Quay lại

Quyết định 1614/2005/QĐ-UBND về việc phê duyệt Đề án phát triển giáo dục Mầm non

UBND TỈNH HÀ TĨNH
-------

Số: 1614/2005/QĐ-UBND

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------------------------

tỉnh Hà Tĩnh, ngày 12 tháng 08 năm 2007

QUYẾT ĐỊNH

Về việc phê duyệt Đề án phát triển giáo dục Mầm non

_______________

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

Căn cứ Luật tổ chức HĐND và UBND ngày 26/11/2003;

Căn cứ Quyết định số 161/2002/QĐ-TTg ngày 15/11/2002 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách phát triển Giáo dục Mầm non; Thông tư liên tịch số 05/2003/TTLT - BGD&ĐT-BNV-BTC ngày 24/2/2003 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Nội vụ và Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Quyết định số 161/2002/QĐ-TTg ngày 15/11/2005 của Thủ tướng Chính phủ;

Xét đề nghị của Sở Giáo dục và Đào tạo,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Phê duyệt Đề án phát triển Giáo dục Mầm non để làm căn cứ cho các ngành, các đơn vị và địa phương triển khai thực hiên theo chức năng, nhiệm vụ được giao (có đề án kèm theo)

Điều 2. Giao Sở Giáo dục và Đào tạo chủ trì phối hợp với các ngành, các đơn vị và ủy ban nhân dân các huyện, thị xã để hướng dẫn và tổ chức thực hiện Đề án.

Điều 3. Quyết định có hiệu lực kể từ ngày ban hành.

Chánh Văn phòng UBND tỉnh, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo, Thủ trưởng các cơ quan liên quan. Chủ tịch UBND các huyện, thị xã chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.

TM. ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH

K/T CHỦ TỊCH

PHÓ CHỦ TỊCH

Hà Văn Thạch

ĐỂ ÁN

Phát triển giáo dục Mầm nongiai đoạn 2005 - 2010

(Ban hành kèm theo Quyết định sô 1614 QĐ/UB-VX

ngày 12/8/2005 của UBND tinh Hà Tĩnh)

______________

LỜI MỞ ĐẨU

Thực hiện Nghị Quyết TW 2 khóa VIII về Giáo dục - Đào tạo, trong thời gian qua ngành Giáo dục - Đào tạo Hà Tĩnh đã có những đóng góp đáng kể cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhà. Cùng với sự phát triển vững chắc của toàn ngành, Giáo dục Mầm non đã có bước phát triển đáng kể về quy mô trường lớp, cơ sở vật chất, công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ giáo viên để nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ. Giáo dục Mầm non Hà Tĩnh luôn đạt và vượt chỉ tiêu chung của Bộ, nhất là phong trào xây dựng trường Mầm non đạt chuẩn quốc gia, được Bộ đánh giá là một trong các tỉnh có phong trào phát triển toàn diện.

Tuy nhiên, so với yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp Giáo dục - Đào tạo thì hiện nay ngành học Mầm non vẫn còn nhiều khó khăn.

Thực tế hiện nay cho thấy sự hạn chế của Giáo dục Mầm non là giữ vị trí, nhiệm vụ, mục tiêu theo Luật Giáo dục quy định: “Ngành học Mầm non là ngành học mở đầu, khâu đầu tiên trong hệ thống giáo dục Quốc dân có vị trí quan trọng là: hình thành những cơ sở ban đầu của nhân cách con người mới và chuẩn bị những tiền đề cần thiết cho trẻ vào học bậc tiểu học” với điều kiện đảm bảo cho Giáo dục Mầm non chưa tương xứng.

Sau khi Luật giáo dục ban hành, Thủ tướng Chính phủ có Chỉ thị số 18/2001/CT-TTg ngày 27/8/2001 và Quyết định 161/2002/QĐ-TTg ngày 15/11/2002 về một số chính sách phát triển Giáo dục Mầm non. Đây là cơ sở để ngành học Mầm non khẳng định vị trí, tầm quan trọng của mình trong hệ thống giáo dục quốc dân đồng thời phát triển ngành học Mầm non một cách toàn diện sẽ tạo tiền đề cho Giáo dục phổ thông phát triển vững chắc.

Từ thực trạng ngành học Mầm non trong hệ thống Giáo dục tỉnh nhà, căn cứ chỉ đạo của Trung ương và Bộ Giáo dục và Đào tạo, UBND tỉnh Hà Tĩnh xây dựng Đề án Phát triển Giáo dục Mầm non từ 2005 - 2010.

PHẦN I

:
CÁC CĂN CỨ ĐỂ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN:
Luật Giáo dục quy định: “Giáo dục Mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân có nhiệm vụ chăm sóc giáo dục trẻ từ 3 tháng đến 6 tuổi giúp các em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành các yếu tố ban đầu của nhân cách chuẩn bị tâm thế cho các em vào lớp 1”.
Nghị quyết TW 2 khóa VIII đã định hướng ngành học Giáo dục Mầm non đến năm 2010 là: “Xây dựng hoàn chỉnh và phát triển bậc tiểu học Mầm non cho hầu hết các trẻ em trong độ tuổi, phổ biến kiến thức nuôi dạy trẻ cho các gia đình”.
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX xác định “Chăm lo phát triển Giáo dục Mầm non, mở rộng hệ thống nhà trẻ và trường, lớp mẩu giáo trên . mọi địa bàn dân cư, đặc biệt là ở nông thòn và những vùng khó khăn”.
Kết luận hội nghị TW 6 khóa IX cũng đã khẳng dịnh: “Tăng cường dầu tư cho Giáo dục - Đào tạo đúng với yêu cầu Quốc sách hàng dầu. Đổi mới cơ chế chính sách, nhằm huy động mọi nguồn lực có thể huy động được đê phát triển giáo dục. Đẩy mạnh Xã hội hóa giáo dục là sự nghiệp của toàn dân, là một giải pháp quan trọng để tiếp tục phát triển giáo dục.”
Chiến lược phát triển Giáo dục từ năm 2001- 2010 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đã xác định rõ: “Giáo dục Mầm non cần nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ trước 6 tuổi, tạo điều kiện để trẻ phát triển toàn diện về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, mở rộng hệ thống nhà trẻ và trường lớp Mẫu giáo trên mọi địa bàn dân cư, đặc biệt ở nông thôn và những vùng khó khăn”.
Chỉ thị số 18/2001/CT/TTg ngày 27/8/2001 của Thủ tướng Chính phủ đã đề ra một số biện pháp cấp bách để xâỵ dựng đội ngũ Nhà giáo của hệ thống Giáo dục Quốc dân; dành ngân sách đê đảm bảo thực hiện các chính sách chế độ cho giáo viên theo quy định của Nhà nước; hỗ trợ tiền lương, bảo hiểm xã hội cho giáo viên Mầm non làm việc theo hợp đồng tại các cơ sở giáo dục công lập và bán công ở nông thôn.
Chính phủ đã tổ chức Hội nghị toàn quốc chuyên bàn về Giáo dục Mầm non và ngày 15/11/2002 Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 161/2002/QĐ-TTg quy định về một sô chính sách phát triển Giáo dục Mầm non, đã khẳng định các chỉ tiêu biện pháp phát triển Giáo dục Mầm non mà các nghị quyết, chủ trương, kế hoạch trước đây đề ra, đồng thời quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan và các cấp quản lý giáo dục đối với Giáo dục Mầm non gồm: Nhiệm vụ phát triển Giáo dục Mầm non đến năm 2010; định hướng phát triển các loại hình Giáo dục Mầm non đến năm 2010; xây dựng chương trình Giáo dục Mầm non, phát triển đội ngũ Giáo dục Mầm non; chính sách đầu tư và quy hoạch phát triển Giáo dục Mầm non và trách nhiệm của các cơ Quan quản lý Nhà nước đối với Giáo dục Mầm non. Những quy định của Luật Giáo dục, những chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước nói trên khẳng định vai trò, vị trí, chức năng của Giáo dục Mầm non trong hệ thống Giáo dục Quốc dân.

