Quay lại

Quyết định 149/2004/QĐ-UB về việc ban hành Đề án Đổi mái cơ chế quản lý khoa học và công nghệ thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2004-2010

UBND THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
-------

Số: 149/2004/QĐ-UB

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------------------------

thành phố Đà Nẵng, ngày 06 tháng 09 năm 2004

QUYẾT ĐỊNH CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Về việc ban hành Đề án Đổi mái cơ chế quản lý khoa học và công nghệ thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2004-2010

__________________________

ỦY BAN NHÂN DÂN

- Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân ngày 26 tháng 1 1 năm 2003;

- Căn cứ Kết luận Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung ương khóa IX về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương II khoá VIII, phương hưổng phát triển giáo dục - đào tạo, khoa học và công nghệ từ nay đến năm 2010;

- Căn cứ Đề án Tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương II khóa VIII và phương hướng phát triển khoa học và công nghệ thành phó Đà Nằng từ nay đến năm 2010 (ban hành kèm theo Quyết định số 119/2002/QĐ-UB ngày 10 tháng 11 năm 2002 của Úy ban nhân dân thành phó);

- Căn cứ Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ Việt Nam đến năm 2010 (ban hành kèm theo Quyết định số 272/2003/QĐ TTg ngày 31 tháng 12 năm 2003 của Thu tưổng Chính phủ);

- Theo đề nghị của Giám đốc sỏ Khoa học và Công nghệ tại Tò trình số 12/TT-SKHCN ngày 22 tháng 4 năm 2004,

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1: Ban hành kèm theo Quyết định này "Đề án Đổi mới ccf chế quản lý khoa học và công nghệ thành phố Đà Nang giai đoạn 2004-2010”. '

Điều 2: Giao sổ Khoa học và Công nghệ làm có quan thường trực thực hiện Đề án này.

Giám đốc các sỏ, Thủ trưỏng các Ban, ngành và Chủ tịch ủy ban nhân dân các quận, huyện căn cứ chức năng, nhiệm vụ của mình và trách nhiệm được phân công chủ động phối họp và triển khai thực hiện có hiệu quả Để án này.

Điều 3:Quyết định này có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày ký.

Điều 4: Chánh Văn phòng ủy ban nhân dân thành phó, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ thành phố, Giám đốc các sở, Thủ trưỏng các Ban, ngành, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các quận, huyện căn cứ Quyết định thi hành./.

TM. UBND THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG.

KT.CHỦ TỊCH

PHÓ CHỦ TỊCH

(Đã ký)

Nông Thị Ngọc Minh

ĐỀ ÁN

Đổi mới cơ chế quản lý khoa hoc và công nghê Thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2004-2010

(Ban hành kèm theo Quyết số 149/2004/QD-UB ngày 06 tháng 9 năm2004 của UBND thành phố Đà Nẵng)

_________________________

Phần I

THỰC TRẠNG CƠ CHẾ QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ HIỆN NAY

I. NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

Trong những năm qua, cơ chế quản lý khoa học và công nghệ (sau đây cụm từ "khoa học và công nghệ" viết tắt là KH và CN) của thành phó đã có những đôi mói bước đầu.

Việc xây dựng và tố chúc thực hiện nhiệm vụ KH và CN từng bước đã theo hướng trọng tâm hơn, giảm tính chủ quan, áp đặt. Các dề tài nghiên cứu đều xuất phát từ nhu cầu bức thiết của sản xuất và đòi sóng, khắc phục dược phần nào tình trạng phân tán, dàn trải. Đã chú trọng hơn đến nghiên ciỉụ trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn. Phương thức tuyển chọn tổ chức và cá nhân thực hiện nhiệm vụ KH và CN bưổc đầu triển khai có két quả.

Đối vối công tác quản lý, văn bản ban hành từ năm 1998 đến năm 2001 của thành phố đã thể hiện sự cải tiến đáng kể trong công tác quản lý đề tài, dự án KH và CN. Quy định về cơ ché quản lý đề tài, dự án ra đòi năm 2001 đã được các nhà khoa học ,các nhà quản lý và các doanh nghiệp ỏ thành phó đánh giá cao. Phường thức tuyển chọn cơ quan chủ trì/chủ nhiệm đề tài là bưdc đổi mói lớn và rất có ý nghĩa trong công tác quản lý theo hưổng dân chủ, công khai, hiệu quả, tạo sự công bằng cho tất cả các tố chức, cá nhân các nhà khoa học, các nhà quản lý trong việc tham gia thực hiện các đề tài, dự án KH và CN của thành phó. Quy định này đã thể hiện được sự khuyến khích, động viên hoạt dộng nghiên cứu khoa học ổ các cơ quan quản lý cũng như các cơ quan nghicn cứu khoa học, mỏ rộng cho tất cả các tập thể, cá nhân các nhà khoa học tham gia đề xuất, giải quyết những vấn đề bức xúc của sản xuất và đòi sóng. Những đổi mói trong quản lý đề tài do doanh nghiệp thực hiện đã khuyến khích doanh nghiệp đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu cải tiến, phát triển công nghệ, thiết bị. Hầu hết các kết quả nghiên cứu của khối doanh nghiệp đều được áp dụng ngay vào sản xuất, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.

Cơ chế quản lý tài chính cũng từng bưổc được đổi mới theo hưống giảm bổt thủ tục phiền hà, coi trọng giá trị lao động KH và CN. Cơ quan chủ chủ trì đề tài, chủ nhiệm đề tài chủ động hơn trong quản lý, sử dụng, thanh quyết toán kinh phí. Qui dịnh về quản lý kinh phí đề tài KH và CN cấp thành phó ban hành kèm theo Quyết định số 128/2003/QĐ-UB ngày 14 tháng 8 năm 2003 của UBND thành phố là sự cải tiến đáng kể về cơ chế quản lý tài chính. Theo đó, kinh phí thực hiện dề tài được thanh toán theo phương thức khoán gọn trên cơ sổ họp đồng và quyết định cấp kinh phí của Giám đốc sổ KH và CN. Quyết định này đã góp phần vào việc tháo gỡ được một phần khó khăn, bất hợp lý về ché độ chi tiêu và thủ tục quản lý kinh phí đề tài.

II. NHỮNG YẾU KÉM CỦA CƠ CHẾ QUẢN LÝ KH VÀ CN HIỆN NAY

Mặc dù cơ ché quản lý các đề tài, dự án KH và CN của thành phó ngày càng được đổi mổi và đã mang lại kết quả bước đầu, nhưng vẫn còn nhiều hạn ché. Cụ thể như sau:

- Trong quản lý nhà nước về KH

Chưa hình thành, kiện toàn được bộ máy tổ chức quần lý tủ cấp thành phó đến quận, huyện. UBND các quận, huyện vẫn chưa có cõ quan chuyên môn giúp thực hiện chức năng và nhiệm vụ quản lý nhà nưóc về KH và CN trên địa bàn. Các ngành cũng chưa có tổ chức chuyên trách về KH và CN.

Bộ máy tổ chức của sỏ KH và CN chưa đáp ứng nhiệm vụ quản lý do tiềm lực còn hạn chế, thiếu cán bộ, thiểu thông tin, cơ sỏ vật chất kỹ thuật và cơ chế quản lý KH và CN chưa phù hợp vổi điều kiện nền kinh tế thị trưồng.

- Trong xây dựng và tỏ chức KH và

Việc xác định các hướng ùu tiên KH và CN chưa thực sự gắn kết chặt chẽ vối nhu cầu thực tể phát triển kinh tế - xã hội của thành phố. Chưa xây dựng được chiến lược K.H và CN để làm cơ sỏ cho việc xây dựng các nhiệm vụ KH và CN và kinh tế - xã hội.

