Quay lại

Quyết định 17/2003/QĐ-UB về việc ban hành chương trình phát triển văn hoá xã hội giai đoạn 2003-2005

UBND TỈNH QUẢNG BÌNH
-------

Số: 17/2003/QĐ-UB

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------------------------

tỉnh Quảng Bình, ngày 30 tháng 05 năm 2003

________________________________

- Căn cứ Luật tổ chức HĐND và UBND ngày 21/06/1994;

- Căn cứ Nghị quyết của Đại hội Tỉnh Đảng bộ lần thứ XIII;

- Căn cứ Nghị định số 86/CP ngày 19/12/1996 của Chính phủ ban hành Quy chế bán đấu giá;

- Theo đề nghị của các ngành: Giáo dục- Đào tạo, Văn hoá Thông tin, Khoa học, Công nghệ Môi trường, Thể dục Thể thao, Y tế, Lao động Thương binh- Xã hội, Uỷ ban Dân số Gia đình Trẻ em, Bảo hiểm xã hội.

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1: Ban hành chương trình phát triển văn hoá - xã hội giai đoạn 2003-2005 ( có chương trình kèm theo )

Điều 2: Quyết định này có hiệu lực từ ngày 01/06/2003

Điều 3: Các ngành: Giáo dục - Đào tạo, Vưn hoá Thông tin, Khoa học Công nghệ Môi trường, Thể dục Thể thao, Y tế , Lao động Thương binh -xã hội, Uỷ ban Dân số gia đình và Trẻ em, Bảo hiểm xã hội tỉnh có trách nhiệm phối hợp với UBND các huyện, thị xã và các ban, ngành liên quan tổ chức triển khai chương trình và hướng dẫn, theo dõi và tổng hợp tình hình thực hiện báo cáo UBND tỉnh.

Điều 4: Chánh văn phòng UBND tỉnh. Giám đốc các sở, Giáo dục và Đào tạo, Văn hoá Thông tin, Khoa học và Công nghệ Môi trường, Thể dục Thể thao, Y tế, Lao động Thương binh- Xã hội, Uỷ ban Dân số Gia đình Trẻ em, Bảo hiểm xã hội tỉnh; Thủ trưởng các ban, ngành cấp tỉnh, Chủ tịch UBND các huyện, thị xã chịu trách nhiệm thi hành quyết định này./.

TM. UBND TỈNH QUẢNG BÌNH

KT. CHỦ TỊCH

PHÓ CHỦ TỊCH

(Đã ký)

Phan Lâm Phương

ĐẶT VẤN ĐỀ

Cùng với 4 chương trình trọng điểm về kinh tế, UBND tỉnh xây dựng chương trình phát triển văn hoá xã hội, nhằm thực hiện quan điểm của Đảng và Nhà nước ta là phát triển kinh tế đi đôi với tiến bộ xã hội.

Lĩnh vực văn hoá xã hội bao gồm nhiều vấn đề liên quan các ngành văn hoá thông tin. Thể dục thể thao, y tế, Giáo dục - đào tạo, dân số gia đình và trẻ em, lao động thương binh xã hội... Hàng năm trên cơ sở quy hoạch, kế hoạch nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội 5 năm và hàng năm của tỉnh, các ngành trong khối văn hoá xã hội xây dựng kế hoạch, nhiệm vụ của mình để thực hiện nhiệm vụ được giao. Ngoài kế hoạch hàng năm các ngành trong khối đã xây dựng quy hoạch phát triển ngành ngành từ năm 2000-2005 và 2010. Chương trình phát triển văn hoá xã hội lần này chỉ tập trung vào những vấn đề chủ yếu của các ngành trong khối văn hoá xã hội.

Yêu cầu cơ bản của chương trình phát triển văn hoá xã hội là đánh giá những ưu điểm cũng như hạn chế trong các lĩnh vực nêu trên trong thời gian qua để từ đó đề ra mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm, giải pháp và một số chính sách cơ bản, tạo bước đột phá, góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ trên các lĩnh vực văn hoá xã hội của tỉnh từ nay đến 2005 và những tiếp theo.

