|
UBND TỈNH HƯNG YÊN Số: 16/2001/QĐ-UBND |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------------------------- tỉnh Hưng Yên, ngày 06 tháng 06 năm 2001 |
QUYẾT ĐỊNH CỦA UBND TỈNH HƯNG YÊN
Về việc phê duyệt Chương trình Dân số Hưng Yên 2001 – 2005
____________________
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ngày 21-6-1994;
- Căn cứ Quyết định số 147/2000/QĐ-TTg ngày 22-12-2000 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược dân số Việt Nam 2001 – 2010;
- Căn cứ Nghị quyết số 03/NQ-TU ngày 16-5-2001 của Ban thường vụ Tỉnh ủy về chương trình dân số tỉnh Hưng Yên 2001 – 2005;
- Xét đề nghị của Chủ nhiệm Ủy ban dân số - kế hoạch hóa gia đình tỉnh tại Tờ trình số 54 ngày 19 tháng 5 năm 2001.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Phê duyệt “Chương trình dân số Hưng Yên giai đoạn 2001 – 2005” (có Chương trình dân số kèm theo).
Điều 2. Giao Chủ nhiệm Ủy ban dân số - kế hoạch hóa gia đình tỉnh phối hợp với các Sở, ngành, Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã hướng dẫn triển khai thực hiện có hiệu quả chương trình dân số Hưng Yên 2001 – 2005.
Điều 3. Các ông Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, Thủ trưởng các Sở, ngành tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.
Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký.
TM. UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH
CHỦ TỊCH
(Đã ký)
Nguyễn Đình Phách
CHƯƠNG TRÌNH DÂN SỐ HƯNG YÊN GIAI ĐOẠN 2001 – 2005
(Ban hành kèm theo Quyết định số 16/QĐ-UB ngày 06 tháng 6 năm 2001 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên)
Dân số không chỉ có tính chiến lược mà còn là vấn đề bức xúc, nó gắn liền với điều kiện sống, môi trường sống, thể hiện ở hai mặt số lượng và chất lượng. Ở tỉnh ta, quy mô dân số lớn vẫn còn tiếp tục gia tăng, chất lượng dân số chưa cao, đời sống kinh tế xã hội còn gặp nhiều khó khăn đang là những thách thức lớn đối với sự phát triển bền vững và chất lượng cuộc sống.
Phát huy kết quả đạt được của Nghị quyết số 04 Tỉnh ủy và Chỉ thị số 23 của Ủy ban nhân dân tỉnh về Chương trình Dân số giai đoạn 1997 – 2000, bước sang giai đoạn mới: thực hiện quyết định của Thủ tướng Chính phủ về Chiến lược Dân số Việt Nam giai đoạn 2001- 2010, Nghị quyết Đảng bộ tỉnh lần thứ XV, Nghị quyết Tỉnh ủy về Chương trình Dân số 2001- 2005, Chương trình Dân số Hưng Yên phải giải quyết toàn diện các nội dung: Tiếp tục xu thế giảm sinh, duy trì mức sinh thay thế tiến tới ổn định quy mô dân số ở mức hợp lý, đồng thời với các nội dung nhằm nâng cao chất lượng dân số, cùng những giải pháp cụ thể, phù hợp để Chương trình Dân số đạt chất lượng và hiệu quả cao, góp phần thúc đẩy kinh tế xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống nhân dân.
Phần thứ nhất
TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH DÂN SỐ
GIAI ĐOẠN 1997 – 2000
I- KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
Sau tái lập tỉnh, Tỉnh ủy có Nghị quyết số 04 về Chương trình Dân số - Kế hoạch hóa gia đình 1997 – 2000 về Ủy ban nhân dân tỉnh có Chỉ thị số 23 về việc đẩy mạnh thực hiện Chiến lược Dân số - Kế hoạch hóa gia đình đến năm 2000. Chương trình Dân số của tỉnh đã đạt được những kết quả:
1. Kết quả giảm sinh
Chương trình Dân số đã tạo được sự thay đổi mạnh mẽ trong nhận thức và hành vi của phần lớn quần chúng nhân dân đối với việc chấp nhận quy mô gia đình nhỏ. Tỷ lệ các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ sử dụng biện pháp trách thai tăng lên đáng kể: từ 68,5% năm 1996 lên 76% năm 2000, trung bình tăng 2% mỗi năm. Tỷ suất sinh giảm nhanh từ 20,10%o năm 1996 còn dưới 17%o năm 20001, trung bính giảm 0,6%o. Tỷ lệ đẻ con thứ 3 trở lên từ 15,5% năm 1996 còn 8,9% năm 2000. Tỷ lệ phát triến dân số 1,49% năm 1996 còn 1,2% năm 20002. Chương trình Dân số đã đạt và vượt mục tiêu mà Nghị quyết số 04 Tỉnh ủy đề ra (tỷ lệ phát triển dân số 1,23%). Với kết quả này Hưng Yên đạt được mức sinh thay thế (trung bình mỗi cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ có 2 con).