Việc xây dựng nhiệm vụ, tuyển chọn người thực hiện và nghiệm thu kểt quả nghiên cứu còn nhiều bất cập, chậm được cải tiến, đối mới. Có nhiều trưòng hợp các đề tài được đề xuất thực chất là nhiệm vụ thưòng xuyên của ngành, đơn vị hoặc là những vấn đề đơn lẻ, hàm lượng khoa học ít. và cũng không ít trường hợp tô chức, cá nhân đề xuất nhừng đề tài mình có thể hoặc muốn thực hiện, chứ không biết có thiết thực không. Trong nhiều trưòng hợp, tố chức, cá nhân đề xuất không làm rõ được tính cần thiết, tính mói, tính khả thi và địa chỉ ứng dụng của đề tài. Các cấp lãnh đạo thành phó cũng chưa quan tâm đến việc đặt hàng nhiệm vụ nghiên cứu K.H và CN.

Một hạn chế nữa là ý kiến tư vấn của các Hội đồng KH và CN trong giai đoạn này chưa được cấp có thẩm quyền xem trọng. Bên cạnh đó, các Hội đồng tư vấn, Hội đồng KH và CN thành phố cũng chưa phát huy hết vai trò của mình trong việc tham mưu đề xuất đề tài. Do các để tài KH và CN liên quan đén rất nhiều lĩnh vực chuyên ngành khác nhau, nên việc thành lập Hội đồng chuyên ngành trong nhiều trưòng hợp gặp không ít khó khăn, do thiếu đội ngũ chuyên gia theo chuyên ngành hẹp. Mặt khác, do thiếu thòi gian (thành viên Hội đồng thưòng là cán bộ lãnh đạo, quản lý, giảng viên ...), thiếu thông tin... dẫn đến chất lượng tư vấn của Hội đồng cũng phần nào bị hạn ché. Chính điều này ảnh hưỏng đển kết quả lựa chọn, xác định danh mục đề tài. Không phải tắt cả các đề tài được thực hiện trong những năm qua đã dáp ứng được yêu cầu của đề tài cấp thành phố. Và đây cũng là nguyên nhân dẫn đển kết quả nghiên cứu của một só đề tài không có ảnh hưổng lón đền sự phát triển chung hoặc chậm đi vào cuộc sống.

Năm 2002 là năm đầu tiên thành phố tổ chức tuyển chọn cơ quan chủ trì và chủ nhiệm đề tài. Kết quả chưa được như mong muốn. Một trong những khó khăn khách quan ảnh hưổng đến hoạt động này là trên địa bàn thành phố có rất ít cơ quan, đơn vị nghiên cứu triển khai, thậm chí trong nhiều lĩnh vực không có cơ quan nào, trong khi năng lực nghiên cứu của các ngành, doanh nghiệp, tổ chức khác rất hạn chế, nên só đơn vị tham gia tuyển chọn không nhiều, về nguyên nhân chủ quan, trong quá trình phê duyệt, có nhiều đề tài được điều chỉnh tên, mục tiêu, nội dung và qui mô kinh phí (giảm 65 - 70% so với kinh phí đề xuất của Hội đồng KH và CN thành phố), gây trỏ ngại rất lổn cho việc triển khai, hạn ché khả năng tham gia dự tuyển của các cơ quan khoa học ỏ các địa phương khác.

Thiếu các chế tài cụ thể để xử lý các vi phạm hợp đồng nghiên cứu.

Trong đánh giá nghiệm thu Hội đồng nghiệm thu có nhiều thành viên vừa là cán bộ khoa học nhưng đồng thòi cũng là lãnh đạo nên ít có thòi gian nghiên cứu kỹ báo cáo tổng kểt đề tài dể có được những đánh giá, nhận xét sâu sắc về kết quả nghiên cứu.

Chủ nhiệm đề tài thưòng là lãnh đạo đầu ngành nên khi đánh giá nghiệm thu vẫn còn có trường hợp nể nang, dẫn đến việc đánh giá chưa thực sự khách quan. Việc đánh giá chất lượng chuyên môn còn nhiều lúng túng, ranh giổi xép loại nhiều khi không chuẩn xác dễ tạo tâm lý chủ quan cho các nhà nghiên cứu, mặt khác, cũng không khuyển khích được những người làm việc với thái độ nghiêm túc.

Các công việc sau nghiệm thu ít được các cơ quan quan tâm. Hầu như sau khi nghiệm thu, các chủ nhiệm đề tài, cơ quan chủ trì cũng như cơ quan quản lý không có kế hoạch và biện pháp cụ thể để triển khai ứng dụng kết quả nghiên cứu. Và trên thực tế, cho đến nay, chưa có văn bản pháp lý nào của các cấp qui định về việc triến khai két quả nghiên cứu sau nghiệm thu. Chưa có chính sách khuyến khích áp dụng kết quả nghiên cứu. Trách nhiệm của chủ nhiệm đề tài, cơ quan chủ trì trong việc triển khai áp dụng kết quả đề tài không rõ ràng. Công tác quảng bá, tuyên truyền, phổ biến kết quả nghiên cứu cũng còn hạn chế, do đó, nhiều thông tin về các kết quả nghiên cứu ít được biết đến.

Công tác thẩm định thông tin dề tài không đáp ứng yêu cầu, cùng vói tình trạng thiếu các chuyên gia giỏi là những trỏ ngại rất lớn cho việc nâng cao chất lượng hoạt động nghiên cứu K.H và CN của thành phó.

- Trong cơ chê quản lý tài chính cho hoạt động KH CN:

Ngân sách nhà nưóc vẫn là nguồn kinh phí chủ yếu cho hoạt động KH và CN, đầu tư từ các nguồn khác còn thấp (đặc biệt là khu vực sản xuất). Cơ chế quản lý tài chính chậm đổi mdi, thiếu linh hoạt, mang tính hành chính, bao cấp; chưa khuyến khích tạo điều kiện cho doanh nghiệp, tố chức và cá nhân hoạt động KH và CN. Thậm chí trong một số trường hợp còn làm giảm sự tích cực, nhiệt tình của những người muốn tham gia nghiên cứu KH và CN. Việc xác định qui mô kinh phí các đề tài không căn cứ vào yêu cầu, nội dung nghiên cứu đã làm cho các tổ chức, cá

nhân gặp nhiều lúng túng trong triển khai và phải sắp xép nội dung nghiên cứu theo khả năng kinh phí, từ đó hạn chế hiệu quả nghiên cứu khoa học. Hầu hét các định mức chi cho hoạt động nghiên cứu khoa học không phù họp; việc qui định các định mức cụ thể, cúng nhắc cho từng nội dung công việc đã làm cơ quan thực hiện đề tài không chủ động quyết định dược mức chi, dẫn đến việc sử dụng ngân sách chưa đáp ứng nhu cầu chi phù hợp với thực té, chưa coi trọng giá trị lao động khoa học. Thủ tục thanh, quyết toán kinh phí rưòm rà, phức tạp đã làm cơ quan và ngưòi thực hiện đề tài nản lòng vì mất nhiều thòi gian để hoàn tất các thủ tục, chứng từ tài chính. Việc giải ngân, thanh quyết toán kinh phí vẫn thường xuyên chậm trễ, không đảm bảo tiến độ quyết toán ngân sách, làm ảnh hưỏng đến việc thực hiện kế hoạch chi ngân sách hàng năm của thành phó.