PHẦN II

:
TÌNH HÌNH VÀ THỰC TRẠNG CỦA
GIÁO DỤC MẦM NON HÀ TĨNH ĐẾN NĂM HỌC 2004 - 2005
Nghị quyết 03/2001 ngày 13/6/2001 của Thường vụ Tỉnh ủy Hà Tĩnh đã thể hiện sự quan tâm của Tỉnh ủy, HĐND, UBND và các cấp lãnh đạo, được sự phối hợp của các ban ngành đoàn thể, sự đồng tình ủng hộ nhân dân cùng với sự nỗ lực phấn đấu của ngành Giáo dục - Đào tạo, trong những năm gần đây Giáo dục Mầm non tỉnh ta đã có những chuyển biến đáng kể.
Những kết quả đã đạt được trong những năm qua:

1. Về quy mô phát triển mạng lưới trường, lớp 1 kèm theo phụ lục la, 1b)
Mạng lưới trường, lớp thuộc bậc học Mầm non đã được các cấp chính
quyền đoàn thể quan tâm chỉ đạo vì vậy số trường lớp Mầm non ngày càng đươc ổn định về số lượntỉ và nàng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ. Hiện nay Hà Tĩnh không còn xã trắng về Giáo dục Mầm non và mỗi đem vị xã, phường đều có từ 1 đến 2 trường Mầm non hoặc Mẫu giáo cụ thể như sau:
Tính tại thời điểm tháng 9 năm 2004 toàn tỉnh có 274 trường (252 trường Mầm non, 22 trường mẫu giáo), trong đó có 274/274 trường đã có quyết định thành lập với các loại hình:
Công lập: 02 trường (Mầm non Thị trấn Hưcmg Khè, Mầm non Hưcmg Trà - Hưomg Khê).
Bán công: 271 trường.
Tư thục: 01 trường (Mầm non Tư thục Nguyễn Du - thị xã Hà Tĩnh)
Có: 517 nhóm trẻ chính quy và 193 nhóm trẻ gia đình và tư thục, huy động 8.859/42.765 - đạt tỷ lệ: 20,70%, trong đó trẻ vào nhóm trẻ trong trường Mầm non: 7.433/42.765 - đạt tỷ lệ: 17,40%. Trẻ vào nhóm trẻ gia đình: 426/42.765 - đạt tỷ lệ 3,30%.
Có 854 lớp mẫu giáo với 47.480/57.997 - đạt tỷ lệ 81,90%
Trẻ 5 tuổi và trên 5 tuổi: 19.958/19.977 - đạt tỷ lệ: 99,9%
So với mục tiêu Giáo dục - Đào tạo 10 năm tới của Thủ tướng Chính phủ về tỷ lệ trẻ phải huy động ra lớp ở các độ tuổi: trẻ đến nhà trẻ 18%, trẻ mẫu
giáo từ 3-5 tuổi đến lớp 67%, mẫu giáo 5 tuổi: 95% vào năm 2010.
Về chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ: (Xem phụ lục 2)
Các địa phương tổ chức thực hiện nghiêm túc các chưcmg trình chăm sóc giáo dục trẻ do Bộ quy định, giảm nhiều số lớp thực hiện Chưcmg trình 26 tuần, tăng sô lớp được học Chưcmg trình đổi mới và cải cách 3 độ tuổi, cụ thể:
+ Nhóm trẻ 24-36 tháng tuổi đổi mới: 197 nhóm
+ Lớp Mẫu giáo 3-4 tuổi đổi mới: 63 lớp.
+ Lớp Mẫu giáo 4-5 tuổi đổi mới: 86 lớp.
+ Lớp Mẫu giáo 5-6 tuổi đổi mới: 324 lớp.
+ Sô lớp thực hiện chương trình cải cách: 378 lớp (Bé: 120 lớp, Nhỡ: 588 lớp. Lớn: 670 lớp).
Số lớp thực hiện chưcmg trình 26 tuần: 3 lớp.
Ngành đã chỉ đạo các địa phương tích cực mở các hình thức tổ chức ăn bán trú cho trẻ trong các nhà trường Mầm non: Có 699 nhóm lớp, với 15.472/54.920 = 28,20% số trẻ được tổ chức ăn phụ đạt trên 90%.
Công tác chăm sóc bảo vệ sức khỏe và an toàn cho trẻ được chú trọng, tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng trong Trường Mầm non giảm đáng kể so với trước, hiện nay là: 9.179/54.537 chiếm tỷ lệ 16,83%.

1. 3. Về đội ngũ: (Xem phụ lục 3a)
Trong các năm gần đây ngành đã có nhiều biện pháp tích cực để đào tạo, bồi dưỡng, sắp xếp thay thế và ổn định đội ngũ nên số giáo viên Mầm non có trình độ tay nghề đạt chuẩn và trên chuẩn tỷ lệ ngày càng cao.
Tổng sô cán bộ Giáo viên MN toàn ngành: 4.012 người.
Trong biên chế: 975 người
Ngoài biên chế: 3.037 người
Trình độ giáo viên đạt chuẩn trở lên: 3.020/4.012 đạt tỷ lệ 75,27%
Chế độ đãi ngộ của giáo viên Mầm non ngoài biên chế có được cải thiện do các địa phưưng đã làm tốt công tác Xã hội hóa giáo dục, huy động được nhiều nguồn nhân lực dể trả lương cho GVMN, hiện nay lương của giáo viên nhiều nơi đã đạt bình quân trên mức 290.000đồng/tháng.
Ngành đã trích nguồn kinh phí hỗ trợ cho giáo viên mức từ 50.000 đồng