2. Công tác tổ chức và quản lý chương trình được đổi mới.
Đã kiện toàn bộ máy tổ chức. Cơ quan chuyên trách dân số từ tỉnh đến cơ sở đã thực sự trở thành một tổ chức tham mưu tích cực cho Lãnh đạo Đảng và Chính quyền các cấp về công tác dân số, phối hợp chặt chẽ với các ban, ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội chỉ đạo công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình. Đội ngũ cán bộ chuyên trách dân số trong toàn hệ thống được tăng cường cả về số lượng và chất lượng, mạng lưới cộng tác viên dân số được bố trí đến tận thôn, làng, xóm, đội, tổ dân phố, cụm dân cư theo phương thức quản lý đến tận hộ gia đình.
Thực hiện cơ chế quản lý theo chương trình mục tiêu, công khai toàn bộ nguồn kinh phí, đưa tuyệt đại bộ phận nguồn kinh phí về địa phương ngay từ đầu năm. Đổi mới trong việc giao chỉ tiêu kế hoạch được xây dựng từ dưới lên, sử dụng hiệu quả hệ thống biểu mẫu, báo cáo, thống kê vào điều hành hoạt động của chương trình.
3. Công tác thông tin, giáo dục, truyền thông được mở rộng và đẩy mạnh.
Đã huy động được đông đảo các lực lượng xã hội và cá nhân tham gia vào tuyên truyền, vận động về dân số - kế hoạch hóa gia đình dưới nhiều hình thức như: truyền thông đại chúng (Đài phát thanh, truyền hình, báo), truyền thông trực tiếp của đội ngũ cán bộ tuyên truyền, người có uy tín trong cộng đồng, đội ngũ cán bộ chuyên trách dân số, cán bộ y tế và cộng tác viên dân số. Các mô hình truyền thông đã được xây dựng và tiếp cận được với từng nhóm đối tượng. Các sản phẩm truyền thông đã đa dạng hóa về hình thức và phong phú về nội dung. Giáo dục dân số đã được đưa vào các cấp học phổ thông, các trường chuyên nghiệp, dạy nghề, các trường chính trị, hành chính.
4. Hệ thống cung cấp dịch vụ kế hoạch hóa gia đình đảm bảo sự đa dạng, thuận tiện.
Hệ thống cung cấp dịch vụ các cấp được củng cố và phát triển: Bệnh viện tỉnh, Trung tâm Bảo vệ bà mẹ, trẻ em. Trung tâm y tế các huyện, thị xã, trạm y tế xã được tăng cường về cơ sở vật chất như: cải tạo và nâng cấp các khoa sản, phòng thủ thuật, trang thiết bị y tế cho chuẩn đoán và điều trị, cung cấp ô tô cứu thương, thuốc thiết yếu, đào tạo lại một số lượng lớn cán bộ y tế trong chăm sóc sức khỏe sinh sản – Kế hoạch hóa gia đình. Nhiều mô hình cung cấp dịch vụ Kế hoạch hóa gia đình được triển khai như: hệ thống phòng khám Hội Kế hoạch hóa gia đình được mở rộng, khuyến khích các cơ sở y tế tư nhân tham gia vào dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản – Kế hoạch hóa gia đình có sự quản lý của ngành Y tế phân phối, tiếp thị phương tiện tránh thai phi lâm sàng (bao cao su, viên tránh thai) dựa vào cộng đồng… đã tạo điều kiện thuận lợi cho người dân khi có nhu cầu.
5. Một số chính sách, chế độ đã được ban hành và thực hiện có kết quả.
Đã thực hiện tốt chính sách, chế độ khuyến khích người đăng ký sử dụng các biện pháp tránh thai (BPTT), bồi dưỡng cán bộ y tế làm kỹ thuật lâm sàng, chế độ thù lao cán bộ chuyên trách và cộng tác viên dân số xã, phường, chế độ khen thưởng thôn, đường phố, xã, phường không có người sinh con thứ 3 trở lên, khen thưởng tập thể, cá nhân có nhiều đóng góp cho công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình đã được thực hiện có kết quả.
II- HẠN CHẾ TỒN TẠI
1. Chương trình Dân số trong những năm qua mới chỉ tập trung vào nội dung Kế hoạch hóa gia đình nhằm hạn chế tốc độ gia tăng quy mô dân số. Vấn đề chất lượng, cơ cấu dân số, phân bổ dân cư và các nội dung của chăm sóc sức khỏe sinh sản (CKSS) cũng như công tác giáo dục – truyền thông, dịch vụ Kế hoạch hóa gia đình, công tác giám sát, đánh giá còn có những hạn chế.
2. Năng lực quản lý và việc tổ chức thực hiện Chương trình Dân số còn có những điểm bất cập: tổ chức bộ máy dân số chậm kiện toàn còn ít kinh nghiệm, có những địa phương chưa bố trí được cán bộ chuyên trách, cán bộ ở một số huyện và cơ sở không đồng đều về trình độ văn hóa và chuyên môn. Số lượng cán bộ chuyên trách ít, tỷ lệ nằm trong biên chế thấp, đặc biệt là ở cấp huyện. Mức trợ cấp cho cán bộ chuyên trách xã quá thấp, không có chế độ bảo hiểm xã hội gây tâm lý thiếu an tâm công tác của nhiều cán bộ.