Chưa có biện pháp thỏa đáng đế khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho hoạt động KH và CN, đặc biệt là hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đối mổi công nghệ.

- Trong quản lý nhân lựcKH và CN:

Chưa có cơ chế hữu hiệu khuyến khích sự sáng tạo, năng động của cán bộ K.H và CN. Thiếu cơ chế để các nhà KH và CN độc lập nghiên cứu, tự do sáng tạo, tự chịu trách nhiệm trong khuôn khổ pháp luật.

Định mức chi cho hoạt dộng KH và CN còn rất nhiều bất họp lý, không khuyến khích cán bộ tham gia hoạt động KH và CN.


III. NGUYÊN NHÂN CỦA NHỮNG YẾU KÉM :


- Các Nghị quyết của Đảng đã khẳng định rõ quan điểm KH và CN là nền tảng và động lực phát triển đất nưđc, song những quan điểm đó chưa được quán triệt sâu sắc trong hành động thực té của các ngành, các cấp, trong các quyết sách lổn về phát triển kinh tế - xã hội. Nhận thức về hoạt động KH và CN nói chung và hoạt dộng nghiên cứu triển khai nói riêng ỏ các ngành, các cấp chưa đầy đủ và có phần hạn chể. Trên thực tế, một số nhà quản lý cấp thành phố cũng như cấp ngành chưa đánh giá đúng mức và chưa có ý thức phát huy đầy đủ vai trò của KH và CN; chưa coi nghiên cứu khoa học là nhiệm vụ quan trọng, là giải pháp thúc đẩy hoạt động của ngành địa phương mình; chưa có sự đầu tư thỏa đáng cho hoạt động này. Đồng thòi, cũng chưa tạo được không khí thật sự dân chủ trong hoạt động KH và CN.


- Thiểu cơ chế hữu hiệu để gắn kết giữa nghiên cứu khoa học và sản xuất. Cơ chế quản lý kinh tể hiện nay còn duy trì sự bao cấp của Nhà nưổc, sự độc quyền trong nhiều lĩnh vực, làm cho doanh nghiệp nhà nước chưa chịu áp lực cạnh tranh và buộc phải quan tâm đến nghiên cứu KH và CN, ứng dụng các thành tựu KH và CN. Doanh nghiệp chưa đóng vai trò là trung tâm của đổi mói công nghệ, do đó chưa tạo điều kiện cần thiết, cũng như đòi hỏi doanh nghiệp đổi mới công nghệ; thiếu đội ngũ cán bộ KH và CN làm cầu nối cho ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào sản xuất; trình độ của lãnh đạo một số doanh nghiệp cũng như của ngưòi lao động còn bất cập, dẫn đến tình trạng không muốn ứng dụng tiến bộ KH và CN mổi.


- Chưa có những chính sách hữu hiệu tạo động lực đối vdi cán bộ KH và CN, cũng như chính sách trọng dụng nhân tài, khuyến khích năng lực sáng tạo của cán bộ KH và CN.


- Chưa làm rõ cơ chế liên kết trong hoạt động KH và CN giữa Nhà nước, doanh nghiệp và các tổ chức cá nhân trong hoạt động KH và CN. Nhà nưốc vẫn được coi là ngưòi có trách nhiệm chính và gần như là duy nhất đói với hoạt động KH và CN không chỉ của thành phó, mà của cả cơ sỏ.


- Việc triển khai các chủ trương, chính sách của thành phó về KH và CN chưa được quan tâm đúng mức và thiểu tính quyét liệt.


Phần II


MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP ĐỔl MỚI CƠ CHÉ QUẢN LÝ KH VÀ CN


I. MỤC TIÊU ĐỔi MỚI CƠ CHẾ QUẢN LÝ KH VÀ CN


Mục tiêu đổi mói cơ ché quản lý KH và CN của thành phố trong giai đoạn từ nay đến năm 2010 là: Xây dựng cơ chế quản lý mới phù hợp vói cơ chế thị trưòng định huống xã hội chủ nghĩa, vối dặc thù của hoạt động KH và CN và điều kiện thực tể của thành phố, đáp ứng yêu cầu hội nhập; tạo bước chuyển biến cơ bản, nâng cao rõ rệt hiệu quả hoạt động KH và CN; tăng cưòng và sử dụng có hiệu quả tiềm lực KH và CN, làm cho KH và CN thực sự trổ thành nền tảng và động lực cho phát triển K.H và CN của thành phố, góp phần xây dựng Đà Nang thành một trong những trung tâm phát triển về KH và CN của khu vực miền Trung và của cả nưỏc.


II. GIẢI PHÁP Đổi MỚI Cơ CHẾ QUẢN LÝ KH VÀ CN :


1. Đổi mói hệ thống quản lý nhà nưđc về KH và CN và các tổ chức KH và CN :


1.1.Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước KH và CN


Đổi mổi tổ chức và cơ chế hoạt động của bộ máy quản lý nhà nũỏc về KH và CN phải theo hưóng phù hợp với tiến trình cải cách hành chính, phân định rõ việc thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước vổi việc thực hiện các nhiệm vụ KH và CN; phân công, phân cấp rõ ràng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm giữa các Sổ, ngành, UBND các quận, huyện.


Trên cơ sở Nghị định số 54/2003/NĐ-CP ngày 19 tháng 5 năm 2003 của Chính phủ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Bộ KH và CN và Thông tư số 15/2003/TTLB-KHCN-BNV ngày 15 tháng 7 năm 2003 của Bộ KH và CN và Bộ Nội vụ hưóng dẫn về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn giúp UBND quản lý nhà nước về KH và CN ỏ địa phương, thành phố sẽ cụ thế hóa và thể chế hóa trách nhiệm quản lý nhà nưổc về KH và CN của các ngành, UBND các quận, huyện, đảm bảo rõ ràng về xác định nhiệm vụ và rành mạch về phân cấp, để tránh sự chồng chéo, tăng cường vai trò của các ngành trong quản lý hoạt động KH và CN của ngành mình - công việc mà lâu nay chưa được các ngành quan tâm đầy đủ, đặc biệt là qui định trách nhiệm của các Sỏ, ngành, UBND các quận, huyện đói vói hiệu quả hoạt động KH và CN thuộc phạm vi được phân công, phân cấp.


Phân định rõ chúc năng, nhiệm vụ của các cơ quan quản lý nhà nưỏc về KH và CN như sau:


- UBND thành phó: Phê duyệt Chiến lược phát triển KH và CN, các định hướng ưu tiên phát triển KH và CN trong từng thòi kỳ, xác định nhiệm vụ KH và CN trọng điểm cấp thành phố cần thực hiện trên cơ sổ Chiến lược phát triển kinh tể - xã hội; ban hành các văn bản qui phạm pháp luật về KH và CN thuộc phạm vi thẩm quyền của UBND Thành phố; trình HĐND Thanh phố thông qua ngân sách hàng năm dành cho KH và CN.


- Sổ Khoa học và Công nghệ: Chủ trì xây dựng cơ chế, chính sách phát triển KH và CN đê trình UBND Thành phó; tổng họp và cung cấp các định hưóng, xu thể phát triển KH và CN của thế giới, Việt Nam và định hướng phát triển KH và CN các địa phương trong nước cho các sỏ, ngành và địa phương; cân đối và phân bổ ngân sách dành cho KH và CN; quản lý các nhiệm vụ KH và CN trọng điểm cấp thành phố; phối hợp vổi các ngành tổng hợp, đánh giá tiềm lực, trình độ KH và CN của thành phó và kiểm tra, giám sát hoạt động KH và CN.


Hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy của sỏ KH và CN để đảm bảo năng lực quản lý toàn diện các hoạt động trong lĩnh vực KH


và CN. Tăng cuòng nguồn nhân lực cho sỏ để nâng cao chất lượng và hiệu quả của các công tác tham mưu tư vắn cho lãnh đạo Thành phố. sỏ KH và CN có trách nhiệm làm cầu nói giữa nghiên cứu và sản xuất thông qua việc hình thành thị trưòng KH và CN. Tiép tục nghiên cứu hình thành các đơn vị sự nghiệp thuộc Sỏ KH và CN, như Trung tâm Nghiên cứu, Thử nghiệm, Hỗ trợ ứng dụng công nghệ, Trung tâm Nghiên cứu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, Trung tâm Phân tích và Kiểm nghiệm lý, hóa, sinh, Trung tâm Công nghệ sinh học, Trung tâm Bảo vệ quyển sỏ hữu trí tuệ. Tăng cường đầu tư phát triển Trung tâm Thông tin KH và CN dể đảm bảo cung cấp đầy đủ thông tin KH và CN phục vụ phát triển kinh tể - xã hội và KH và CN của thành phố và từng bước vươn lên thành trung tâm vùng.


- Sỏ Kế hoạch và đầu tư: Đưa kế hoạch phát triển KH và CN thành một nội dung của ké hoạch phát triển kinh té - xã hội; dự báo, cân đói các nguồn lực đầu tư phát triển KH và CN; cân đói mức tổng mức dầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước cho phát triển KH và CN; phối họp với sổ KH và CN phân bổ vón cho các công trình xây dựng cơ bản thuộc lĩnh vực KH và CN.


- Sỗ Tài chính: Cân đối ngân sách cho KH và CN trong tổng dự toán ngân sách thành phó, đảm bảo cấp phát đủ, đúng tiến độ theo các ké hoạch dã được duyệt; chủ trì xây dựng các cơ chế, chính sách tài chính cho hoạt động KH và CN.


- Sổ Nội vụ: Phối hợp với sổ Lao động, Thương binh và Xã hội, Sổ Khoa học và Công nghệ, sỏ Giáo dục và Đào tạo xây dựng và trinh UBND Thành phố ban hành cơ chế, chính sách liên quan dến phát triển nhân lực KH và CN và hệ thống tổ chức KH và CN của thành phó.


- Các Sỏ, cơ quan ngang sỏ: Chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về KH và CN dối với ngành, lĩnh vực được phân công phụ trách; xây dựng và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ KH và CN,


chịu trách nhiệm về tiến bộ KH và CN và hiệu quả hoạt động KH và CN thuộc ngành, lĩnh vực mình phụ trách.


- UBND các quận, huyện: Có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về KH và CN tại địa phương; xây dựng định hướng phát triến KH và CN và tổ chức ứng dụng tiến bộ KH và CN phù hợp đế phát triến kinh té - xã hội; phối hợp vổi sỏ KH và CN tổ chức nghiên cứu giải quyết các vấn đề KH và CN đặc thù của địa phương.


Đối với cấp quận, huyện, từ năm 2005, phải hình thành một bộ phận chuyên trách về K.H và CN để giúp UBND quận, huyện quản lý nhà nước về KH và CN trên địa bàn. Đến năm 2010, phải hình thành được tổ chức chuyên quản lý nhà nước về KH và CN ỏ cấp này.


- Giám dóc các sỏ và Thủ trưỏng cơ quan cấp sổ, Chủ tịch UBND các quận, huyện chịu trách nhiệm về hiệu quả hoạt động KH và CN thuộc phạm vi mình phụ trách.


1.2.Các tổcỉtức KH và CN :


- Nâng cao vai trò tư vấn của Hội đồng KH và CN thành phố, củng cố các Hội đồng KH và CN ngành, nhằm nâng cao hiệu quả tư vấn hoạt động KH và CN cho các ngành, các cấp.


Thành phần Hội dồng phải bao gồm các nhà khoa học, các nhà quản lý có uy tín và trình độ phù hợp vói nhiệm vụ. Hội đồng phải chịu trách nhiệm về các khuyến nghị của mình.


- Tạo điều kiện thuận lợi cho Liên hiệp các hội KH và KT thành phố, các tô chức xã hội nghề nghiệp tham gia đóng góp ý kiến xây dựng chính sách, cũng như các chủ trương, quyết định về quản lý KH và CN của thành phố và của quốc gia.


- Đối với mỗi cơ quan, doanh nghiệp, nên có cán bộ phụ trách về KH và CN. Các doanh nghiệp lớn cần hình thành đơn vị nghiên cứu của mình để làm nòng cốt trong hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển, đổi mỏi công nghệ.


- Xây dựng hệ thống tổ chức KH và CN của thành phó trên quan điểm xã hội hóa mạnh mẽ hoạt động KH và CN. Thành lập một só tổ chức KH và CN của thành phố theo loại hình đơn vị sự nghiệp có thu, như các đón vị sự nghiệp thuộc sỏ KH và CN đã nói ỏ trên, và một số đơn vị sự nghiệp khác thuộc các ngành công nghiệp, thủy sản nông lâm, xây dựng, giao thông công chính, giáo dục - đào tạo, y té ... đế thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao công nghệ và dịch vụ KH và CN theo lĩnh vực chuyên ngành. Bên cạnh đó, có chính sách khuyến khích các thành phần kinh té thành lập các tổ chức KH và CN, đặc biệt là khu vực doanh nghiệp nhà nước, đê nhanh chóng tăng cường năng lực nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ cho khối này. Sự hình thành và đi vào hoạt động của hệ thống này sẽ tạo điều kiện huy động và thu hút nguồn nhân lực KH và CN trên địa bàn thành phó, khắc phục được tình trạng hiện nay là "cơ quan quản lý nhà nước kiêm làm cơ quan nghiên cứu khoa học".


2. Đổi mói căn bần việc xây dựng và tổ chức thực hiện


nhiêm vu KH và CN


2.1.Xây dựng nhiệm vụ KH và


Mục đích của công tác quản lý KH và CN là phải hưổng hoạt động KH và CN vào hiệu quả kinh tế - xã hội. Đế làm được điều này, một trong nhừng giải pháp quan trọng là phải đối mối căn bản việc xây dựng và tổ chức thực hiện nhiệm vụ KH và CN, nâng cao vai trò trách nhiệm của các ngành, các cấp, các tổ chức, cơ quan... trong việc xác định nhiệm vụ K.H và CN.


Trưđc hết, Thành phó sẽ sớm ban hành chiến lược phát triển KH và CN - đây chính là cơ sỏ quan trọng cho việc hình thành nhiệm vụ kế hoạch KH và CN 5 năm và hàng năm.


Trong quá trình xác định các nhiệm vụ KH và CN của thành phố, của các ngành, cần huy động sự tham gia của các nhà khoa


học, các nhà quản lý, các doanh nghiệp, tổ chức xã hội ... để đưa ra nhu cầu thực tiễn về nhiệm vụ KH và CN. Các sỏ, ngành, UBND các quận, huyện phải tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc xác định nhiệm vụ KH và CN thuộc phạm vi phân công, phân cấp. Các đề tài được đề xuất phải có địa chỉ ứng dụng cụ thể.