80. 000đồng/tháng tùy theo trình độ đào tạo và địa bàn công tác.
Tỉnh và ngành cũng đã trích ngân sách để hỗ trợ cho: 1.318 giáo viên có đủ trình độ đạt chuẩn được đóng BHXH, BHYT.
Giải quyết trợ cấp 1 lần cho giáo viên Mầm non lớn tuổi mỗi năm công tác được hưởng 1 tháng phụ cấp với mức từ 50.000 dồng - 000 đồng tùy theo trình độ đào tạo và thời gian công tác.
Về cơ sở vật chất: (Xem phụ lục)
Về cơ sở vật chất của bậc học ngày càng được tăng cường đáng kể, hầu hết các huyện đã có Đề án phát triển Giáo dục Mầm non đến nãm 2005 và 2010. Tại thời điểm này theo thống kê của các đơn vị, toàn tỉnh có 2.371 phòng học, trong đó số phòng học kiên cố là: 198 - chiếm tỷ lệ: 8,30%. Sô' phòng học đạt chuẩn là: 543 phòng - đạt 22,90%. Số phòng học cấp 4 chưa đạt chuẩn nhưng chất lượng tốt: 85 phòng - chiếm tỷ lệ 3,59%. Số phòng cấp 4 xuống cấp là 781
chiếm tỷ lệ: 32,94%. Số phòng gỗ ngói là 58 phòng - chiếm tỷ lệ: 2,45%. Số phòng còn học chung với Hội quán xóm: 691 phòng - chiếm tỷ lệ: 29,10%. Số lớp còn học nhờ nhà dân: 15 phòng - chiếm tỷ lệ 0,63%.
Một số trường Mầm non trong tỉnh đã có nhiều cố gắng tạo môi trường sư phạm, cảnh quan xanh, sạch, đẹp đạt tiêu chuẩn trường Mầm non đạt chuẩn Quốc gia. Hiện nay cả tỉnh có 41 trường được công nhận trường Mầm non đạt chuẩn Quốc gia.
Về công tác Xã hội hóa giáo dục Mầm non:
Trong những năm qua Ngành Giáo dục - Đào tạo đã phối hợp với các ngành, các cấp tổ chức thực hiện tốt cống tác tuyên truyền, vận động bằng nhiều hình thức để nâng cao nhận thức về vị trí của ngành học. Thông qua các hình thức tuyên truyền như tổ chức các hội thi, tuyên truyền trên đài, báo đã nâng cao được nhận thức cho cộng đồng.
Các cấp lãnh đạo của Đảng, Chính quyền, các đoàn thể và nhân dân địa phương đồng tình ủng hộ, nhiều địa phương đã huy động được nhiều nguồn lực để chăm lo xây dựng và phát triển Giáo dục Mầm non, đưa chỉ tiêu phát triển Giáo dục Mầm non gắn với tiêu chí thi đua hàng năm của xã, phường, thôn xóm.
Những tồn tại và bất cập trong phát triển GDMN Hà Tĩnh:
Về quy mô mạng lưới trường lớp:
- Đến nay hệ thống trường, lóp của Giáo viên Mầm non còn nhiều bất cập, quy mô không đồng đều ở các vùng, miền; việc quy hoạch và sắp xếp lại
mạng lưới trường lớp ờ một số địa phương còn chậm, chưa đáp ứng yêu cầu phân chia độ tuổi để tổ chức thực hiện các loại chương trình của Bộ mà còn tồn tại khá nhiều lớp ghép, có nơi còn phải ghép 3 độ tuổi. Một sô trường Mầm non với quy mô quá lớn từ 18 nhóm trớ lên, hoặc hệ thống công lập quá ít không đảm bảo được vai trò nòng cốt trong hệ thống trường lớp Nhà nước quy định.
Về chất lượng chăm sóc giáo dục
Việc thực hiện chương trình chăm sóc giáo dục trẻ theo qui định của Bộ còn gặp nhiều khó khãn. Bèn cạnh các trường được thực hiện chương trình đổi mới, chương trình cải cách 3 độ tuổi, toàn tỉnh có 3 lớp thực hiện chương trình 26 tuần, số lớp thực hiện chương trình lớp ghép còn khá nhiều nên việc giáo dục toàn diện còn hạn chế. Một số trường do trình độ của một số giáo viên ở nhà trẻ đào tạo còn thấp nên không tổ chức được việc dạy trẻ theo đúng chương trình mà chỉ thực hiện được từng phần chương trình của Bộ.
Đối chiếu với tiêu chuẩn 4 của quy chế công nhận trường Mầm non đạt chuẩn Quốc gia, Hà Tĩnh chỉ có khoảng 50% tổng sô trường đạt chuẩn về chất lượng, tập trung ở thị xã, thị trấn và một số ít xã có điều kiện.
Vé đội ngũ:
- Đội ngũ giáo viên tuy số lượng không thiếu nhưng về chất lượng còn nhiếu hạn chế, do cơ chế tuyển dụng trước đây (xã tuyển) nên số giáo viên chưa đạt chuẩn ở một số địa phương tỷ lệ còn cao. Từ năm 2001 - 2002 Sở Giáo dục Đào tạo đã có hướng dẫn các địa phương không tuyển giáo viên mới chưa có trình độ đạt chuẩn nhưng thực tế ở một số xã vùng sâu, vùng xa không tuyển được giáo viên, mặt khác số giáo viên đã tuyển từ lâu nay sắp xếp bố trí lại gặp rất nhiều khó khăn. Tỉnh đã có chế độ hỗ trợ một lần cho số giáo viên lớn tuổi và số giáo viên chưa qua đào tạo không đủ trình độ văn hóa để tiếp tục đào tạo lên nhưng còn vướng mắc trong quá trình thực hiện. Một số giáo viên trong biên chế nhưng năng lực quá yếu rất khó bố trí, sắp xếp.
Cán bộ quản lý của một sô đơn vị còn hạn chế về năng lực quản lý, chỉ đạo cụ thể, công tác xây dựng kế hoạch của nhà trường, công tác tham mưu cho Lãnh đạo các cấp và chính quyền địa phương hiệu quả chưa cao.
Đội ngũ giáo viên ngoài biên chê mặc dầu các địa phương đã làm tốt công tác tham mưu, huy động được nhiều nguồn lực để hỗ trợ đời sống cho giáo viên nhưng sự đãi ngộ đối với giáo viên Mầm non ngoài biên chế còn bất cập.
2.4. Về Cơ sở vật chât:
Cơ sở vật chất của ngành học còn thiếu không đáp ứng yêu cầu phát triển Giáo dục Mầm non. Hệ thống phòng cấp 4 được xây dựng đã lâu hiện nay đã xuống cấp, phòng học tạm bằng gỗ ngói, thậm chí còn phải học nhờ hội quán của thôn xóm. Hầu hết các phòng học cũ hiện nay đều không đảm bảo diện tích để thực hiện chương trình chăm sóc giáo dục trẻ em, theo hướng đổi mới. Một số phòng học mới được xây dựng từ các nguồn hỗ trợ cua các dự án nhưng do cơ chế không đồng bộ nên xây không đúng thiết kế của Bộ và không có quy hoạch cụm lớp theo yêu cầu của trường Mầm non.
Các công trình vệ sinh, nguồn nước sạch còn thiếu, công trình vệ sinh không đảm bảo yêu cầu chăm sóc giáo dục trẻ.
Các bếp ãn trong các trường bán trú và tổ chức ăn phục vụ cho trẻ chưa đảm bảo yêu cầu bếp một chiều, hiện nay trong toàn tỉnh mới có 68 trường có bếp ăn hợp lý đảm bảo yêu cầu châm sóc nuôi dưỡng trẻ.
Trang thiết bị, đổ dùng đồ chơi của trẻ chủ yếu là nguồn phụ huynh mua sắm và giáo viên tự làm nên còn rất nghèo nàn nhất là các đồ chơi lớn ngoài trời, sân chơi quy hoạch chưa phù hợp với trẻ.
Đối chiếu với tiêu chuẩn trường Mầm non đạt chuẩn Quốc gia của Bộ thì Hà Tĩnh mới có 41 trường đảm bảo được yêu cầu về cơ sở vật chất.
Vé công tác xã hội hóa và cơ ché quản lý Giáo dục Mầm non:
Sự quan tâm của Lãnh đạo và nhân dân một số địa phương về công tác xã hội hóa ngành học Mầm non chưa đúng mức, cơ chế quản lý chưa rõ ràng.
Ngân sách đầu tư của Nhà nước cho Giáo dục Mầm non quá ít. Mặt khác đời sống nhân dân còn khó khăn nên việc huy động sức dân chưa nhiều, kinh phí của các trường Mầm non thu không đủ chi để đảm bảo cho sự hoạt động của nhà trường.
Các địa phương vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào theo đạo Thiên chúa về nhận thức còn hạn chế, việc huy động nguồn lực từ dân rất thấp đã làm cho Giáo dục Mầm non gặp không ít khó khăn, thiếu thốn về mọi mặt, từ quy hoạch trường lớp, cơ sở vật chất, sự không đồng bộ về đội ngũ nói chung và sô giáo viên ngoài biên chế đời sống còn quá khó khăn.
Đánh giá thực trạng và những bài học kinh nghiệm:
3.1 Đánh giá thực trạng:
Tổ chức thực hiện Quyết định số 2413/QĐ/UB-TC ngày 20/10/2003 của ƯBND tỉnh về việc triển khai thực hiện Quyết định 161 /2002/QĐ-TTg ngày 15/11/2002 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách phát triển Giáo dục Mầm non trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh đạt kết quả tốt.
