Quay lại

Quyết định 14/2008/QĐ-UBND về việc ban hành chương trình hành động của tỉnh Vĩnh phúc thực hiện Nghị quyết số 16/2007/NQ-CP của Chính Phủ sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)

UBND TỈNH VĨNH PHÚC
-------

Số: 14/2008/QĐ-UBND

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------------------------

tỉnh Vĩnh Phúc, ngày 29 tháng 02 năm 2008

QUYẾT ĐỊNH

V/v ban hành Chương trình hành động của tỉnh Vĩnh Phúc thực hiện

Nghị quyết số 16/2007/NQ-CP của Chính phủ sau khi Việt Nam gia nhập

Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).

_______________________

UỶ BAN NHÂN DÂN

Căn cứ Luật tổ chức HĐND và UBND ngày 26/11/2003;

Căn cứ Nghị quyết số 16/2007/NQ-CP ngày 27/2/2007 của Chính phủ ban hành chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 BCHTW Đảng khoá X về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO);

Căn cứ nội dung họp Lãnh đạo UBND tỉnh, Ban chỉ đạo tỉnh và các Sở, ngành liên quan ngày 28/02/2008;

Xét đề nghị của Ban chỉ đạo tỉnh Vĩnh Phúc thực hiện nghị quyết 16/2007/NQ-CP của Chính phủ.

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Chương trình hành động của tỉnh Vĩnh Phúc thực hiện Nghị quyết số 16/2007/NQ-CP của Chính phủ sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).

Điều 2. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký;

Chánh văn phòng UBND tỉnh; Giám đốc các sở, ban, ngành, đoàn thể; Chủ tịch UBND các huyện, thị xã, thành phố và Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị có liên quan căn cứ Quyết định thi hành./.

CỦA TỈNH VĨNH PHÚC

Thực hiện chương trình hành động của Chính phủ sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) giai đoạn 2007-2012.

(Ban hành kèm theo quyết định số 14 /2008/QĐ-UBND ngày 29 /02 /2008

của UBND tỉnh Vĩnh Phúc).

______________________

Sau 10 năm tái lập tỉnh, thực hiện đường lối đổi mới Đảng và Chính phủ; Đảng bộ, các cấp chính quyền và các tầng lớp nhân dân, doanh nghiệp, doanh nhân trên địa bàn tỉnh đã có những cố gắng vượt bậc, đưa Vĩnh Phúc từ một tỉnh thuần nông, thu nhập bình quân đầu người chỉ bằng 48,2% mức bình quân chung cả nước, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội thấp kém, phải nhận trợ cấp từ ngân sách TW trở thành một trong 10 tỉnh dẫn đầu cả nước về thu ngân sách với tổng thu ngân sách năm 2007 đạt 5.840,2 tỷ đồng, gấp 51,2 lần so năm 1997, đóng góp về Ngân sách Trung ương 33% trong giai đoạn ổn định Ngân sách 2007-2010. Tốc độ tăng trưởng kinh tế liên tục đạt mức cao (bình quân giai đoạn 1997-2007 là 18%), GDP bình quân đầu người năm 2007 đạt 956 USD, cao hơn mức bình quân chung cả nước (830 USD). Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được cải thiện, đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân được nâng lên. Năm 2006 Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), đây là một cơ hội lớn để Đảng bộ, chính quyền, nhân dân các cấp phát huy nội lực, đồng thời đón nhận những luồng đầu tư mới từ bên ngoài vào để đẩy mạnh hơn nữa tốc độ phát triển kinh tế - xã hội, đưa Vĩnh Phúc sớm trở thành một trong những tỉnh phát triển nhất cả nước.

I . MỤC TIÊU.