Phân cấp, phân công trách nhiệm rõ ràng giữa các ngành các cấp:


- UBND thành phó quyết định các nhiệm vụ KH và CN trọng điểm phục vụ phát triến kinh tế, xã hội của thành phó, mang tính liên ngành, dài hạn, trên cô sổ chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội. sỏ K.H và CN có nhiệm vụ giúp UBND thành phó tố chức lực lượng KH và CN, các ngành, địa phương, doanh nghiệp tham gia vào quá trình xác định các nhiệm vụ KH và CN của thành phố. Các nhiệm vụ KH và CN trọng điểm của thành phó được tố chức dưới hình thức các chương trình nghiên cứu dài hạn, trong đó những nhiệm vụ KH và CN đột xuất được bố sung dưói hình thức các đề tài cấp thành phó thuộc các chương trình đã xác định hoặc dưổi dạng đề tài độc lập.


- Các Sổ, ngành, địa phương quyết định nhiệm vụ KH và CN căn cứ vào kể hoạch phát triến KH và CN của thành phố và nhu cầu cụ thê của ngành, địa phương mình. Cơ quan chức năng về quản lý KH và CN của sỏ, ngành, địa phương tổ chức huy động lực lượng cán bộ KH và CN, doanh nghiệp, các tổ chức kinh tể, xã hội tham gia vào quá trình xác định nhiệm vụ KH và CN của Sỏ, ngành, và địa phương mình. Các nhiệm vụ KH và CN của các Sỏ, ngành, địa phương có thê tố chức dưới hình thức chương trình, đề tài, dự án đề giải quyết những nhu cầu phát triển chủ yếu của ngành, địa phương mình.


- Các tố chức KH và CN, các doanh nghiệp, tổ chức xã hội thuộc mọi thành phần kinh tế xác định nhiệm vụ KH và CN dựa vào nhu cầu thực tiễn và mục tiêu, kể hoạch của thành phổ, của các ngành.


Nhiệm vụ KH và CN phải được xác định trên cơ sỏ ý kiến tư vấn của Hội đồng KH và CN thành phố, Hội đồng KH và CN ngành. Xác định rõ thẩm quyền quyết định về mặt khoa học của Hội đồng tư vấn trong việc lựa chọn, xây dựng danh mục đề tài nghiên cứu cấp thành phố. Bên cạnh đó, cần làm rõ vai trò trách nhiệm của Giám dóc sỏ KH và CN trong việc quyết định ké hoạch nghiên cứu khoa học của địa phương.


Khuyến khích hình thành các đề tài, dự án triển khai theo cơ chế "khép kín", từ khâu nghiên cứu, thử nghiệm, ứng dụng đến chuyển giao, để nâng cao tính khoa học, tính khả thi của kết quả nghiên cứu.


Củng cố, kiện toàn và đổi mới công tác thông tin nghiên cứu triển khai của Trung tâm Thông tin KH và CN thuộc sỏ KH và CN, nhằm làm tót vai trò thẩm định thông tin đối với các dề tài từ khâu xây dựng, xét chọn cho đến đánh giá nghiệm thu.


2.2.Tổ chức, cả nhân thưchiên nhiêm vu KH và CN


Tiếp tục thực hiện phương thức giao trực tiếp, đồng thòi mỏ rộng phương thức tuyển chọn, cần mạnh dạn mòi các chuyên gia giỏi ổ các địa phương khác cùng tham gia.


Đối vối phương thức giao trực tiếp, cần chú ý năng lực thực sự của đối tượng được giao. Kiên quyết không giao cho những đơn vị, tổ chức không đủ khả năng thực hiện, khắc phục tình trạng giao trực tiếp nhưng thực ra là gián tiép thông qua "họp đồng nhiều tầng nấc", trong khi bản thân cơ quan chủ trì, chủ nhiệm đề tài lại không làm gì, hoặc chỉ làm nhiệm vụ "tổng hợp".


Đối với phương thức tuyển chọn, tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện và mỏ rộng việc áp dụng ổ cấp thành phố, ngành và cơ sỏ. Co chế tuyến chọn phải đảm bảo tính dân chủ, bình đẳng thông qua cạnh tranh động viên các tổ chức KH và CN và cá nhân tham gia vào quá trình tuyến chọn, cần nghiên cứu cho phép các nhà nghiên cứu có quyền tự đăng ký chủ trì đề tài (đương nhiên phải được cấp có thẩm quyền phê duyệt) hoặc tham gia đấu thầu thực hiện đề tài, đồng thòi quy định trách nhiệm của họ về kết quả nghiên cứu.


Nghiên cứu thêm hình thức "đăng ký thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học" đế khuyển khích các thành phần kinh tế và mọi công dân có khả năng và có nhu cầu đăng ký tham gia nghiên cứu khoa học theo định hướng nghiên cứu của thành phố. Bất kỳ ai cũng có thế nộp đơn xin đăng ký nghiên cứu đề tài KH và CN với cơ quan có thấm quyền. Đề tài được đũa ra Hội đồng Tư vấn để thấm định và quyết định việc cấp kinh phí ngân sách cho nghiên cứu. Nếu có nhiều đơn xin nghiên cứu một đề tài thì thực hiện tuyển chọn.


Quy trình tuyến chọn cần đáp ứng các yêu cầu chủ yếu sau đây:


- Đảm bảo phổ biến thông tin rộng rãi về các chương trình nghiên cứu và thòi gian họp lý để các tố chức và cá nhân dự tuyến có thòi gian chuấn bị tốt nội dung nghiên cứu.


- Trong hệ thống tiêu chuẩn tuyển chọn, cần chú trọng giá trị khoa học, tính thực tiễn, cũng như tính khả thi, khả năng ứng dụng của đề tài, dự án nghiên cứu (trình dộ, năng lực chuyên môn của tập thế, cá nhân tham gia tuyến chọn; các điều kiện cần thiết về cơ sỏ vật chất - kỹ thuật cho việc thực hiện đề tài, dự án) Cẩn xây dựng các tiêu chuấn tuyến chọn phù họp vói từng loại hình nghiên cứu. Chủ nhiệm đề tài phải là cán bộ chuyên môn am hiếu sâu sắc vấn đề nghiên cứu.


- Thực hiện phương thức phản biện kín trong tuyển chọn. Các chuyên gia phản biện kín phải được lựa chọn kỹ về trình độ, năng lực, kinh nghiệm chuyên môn và ý thức trách nhiệm.


- Việc tuyến chọn tố chức, cá nhân thực hiện nhiệm vụ KH và CN phải căn cứ ý kiến của Hội đồng KH và CN thành phố và Hội đồng KH và CN ngành.


Bên cạnh các phương thức nêu trên, sẽ tăng cưòng thực hiện cơ chế "đặt hàng" của lãnh đạo đói vói các nhà khoa học.


2.3.Đánh giá thực hiện nhiệm KH và CN


Các nhiệm vụ KH và CN phải được đánh giá giữa kỳ, đánh giá nghiệm thu và đánh giá sau nghiệm thu.


Việc đánh giá giữa kỳ phải đảm bảo các nội dung sau:


- Ban chủ nhiệm Chương trình tự đánh giá định kỳ đối vói các đề tài, dự án thuộc Chương trình về tiến độ thực hiện các nội dung nghiên cứu và chất lượng nghiên cứu dê đưa ra khuyến nghị về hướng tiếp tục của các đề tài, dự án.


- Cơ quan quản lý nhà nuổc về KH và CN tổ chức đánh giá giữa kỳ đói với các chương trình, đề tài độc lập đê có biện pháp kịp thời điều chỉnh và định hưổng cho hoạt động nghiên cứu tiếp theo. Các chuyên gia đánh giá phải có kinh nghiệm và nghiệp vụ, độc lập với những người thực hiện và quản lý chương trình, đề tài. Chuyên gia phải lập báo cáo kết quả đánh giá các chương trình, đề tài cho cơ quan quản lý nhà nưổc.