Sở Giáo dục - Đào tạo đã phối hợp với Sở Tài chính có Công văn số 577/LN/GD-TC ngày 06/5/2005 về việc đề nghị sửa đổi mức thu học phí Mầm non và học phí nghề phổ thông và Công văn số 560 LT/GD-TC ngày 10/5/2005 về việc nâng mức sinh hoạt phí cho giáo viên Mầm non ngoài biên chế.
Từ Sở Giáo dục - Đào tạo đến phòng Giáo dục - Đào tạo các huyện,thị xã đã có nhiều biện pháp tích cực trong việc chỉ đạo thực hiện tốt nhiệm vụ năm học.
+ Trẻ các nhóm trẻ chính quy được huy động ra lớp năm sau cao hơn năm trước.
+ Tỷ lệ trẻ huy động ra lớp mẫu giáo vượt chỉ tiêu kế hoạch đề ra hàng năm của Sở và vượt chỉ tiêu chung của Bộ, tỷ lệ trẻ mẫu giáo 5 tuổi ra lớp cao.
+ Chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ được nâng lên rõ rệt: trẻ mạnh dạn, hồn nhiên có nề nếp học tập vui chơi, vệ sinh sạch sẽ, có nếp sống văn minh, chủ động, sáng tạo trong hoạt động... đạt kết quả cao thông qua khảo sát chất lượng trẻ cuối mỗi nãm học.
+ Việc chỉ đạo quy hoạch và xây dựng cụm lớp, tổ chức cho trẻ học 2 buổi/ngày đá được tăng lên rất nhiều so với những nãm học trước.
+ Việc tổ chức ăn cho trẻ tại trường Mầm non được mở rộng hơn cả 2 hình thức bán trú và ăn phụ. Trẻ suy dinh dưỡng giảm đáng kể, hiện nay bình quân toàn tỉnh là 13,9%, giảm 2,2% so với năm học trước.
+ Làm tốt công tác quản lý và xây dụng bồi dưỡng đội ngũ cán bộ giáo viên, tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn ngày càng được nâng lên, chất lượng giảng dạy của giáo viên và năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ quản lý ngày càng được cải tiến.
+ Việc xây dựng trường chuẩn Quốc gia đã trở thành phong trào rộng rãi trong toàn ngành, các địa phương và được nhân dân quan tâm hưởng úng.
Nguyên nhân:
Nhận thức đúng đắn của Lãnh đạo các ngành, các cấp về vị trí của Giáo dục Mầm non trong sự nghiệp Giáo dục - Đào tạo và công tác phát triển giáo dục Mầm non trên địa bàn.
Sự chỉ đạo sát, đúng của Ban giám đốc Sở Giáo dục - Đào tạo, sự quan tâm phối hợp chỉ đạo của các Sở, Ban, Ngành cấp tỉnh.
Đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên các cấp vững vàng về trình độ đào tạo, say sưa với nghề nghiệp.
Triển khai nghiêm túc mọi chủ trương, đường lối của Đảng, Chính phủ và Bộ Giáo dục - Đào tạo về các nội dung liên quan đến nhiệm vụ năm học một cách đầy đủ và có hiệu quả.
Làm tốt công tác “Xã hội hóa giáo dục” để huy động được nhiều nguồn lực chăm lo phát triển Giáo dục Mầm non.
PHẦN III. MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC MẦM NON TỪ NAY ĐẾN 2010
Mục tiêu chung:
Chăm lo phát triển GDMN ở tất cả các địa bàn, đặc biệt là địa bàn nông thôn, miền núi, vùng khó khăn, sắp xếp, phát triển mạng lưới Giáo dục Mầm non theo hướng đa dạng hóa các loại hình trường lớp, khuyến khích thành lập các Trường Mầm non Tư thục ở thị xã, thị trấn và những nơi có điều kiện. Thành lập trường Mầm non Công lập ở các xã đặc biệt khó khán; chăm lo xây dựng đội ngũ giáo viên Mầm non đủ vê số lượng, đồng bộ cơ cấu đạt chuẩn, trên chuẩn, về trình độ đào tạo; đảm bảo đời sống đội ngũ - Đặc biệt là giáo viên Mầm non ngoài biên chê để không ngừng nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục của Ngành học Mầm non.
Kê hoạch và mục tiêu cụ thể:
2.1 Vé quy mô trường lớp và phát triển số lượng:
- Quy hoạch lại mạng lưới trường lớp hiện có phù hợp với đặc điểm của từng địa phương theo hướng thành các cụm lớp ở nhũng nơi có địa bàn rộng, xây dụng trường tập trung ở những nơi có địa bàn thuận lợi, hạn chế đến mứctối đa các lớp mẫu giáo rải rác như hiện nay. Mối xã phường, thị trấn xây dựng 1 trường tập trung hoặc 1 cụm trung tâm và các cụm lẻ để phấn đấu trở thành trường chuẩn Quốc gia trong những năm tới.
Tiếp tục đẩy mạnh việc đa dạng hóa các loại hình trường lớp: Mở trường bán công mới, khuyến khích mở trường tư thục, nhóm trẻ gia đình ỡ các địa bàn thị xã, thị trấn để thu hút tối đa số trẻ được chăm sóc nuôi dạy theo khoa học.
Tiến hành việc chuyển các trường bán công các xã vùng khó khăn sang công lập.
*Chỉ tiêu cụ thể như sau:
Đến năm 2005: Toàn tỉnh có 276 trường Mầm non và Mẫu giáo. Hiện nay đã có 274 trường nhưng có một số trường quy mô quá lớn, các địa phương đang có kế hoạch tách trường để đảm bảo chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ.
Năm 2005 - 2007 hoàn thành việc ra quyết định chuyển 28 trường Mầm non bán công sang công lập tại 26 xã đặc biệt khó khăn được hưởng chương trình 135 của Chính phu, cụ thể:
Năm 2005 - 2006 chuyển 10 trường.
Năm 2006 - 2007 chuyển 18 trường.
Về tỷ lộ huy động trẻ vào nhà trẻ và mẫu giáo đạt chỉ tiêu sau:
+ Đến năm 2005: Nhà trẻ đạt 25%, trong đó trẻ vào các nhóm trẻ chính
quy:
19%, trẻ vào NTGĐ và tư thục: 6%.
Mẫu giáo đạt 83%.
Trẻ 5 tuổi huy động 99,95%.
+ Đến năm 2010: Nhà trẻ đạt 30%, trong đó trẻ vào các nhóm chính quy: 22,5%, trẻ vào NTGĐ và tư thục: 7,5%.
Mẫu giáo đạt 88%.
Trẻ 5 tuổi đạt 100%.
Về chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ:
Về nuôi dưỡng:
Nâng cao chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng trẻ trong các nhà trường Mầm non, tăng số trường được tổ chức ăn bán trú tại trường, phấn đấu đến năm 2005 có 35% số trẻ mẫu giáo được ăn bán trú và đến năm 2010 thực hiện đạt chỉ tiêu của Bộ đặt ra: có 50% trẻ mẫu giáo, 100% trẻ nhà trẻ được ăn bán trú tại trường.
Chỉ đạo thực hiện chương trình chãm sóc giáo dục:
Hiện nay chủ yếu trên địa bàn tỉnh thực hiện chương trình cải cách và đổi mới, chỉ còn 3 lớp ở 2 huyện Hương Sơn, Hương khê thực hiện chương trình 26 tuần, phấn đấu năm 2005 - 2006 có 100% số lớp thực hiện chương trình cải cách và đổi mới.
Nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ đến năm 2005 có 50% số trường đạt chuẩn về chất lượng và đến năm 2010 có 80% sô trường đạt chuẩn về chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ.
2.3. Xây dựng đội ngũ cán bộ, giáo viên và nhân viên: (Xem phụ lục)
Từng bước nâng cao chất lượng đội ngũ. Tãng cường việc đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn, chú ý ưu tiên các đơn vị trường Mầm non trọng điểm và trường Mầm non đạt Chuẩn Quốc gia, cụ thể: Năm 2005 đạt chuẩn và trên chuẩn là 80%, nãm 2007 là 95% (hiện nay mới đạt tỷ lệ: 75,27%).
Phấn đấu nâng dần tỷ lộ giáo viên trên chuẩn đến 2010 là 10% (hiện nay là 2,51%).
Trong các năm 2005 - 2007: hoàn thành việc bố trí đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên cốt cán theo quy định của Quyết định 161/2002/QĐ-TTg ngày 15/11/2002 của Thủ tướng Chính phủ cho tất cả các trường Mầm non trong địa bàn toàn tỉnh. Tuyển bổ sung vào biên chế tất cả Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng các trường công lập và bán công có đủ tiêu chuẩn quy định của nhà nước.
Tăng tỷ lệ giáo viên được biên chế để chuyển các trường bán công sang công lập ở những xã đặc biệt khó khăn trước mắt tuyển số cán bộ quản lý và giáo viên vào biên chế cụ thể là:
Tuyển bổ sung vào biên chế đủ số cán bộ quản lý cho các nhà trường theo quy định của Nhà nước.
+ Tổng số giáo viên của 28 trường thuộc 26 xã khó khãn thuộc diện xã có chương trình 135 cần tuyển đủ vào biên chế cho các trường theo Quyết định của ƯBND tỉnh.