1. Mục tiêu chung:
Cụ thể hoá chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 BCH TW đảng khoá X về một số chủ trương chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên Tổ chức Thương mại Thế giới WTO; nhằm tận dụng tối đa những cơ hội cũng như hạn chế những khó khăn, thách thức và giảm thiểu những tác động tiêu cực do hội nhập kinh tế quốc tế mang lại. Góp phần thực hiện thắng lợi nghị quyết Đại hội tỉnh đảng bộ lần thứ XIV và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006-2010 của tỉnh đã đề ra. Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và bền vững, giải quyết tốt các vấn đề xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Xây dựng Vĩnh Phúc có đủ các yếu tố cơ bản của một tỉnh công nghiệp vào năm 2015 và trở thành thành phố Vĩnh Phúc vào những năm 20 của thế kỷ XXI. Đưa Vĩnh Phúc trở thành một trong những tỉnh dẫn đầu của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ.

2. Mục tiêu cụ thể:

2. 1. Phấn đấu tốc độ tăng trưởng kinh tế:Bình quân giai đoạn 2006-2010 đạt 16-17%/năm; trong đó:
+ Ngành công nghiệp xây dựng tăng 20-22%/năm;
+ Ngành dịch vụ tăng 16-17%/năm;
+ Ngành nông lâm nghiệp thuỷ sản tăng 4-5%/năm.

2. Cơ cấu kinh tế năm 2010 phấn đấu đạt:Công nghiệp Xây dựng 63-64%; Dịch vụ 26-27%; Nông lâm nghiệp thuỷ sản 9-10%;

2. 3. Phấn đấu đến năm 2010:
- Tổng kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn đạt 1,0-1,2 tỷ USD;
- Thu ngân sách trên địa bàn đạt trên 10.000 tỷ đồng, tăng bình quân 18-20%/năm. Tỷ lệ huy động GDP vào ngân sách đạt 28-30%.
- Huy động vốn đầu tư phát triển toàn xã hội đạt 40-45% GDP;
- GDP bình quân đầu người đạt 1.380 USD, vượt mức bình quân chung cả nước trên 20% và cao hơn vùng đồng bằng sông Hồng trên 10%;
- Giải quyết việc làm cho 25-30 ngàn lao động/năm;
- Tăng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên trên 50%;
- Giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới 8%;
- Giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng xuống dưới 15%.
II . NHỮNG NHIỆM VỤ CHỦ YẾU :

1. Công tác tuyên truyền và phổ biến thông tin về WTO.
- Tiến hành tuyên truyền, phổ biến rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng, tổ chức các lớp tập huấn, các buổi toạ đàm, ... cung cấp thông tin cho cán bộ đảng viên, các doanh nghiệp và các tầng lớp nhân dân trong tỉnh về những cơ hội và thách thức, về các cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO,... nhằm tạo sự thống nhất trong nhận thức và hành động, phát huy ý chí tự lực tự cường, huy động nội lực trong nhân dân, tận dụng cơ hội, vượt qua những khó khăn thách thức để đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh theo hướng nhanh và bền vững.

2. Hoàn thiện thể chế và các văn bản pháp quy của địa phương:
- Tiến hành rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của tỉnh, loại bỏ những quy định chồng chéo, những quy định trái với quy định của Chính phủ hiện hành và trái với những cam kết của Việt nam khi gia nhập WTO. Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật rõ ràng, cụ thể, phù hợp, tạo môi trường pháp lý thông thoáng cho sản xuất kinh doanh phát triển.

3. Đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả, hiệu lực của bộ máy Nhà nước.
- Tiến hành rà soát chức năng, nhiệm vụ của một số cơ quan quản lý Nhà nước, khắc phục sự chồng chéo về chức năng nhiệm vụ. Triển khai thực hiện chính sách tinh giản biên chế theo nghị định 132/2007/NĐ-CP của Chính phủ; Sắp xếp lại tổ chức, bộ máy của các cơ quan Nhà nước theo hướng tinh gọn.
- Thực hiện tốt cơ chế “một cửa” trong giải quyết các thủ tục hành chính công. Tiếp tục rà soát các quy trình tác nghiệp nhằm rút ngắn hơn nữa thời gian giao dịch, đáp ứng nhanh nhất yêu cầu của các nhà đầu tư về thủ tục đầu tư, đăng ký kinh doanh, khắc dấu, đăng ký mã số thuế, thủ tục hải quan, thủ tục về đất đai,.... Công khai mọi thủ tục, cơ chế chính sách để mọi người dân và doanh nghiệp biết, thực hiện và giám sát. Từng bước thực hiện cải cách cơ cấu nền tài chính công theo lộ trình của Chính phủ.
- Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan Nhà nước, giảm bớt văn bản giấy tờ, thực hiện giao dịch qua mạng điện tử.

4. Nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh, của doanh nghiệp:

4. 1. Nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh:
- Trước mắt cần nhanh chóng triển khai xây dựng quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội của tỉnh đến năm 2020 và kế hoạch phát triển bền vững của tỉnh; Xây dựng đồng bộ quy hoạch các ngành nông nghiệp, công nghiệp, thương mại, du lịch, giao thông, văn hoá xã hội,...
- Triển khai xây dựng đồ án quy hoạch đô thị Vĩnh Phúc tầm nhìn đến năm 2045 với phạm vi nghiên cứu khoảng trên 300 km2, quy mô dân số khoảng trên 1 triệu dân, hình thành một đô thị công nghiệp, đặc biệt ưu tiên phát triển ngành công nghiệp công nghệ cao, đồng thời chú ý khai thác tiềm năng du lịch, gắn phát triển đô thị với bảo vệ môi trường sinh thái.
- Tiến hành quy hoạch một số khu, cụm công nghiệp mới có diện tích khoảng 10-11 ngàn ha trình Chính phủ phê duyệt, làm cơ sở để từng bước xây dựng kết cấu hạ tầng, chuẩn bị quỹ đất tạo điều kiện thuận lợi thu hút các dự án đầu tư trong và ngoài nước.
- Khẩn trương hoàn thiện quy hoạch các khu du lịch, khu vui chơi giải trí tầm cỡ quốc gia và quốc tế tại Tam Đảo, Đại Lải, Đầm Vạc, Đầm Và, Tây Thiên, Hải Lựu,... Tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các dự án đầu tư vào các khu du lịch, khu vui chơi giải trí nhằm khai thác mạnh mẽ tiềm năng du lịch của tỉnh, đưa Vĩnh Phúc trở thành điểm du lịch hiện đại của cả nước.
- Đa dạng hoá các hình thức thu hút vốn đầu tư cho xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, ưu tiên đầu tư cho các công trình kết cấu hạ tầng thiết yếu, hạ tầng các khu, cụm công nghiệp và các công trình an sinh xã hội, nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Vĩnh Phúc với các tỉnh lân cận trong việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Trong năm 2008-2009 phải tập trung nguồn lực đầu tư một số công trình kết cấu hạ tầng trọng điểm như:
+ Tập trung đầu tư các tuyến đường quan trọng như:quốc lộ 2A, 2B. Nâng cấp, cải tạo quốc lộ 2C; Xây dựng mới, nâng cấp một số tuyến đường nội tỉnh quan trọng nối liền các khu đô thị và khu, cụm công nghiệp nhằm tạo điều kiện thuận lợi để phát triển công nghiệp và du lịch. Phối hợp với Bộ Giao thông vận tải trong việc giải phóng mặt bằng xây dựng tuyến đường Hà Nội – Lào Cai, tạo thuận lợi trong việc thông thương với Trung Quốc.
Xây dựng cầu Vĩnh Thịnh và một số cảng quan trọng như: cảng Vĩnh Thịnh, cảng Chu Phan; cảng Đống Cao (Mê Linh), cảng Trung Hà (Yên Lạc), cảng Việt An (Vĩnh Tường) và cảng Hải Lựu (Lập Thạch), tạo điều kiện thuận lợi để phát triển vận tải hàng hoá, thông thương giữa các vùng trong và ngoài tỉnh.
+ Đầu tư nâng cấp, cải tạo lưới điện trên địa bàn tỉnh, đảm bảo đủ nguồn cung ứng liên tục cho sản xuất và sinh hoạt, đặc biệt là cho các khu công nghiệp. Trong năm 2008, đầu tư hoàn thành trạm biến áp 110 KV Lập Thạch; Xây mới trạm 110 KV Vĩnh Tường; đường dây 110 KV từ Sóc Sơn đến Phúc Yên để tăng cường và nâng cao độ an toàn cho lưới điện Vĩnh Phúc.
+ Đẩy mạnh công tác xúc tiến đầu tư, tranh thủ thu hút nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức để đầu tư nâng cấp hệ thống cấp nước Vĩnh Yên, Phúc Yên và đầu tư xây dựng mới hệ thống cấp nước lấy nguồn từ sông Lô.
+ Đẩy nhanh tiến độ triển khai dự án thoát nước Vĩnh Yên, Phúc Yên. Xây dựng hệ thống thoát nước tại các khu đô thị, công nghiệp và nhà máy xử lý rác thải tại Minh Quang (Tam Đảo), đảm bảo đến năm 2010, toàn bộ các khu, cụm công nghiệp đều có hệ thống xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn về môi trường.
+ Huy động vốn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị, hiện đại hoá kết cấu hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông trên địa bàn, đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.

