trạm quản lý riêng thì cũng giao cho Công ty Thủy nông quản lý khai thác bảo vệ.
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có nhiệm vụ theo dõi, tập hợp đề xuất trình Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định những công trình thủy lợi được đầu tư từ nguồn vốn ngân sách giao cho Công ty thủy nông quản lý khai thác khi công trình được xây dựng hoàn thành đưa vào sử dụng.
Công ty Thủy nông có trách nhiệm tổ chức quản lý khai thác bảo vệ công trình đảm bảo dẫn nước từ đầu mối đến mặt ruộng hoặc tùy theo từng công trình xây dựng phương án phân cấp cụ thể thông qua Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thẩm định trình UBND tỉnh xét duyệt để tổ chức quản lý, bảo vệ, thu thủy lợi phí cho phù hợp với đặc điểm từng vùng, từng công trình do Công ty quản lý.
Điều 12: Những công trình thủy lợi được đầu tư từ vốn ngân sách Nhà nước có quy mô tưới nhỏ hơn 100 ha, những công trình nằm riêng biệt có diện tích tưới lớn hơn 100 ha ở những vùng có ít công trình thì giao cho Ủy ban nhân dân các huyện, thị chỉ đạo tổ chức thành lập đơn vị quản lý khai thác bảo vệ với hình thức có thể thành lập Trạm hoặc đội thủy nông huyện là tổ chức sự nghiệp hạch toán lấy thu bù chi; phần kinh phí còn thiếu được cấp bù từ nguồn kinh phí ngân sách đầu tư cho sự nghiệp thủy lợi hàng năm. Trường hợp không thể thành lập được đơn vị quản lý chung thì mới giao cho các xã, hợp tác xã tổ chức bộ phận quản lý nhưng phải dưới sự hướng dẫn của Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn về chuyên môn nghiệp vụ.
Những huyện, thị tổ chức thành Trạm quản lý thủy nông, phải xây dựng đề án cụ thể, Chủ tịch UBND huyện, thị phê duyệt để thực hiện, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Tài chính - Vật giá hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ.
Điều 13: Những công trình thủy lợi được xây dựng từ nguồn vốn của các đơn vị quốc doanh (nguồn vốn vay, vốn tự có hoặc có vốn hỗ trợ của ngân sách nhưng vốn của đơn vị là chính) thì các đơn vị này tổ chức bộ phận quản lý khai thác bảo vệ công trình dưới sự hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, theo quy định của pháp luật.
Điều 14: Những công trình thủy lợi được đầu tư xây dựng không bằng nguồn vốn ngân sách (vốn của các doanh nghiệp tư nhân, của Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần, hộ cá thể...) thì tự tổ chức quản lý khai thác bảo vệ theo đúng quy định của pháp luật và chịu sự hướng dẫn kiểm tra của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về chuyên môn nghiệp vụ đảm bảo an toàn chung.
Chương IV
TRÁCH NHIỆM VỀ KHAI THÁC BẢO VỆ CÔNG TRÌNH THỦY LỢI
Điều 15: Công trình thủy lợi sau khi được xây dựng xong nhất thiết phải được tổ chức bảo vệ:
- Công trình thủy lợi do tổ chức, cá nhân nào khai thác thì tổ chức, cá nhân đó chịu trách nhiệm trực tiếp quản lý bảo vệ công trình.
- Các tổ chức quản lý thủy nông phải chủ động có phương án phòng chống thiên tai và hành động phá hoại, đảm bảo an toàn công trình, những công trình hồ chứa có dung tích chứa từ 1 triệu m3trở lên phương án phải thông qua Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thẩm định. Khi phát hiện công trình thủy lợi bị xâm hại hoặc có nguy cơ xảy ra sự cố, thì người phát hiện có trách nhiệm báo ngay cho chính quyền địa phương, cơ quan quản lý công trình nơi gần nhất để xử lý.
- Chính quyền địa phương các cấp và cơ quan quản lý Nhà nước về chuyên môn. Có trách nhiệm kiểm tra xử lý nghiêm khắc trong những trường hợp vi phạm đến công tác quản lý bảo vệ công trình thủy lợi, thực hiện thu nộp thủy lợi phí để có kinh phí cho quản lý và tu sửa công trình.
Điều 16: Các đơn vị quản lý thủy nông phải tổ chức thu thủy lợi phí thông qua ký kết hợp đồng phục vụ đối với hộ dùng nước để tạo nguồn thu đảm bảo thu để có chi cho bộ máy quản lý, để duy tu sửa chữa công trình. Chế độ thu thực hiện đúng theo quy định của Nhà nước.
Điều 17: Các ngành, các cấp phải quan tâm chỉ đạo chặt chẽ công tác đầu tư xây dựng và quản lý bảo vệ công trình thủy lợi, tổ chức thu thủy lợi phí để có sửa chữa công trình theo sự phân cấp quản lý ở chương II, chương III, chương IV của quy định này.
Điều 18: Nhà nước chỉ đầu tư và hỗ trợ kinh phí để tu sửa công trình thủy lợi trong những trường hợp sau:
- Hư hỏng công trình do bị thiên tai lũ lụt.
- Tu sửa nâng cấp công trình theo kế hoạch sửa chữa lớn.
- Tu bổ sửa chữa công trình ở những vùng đồng bào dân tộc, vùng kinh tế mới thực sự khó khăn đang nằm trong diện được miễn nộp thủy lợi phí và các khoản thuế.
Không hỗ trợ kinh phí cho những công trình do thiếu trách nhiệm trong quản lý để hư hỏng tùy theo mức độ sẽ có biện pháp xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.
Chương V
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 19: Các chương điều được nêu trong bản quy định này được áp dụng đối với hoạt động đầu tư xây dựng quản lý khai thác, bảo vệ công trình thủy lợi được xây dựng trên địa bàn tỉnh Gia Lai.
Điều 20: Quy định này có hiệu lực kể từ ngày ký các quy định trước đây trái với quy định này đều bãi bỏ.