Đánh giá nghiệm thu kêt quả thực nhiệm vụ KH và CN:


- Cải tiến phương pháp và nâng cao chất lượng, tính khách quan của việc đánh giá nghiệm thu két quả thực hiện nhiệm vụ KH và CN. Nghiên cứu xây dựng tiêu chí đánh giá cho từng loại hình nghiên cứu. Đối vói loại hình nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ cần chú trọng các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật, làm cơ sổ cho việc đưa vào sản xuất và thương mại hóa sản phấm nghiên cứu.


- Áp dụng phương thức phản biện kín trong đánh giá. Các chuyên gia phản biện kín phải là những ngưồi am hiếu sâu vê lĩnh vực chuyên môn của đề tài, dự án.


- Việc đánh giá nghiệm thu két quả thực hiện nhiệm vụ KH và CN phải dựa trên ý kiến tư vấn của Hội đồng KH và CN chuyên ngành do cấp có thấm quyền quyết dịnh thành lập.


Đôi với việc đánh giá sau nghiệm thu, ứng dụng kêt quả


nghiên cứu vào thực tiễn:


- Xây dựng cơ chế đánh giá sau nghiệm thu để khuyến nghị việc tiếp tục hoàn thiện và có cơ chế hỗ trợ các tổ chức, cá nhân hoạt động KH và CN, các doanh nghiệp đưa nhanh kết quả nghiên cứu vào ứng dựng trong thực tiễn.


Ban hành quy định cụ thể bắt buộc đói với các ngành, các đơn vị sản xuất triển khai áp dụng các kết quả nghiên cứu vào sản xuât và đòi sông trong vòng 6 tháng sau khi nghiệm thu.


2.4. Biện pháp xử lý đối vói trường hợp đề tài chậm tiến độ, dừng đề tài, đề tài không đưọrc nghiệm thu


- Đối với các trưòng hợp đề tài chậm tiến độ so vói thời gian quy định do nguyên nhân chủ quan thì phải trích nộp phạt từ 30% đên 100% tống chi phí phụ cấp trách nhiệm của chủ nhiệm đề tài và chi phí quản lý đề tài.


- Đối vói các trường hợp dừng đề tài: Nếu dừng dề tài theo ý kiến của lãnh đạo thành phố thì việc giải quyết tài chính thực hiện theo ý kiến của lãnh đạo thành phố và to chức, cá nhân thực hiện đề tài được thanh toán kinh phí đã thực hiện; nếu tổ chức, cá nhân tự ý dừng đề tài, thì tùỵ theo tình hình thực tể, phải chịu trách nhiệm bồi hoàn từ 60% đến 100% kinh phí thực cấp và nộp phạt 10% trên tổng dự toán kinh phí dề tài.


- Nểu đề tài không được nghiệm thu do lỗi của tổ chức, cá nhân thực hiện để tài, thì tổ chức, cá nhân phải bồi hoàn 100% kinh phí thực cấp và nộp phạt 20% trên tổng dự toán kinh phí đề tài.


3. Đổi mól cơ chế quản lý tài chính đổi vói hoạt động KH và CN


Đổi mới cơ ché, chính sách tài chính là giải pháp chủ yểu, mang tính đột phá trong đổi mới cơ chế quản lý KH và CN. Nhiệm vụ đối mói cơ ché, chính sách cho hoạt động KH và CN bao gồm các nội dung: Đổi mói cơ ché đầu tư từ ngân sách thành


phó cho phát triển KH và CN theo hưổng, Thành phố tập trung đầu tư có trọng tâm, dồng bộ giữa xây dựng cơ sỏ vật chất vỏi đào tạo cán bộ KH và CN; đa dạng hóa nguồn đầu tư cho hoạt động KH và CN theo hưóng khuyến khích, mỏ rộng các nguồn kinh phí ngoài ngân sách thành phố. Thực hiện các chính sách hỗ trợ và tạo cơ ché để tổ chức, cá nhân khai thác, huy động các nguồn vốn trong, ngoài nưóc để đầu tư cho KH và CN. Khuyến khích thành lập các quỹ phát triển KH và CN đế thu hút thêm nguồn kinh phí ngoài ngân sách thành phố cho hoạt động KH và CN. Nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách thành phó cho hoạt động KH và CN theo hưổng phân bổ ngân sách theo các chương trình, đề tài, dự án; xóa bỏ tình trạng bình quân, tạo cơ hội bình đẳng và cơ chế cạnh tranh lành mạnh đối với các tổ chức, cá nhân hoạt động KH và CN. Thực hiện việc giao quyền tự chủ tài chính cho các tô chức KH và CN của nhà nưổc.


Đổi mới cơ chế quản lý tài chính phải trên nguyên tắc: Ưu tiên đầu tư cho KH và CN đúng tầm với "Quốc sách hàng đầu" và đồng thòi phải cải tiến công tác cấp vốn cho KH và CN. Trong khi đảm bảo vững chắc nguồn tài chính của Nhà nưóc cho KH và CN, phải tăng dần phần đóng góp của các nguồn khác, dẫn đến thay đôi cơ bản tình trạng hiện nay là chỉ có một nguồn tài chính duy nhất của Nhà nưốc.


3.1.Đa dạng hóa nguồn đầu tư cho KH và CN


- Nguồn ngân sách Nhà nước: Thành phố coi đầu tư kinh phí từ ngân sách cho KH và CN là nhiệm vụ thưòng xuyên. Trong những năm trước mắt, nguồn ngân sách nhà nưỏc vẫn là nguồn quyết định, Thành phó đảm bảo bố trí chi cho KH và CN với mức tối thiểu là 2% trên tổng chi ngân sách và đảm bảo tốc độ tăng chi cho KH và CN năm sau cao hơn năm trước.


Cho phép trích một phần kinh phí từ các chương trình kinh tế-xã hội của thành phố dành cho hoạt động nghiên cứu KH và CN. Các chương trình kinh tế - xã hội, các dự án đầu tư của thành


phố phải có hạng mục nghiên cứu những vẩn đề KH và CN phục vụ cho việc thực hiện có hiệu quả các chương trình, dự án.


Hàng năm, cần dành kinh phí sự nghiệp kinh tế của thành phố đế thực hiện các chương trình, dự án điều tra cơ bản đế cung cấp cơ sỏ dữ liệu cơ bản cho các chương trình, dự án, kế hoạch phát triến kinh tế, xã hội của thành phố, các ngành, địa phương.


- Nguồn huy động từ cúc thành phần


+ Có chính sách cụ thể khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho nghiên cứu khoa học, phát triến công nghệ. Đồng thòi, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ dược đưa thành một nội dung quan trọng trong việc sử dụng Quỹ đầu tư và phát triển của doanh nghiệp: Tiếp tục nghiên cứu đơn giản hóa thủ tục xem xét các điều kiện đế hưổng các u"u dãi cho việc đầu tư vào hoạt động KH và CN, không phân biệt thành phần kinh tể.


+ Khuyến khích doanh nghiệp thành lập Quỹ hỗ trọ phát triển KH và CN làm cầu nói gắn hoạt động sản xuất kinh doanh vói nghiên cứu KH và CN. Nguồn hình thành Quỹ có thể là trích một tỉ lệ (%) trong Quv đầu tư phát triển của doanh nghiệp và từ các nguồn khác đế đầu tư cho KH và CN. Đây được coi là nguồn huy động vốn cơ bản. Đế huy động được nguồn vốn này thì điều kiện tiên quyết là doanh nghiệp phải hoạt động có hiệu quả trên cơ sổ biết áp dụng hiệu quả các thành tựu KH và CN.