3. Còn nhiều yếu tố cản trở đến việc thực hiện quy mô gia đình nhỏ. Trình độ dân trí còn thấp, những tập quán tâm lý “trọng nam, khinh nữ”, có “con trai để nối dõi tông đường”, dòng họ mạnh vẫn còn ở một bộ phận nhân dân. Các dịch vụ về chăm sóc sức khỏe, bảo hiểm xã hội, phục vụ người già, trẻ em… chưa phát triển phù hợp với quy mô gia đình nhỏ. Tỷ lệ các cặp vợ chồng sinh con thứ 3 trở lên giảm chậm, tình trạng cưới sớm, đẻ sớm vẫn còn tương đối phổ biến ở một số địa phương, là những yếu tố chứa đựng nguy cơ tạo nên sự gia tăng dân số.
4. Đầu tư cho Chương trình Dân số - Kế hoạch hóa gia đình chưa đáp ứng nhu cầu kinh phí cho mở rộng nội dung hoạt động. Mặc dù trong những năm qua Nhà nước và địa phương đã tăng ngân sách cho Chương trình Dân số - Kế hoạch hóa gia đình, nhưng mức đầu tư này còn thấp so với yêu cầu thực tế.
III- BÀI HỌC KINH NGHIỆM
1. Thực hiện Nghị quyết TW lần thứ 4 (Khóa VII) về Chính sách Dân số - Kế hoạch hóa gia đình, Tỉnh ủy đề ra Nghị quyết số 04 về Chương trình Dân số - Kế hoạch hóa gia đình 1997 – 2000 và Chỉ thị số 23/1997 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc đẩy mạnh thực hiện Chiến lược Dân số - Kế hoạch hóa gia đình đến năm 2000, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân, thực sự đem lại lợi ích kinh tế, tinh thần và sức khỏe cho mỗi cá nhân, gia đình và xã hội. Cấp ủy và Chính quyền các cấp đã trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo, đầu tư nguồn lực và kiện toàn bộ máy làm công tác dân số các cấp, tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai các đường lối chính sách, chế độ về dân số cơ sở.
2. Đổi mới cơ chế quản lý thông qua các chương trình mục tiêu quốc gia về năng lực quản lý, thông tin – giáo dục – truyền thông và cung cấp dịch vụ Kế hoạch hóa gia đình đã tỏ ra rất có hiệu quả, tạo được sự tập trung nguồn lực cho cơ sở, đảm bảo được sự phối hợp, ủng hộ của các ngành, đoàn thể và các tổ chức xã hội và công cộng.
3. Phải có bộ máy tổ chức và đội ngũ cán bộ đủ mạnh, nhiệt tình, từng bước củng cố ổn định cơ sở vật chất các Trung tâm Dân số - Kế hoạch hóa gia đình các huyện, thị. Nâng cao chất lượng chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ chuyên trách và cộng tác viên dân số nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao và mở rộng của Chương trình Dân số.
4. Trong tổ chức thực hiện phải triển khai đồng bộ các giải pháp, đồng thời tập trung ưu tiên các giải pháp cơ bản để đưa công tác dân số về cơ sở, tạo ra chuyển biến rõ rệt trong chương trình.
Phần thứ hai
NHỮNG THÁCH THỨC CỦA VẤN ĐỀ DÂN SỐ
ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN
I-BỐI CẢNH KINH TẾ XÃ HỘI
Đảng bộ và nhân dân Hưng Yên đã giành được những thành tựu và tiến bộ quan trọng: hoàn thành mục tiêu Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV đề ra. Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) tăng bình quân 12,17% (mục tiêu đề ra 10% /năm). Thu nhập bình quân đầu người năm 2000 đạt 300USD. Lương thực bình quân đầu người đạt 520 kg. Hệ thống công nghiệp dịch vụ và kết cấu hạ tầng phát triển. Đời sống văn hóa – xã hội của nhân dân được cải thiện, cơ bản xóa hộ đói, giảm hộ nghèo còn 6,67%. Công tác dân số - Kế hoạch hóa gia đình có nhiều chuyển biến tích cực, tỷ lệ phát triển dân số còn 1,2%. Giữ vững ổn định chính trị, củng cố an ninh quốc phòng. Tuy nhiên, Hưng Yên vẫn là tỉnh nghèo, thu nhập bình quân đầu người còn thấp dưới mức bình quân của quốc gia, mức sống giữa thành thị và nông thôn chưa đồng đều, môi trường bị ô nhiễm; quy mô dân số lớn vẫn còn tiếp tục gia tăng, chất lượng dân số chưa cao, phân bổ dân cư chưa hợp lý đang là thách thức lớn đối với sự phát triển bền vững và nâng cao chất lượng cuộc sống.