Hiện nay có: 286 người, đã biên chế: 91 người, sẽ tiếp tục tuyển vào biên chế trong các năm tiếp theo là 195 người. Phấn đấu đến 2007 sẽ đảm bảo 100% giáo viên biên chế cho các xã này.
Giải quyết chế độ cho số giáo viên ngoài biên chế lớn tuổi và số giáo viên không đủ điều kiện bồi dưỡng đạt trình độ chuẩn. Việc giải quyết chế độ nghỉ hưởng trợ cấp 1 lần thực hiện như sau:
+ Giáo viên có trình độ đào tạo từ Sơ cấp trở lên mỗi năm công tác được hưởng 1 tháng lương tối thiểu, trong đó ngân sách của ngành hỗ trợ 1/3, số còn lại do ngân sách cấp: huyện, xã, nhà trường và phụ huynh cân đối chi trả.
+ Số giáo viên chưa qua đào tạo mỗi năm công tác được hưởng 80% 1 tháng lương tối thiểu, trong đó ngân sách của ngành hỗ trợ 1/3, số còn lại do ngân sách các cấp: huyện, xã, nhà trường và phụ huynh cân đối chi trả.
+ Số giáo viên này sau khi nghỉ hưởng lương chế độ nếu các nhà trường có nhu cầu thì được tiếp tục hợp đồng ngắn hạn cho đến khi có người thay thế, chế độ do sự thỏa thuận giữa nhà trường, địa phương cấp xã và người lao động.
2.4. Về xây dựng cơ sở vật chất: (Xem phụ 4a, 4b)
- Tăng cường đầu tư về cơ sở vật chất, trang thiết bị cho các trường và cơ sở Giáo dục Mầm non, đáp ứng việc đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp Giáo dục Mầm non cụ thể như sau:
+ Quy hoạch lại hệ thống trường lớp Mầm non dể các trường Mầm non có khuôn viên độc lập, có giấy phép sử dụng đất... các trường Mầm non nông
thôn xây dựng theo 2 hướng: Nơi tập trung dân cư, địa bàn hẹp xây dựng trường Mầm non tập trung tại 1 điểm. Nơi địa bàn rộng, dàn cư không tập trung thì mỗi trường xây dựng từ 2-3 cụm lớp, những vùng khó khăn tối thiểu phải có 1 cụm trung tâm và các cụm lẻ phải có tối thiêu 2 lớp, nơi đặc biệt khó khãn mới tồn tại nhóm, lớp lẻ.
+ Đảm bảo cho mỗi nhóm trẻ, lớp mẫu giáo có đủ một phòng học riêng theo tiêu chuẩn quy định của mô hình trường Mầm non nông thôn. Xóa tình trạng chung cơ sở vật chất với thôn xóm. Xóa loại phòng học bằng gỗ ngói, nhờ nhà dân, Hội quán ở các cơ sở Giáo dục Mầm non hiện nay.
+ Ngoài hệ thống phòng học các trường cần có đủ phòng chức năng, đặc biệt là phòng Hiệu trưởng, Vãn phòng nhà trường để tạo điều kiện cho nhà trường có nơi hoạt động chuyên môn cũng như thực hiện tốt công tác quản lý hành chính của trường.
Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất cho trường Mầm non bán công ở những vùng khó khăn để chuyển dần các trường này vào công lập với kinh phí đầu tư xây dựng từ các nguồn (ngân sách ngành, ngân sách địa phương và các chương trình dự án).
Tăng cường đầu tư mua sắm trang thiết bị, đồ dùng, đồ chơi phục vụ chăm sóc giáo dục trẻ.
Đẩy mạnh việc xây dựng cơ sở vật chất cho các trường để tổ chức cho trẻ ăn bán trú nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ.
*Chỉ tiêu:
Đến cuối năm 2005: 60% Trường Mầm non nông thôn có cụm trung tâm, 50% Trường Mầm non có khuôn viên riêng, cơ sở vật chất trang thiết bị cơ bản là đủ, đúng yêu cầu quy định phục vụ cho việc chăm sóc giáo dục trẻ. ơ thị xã, thị trấn và những địa phương có điều kiện phấn đấu xây dựng nhà học cao tầng hoặc nhà xây kiên cô phấn đấu toàn tỉnh có 20% trường tập trung tại 1 điểm có đủ điều kiện tổ chức cho trẻ ăn bán trú tại trường.
Đến năm 2007 hoàn thành cơ sở vật chất cho 28 trường Mầm non tại các xã đặc biệt khó khăn và xóa phòng học tạm, phòng học mượn cho các Trường Mầm non.
Đến năm 2010: 100% Trường Mầm non được xây dựng cơ bản về cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ cho việc chăm sóc giáo dục trẻ.
Về xây dựng Trường Mầm non đạt chuẩn Quốc gia:
+ Phấn đấu đến năm 2005 có tối thiểu là 20% số trường Mầm non đạt chuẩn Quốc gia (55 trường)
+ Phấn đấu đến năm 2010 có tối thiểu là 50% số Trường Mầm non đạt Chuẩn Quốc gia (140 trường).
Vê chê độ chính sách đối với giáo viên Mầm non ngoài biên chế:
Giáo viên do Phòng Giáo dục - Đào tạo ký hợp đồng lao động dài hạn được hưởng chế độ tiền lương, các khoản phụ cấp, chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, quỹ công đoàn, được học tập, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp
vụ, các danh hiệu tôn vinh Nhà giáo như giáo viên trong biên chế, phụ cấp, các khoản bảo hiểm được chi trả từ nguồn ngân sách Nhà nước hỗ trợ, nguồn thu học phí và các nguồn thu hợp pháp khác. Lương của giáo viên ngoài biên chế được chi trả từ nguồn thu học phí và Ngân sách nhà nước hỗ trợ được tính như sau:
Mức lương được hưởng:
Số giáo viên có trình độ đạt chuẩn được tính theo hệ số lương tối thiểu: 1,85 X 290.000 đồng/tháng = 536.500 đồng/tháng (số mới tuyển tính bằng 85%).
Số giáo viên chưa đạt chuẩn: được tính theo hệ số 1,65 X 290.000 đồng/ tháng = 478.500 đồng (không tuyển mới giáo viên chưa đạt chuẩn).
Các khoản đóng góp theo lương:
Đóng đầy đủ các khoản BHXH, BHYT, kinh phí công đoàn theo chế độ quy định. Mức đóng góp là tỷ lộ % so với mức tiền lương tối thiểu tại thời điểm đóng góp (hiện nay là: 290.000 đồng).
Nguồn kinh phí:
Nguồn sinh hoạt phí:
+ Ngân sách sự nghiệp giáo dục: Hỗ trợ 150.000 đồng/người/tháng cho 1 giáo viên công tác ở vùng đặc biệt khó khăn theo các Quyết định số 1232/QĐ-TTg ngày 24/12/1999; Quyet định số 647/QĐ-TTg ngày 12/7/2000 và Quyết định số 42/2001/QĐ-TTg ngày 26/3/2001 của Thủ tướng Chính phủ và 120.000 đồng/người/tháng cho các vùng còn lại.
+ Học phí của học sinh: từ 150.000 đến 200.000đồng/người/tháng.
+ Ngân sách huyện, thị xã, xã, phường, thị trấn (hỗ trợ phần còn lại): từ 120.000 đồng đến 200.000đồng/người/tháng.
Nguồn đảm bảo cho các khoản đóng góp theo lương:
+ Bảo hiểm xã hội: Thực hiện theo Quyết định số: 2413/2003/QĐ/UB.TC ngày 20/10/2003 của UBND tỉnh Hà Tĩnh (Ty lệ đóng góp: 20% so với tiền lương tối thiểu; trong đó: cá nhân tham gia BHXH: 5%, Ngân sách huyện, thị xã: 5%, Ngân sách Sự nghiệp Giáo dục: 5%, Ngân sách tỉnh: 5%)
+ Bảo hiểm Y tế: Ngân sách sự nghiệp giáo dục nộp 2%, cá nhân người lao động nộp 1%.
+ Kinh phí Công đoàn: Ngân sách huyện, thị xã, xã, phường, thị trấn: 2%.
PHẦN IV:
CÁC GIẢI PHÁP ĐỂ THỤC HIỆN ĐỂ ÁN
1- Tăng cường công tác tuyên truyền cho ngành học.
Mở rộng và làm phong phú thêm các hình thức tuyên truyền vận động để Lãnh đạo các cấp, các ngành và toàn dân nâng cao nhận thức về ngành học. Quán triệt sâu rộng nội dung Chỉ thị 18/2001/CT-TTg ngày 27/8/2001, Quyết định 161/2002/QĐ-TTg ngày 15/11/2002 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định 2413/2003/QĐ/ƯB-TC ngày 20/10/2003 của UBND tỉnh Hà Tĩnh về
thực hiện một số chế độ chính sách về phát triển Giáo dục Mầm non.
Đẩy mạnh công tác Xã hội hóa giáo dục:
Bằng nhiều biện pháp thúc đẩy công tác Xã hội hóa Giáo dục Mầm non để thu hút được nhiều nguồn lực cùng chăm lo phát triển Giáo dục Mầm non. Đa dạng hóa các loại hình thức Giáo dục Mầm non, đưa các trường Mầm non tại 26 xã đặc biệt khó khăn vào công lập. Khuyến khích phát triển loại hình Mầm non Tư thục tại các thị xã, thị trấn và nơi có điều kiện kinh tế thuận lợi.
Phát huy vai trò tham mưu của cán bộ quản lý Mầm non các cấp:
Các phòng GD - ĐT huyện, thị xã cần bám sát nội dung Quyết định 161/2002/QĐ-TTg ngày 15/11/2002 của Thủ tướng Chính phủT Thông tư số 05/2003/TTLT-BGD&ĐT-BNV-BTC ngày 24/2/2003 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính, Quyết định 2413/2003/QĐ/UB-TC ngày 20/10/2003 của UBND tỉnh để tham mưu cho lãnh đạo các địa phương đưa chỉ tiêu phát triển giáo dục Mầm non vào chủ trương kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Đặc biệt là các Hiệu trưởng Trường Mầm non cần tham mưu cụ thể cho Lãnh đạo Đảng, chính quyền địa phương để xây dựng kế hoạch phát triển Giáo dục Mầm non trên địa bàn mình một cách phù hợp.
Hoàn thiện công tác tổ chức và cơ chê quản lý Giáo dục Mầm non:
Xây dựng các mô hình quản lý thích hợp và có hiệu quả cho từng loại hình trường, đặc biệt là loại hình trường ngoài công lập. Tiếp tục mở rộng hình thức đào tạo tại chức, đào tạo từ xa để nâng cao trình độ trên chuẩn cho giáo viên Mầm non. Tổ chức các lớp đào tạo giáo viên cho các xã đặc biệt khó khăn theo hình thức tuyển ưu tiên theo vùng để giúp các địa phương này ổn định giáo viên vào những năm tới.
Làm tốt công tác tuyển chọn, sắp xếp lại đội ngũ:
Cùng với việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ cho giáo viên, cần phải kiên quyết trong việc tuyển giáo viên mới có trình độ đào tạo, có năng lực chuyên môn nghiệp vụ nhằm từng bước nâng cao chất lượng đội ngũ, cụ thể:
Tiếp tục giải quyết chế độ cho số giáo viên lớn tuổi và số giáo viên không đủ điều kiện đe đào tạo bồi dương lên trình độ đạt chuẩn.
Thực hiện theo Chỉ thị số 18/2001/CT-TTg ngày 27/8/2001 của Thủ tướng Chính phủ, đối với giáo viên trong biên chế chưa có trình độ đạt chuẩn năng lực giảng dạy yếu thì bố trí chuyển các công tác khác cho phù hợp, nếu không bố trí được giải quyết cho nghỉ trước tuổi theo chế độ của Nhà nước.
Bố trí cán bộ quản lý giáo dục phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ và năng lực của cán bộ, có cơ chế thay thế khi không đáp ứng được yêu cầu công tác.
Tiếp tục xét tuyển vào biên chế cho số cán bộ quản lý nói chung và giáo viên Mầm non ở những vùng khó khăn có đủ điều kiện quy định theo Quyết định số 2413/2003/QĐ/UB/TC ngày 20/10/2003 của ŨBND tỉnh.
Tiếp tục chỉ đạo nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ:
Tăng cường chỉ đạo các Trường Mầm non mở rộng hình thức nuôi dạy trẻ bán trú tại trường để nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ, tạo được lòng tin trong quần chúng nhân dân và đặc biệt là các bậc phụ huynh để thu hút mọi lực lượng quan tâm đến sự phát triển của Giáo dục Mầm non.
Phối hợp tốt trong cơ chế quản lý:
Ngành Giáo dục - Đào tạo cần có sự phối kết hợp với chương trình 135, Dự án phát triển nông thôn... Phối hợp tốt việc quản lý theo ngành với lãnh thổ, tạo cơ chế phối hợp nhịp nhàng giữa ngành và các huyện, thị để vừa đảm bảo việc phân cấp quản lý giáo dục vừa tạo điều kiện cho Giáo dục Mầm non phát triển tốt nhằm góp phần triển khai thực hiện có hiệu quả Quyết định 106/2002/QĐ-TTg ngày 15/11/2002 của Thu tướng Chính phu và Quyết định 161/2002/QĐ-TTg ngày 15/11/2002 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 2413/2003/QĐ/UB-TC ngày 20/10/2003 của UBND tỉnh về Giáo dục Mầm non trên địa bàn toàn tỉnh.
Đầu tư kinh phí để phát triển GDMN:
Ngành Giáo dục - Đào tạo cần xác định rõ mức kinh phí chi cho Giáo dục Mầm non, nâng tỷ lệ đầu tư cho ngành học Mầm non đảm bảo quy định cua Nhà nước theo Quyểi định 161/2002/QĐ-TTg ngày 15/11/2002 cua Thủ tướng Chính phủ và tãng ngân sách đầu tư theo Thông tư số 30 TT-LB ngày 26/7/1990 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tài chính để Giáo dục Mầm non được bình đẳng với các bậc học khác, tạo điều kiện để tăng cường trang thiết bị, đồ dùng đồ chơi cho các trường trọng điểm, các trường thực nghiệm chương trình đổi mới và các trường đăng ký xây dựng Trường Mầm non đạt chuẩn Quốc gia.
Các địa phương hỗ trợ kinh phí xây dựng cơ sở vật chất và mua sắm các trang thiết bị phục vụ chăm sóc giáo dục trẻ em cho các Trường công lập (ở các xã đặc biệt khó khăn), hỗ trợ kinh phí để xây dựng cơ sở vật chất và chi thường xuyên cho các trường Mầm non bán công ở những xã khó khăn. Các trường Mầm non bán công còn lại đề nghị tỉnh cho vay vốn với lãi suất thấp để xây dựng cụm trung tâm và xây dựng trường Mầm non đạt chuẩn Quốc gia.
Nhà nước cho vay vốn ban đầu với lãi suất thấp đối với loại hình trường Mầm non tư thục.
Tổ chức phát hành đợt vé xổ số vào dịp 1/6 để huy động thêm nguồn lực đầu tư kinh phí xây dựng trường Mầm non.
Tảng nguồn thu từ đóng góp của phụ huynh:
Nâng mức học phí và các khoản thu hợp pháp để đảm bảo cho hoạt động của trường và đảm bảo đời sống cho giáo viên ngoài biên chế, cụ thể:
Phụ huynh đóng tiền điện, nước với mức 30.000 đồng/nãm/trẻ để trường trả tiền điện, nước đảm bảo việc phục vụ chăm sóc giáo dục trẻ.
Mức học phí áp dụng đối với từng vùng như sau:
Đối với thị xã, thị trấn:
Mầm non bán trú: 60.000 đồng/tháng/cháu.
Mầm non không bán trú: 45.000/tháng/cháu.
Các vùng khác:
- Mầm non bán trú: 45.000đồng/tháng/cháu.
Mầm non không bán trú: 30.000đồng/tháng/cháu.
c)Miền núi cao. vùng 135:
Mầm non bán trú: 30.000 đồng/tháng/cháu.
Mầm non không bán trú: 20.000 đồng/tháng/cháu.
Căn cứ vào tình hình thực tế mức thu trên được điều chỉnh cho phù hợp theo từng giai đoạn trong thời gian thực hiện Đề án.
Kinh phí chi trả lương cho GV ngoài biên chế: (xem phụ lục)
10.1.Phương thức chi trả:
Dựa trên mức lương tính thực tế theo trình độ đào tạo của các vùng miền, các nhà trường Mầm non tự cân đối kinh phí có sự trợ giúp của các cấp chính quyền được thực hiện như sau:
Hỗ trợ lương: Ngân sách Giáo dục hỗ trợ theo từng miền như sau:
Hỗ trợ 150.000 đồng/tháng/cho một giáo viên đối với vùng đặc biệt khó khăn.
Hỗ trợ 120.000 đồng/tháng cho 1 giáo viên đối với các vùng còn lại.
Hỗ trợ BHXH, BHYT, Quỹ công đoàn: Giáo viên được hỗ trợ kinh phí đóng BHXH, BHYT, kinh phí cống đoàn = 19% lương tối thiểu được quy định cụ thể như sau:
Ngân sách tỉnh hỗ trợ 5% mức lương tối thiểu.
Ngân sách Giáo dục hỗ trợ 7% mức lương tối thiểu.
Ngân sách huyện, thị xã hổ trợ 6% mức lương tối thiểu.
Ngân sách xã, phường, thị trấn hỗ trợ 1% mức lương tối thiểu.
Nguồn chi trả cụ thể như sau:
*Các nguồn chi trả:
Nguồn ngân sách Giáo dục: Hỗ trợ như ở mục 2.5 (Chế độ chính sách
cho GVMN).
Nguồn thu học phí của học sinh được quy định cho từng vùng miền (Trích 60% để trả lương, 40% để lại chi cho các hoạt động nâng cao chất lượng CSGD trẻ trong nhà trường).
Nguồn ngân sách địa phương cấp huyện, thị xã đối với những nhà trường không tự cân đối được kinh phí sau khi đã có hỗ trợ của tỉnh, mức hỗ trợ như sau:
Cấp huyện hỗ trợ 30%.
Cấp xã, phường, thị trấn hỗ trợ: 70%.
PHẦN V: TỔ CHỨC THựC HIỆN:
1. Về trách nhiệm của các sở, ban, ngành, đoàn thể:
Đề án phát triển Giáo dục Mầm non từ nay đến năm 2010 được thực hiện thông qua quy hoạch phát triển Giáo dục - Đào tạo Hà Tĩnh năm 2001 - 2010 và quy hoạch tổng thể về kinh tế - xã hội của tỉnh, quy hoạch phát triển Giáo dục Mầm non của các huyện, thị xã.
Để đề án được thực hiện có hiệu quả và “Giáo dục thực sự là sự nghiệp
của toàn Đảng, toàn dân” thì trách nhiệm của các cấp chính quyền, ban, ngành, đoàn thể được quy định cụ thể như sau:

1- 1) Sở Giáo dạc - Đào tạo:
Chịu trách nhiệm chủ trì phối hợp với các Sở, ban, ngành liên quan và UBND các huyện, thị xã triển khai thực hiện Đề án này; Cụ thể hóa các chỉ tiêu và nhiệm vụ thành các chương trình, kế hoạch của từng giai đoạn, từng năm để tổ chức thực hiện; kiểm tra, đánh giá, kết quả và tiến độ thực hiện, tổng hợp, định kỳ, hàng năm báo cáo UBND tỉnh, Bộ Giáo dục và Đào tạo.

1- 2) Sở Kế hoạch và Đầu tư:
Phối hợp với Sở Giáo dục - Đào tạo tranh thủ nguồn vốn ODA, vốn chương trình kiên cố hóa trường, lớp hoặc của Chính phủ và các nguồn chương trình khác để tăng cường cơ sở vật chất cho các trường Mầm non, trước hết là các trường thuộc cùng điều kiện phát triển Giáo dục Mầm non hết sức khó khăn. Cân đối kế hoạch ngân sách hàng năm, ưu tiên đầu tư kinh phí cho phát triển Giáo dục Mầm non để xây dựng các trường Mầm non đã được phê duyệt.

1- 3) Sở Tài chính:
Sở Tài chính phối hợp với Sở Kế hoạch - Đầu tư, Sở Giáo dục - Đào tạo bố trí ngân sách hàng năm cho ngành Giáo dục, trong đó có phần thích đáng cho phát triển Giáo dục Mầm non, khuyến khích các thành phần kinh tế - xã hội... đầu tư cho Giáo dục Mầm non; cùng với Sở Giáo dục - Đào tạo thực hiện các chế độ, chính sách cho đội ngũ cán bộ, giáo viên Mầm non ngoài biên chế.