+ Cho phép doanh nghiệp được vay vón vổi các điều kiện ưu đãi đế đầu tư cho các dự án dối mới KH và CN; được khấu hao nhanh đối với tài sản, thiết bị, máy móc nhằm khuyến khích đổi mới công nghệ. Doanh nghiệp, tố chức KH và CN có chương trình, dự án, đề tài nghiên cứu KH và CN thuộc lĩnh vực ưu tiên của thành phó, được thành phố cấp kinh phí toàn bộ hoặc một phần.


+ Đối với đơn vị sự nghiệp, Thành phó cũng qui định được sử dụng một tỉ lệ (%) hợp lý chi cho hoạt động nghiên cứu KH và CN trong Quỹ phát triển sự nghiệp.


+ Có chính sách khuyển khích thành lập các đơn vị tư vấn, môi giới, dịch vụ KH và CN; khuyển khích hỗ trợ các thành phần kinh tế tham gia hoạt động KH và CN.


- Nguồn từ hoạt dộng hợp tác, doanh, kỗt, nhận trợ:


+ Tăng cưòng khai thác các nguồn vón ngoài nước thông qua các hoạt động hợp tác quốc tể bằng nhiều hình thức, như: họp tác nghiên cứu, dào tạo; có chính sách khuyến khích tố chức, cá nhân nưóc ngoài thành lập tổ chức KH và CN trên địa bàn thành phố; xây dựng các chương trình liên két, hợp tác với các Trung tâm Đào tạo, các viện, tổ chức nghiên cứu lổn của Trung ương...


+ Các tổ chức KH và CN của thành phó cần chủ dộng và tích cực tìm kiếm các đói tác trong nuổc hoặc ngoài nước dế tiến hành hợp tác hoạt động, ký kết hợp đồng liên kểt, liên doanh hoạt động theo (JUĨ định của pháp luật. Thành phó cần có chính sách phù hợp đê kêu gọi tố chúc, cá nhân trong nước và ngoài nuổc góp vón vào hoạt động KH và CN; có cơ chế và phương thức thích hợp dê huy dộng nguồn tài trọ của các tô chức, cá nhân trong và ngoài nưóc dể xây dựng Quỹ hỗ trợ phát triển KH và CN của thành phố.


- Thành lập Quỹ hổ trợ phát trKH CN của phô


để phục vụ phát triển sự nghiệp KH và CN của địa phương. Nguồn hình thành Quỹ có thể là: trích từ kinh phí ngân sách thành phố hàng năm theo một tỉ lệ nhất định trên tống chi ngân sách; đóng góp từ Quỹ hỗ trợ phát triển KH và CN của các đơn


vị sự nghiệp, doanh nghiệp nhà rníỏc thuộc thành phó quản lý, tài trợ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, trong đó có tài trợ của các tổ chức tín dụng.


Thành phó có chính sách, qui định cụ thế tạo điều kiện cho các tổ chức KH và CN, doanh nghiệp được vay vốn tại Quỹ hồ trợ phát triển K.H và CN, Quỹ hỗ trọ phát triến (cho vay theo dự án KH và CN) để hưổng lãi suất u'u đãi, nhằm giảm chi phí cho hoạt động nghiên cứu.


3.2. Đổi mói cơ chế phân hổ dụng ngân sách nhà nước thành phố cho hoạt động KH và CN


- Thực hiện thống nhất đầu mối phân bổ ngân sách nhà nưổc thành phố dành cho KH và CN. sỏ KH và CN chủ trì, phối hợp với Sỏ Kế hoạch và Đầụ tư, sỏ Tài chính thống nhất việc xây dựng dự toán và phân bố ngân sách nhà nước dành cho KH và CN, trình UBND thành phố phê duyệt.


- Cải tiến chế độ tài chính trong việc thực hiện nhiệm vụ KH và CN: Kinh phí nghiên cứu không sử dụng hét trong năm đưọc chuyển sang năm tài chính tiếp theo; đón giản hóa thủ tục thanh quyết toán tài chính.


- Thành phố tập trung đầu tư cho các chuông trình nghiên cứu trọng điểm, u'u tiên xây dựng cổ sỏ vật chất - kỹ thuật và đào tạo cán bộ KH và CN, xây dựng nhiệm vụ KH và CN, tuyển chọn tổ chức và cá nhân thực hiện đề tài, dự án; đánh giá nghiệm thu kết quả nghiên cứu, đánh giá sau nghiệm thu.


- Nghiên cứu thí điểm phân cấp tài chính cho hoạt động KH và CN của các sỏ, Ban, ngành và thực hiện phân cấp tài chính cho hoạt động KH và CN của UBND các quận, huyện đê tạo sự chủ động và khuyến khích hoạt động KH và CN ỏ cớ sổ. Hàng năm, các sỏ, Ban, ngành và UBND các quận, huyện lập kế hoạch hoạt động KH và CN của đớn vị mình gửi sỏ KH và CN và ngành liên quan để tổng họp trình UBND Thành phố quyết định kế hoạch hoạt động KH và CN của các ngành và quận, huyện được giao cùng kỳ vói kể hoạch phát triển kinh tế, xã hội của thành phố (bao gồm cả nhiệm vụ KH và CN và kinh phí thực hiện).


3.3. Đổi mới cơ chế quãn lý tài chính đối với hoạt động nghiên cứu KH và CN


Quyết định só 128/2003/QĐ-UB ngày 14 tháng 8 năm 2003 của UBND thành phó đã giao trách nhiệm thẩm định và quyết


định kinh phí từng đề tài cho sỏ Tài chính và sỏ KH và CN. Quy định này là điều kiện đế việc xác định kinh phí đề tài phù họp với nội dung công việc đã được Hội đồng xét duyệt đề cương thông qua, để chủ động lập dự toán kinh phí nghiên cứu khoa học hàng năm của thành phó.


Sỏ KH và CN cần triển khai việc xây dựng nhiệm vụ nghiên cứu KH và CN n^ay từ đầu quí 11 hàng năm và hoàn thành thủ tục xét duyệt/tuyên chọn tổ chức, cá nhân thực hiện xong trong tháng 11 hàng năm đê tiến hành thấm định xác định quy mô kinh phí nghiên cứu khoa học cho năm ngân sách sau.


Hàng năm, dành một khoản kinh phí trong ngân sách chi sự nghiệp KH và CN để hỗ trợ các đề tài nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ do doanh nghiệp thực hiện hoặc phối hợp với cơ quan nghiên cứu thực hiện; dành một khoản kinh phí nghiên cứu nhất định đê tài trợ cho các tổ chức, cá nhân đăng ký thực hiện các đề tài nghiên cứu theo từng khâu, từng việc và có thể mua bán, chuyển nhượng các đề tài đã được nghiệm thu theo giá thỏa thuận đói vổi tổ chức và công dân.


Cải tiến, đổi mói qui định về tạm ứng, sử dụng, quyết toán kinh phí nghiên cứu khoa học theo hướng:


- Cùng vổi hình thức tạm ứng theo Quyết định số 128/2003/QD-UB ngày 14 tháng 8 năm 2003 của UBND thành phố, cần nghiên cứu thí điếm hình thức tạm ứng khác theo hướng: Trên cơ sỏ Đề cương chi tiết đã được phê duyệt, bưỏc 1 chỉ tạm ứng 1 khoản để chủ nhiệm đề tài triến khai một phần việc. Khi đã hoàn thành được phần việc đó và chứng tỏ khả năng nghiên cứu tót sẽ được tiếp tục cấp tạm ứng 50% giá trị công trình hoặc theo tỉ lệ hợp lý cho các công việc kể tiếp. Cơ quan quản lý đề tài (Sỏ KH và CN) thấm định các bước tiếp theo và khi chủ nhiệm đề tài đảm bảo được các yêu cầu của đề tài thì tiếp tục cấp icinh phí để hoàn tất đề tài.