II- NHỮNG THÁCH THỨC
1. Quy mô dân số lớn và ngày càng tăng vẫn là những cản trở lớn đối với sự phát triển của tỉnh
Với số dân 068.000 người vào thời điểm 1-4-1999, Hưng Yên là tỉnh có mật độ dân số lớn thứ 3 (193 người/km2) đứng sau Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, gấp 5 lần mật độ dân số cả nước (235 người/km2). Tiềm năng gia tăng dân số còn lớn do cơ cấu dân số trẻ và số phụ nữ 15 – 49 tuổi vẫn tăng lên cao, từ 282.820 người năm 2000 lên 329.338 người năm 2010. Mặc dù tỷ lệ sinh đã giảm nhanh và tiếp tục giảm nhưng trong 10 năm tới dân số tỉnh ta vẫn tăng thêm trung bình mỗi năm khoảng 1000 người.
2. Kết quả giảm sinh chưa thực sự vững chắc
Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên giảm chậm, năm 2000 vẫn chiếm 8,9% tổng số sinh trong năm, tỷ lệ này còn chênh lệch nhiều giữa các huyện trong tỉnh. Tình trạng cưới sớm, đẻ sớm, đẻ dày còn xảy ra ở một số vùng nông thôn. Vẫn còn khoảng 10% tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai truyền thống có hiệu quả tránh thai thấp. Tư tưởng trọng nam khinh nữ vẫn là yếu tố cản trở đến việc chấp nhận và thực hiện gia đình ít con. Việc mang thai ngoài ý muốn và tình trạng nạo phá thai là đáng lo ngại. Tư tưởng chủ quan thỏa mãn với kết quả giảm sinh đã xuất hiện.
3. Cơ cấu dân số trẻ và đang chuyển dần sang cơ cấu dân số già tạo ra những cơ hội và thách thức đối với sự phát triển kinh tế xã hội.
Do giảm sinh nhanh và tuổi thọ tăng, dân số bắt đầu chuyển sang quá trình già hóa. Tuổi trung vị sẽ tăng từ 24,28 năm 2000 lên 28,60 năm 2010, số trẻ em dưới 15 tuổi mặc dù giảm từ 430.215 năm 2000 xuống 368.732 năm 2010 nhưng vẫn ở mức độ cao. Người già từ 60 tuổi trở lên sẽ tăng từ 118.571 năm 2000 lên 137.224 năm 2010, làm tăng nhu cầu bảo đảm phúc lợi xã hội và các dịch vụ chăm sóc sức khỏe người già, số người từ 15 – 59 tuổi tăng từ 534.062 năm 2000 lên 686.658 năm 2010, kết hợp với sự di dân tự do và sự di chuyển của lực lượng lao động theo mùa vụ vẫn chưa được quản lý, kể cả lực lượng trẻ em vị thành niên.
4. Chất lượng dân số còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Các tố chất về thể lực của nhân dân còn hạn chế, đặc biệt là chiều cao, cân nặng và sức bền. Tỷ lệ sơ sinh nặng dưới 2,500 gam chiếm 6% năm 2000. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng cao chiếm 36% năm 2000. Đáng lưu ý vẫn còn 1,5% dân số bị thiểu năng về thể lực và trí tuệ, số người nhiễm HIV/AIDS ngày càng cao, số năm học bình quân đầu người thấp, mới đạt 8,4 năm học/người năm 2000. Tỷ lệ lao động qua đào tạo chỉ đạt khoảng 22%. Chỉ có 1,24% dân số tốt nghiệp đại học, trình độ thạc sĩ trở lên chiếm 0,12% năm 2000.
Phần thứ ba
QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP
Qua bối cảnh kinh tế xã hội và những thách thức của vấn đề dân số đối với sự phát triển và thực hiện mục tiêu của Nghị quyết Tỉnh Đảng bộ lần thứ XV, Nghị quyết 03 của Ban thường vụ Tỉnh ủy về Chương trình Dân số giai đoạn 2001 – 2005, Chương trình Dân số tập trung giải quyết những vấn đề sau:
- Tiếp tục giảm sức ép gia tăng dân số nhằm ổn định quy mô dân số ở mức hợp lý.
- Giải quyết đồng bộ, có trọng điểm từng yếu tố của chất lượng dân số, cơ cấu dân số và phân bố dân cư.
I- QUAN ĐIỂM
1. Công tác dân số là một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, là một trong những yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và toàn xã hội, góp phần quyết định để thực hiện thành công công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
2. Thực hiện đồng bộ, từng bước có trọng điểm việc điều hòa quan hệ giữa số lượng với chất lượng dân số, giữa phát triển dân số với phát triển nguồn nhân lực, giữa phân bố và di chuyển dân cư với phát triển kinh tế - xã hội là nhiệm vụ trọng tâm của công tác dân số.
3. Đầu tư cho công tác dân số là đầu tư cho sự phát triển bền vững và mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội trực tiếp, gián tiếp và rõ rệt, đảm bảo đủ nguồn lực cho công tác dân số, đồng thời vận động sự đóng gióp của cộng đồng và tranh thủ sự giúp đỡ của cấp trên.
4. Đẩy mạnh công tác truyền thông – giáo dục về dân số và phát triển, kết hợp với việc thực hiện đầy đủ, có hiệu quả Chương trình chăm sóc sức khỏe sinh sản – Kế hoạch hóa gia đình, tăng cường vai trò của gia đình và thực hiện bình đẳng giới trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe sinh sản – Kế hoạch hóa gia đình là các giải pháp cơ bản để đảm bảo tính bền vững của Chương trình.