1- 4) Sở Nội vụ:
Chủ trì phối hợp với Sở Giáo dục - Đào tạo, Sở Lao động Thương binh và Xã hội, các ban ngành liên quan xây dựng chỉ tiêu biên chế, tuyển dụng công chức cho ngành học Mầm non, xây dựng các chế độ chính sách về đội ngũ nhằm đảm bảo thực hiện Quyết định 161/2002/QĐ-TTg ngày 15/11/2002 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách phát triển Giáo dục Mầm non cũng như triển khai thực hiện tốt Quyết định số 2413/2003/QĐ/UB-TC ngày 20/10/2003 của UBND tỉnh.

1- 5) Các Sở, Ban, Ngành, Đoàn thể cấp tỉnh:
Các Sở, Ban, Ngành, Đoàn thể cấp tính UBMTTỔ quốc tỉnh phối hợp, kết hợp với ngành Giáo dục và Đào tạo tổ chức thực hiện các nhiệm vụ liên quan, đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa Giáo dục Mầm non, vận động các lực lượng xã hội, toàn dân tham gia huy động nguồn lực chăm lo cho sự nghiệp phát triển Giáo dục Mầm non.

1- 6) UBND các huyện, thị xã:
-UBND các huyện, thị xã có trách nhiệm xây dựng Đề án từ nay đến năm 2010 của địa phương phù hợp với đề án phát triển Giáo dục Mầm non của tỉnh
đồng thời chỉ đạo ƯBND các xã, phường, thị trấn, các ban ngành, đoàn thể cấp huyện, thị tổ chức thực hiện Đề án về phát triển Giáo dục Mầm non của địa phương mình.
Phòng Giáo dục - Đào tạo các huyện, thị sấp xếp, điều chuyển sổ giáo viên trong biên chế hiện có cho các trường theo tinh thần của Chỉ thị 18/2001 /CT-TTg ngày 27/8/2001 và Quyết định 161/2002/QĐ-TTg ngày 15/11/2002 của Thủ tướng Chính phủ.
Về xây dựng cơ sở vật chất cho trường Mầm non: UBND xã, phường, thị trấn trực tiếp chỉ đạo việc xây dựng trường Mầm non trên địa bàn, nguồn tài chính để phát triển Giáo dục Mầm non được quy định tại Quyết định 161/2002/QĐ-TTg ngày 15/11/2002 của Thủ tướng Chính phủ:
gồm:
+ Ngân sách nhà nước.
+ Nguồn thu học phí, đóng góp xây dựng trường theo quy định hiện hành.
+ Các khoản tài trợ, viện trợ, quà tặng của các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước.
+ Vốn góp của các tổ chức, cá nhân để đầu tư xây dựng mới, cải tạo, mở rộng, nâng cấp cơ sở vật chất.
+ Vốn vay của Ngân hàng và các tổ chức tín dụng với lãi suất ưu đãi.
+ Các nguồn thu hợp pháp khác.
2 - Tổ chức thực hiện:
Giao Sở Giáo dục - Đào tạo chủ trì, phối hợp với Sở Nội vụ, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính và các Sở, Ban, ngành liên quan tổ chức chỉ đạo triển
khai thực hiện Đề án nhằm đạt được các chỉ tiêu kế hoạch đã đề ra bảo đảm
tiến độ:

2. 1 Đến cuối 2005:
Quy hoạch lại mạng lưới trường, lớp, đẩy mạnh đa dạng hóa các loại hình trường lớp đặc biệt là khuyến khích mở các trường và cơ sở Mầm non tư thục ở thị xã, thị trấn, chuyển sang công lập các trường Mầm non của 26 xã đặc biệt khó khăn. Hoàn thành việc sắp xếp đội ngũ cho các trường Mầm non.
Chỉ đạo tăng cường hình thức ăn bán trú tại trường.
Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ đạt chuẩn và trên chuẩn cho giáo viên Mầm non.
Hoàn chỉnh việc giải quyết chế độ nghỉ 1 lần cho số giáo viên lớn tuổi và số giáo viên không đủ điều kiện để học đạt trình độ chuẩn.
Tiếp tục đóng BHXH cho số giáo viên đựoc hợp đồng lao động dài hạn theo quy định tại Quyết định 2413/2003 của UBND tỉnh.
ổn định mức lương và các khoản phụ cấp cho giáo viên ngoài biên chế.
Đẩy mạnh việc xây dựng trường Mầm non đạt chuẩn Quốc gia giai đoạn 2002 - 2005 để đạt tỷ lệ quy định của Bộ.

2. Từ 2006 đến 2010:
Tập trung thực hiện các giải pháp để đạt và kế hoạch đề ra.
Đến năm 2006 hoàn thành việc quy hoạch mạng lưới trường lớp Mầm non.
Tiếp tục đẩy mạnh công tác đào tạo bồi dưỡng để thay thế số giáo viên không đáp ứng được yêu cầu công tác nhầm nâng cao chất lượng châm sóc giáo dục trẻ.
Đẩy mạnh việc xây dựng trường Mầm non đạt chuẩn quốc gia giai đoạn
Tập trung thực hiện các giải pháp để nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ trong các cơ sở Giáo dục Mầm non.
Nguồn kinh phí để thực hiện để án gồm:
+ Ngân sách Nhà nước đầu tư:
+ Các chương trình dự án.
+ Nguồn thu học phí, đóng góp xây dựng trường theo quy định hiện hành.
+ Các khoản tài trợ, viện trợ, quà tạng của các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước.
+ Vốn góp của các tổ chức cá nhân để đầu tư xây dựng mới, cải tạo, mở rộng, nâng cấp cơ sở vật chất.
+ Vốn vay của Ngân hàng và các tổ chức tín dụng với lãi suất ưu đãi.
+ Các nguồn thu hợp pháp khác.
+ Thu từ nguồn phát hành vé xổ số hàng năm.
KẾT LUẬN:
Để triển khai thực hiện Quyết định 161/2002/QĐ-TTg ngày 15/11/2002 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định 2413/2003/QĐ/UB-TC ngày 20/10/2003 của UBND tỉnh về Phát triển Giáo dục Mầm non đạt hiệu quả. Ngành Giáo dục - Đào tạo và các cấp ủy, chính quyền địa phương cùng các Sở, Ban, Ngành đoàn thể phải có sự phối kết hợp chặt chẽ, quan tâm và tạo điều kiện về mọi mặt, đồng thời vận động, tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân để thực hiện thành công Đề án này theo kế hoạch đề ra./.

Tổng quan văn bản

Số ký hiệu1614/2005/QĐ-UBND
Ngày ban hành12/08/2007
Loại văn bảnQuyết định
Ngày có hiệu lực12/08/2007
Nguồn thu thậpCơ sở dữ liệu
Ngày đăng công báo---
Cơ quan ban hành / Người kýUBND tỉnh Hà Tĩnh / Hà Văn Thạch
Phạm viHà Tĩnh
Trích yếuVề việc phê duyệt Đề án phát triển giáo dục Mầm non
Tình trạng hiệu lựcCòn hiệu lực

Chưa có thông tin lược đồ

Văn bản này hiện chưa được cập nhật dữ liệu về lược đồ liên quan.