- về sử dụng kinh phí: Dự toán kinh phí thực hiện đề tài được phê duyệt căn cứ trên các ché độ, định mức qui định chi tiêu cho


lĩnh vực KH và CN hiện hành. Đây là căn cứ để cơ quan quản lý đề tài ký kết hợp đồng với tổ chức và cá nhân thực hiện để tài. Việc sử dụng và thanh toán kinh phí được thực hiện theo phương thức khoán trên cơ sỏ họp đồng đã ký. Theo Quyết định nêu trên, trong quá trình thực hiện, chủ nhiệm đề tài được chủ động quyết định mức chi cho các nghiệp vụ phát sinh theo nguyên tắc cơ bản là đem lại hiệu quả cao cho công tác nghiên cứu. Việc thực hiện cơ chế khoán tạo ra sự chủ động cho tổ chức, cá nhân thực hiện đề tài. Tuy nhiên, dể cơ chế này mang lại hiệu quả cần tiếp tục nghiên cứu thay đổi dịnh mức chi cho phù hợp vói thực tế. Đối với các trường hợp vi phạm hợp đồng cần xử lý nghiêm theo quy định.


- Các tổ chức, cá nhân phải quyết toán kinh phí thực hiện đề tài trong thòi gian 15 ngày sau khi đề tài được nghiệm thu. Trong trường họp quyết toán chậm do nguyên nhân chủ quan thì phải trích nộp phạt 20% tổng chi phí quản lý đề tài cho cơ quan quản lý đề tài (quy định này được thể hiện trong họp dồng nghiên cứu).


4. Đổi mói cơ’ chế quản lý nhân lực KH và CN :


4.1. Xây dựng chính sách khuyến khích cán bộ KH và CN:


- Xây dựng chính sách khuyến khích cán bộ KH&CN trẻ tài năng và có chính sách sử dựng cán bộ KH và CN giỏi sau khi nghỉ hu'u.


- Xây dựng chính sách khuyến khích cán bộ KH và CN làm việc ỏ nông thôn, miền núi.


- Khen thưỏng, dăi ngộ xứng đáng đối với tập thể và cá nhân có nhiều cống hiến về KH và CN. Hình thành Quỹ khen thuổng hoạt động KH và CN. Mục đích của Quỹ là nhằm động viên kịp thòi các nhà khoa học có dề tài nghiên cứu dược ứng dụng mang lại hiệu quả cao sản xuất; khen thuổng những đề tài hoàn thành xuất sắc các yêu cầu, mục tiêu, vượt tiến độ thòi gian qui định.


- Có qui định cụ thể nhằm tạo thuận lợi cho cán bộ KH và CN tham dự hội thảo quốc tế, trao đổi học thuật tham quan học hỏi kinh nghiệm tại nước ngoài.


4.2. Tăng cường đào tạo và đào tạo lực KH và CN


- Xúc tiến nhanh các chương trình gửi cán bộ KH và CN đi đào tạo ổ các cơ sỏ nước ngoài có trình độ KH và CN tiên tiến. Chú trọng đào tạo, bồi dưổng nhân tài, chuyên gia kỹ thuật trình độ cao và kỹ thuật viên lành nghề.


- Ban hành chế độ bồi dưổng, đào tạo lại đối với cán bộ KH và CN.


- Có chính sách thỏa dáng để nâng cao chất lượng (về trình độ chuyên môn, ngoại ngữ, tin học) của đội ngũ cán bộ KH và CN, đặc biệt có chính sách thu hút cán bộ KH và CN có trình độ cao ổ các địa phương, các cơ quan, trưòng học trong cả nưóc tham gia các hoạt động KH và CN phục vụ trực tiếp các chương trình kinh té - xã hội trọng điểm của thành phó.


5. Đổi mói ctf ché, chính sách kinh tế - xã hội nhằm thúc đẩy tiến bộ KH và CN, ứng dụng thành quả KH và CN vào sẵn xuất và đòi song


Một trong những nguyên nhân làm cho hoạt động KH và CN chưa gắn kết vói sản xuất là do cơ chế, chính sách kinh tể - xã hội còn chưa tạo được nhu cầu thực sự đối với KH và CN. Vì vậy, cùng với đổi mới cơ chế quản lý KH và CN cần phải đấy mạnh đổi mói cơ chế, chính sách kinh tể - xã hội.


Thực hiện việc lấy ý kiến phản biện của các nhà khoa học đói với chủ trương, chính sách, các dự án đầu tư, chương trình phát triển kinh tế, xã hội của thành phó.


Các dự án đầu tư, chương trình phát triển kinh tế - xã hội phải có căn cứ khoa học, có hạng mục nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ cần thiết và phải được thẩm định về mặt KH và CN.


Đẩy mạnh sắp xếp lại doanh nghiệp, đối mổi cơ chế quản lý đói với doanh nghiệp nhà nưổc trên cơ sỏ xóa bỏ bao cấp, có


chính sách khuyến khích các thành phần kinh tệ tư nhân đầu tư phát triến sản xuất và tạo môi truồng bình đắng đói vói các thành phần kinh tế.


Phần III


TỔ CHỨC THỰC HIỆN


1. Sở KH và CN chủ trì, phổi hợp vói các cơ quan có liên quan:


- Xây dựng Qui định quản lý hoạt động KH và CN trên địa bàn thành phố.


- Xây dựng Qui dịnh quản lý chương trình, đề tài, dự án KH và CN của thành phố.


- Theo dõi, đôn đốc, tống họp tình hình thực hiện Đề án và định kỳ báo cáo UBND thành phố.


2. Sở Tài chính chủ trì xây dựng Quỹ hồ trợ phát triển KH và CN, các cơ chế, chính sách tài chính đối với hoạt động KH và CN.


3. Sở Nội vụ chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan, xâỵ dựng chê độ chính sách đôi với cán bộ KH và CN của thành phô.


4. Sở Kế hoạch và Đầu tư phối họp với sổ Tài chính đảm bảo cân đối các nguồn vốn hàng năm cho hoạt động KH và CN theo mức chi đã nêu trong Đề án.


5. Các Sở, Ban, ngành, UBND các quận, hụyện thuộc UBND thành phố có trách nhiệm quản lý và khuyến khích các hoạt động KH và CN được triển khai tại sỏ, Ban, ngành, địa phương theo phân công, phân cấp; triển khai thực hiện các chính sách KH và CN nhằm phát huy tói đa tiềm lực KH và CN cho phát triển ngành và địa phương./.


Tổng quan văn bản

Số ký hiệu149/2004/QĐ-UB
Ngày ban hành06/09/2004
Loại văn bảnQuyết định
Ngày có hiệu lực21/09/2004
Nguồn thu thậpCơ sở dữ liệu
Ngày đăng công báo---
Cơ quan ban hành / Người kýUBND thành phố Đà Nẵng / Nông Thị Ngọc Minh
Phạm viĐà Nẵng
Trích yếuVề việc ban hành Đề án Đổi mái cơ chế quản lý khoa học và công nghệ thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2004-2010
Tình trạng hiệu lựcHết hiệu lực toàn bộ

Chưa có thông tin lược đồ

Văn bản này hiện chưa được cập nhật dữ liệu về lược đồ liên quan.