5. Sự lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát và ngày càng được tăng cường của Đảng và Chính quyền các cấp trên cơ sở có bộ máy chuyên trách đủ mạnh, đẩy mạnh xã hội hóa là yếu tố quyết định sự thành công của Chương trình Dân số và phát triển.
II- MỤC TIÊU
1. Mục tiêu tổng quát
Thực hiện gia đình ít con khỏe mạnh, tiến tới ổn định quy mô dân số ở mức hợp lý để có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, nâng cao chất lượng dân số, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa góp phần vào sự nghiệp phát triển nhanh về bền vững.
2. Mục tiêu cụ thể.
1. Mục tiêu thứ nhất: Tỷ lệ phát triển dân số 1,1% (trung bình trong 5 năm) và đạt 1% vào năm 2005. Tiếp tục xu thế giảm sinh một cách vững chắc để mức sinh thay thế đạt ở mức thấp, quy mô, cơ cấu, phân bổ dân cư phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội vào những năm sau.
2. Mục tiêu thứ hai: Nâng cao chất lượng dân số về thể chất, trí tuệ, tinh thần. Nâng chỉ số phát triển con người (HDI) đạt mức trung bình tiên tiến.
- Tỷ lệ đẻ con thứ 3 trở lên: 8,9% năm 2000 xuống còn 6% năm 2005.
- Tỷ lệ CPR (cặp vợ chồng thực hiện các biện pháp tránh thai) 76% năm 2000 lên 80% năm 2005.
- Giảm tỷ lệ nạo phá thai 25% (năm 2000 khoảng 50%) năm 2005.
- Triển khai chương trình truyền thông thay đổi hành vi và các hoạt động dịch vụ về chăm sóc sức khỏe sinh sản – Kế hoạch hóa gia đình đến 100% xã, phường và thị trấn.
- Hạ tỷ suất chết sơ sinh xuống còn 25%o (năm 1999 là 36,7%o).
- Hạ tỷ suất chết mẹ xuống còn 70/100.000 ca đẻ sống (năm 1998 là 100.000).
- Tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi còn 21% (năm 2000 là 36%).
- Thực hiện theo dõi và quản lý thai nghén cho 100% phụ nữ có thai.
- HDI năm 2000, 0,66 điểm lên 0,7 – 0,75 điểm: Giảm tỷ lệ hộ nghèo còn 3% (năm 2000 là 6,7%); GDP/người là 500 USD (năm 2000 là 300 USD); Số năm học bình quân đầu người lên 9,4 năm (năm 2000 là 8,4 năm); Đưa tuổi thọ trung bình lên 69 tuổi (năm 2000 là 66 tuổi).
III- CÁC GIẢI PHÁP
1. Lãnh đạo, tổ chức và quản lý.
Kiện toàn, củng cố và ổn định hệ thống tổ chức làm công tác dân số từ cấp tỉnh, huyện và đặc biệt là hệ thống cán bộ làm công tác dân số ở cấp xã, phường để đảm nhiệm được chức năng tổ chức, quản lý và triển khai các chương trình Dân số và phát triển. Tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của Đảng. Chính quyền các cấp đối với công tác Dân số, phát huy cao nhất sự phối hợp giữa các cơ quan, ban, ngành, các tổ chức xã hội tham gia công tác dân số. Thực hiện hiệu quả về quản lý nhà nước về công tác dân số theo các chương trình mục tiêu của Quốc gia và của tỉnh.
- Sắp xếp và ổn định tổ chức bộ máy. Hoàn thiện cơ cấu và chức năng các phòng ban, bộ phận của hệ thống dân số tỉnh phù hợp, đáp ứng được công tác quản lý và triển khai với từng nội dung mục tiêu của chương trình Dân số và cải cách hành chính.
- Tổ chức Đảng và Chính quyền các cấp tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo. Cụ thể hóa nhiệm vụ cho mỗi ban ngành đoàn thể, tổ chức xã hội trong việc phối kết hợp thực hiện các mục tiêu Chương trình Dân số.
- Xây dựng kế hoạch theo các chương trình mục tiêu. Thực hiện công khai hóa nguồn lực, kế hoạch hoạt động ngay từ đầu năm. Thực hiện cơ chế quản lý nhà nước. Đảm bảo nguồn lực, đầu tư và sử dụng có hiệu quả cao.
- Đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện kế hoạch, các chương trình mục tiêu dân số, rút ra những bài học kinh nghiệm để xử lý và cung cấp đầy đủ, chính xác, kịp thời những thông tin cần thiết phục vụ cho việc chỉ đạo điều phối các hoạt động của Chương trình Dân số.
2. Truyền thông giáo dục thay đổi hành vi
Tạo sự chuyển đổi hành vi bền vững về dân số - sức khỏe sinh sản và Kế hoạch hóa gia đình trên cơ sở cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin với những nội dung và hình thức phù hợp với từng địa phương và từng nhóm đối tượng, chú trọng loại hình tư vấn đối thoại vận động trực tiếp. Mở rộng và nâng cao chất lượng các hình thức giáo dục dân số trong và ngoài nhà trường.