4. 2. Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp:
- Đối với doanh nghiệp Nhà nước: Tiếp tục sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả của các doanh nghiệp Nhà nước địa phương quản lý, trong đó chú trọng đẩy nhanh tiến độ cổ phần hoá các DNNN, nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, huy động mọi nguồn nội lực để phát triển sản xuất kinh doanh. Tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong quá trình sắp xếp đổi mới doanh nghiệp.
- Đối với doanh nghiệp tư nhân: Tạo mọi điều kiện huy động nguồn nội lực trong nước, nhất là phát triển các doanh nghiệp tư nhân vào phát triển kinh tế xã hội. Xây dựng chiến lược phát triển doanh nghiệp đến năm 2015, phấn đấu giai đoạn 2007- 2010, thành lập mới từ 1500- 2000 doanh nghiệp trong nước với vốn đầu tư từ 15-20 ngàn tỷ đồng. Khuyến khích các doanh nghiệp xây dựng thương hiệu hàng hoá, áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế. Lựa chọn một số doanh nghiệp, sản phẩm có uy tín để thí điểm hỗ trợ xây dựng thương hiệu. Tổ chức tư vấn cho các doanh nghiệp về pháp luật và môi trường kinh doanh.
- Đối với các doanh nghiệp FDI: Đẩy mạnh công tác xúc tiến đầu tư, tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, tạo điều kiện thuận lợi cho các dự án FDI công nghệ cao đầu tư vào tỉnh. Giai đoạn đầu của thời kỳ phát triển công nghiệp phải hết sức coi trọng nguồn vốn FDI, phấn đấu đến năm 2010 thu hút thêm nhiều dự án FDI, với tổng vốn đầu tư 2,5-3 tỷ USD;

5. Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá:
- Khi gia nhập WTO, nhu cầu về nguồn nhân lực có trình độ kỹ thuật cao là rất lớn, Vĩnh Phúc có nguồn lao động dồi dào nhưng chất lượng còn thấp. Do vậy việc phát triển nguồn nhân lực của tỉnh là một yêu cầu vô cùng cấp thiết. Trước hết, cần khẩn trương xây dựng đề án Quy hoạch đào tạo nghề giai đoạn 2007-2012 và định hướng đến 2020, trong đó cần tập trung quy hoạch lại hệ thống trường đào tạo, định hướng đào tạo. Tăng cường đầu tư cho các trường dạy nghề về đội ngũ giáo viên có trình độ chuyên môn cao, về trang thiết bị dạy nghề. Đẩy mạnh việc liên kết với các trường ở Trung ương và các tỉnh bạn để mở rộng và nâng cao chất lượng đào tạo. Chú trọng đào tạo đội ngũ công nhân lành nghề, có tay nghề cao tập trung vào các ngành xây dựng, cơ khí, điện tử, công nghệ thông tin,... nhằm cung cấp nguồn lao động có chất lượng về tay nghề, có sức khoẻ, có kỷ luật, tác phong công nghiệp, có văn hoá,... đáp ứng nhu cầu lao động của các doanh nghiệp trong và ngoài nước trên địa bàn tỉnh.
- Triển khai ngay việc hỗ trợ kinh phí đào tạo nghề cho các đối tượng chính sách xã hội, lao động ở các khu vực dành đất cho phát triển công nghiệp, hộ nghèo, hộ dân tộc thiểu số,.... Củng cố và mở rộng các cơ sở giới thiệu việc làm trên địa bàn tỉnh nhằm cung cấp thông tin việc làm cho người lao động, giúp người lao động dễ dàng tìm được việc làm, hạn chế tình trạng người lao động phải trả chi phí tìm việc qua trung gian, môi giới.
- Tiếp tục phát triển toàn diện giáo dục và đào tạo theo hướng chuẩn hoá, nâng cao rõ rệt chất lượng. Xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ công chức theo hướng đổi mới, chuyên nghiệp, hiện đại, đáp ứng yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế.