PHẦN THỨ NHẤT

ĐÁNH GIÁ TỔNG QUÁT CÁC HOẠT ĐỘNG VĂN HOÁ - XÃ HỘI
THỜI GIAN QUA
I. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC VÀ NHỮNG HẠN CHẾ:

1. Lĩnh vực Giáo dục - Đào tạo
Mạng lưới trường lớp các trường học, cấp học tiếp tục mở rộng và phát triển, từng bước đa dạng hoá các loại hình trường lớp và phương thức đào tạo, cơ bản đã đáp ứng yêu cầu học tập của nhân dân. Quy mô giáo dục phát triển nhanh, bình quân học sinh hàng năm tăng 6,4% đặc biệt là ở bậc THCS và THPT. Đến nay, toàn tỉnh có 626 trường và cơ sở giáo dục với tổng số trên 275.000 học sinh - sinh viên ( Bình quân gần 3 người dân có 1 người đi học ).
Duy trì, củng cố vững chắc kết quả phổ cập giáo dục - tiểu học- xoá mù chữ ( PCGDTH - XMC ). Tích cực triển khai thực hiện phổ cập GD tiểu học đúng độ tuổi. Hiện tại đã có 152/154 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn phổ cập GDTH - XMC, có 97 xã, phường (63% ) và 27 huyện, thị ( Đồng Hới, Quảng Bình )đạt chuẩn phổ cập GDTH đúng độ tuổi.
Toàn tỉnh có 74/154 xã, phường, thị trấn (48% ) phổ cập giáo dục Trung học cơ sở.
Có 88/248 trường Tiểu học đạt chuẩn quốc gia giai đoạn 1996-2000, chiếm tỷ lệ 35,5 % tổng số trường Tiểu học toàn tỉnh.
Chất lượng giáo dục đào tạo có chuyển biến tích cực cả đại trà lẫn mũi nhọn. Giáo dục lý tưởng, đạo đức, giáo dục truyền thống, pháp luật được chú trọng. Số lượng học sinh khá, giỏi ở cả các cấp học, ngành học đạt tỷ lệ ngày càng cao. Có nhiều học sinh tham dự và đạt giải trong các kỳ thi năng khiếu, học sinh giỏi quốc gia, quốc tế.
Cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ dạy và học được tăng trưởng đáng kể. Hiện nay đã có 6.000 phòng học, trong đó gần 87% số phòng học từ cấp 4 trở lên. Phong trào xây dựng trường chuẩn quốc gia, trường trọng điểm chất lượng cao được quan tâm như đầu tư. Ngân sách chi thường xuyên cho giáo dục hàng năm đều tăng.
Công tác quản lý giáo dục từng bước được đổi mới, đi dần vào nền nếp; Phong trào Xã hội giáo dục tiếp tục phát triển. Hội đồng giáo dục và Hội khuyến học các cấp được kiện toàn, củng cố, đã huy động được nguồn lực từ các cấp, các ngành, các tổ chức kinh tế, xã hội và các tầng lớp nhân dân, từng bước phục vụ yêu cầu phát triển giáo dục đào tạo ở địa phương.
Hạn chế:
- Phổ cập THCS chưa trở thành phong trào có xã hội sâu rộng và thường xuyên trong các tầng lớp nhân dân.
Việc xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia ở các bậc học THCS, PTTH còn yếu, đến nay chưa xây dựng được một trường nào.
Quy mô phát triển giáo dục giữa vùng học chưa cân đối, Trường, lớp giáo dục chuyên nghiệp - Dạy nghề còn mỏng, quy mô nhỏ, chưa thực hiện được phân luồng học sinh sau THCS, THPT ... Chưa thực hiện được đa dạng hoá loại hình trường lớp học ở bậc Tiểu học và THCS. Tỷ lệ người lao động qua đào tạo chiếm tỷ lệ thấp (13%).
Chất lượng giáo dục toàn diện ở các cấp học, ngành học, nhất là ở các địa bàn vùng sâu, vùng xa, miền núi, vùng cao chưa đáp ứng yêu cầu. Giáo dục Hướng nghiệp và dạy nghề còn yếu. Một bộ phận học sinh, sinh viên giác ngộ lý tưởng, hoài bảo niềm tin học để lập thân, lập nghiệp còn hạn chế, khôn ít trường hợp nặng dạy chữ - nhẹ dạy người và dạy nghề.
Cơ cấu đội ngủ giáo viên chưa đồng bộ, tỷ lệ giáo viên chưa đạt chuẩn trình độ đào tạo ở cấp THCS và mần non còn cao.
Năng lực, trình độ phẩm chất của một số giáo viên chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới của sự nghiệp phát triển giáo dục toàn diện.
Cơ sở vật chất phục vụ cho dạy học còn thiếu và lạc hậu. Toàn tỉnh có gần 500 phòng học tạm ( tranh tre nứa lá, phòng cấp 4 đã xuống cấp ), 800 giáo viên dạy xa nhà chưa có phòng ở nội trú và phương tiện làm việc tối thiểu đặc biệt ở hai huyện Tuyên hoá, Minh Hoá ; nhiều trướng chưa có phòng thí nghiệm, thư viện, sân chơi, bãi tập. Ngân sách đầu tư cho giáo dục chưa đáp ứng nhu cầu phát triển sự nghiệp giáo dục, đặc biệt khi triển khai chương trình thay sách giáo khoa.