- Sử dụng hiệu quả các kênh truyền thông và các hình thức thông tin, giáo dục truyền thông,. Tiếp cận đến mọi đối tượng để nâng cao nhận thức, hiểu biết và cam kết thực hiện mục tiêu Chương trình Dân số.
- Nâng cao sự hiểu biết của phụ nữ và nam giới về giới, giới tính và tình dục học để mỗi người thực hiện đầy đủ quyền và trách nhiệm trong sinh sản, quan hệ tình dục an toàn, có trách nhiệm, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau để nâng cao sức khỏe sinh sản và chất lượng cuộc sống.
- Thường xuyên có các cuộc tiếp xúc giữa Đảng và Chính quyền các cấp với đội ngũ làm công tác dân số và công chúng, đảm bảo mọi chủ trương, chính sách về công tác dân số thực sự là của dân, do dân và vì dân.
- Tăng cường nội dung, giảng dạy, giáo dục dân số trong nhà trường ở mọi cấp và trong các ngành học của hệ thống giáo dục và các trường dân lập với hình thức, nội dung phù hợp với từng cấp học, theo hướng cung cấp kiến thức, tạo nhận thức và hành vi đúng đắn về dân số, sức khỏe sinh sản – Kế hoạch hóa gia đình, giới và giới tính.
3. Chăm sóc sức khỏe sinh sản – Kế hoạch hóa gia đình.
Nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe sinh sản – Kế hoạch hóa gia đình với các nội dung phù hợp khuôn khổ chăm sóc sức khỏe ban đầu. Hạn chế m,ức thấp nhất các trường hợp có thai ngoài ý muốn, giảm nhanh tình trạng nạo phá thai, tiến tới thỏa mãn nhu cầu của khách hàng về sức khỏe sinh sản – Kế hoạch hóa gia đình.
- Đa dạng hóa các loại hình cung cấp dịch vụ và tư vấn sức khỏe sinh sản – Kế hoạch hóa gia đình. Lấy khách hàng làm trung tâm. Phối kết hợp giữa hệ thống dân số với một số ban ngành chức năng xây dựng các trung tâm, các cơ sở cung cấp dịch vụ tư vấn về dân số, sưc khỏe sinh sản – Kế hoạch hóa gia đình, mở rộng và tăng cường hiệu quả tiếp thị xã hội và thị trường hóa các phương tiện tránh thai.
- Kiện toàn và nâng cao chất lượng của hệ thống cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏesinh sản – Kế hoạch hóa gia đình. Thông qua kế hoạch hoạt động và nội dung đào tạo hàng năm của ngành Y tế, Dân số, Giáo dục, bằng các hình thức đào tạo ngắn hạn, dài hạn và tập huấn về nghiệp vụ chuyên môn định kỳ cho đội ngũ cán bộ.
- Đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền hướng dẫn phòng chống các bệnh viêm nhiễm qua đường sinh sản, tiến tới kiểm soát được tỷ lệ mắc các bệnh lây nhiễm qua đường sinh sản, kể cả HIV/AIDS.
- Tăng cường đầu tư nguồn lực, nâng cao chất lượng các nội dung chăm sóc bà mẹ trẻ em. Phòng chống hiệu quả các tai biến sản khoa, giảm nhanh tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em.
- Giải quyết từng bước có trọng điểm các nội dung dự phòng và điều trị vô sinh, ung thư sinh dục, giảm tỷ lệ thiểu năng về thể lực, trí tuệ, các bệnh liên quan đến sức khỏe sinh sản.
4. Xã hội hóa công tác dân số, nâng cao dân trí, phát huy vai trò gia đình.
- Huy động sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội tham gia công tác dân số. Tạo điều kiện cho mỗi cá nhân, mỗi gia đình, mỗi cộng đồng tự nguyện và chủ động tham gia công tác dân số, xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách dân số, tạo cơ sở pháp lý thúc đẩy quá trình tổ chức thực hiện.
- Phát động phong trào thành lập quỹ hoạt động dân số cộng đồng đặc biệt là các xã phường từ sự đóng góp của các tổ chức xã hội, các doanh nghiệp, các tổ chức phi Chính phủ và nhân dân tại các địa phương nhằm tạo ra nguồn lực mới cho hoạt động Chương trình Dân số.
- Nâng cao trình độ dân trí, tăng cường vai trò gia đình và thực hiện bình đẳng giới tạo vị thế và quyền năng cho phụ nữ.
- Gắn kết các hoạt động văn hóa, xã hội, kinh tế của địa phương với công tác phụ nữ để phụ nữ thực sự làm chủ trong các hoạt động và phát huy được vai trò giới, nâng cao vị thế, vai trò của mình trong gia đình và xã hội.
- Đẩy mạnh các hoạt động bình đẳng giới trong giáo dục, đào tạo, dạy nghề, bình đẳng trong phân công lao động nâng cao phúc lợi gia đình thông qua việc hỗ trợ khoa học kỹ thuật, mở rộng làng nghề, lồng ghép Chương trình Dân số với chương trình tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo.