6. Tăng cường đầu tư, hiện đại hoá nông nghiệp, phát triển nông thôn, nâng cao đời sống nông dân:
- Triển khai thực hiện tốt nghị quyết 03-NQ/TU của Tỉnh uỷ và các nghị quyết của HĐND tỉnh về phát triển nông nghiệp, nông thôn, nâng cao đời sống dân. Ưu tiên vốn đầu tư cho chương trình kiên cố hoá kênh mương, hỗ trợ 100% thuỷ lợi phí, hỗ trợ giống cây con, hỗ trợ xây dựng điểm các khu trồng trọt, chăn nuôi tập trung, đào tạo tập huấn nâng cao kiến thức cho nông dân. Xây dựng các điểm tư vấn về chính sách pháp luật, cung cấp thông tin thị trường, về kỹ thuật sản xuất nông nghiệp,... Tạo tiền đề để khu vực nông nghiệp nông thôn phát triển, đủ khả năng ứng phó khi Việt Nam thực hiện cam kết cắt giảm thuế nông sản vào những năm tới.
- Tiếp tục triển khai các đề án dồn điền, đổi thửa; đưa cơ giới vào sản xuất nông nghiệp; ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào trồng trọt, chăn nuôi. Ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn cần khẩn trương xây dựng kế hoạch tổ chức lại sản xuất trong nông nghiệp theo hướng sản xuất tập trung, quy mô lớn. Trước mắt xây dựng điểm mỗi huyện, thành thị một mô hình sản xuất tập trung, có sự hỗ trợ đầu tư của ngân sách Nhà nước theo nghị quyết của Tỉnh uỷ và HĐND tỉnh.
- Tăng cường hỗ trợ đầu tư xây dựng các làng nghề, cụm công nghiệp dịch vụ nhằm chuyển dịch cơ cấu lao động ở khu vực nông nghiệp nông thôn. Từng bước đô thị hoá nông thôn, mỗi huyện, thành thị cần xây dựng điểm một số mô hình nông thôn mới để nhân rộng ra toàn tỉnh.
- Tập trung đẩy mạnh việc xây dựng kết cấu hạ tầng thương mại dịch vụ trên địa bàn tỉnh; nhất là đầu tư xây dựng hệ thống chợ nông thôn, chợ đầu mối nông sản. Tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp.

7. Giải quyết tốt các vấn đề xã hội, bảo vệ môi trường, phát huy những giá trị văn hoá dân tộc:
- Khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), sự phân hoá giàu nghèo sẽ diễn ra mạnh hơn. Do vậy công tác giảm nghèo, chống tái nghèo cần được đẩy mạnh. Trước mắt, triển khai ngay việc hỗ trợ lãi suất vay vốn phát triển sản xuất, hỗ trợ xây dựng nhà đại đoàn kết, hỗ trợ giáo dục, học nghề theo Nghị quyết 16/2007/NQ-HĐND của HĐND tỉnh.
- Kết hợp hài hoà giữa giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống với tiếp thu có chọn lọc các giá trị văn hoá tiên tiến. Bảo vệ và phát huy có hiệu quả di tích lịch sử, văn hoá. Xây dựng cơ chế thích hợp để huy động các nguồn lực tôn tạo và phát huy di sản văn hoá nhằm giáo dục truyền thống và tạo tiền đề vững chắc cho phát triển và hội nhập. Chú trọng công tác bảo vệ trận địa tư tưởng văn hoá, không để các sản phẩm văn hoá độc hại xâm nhập vào địa bàn tỉnh.
- Đẩy mạnh công tác thông tin, truyền thông về môi trường, đặc biệt chú trọng công tác truyền thông ở khu vực nông nghiệp nông thôn. Tăng cường đầu tư bảo vệ môi trường ở các khu, cụm công nghiệp, làng nghề tiểu thủ công nghiệp và khu vực nông thôn thông qua các chương trình, dự án cụ thể. Huy động mọi nguồn lực trong xã hội để đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường. Triển khai thực hiện tốt Đề án tổng thể bảo vệ môi trường tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020.
- Quản lý chặt chẽ đất đai và tài nguyên theo đúng quy định của Nhà nước và của tỉnh.

8. Giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong quá trình hội nhập:
- Tăng cường chỉ đạo, đẩy mạnh công tác phòng chống tham nhũng lãng phí; phiền hà sách nhiễu nhân dân. Xử lý nghiêm và kiên quyết loại trừ những hành vi cửa quyền, hách dịch, nhũng nhiễu nhân dân và doanh nghiệp.
- Ngăn chặn có hiệu quả hàng lậu; hàng giả, chống gian lận thương mại.
- Đảm bảo an toàn giao thông, hạn chế tai nạn giao thông trên địa bàn tỉnh. Ngăn chặn có hiệu quả tệ nạn ma tuý, mại dâm, cá độ,...
- Tăng cường công tác bảo vệ an ninh chính trị nội bộ, trật tự an toàn xã hội, giải quyết tốt các vấn đề bức xúc ở cơ sở, không để phức tạp kéo dài phát sinh thành điểm nóng.
III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN:

1. Căn cứ các nhiệm vụ chủ yếu đã được nêu tại chương trình hành động này và căn cứ chức năng nhiệm vụ của đơn vị mình, Giám đốc các sở, ban, ngành, đoàn thể, Thủ trưởng các đơn vị thuộc tỉnh; Chủ tịch UBND các huyện thị, thành phố cần nhanh chóng triển khai thực hiện chương trình hành động này. Định kỳ 6 tháng, báo cáo tình hình thực hiện của đơn vị mình với Ban Chỉ đạo(thông qua Sở Kế hoạch và Đầu tư - Thường trực Ban chỉ đạo).

2. Trong quá trình tổ chức thực hiện chương trình hành động, Thương trực Ban chỉ đạo và các Thành viên căn cứ điều kiện thực tế xét thấy cần sửa đổi, bổ sung những nội dung cụ thể của chương trình cho phù hợp thực tế, các đơn vị chủ động báo cáo Ban chỉ đạo (Thông qua Thường trực Ban chỉ đạo: Sở Kế hoạch Đầu tư, Sở Thương mại tổng hợp), trình UBND tỉnh quyết định.

3. Ban chỉ đạo tỉnh Vĩnh Phúc thực hiện NQ 16/2007/NQ-CP của Chính phủ có trách nhiệm đôn đốc việc triển khai chương trình hành động này của các sở, ban, ngành và các đơn vị có liên quan. Định kỳ báo cáo với Chủ tịch UBND tỉnh tiến độ thực hiện và các giải pháp cần thiết đảm bảo chương trình hành động được thực hiện có hiệu quả./.

Tổng quan văn bản

Số ký hiệu14/2008/QĐ-UBND
Ngày ban hành29/02/2008
Loại văn bảnQuyết định
Ngày có hiệu lực29/02/2008
Nguồn thu thậpCơ sở dữ liệu
Ngày đăng công báo---
Cơ quan ban hành / Người kýUBND tỉnh Phú Thọ / Trần Ngọc Ái
Phạm viVĩnh Phúc
Trích yếuVề việc ban hành chương trình hành động của tỉnh Vĩnh phúc thực hiện Nghị quyết số 16/2007/NQ-CP của Chính Phủ sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)
Tình trạng hiệu lựcCòn hiệu lực

Chưa có thông tin lược đồ

Văn bản này hiện chưa được cập nhật dữ liệu về lược đồ liên quan.