- Hoàn thiện hệ thống thông tin quản lý chuyên ngành, đưa các chỉ báo về Chính sách Dân số, các chỉ báo giám sát nhằm đánh giá kết quả thực hiện Chương trình Dân số tại các cấp quản lý.
5. Tài chính và hậu cần.
Đảm bảo nguồn lực, kinh phí và các điều kiện hoạt động của công tác Dân số trên cơ sở tranh thủ và phát huy các nguồn lực, phân bổ và sử dụng có hiệu quả.
- Nguồn kinh phí cho công tác dân số, chăm sóc sức khỏe sinh sản – Kế hoạch hóa gia đình đạt mức bình quân 0,6 USD/người/năm, trong đó nguồn ngân sách của Trung ương và tỉnh duy trì mức 80%.
- Đảng, chính quyền các cấp cần tập trung chỉ đạo điều chỉnh, phân bổ một phần quỹ phúc lợi, quỹ sự nghiệp văn hóa xã hội cho công tác dân số, vận động các tập thể, cá nhân và các tổ chức xã hội, tổ chức phi chính phủ đầu tư nguồn tài chính cho Chương trình Dân số. Đảm bảo 20% kinh phí còn lại do huyện và xã đầu tư cho công tác dân số.
- Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc sử dụng các nguồn lực theo từng mục tiêu chương trình, đảm bảo tất cả các nguồn lực được quản lý thống nhất theo luật ngân sách nhà nước.
- Cung cấp đầy đủ các phương tiện truyền thông và sản phẩm truyền thông cho các tuyến cơ sở đặc biệt là các tờ rời, tờ gấp, báo Gia đình xã hội, tạp chí Dân số và gia đình thường xuyên định kỳ tới cơ sở.
- Cung ứng kịp thời các phương tiện tránh thai, đa dạng phương tiện tránh thai đảm bảo thuận tiện, an toàn và thích hợp với từng nhóm đối tượng và phù hợp với từng địa phương.
- Nâng cao hiệu quả công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản – Kế hoạch hóa gia đình với việc tăng cường đào tạo chuyên môn kỹ thuật và khả năng tư vấn cho cán bộ Dân số, y tế các cấp, đầu tư cơ sở vật chất cho Trung tâm Dân số trang thiết bị cho phòng truyền thông và dịch vụ Kế hoạch hóa gia đình tại các tuyến cơ sở.
Phần thứ tư
TỔ CHỨC THỰC HIỆN
I- CÁC CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG
1. Chương trình phát triển nguồn lực và nâng cao năng lực quản lý cho đội ngũ cán bộ làm công tác dân số.
- Mục đích: Nâng cao chất lượng cán bộ, quy hoạch và đào tạo đội ngũ cán bộ, củng cố, kiện toàn và nâng cao năng lực tổ chức, lãnh đạo và quản lý hệ thống dân số các cấp có đủ trình độ năng lực quản lý, tổ chức, điều hành có hiệu quả các hoạt động của chương trình, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới. Đối với những huyện mới chia tách phải sớm ổn định về tổ chức và cơ sở làm việc để kịp thời chỉ đạo và triển khai các hoạt động Chương trình Dân số ở cấp cơ sở.
- Cơ quan chủ trì: Ủy ban Dân số tỉnh.
- Cơ quan phối hợp: Sở Giáo dục – Đào tạo, Trường chính trị tỉnh.
- Thời gian: giai đoạn 2001 – 2005.
2. Truyền thông – giáo dục thay đổi hành vi.
- Mục đích: Tạo sự chuyển đổi hành vi bền vững về dân số, sức khỏe sinh sản – Kế hoạch hóa gia đình trên cơ sở cung cấp đầy đủ thông tin với nội dung và hình thức phù hợp cho từng nhóm đối tượng.
- Cơ quan chủ trì: Ủy ban Dân số tỉnh.
- Cơ quan phối hợp: Sở Giáo dục – Đào tạo, Mặt trận Tổ quốc tỉnh, Sở Văn hóa, Đài phát thanh truyền hình tỉnh, Báo Hưng Yên và các ngành thành viên.
- Thời gian: giai đoạn 2001 – 2005.
3. Chăm sóc sức khỏe sinh sản – Kế hoạch hóa gia đình
- Mục đích: Tăng cường khả năng đáp ứng nhu cầu và chất lượng dịch vụ sức khỏe sinh sản – Kế hoạch hóa gia đình trên cơ sở tăng tỷ lệ các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại, nâng cao khả năng tư vấn và kỹ thuật của người cung cấp dịch vụ, triển khai các nội dung của sức khỏe sinh sản.
- Cơ quan chủ trì: Sở Y tế
- Cơ quan phối hợp: Ủy ban dân số tỉnh, Hội Kế hoạch hóa gia đình tỉnh.
- Thời gian: 2001 – 2005.
4. Tăng cường thông tin tư vấn và dịch vụ sức khỏe sinh sản – Kế hoạch hóa gia đình cho các xã khó khăn của tỉnh.
- Mục đích: Tăng cường khả năng đáp ứng nhu cầu về thông tin tư vấn và dịch vụ sức khỏe sinh sản – Kế hoạch hóa gia đình và đảy mạnh sự tiếp cận chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản – Kế hoạch hóa gia đình đến các vùng khó khăn.
- Cơ quan chủ trì: Ủy ban Dân số tỉnh.
- Cơ quan phối hợp: Sở Y tế, Hội Kế hoạch hóa gia đình tỉnh.
- Thời gian: 2001 – 2005.
II- NHIỆM VỤ CỦA CÁC SỞ, BAN, NGÀNH, ĐOÀN THỂ
1. Ủy ban Dân số tỉnh:Chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về lĩnh vực dân số - phát triển. Có tránh nhiệm điều phối thực hiện Chương trình Dân số và những nội dung của chương trình trong phạm vi toàn tỉnh. Theo dõi, đôn đốc, giám sát, kiểm tra việc thực hiện; Chủ trì việc xây dựng và thực hiện các kế hoạch hoạt động của chương trình.
2. Sở Y tế:Phối hợp tổ chức và chỉ đạo thực hiện chương trình chăm sóc sức khỏe sinh sản – Kế hoạch hóa gia đình, kiện toàn màng lưới cung cấp dịch vụ đến tận xã, phường; Đào tạo và bồi dưỡng kỹ thuật cho đội ngũ cán bộ làm dịch vụ lâm sàng; Phối hợp với Ủy ban Dân số thực hiện những vấn đề liên quan đến chất lượng dân số.
3. Sở Kế hoạch và Đầu tư:Lồng ghép các yếu tố dân số vào các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, bố trí các nguồn lực cho Chương trình Dân số, sức khỏe sinh sản – Kế hoạch hóa gia đình.
4. Sở Tài chính:Cấp phát kịp thời nguồn ngân sách cho các hoạt động thực hiện chương trình Dân số, kiểm tra, giám sát việc sử dụng kinh phí theo đúng luật ngân sách và các quy định hiện hành.
5. Sở Giáo dục – Đáo tạo:Thực hiện các nội dung liên quan đến giáo dục và đào tạo của chương trình dân số. Triển khai có hiệu quả giáo dục dân số - tài nguyên – môi trường, sức khỏe sinh sản, giới và giới tính trong và ngoài nhà trường.
6. Hội Nông dân:Lồng ghép các nội dung dân số vào các chương trình: khuyến nông, phát triển nông thôn, xóa đói giảm nghèo.
7. Sở Văn hóa – Thông tin:Tổ chức, quản lý và huy động các phương tiện thông tin và các thiết chế văn hóa để phổ biến rộng rãi các chủ trương, chính sách về dân số và phát triển.
8. Hội Phụ nữ:Tham gia chương trình chăm sóc sức khỏe sinh sản – Kế hoạch hóa gia đình, những hoạt động truyền thông nhằm bảo đảm bình đẳng giới, tăng cường sức khỏe và phúc lợi gia đình.
9. Hội Kế hoạch hóa gia đình, Hội Chữ thập đỏ:Tham gia chăm sóc sức khỏe sinh sản – Kế hoạch hóa gia đình cho những vùng khó khăn và đối tượng bị thiệt thòi.
10. Cục Thống kê tỉnh:Phối hợp với Ủy ban Dân số tỉnh tổ chức, thực hiện điều tra dân số thường kỳ để thu thập, xử lý, cung cấp thông tin dữ liệu về dân số - Kế hoạch hóa gia đình và tham gia chương trình nâng cao chất lượng thông tin dữ liệu dân cư.
11. Đoàn thanh niên:Giáo dục sức khỏe sinh sản cho vị thành niên, xây dựng các câu lạc bộ tiền hôn nhân, câu lạc bộ gia đình trẻ để tuyên truyền giáo dục dân số, sức khỏe sinh sản – Kế hoạch hóa gia đình.
12. Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường:Phối hợp với Ủy ban Dân số tỉnh về những nghiên cứu khoa học liên quan đến Chương trình Dân số nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác Dân số.
13. Mặt trận Tổ quốc tỉnh và các tổ chức thành viên:Vận động các tầng lớp nhân dân tham gia hoạt động của chương trình dân số trong lĩnh vực ngành phụ trách.
14. Các sở, ban, ngành, đoàn thể xã hội khác:Tham gia triển khai chương trình dân số trong phạm vi chức năng và nhiệm vụ được giao.
III- CÁC PHỤ LỤC
1. Tổng hợp kết quả thực hiện chương trình dân số từ năm 1996 – 2000.
2. Tổng hợp kết quả thực hiện các biện pháp tránh thai 1996 – 2000.
3. Kết quả giảm sinh do thực hiện chương trình dân số 1993 – 2000.
4. Dự báo chương trình dân số thực hiện giai đoạn 2001 – 2005.
5. Dự báo thực hiện các biện pháp tránh thai giai đoạn 2001 – 200
6. Dự báo các chỉ tiêu nhân khẩu học các huyện, thị xã giai đoạn 2001 – 2005.
7. Dự báo số sinh hạn chế được qua thực hiện chương trình dân số 2001 – 2005.
8. Dự báo chỉ tiêu kinh tế xã hội cơ bản giai đoạn 2001 – 2005.
TM. UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH
CHỦ TỊCH
(Đã ký)
Nguyễn Đình Phách