2. Lĩnh vực Văn hoá Thông tin
Hoạt động văn hoá thông tin đã có chuyển biến tích cực và phát triển theo định hướng của Đảng, Nhà nước, phục vụ nhiệm vụ chính trị góp phần tịch cực vào việc phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương, nâng cao đời sống văn hoá tinh thần và nhu cầu hưởng thụ văn hoá của nhân dân trong tỉnh.
Cuộc vận động xây dựng nếp sống văn minh - gia đình văn hoá - làng văn hoá đã có ảnh hưởng và tác động tích cực, ngày càng trở thành phong trào quần chúng rộng lớn trong nhân dân. Đến nay toàn tỉnh có 90.931/175.188 hộ đạt danh hiệu gia đình văn hoá (52%); 152/1.182 làng, thôn, bản, tiểu khu đạt danh hiệu làng - thôn bản - tiểu khu văn hoá, đã xây dựng và phê duyệt Hương ước, Quy ước 1005/1182 (78,6%); có 629 nhà văn hoá xã, phường, thôn bản, tiểu khu phố, xây dựng 50 điểm bưu điện văn hoá.
Các hoạt động của ngành VH - TT có những bước phát triển mới, đi vào chiều sâu, đa dạng về hình thức, phong phú về nội dung.
Công tác quản lý Nhà nước được chú trọng, đảm bảo cho các hoạt động văn hoá thông tin đúng pháp luật, tạo môi trường văn hoá lành mạnh, góp phàn ngăn chặn và làm hạn chế sự xâm nhập của các luồng văn hoá độc hại.
* Lĩnh vực báo chí, Văn hoạ nghệ thuật:Các hoạt động báo chí, Thông tin tuyên truyền, lễ hội diễn ra khá sôi động, chủ quyền tuyên truyền tập trung vào các sự kiện lịch sử, kỷ niệm các ngày lễ lớn như: Báo chí phát thanh truyền hình đưa thêm nhiều chuyên mục, đáp ứng nhu cầu thông tin về tận vùng sâu, vùng xa. Hoạt động văn hoá nghệ thuật có nhiều chuyển biến tích cực, của quê hương, kịp thời sinh động phục vụ tốt cho người xem, người đọc.
Mạng lưới đài phát thanh truyền hình đã phát triển ở vùng sâu vùng xa đáp ứng nhu cầu thông tin của nhân dân.
Đến nay phạm vi phủ sóng: Phát thanh: 95% số xã
Truyền hình:85% số xã
Hạn chế:
Các thiết chế văn hoá ( Bộ máy, cơ sở vật chất, quỹ đất sử dụng đối với hoạt động VHTT) nhất là đối với các sở còn thiếu, chưa đồng bộ và thiếu nhiều bất cập.
Hệ thống tượng đài, công viên văn hoá, tụ điểm vui chơi, giải trí trên địa bàn tỉnh mang tính tổng thể chưa được quy hoạch. Bảo tồn, bảo tàng, trưng bày, triển lãm yếu. Phong trào văn hoá cơ sở chưa đều, chưa thường xuyên.
Cơ sở vật chất của ngành đã được xây dựng củng cố, song so với yêu cầu phát triển còn quá thiếu.
Sự phối hợp kết hợp giữa các ban ngành trong việc thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ” chưa đồng bộ, cơ chế phối hợp còn chồng chéo.
Hệ thống tổ chức bộ máy của ngành còn thiếu ( ở xã cán bộ chuyên trách còn kiêm nhiệm, không có phụ cấp ). Một số đơn vị hoạt động chuyên ngành như: Thông tin triển lãm, trường văn hoá nghệ thuật để đào tạo nâng cấp kiến thức cho đội ngủ cán bộ làm công tác văn hoá thông tin và đào tạo năng khiếu chưa có. Đội ngủ cán bộ quản lý vẫn chưa đáp ứng với sự nghiệp văn hoá thông tin trong giai đoạn hiện nay và trong tương lai. Thực hiện Luật di sản văn hoá có nơi chưa tốt.

3. Lĩnh vực khoa học công nghệ môi trường:
Hoạt động nghiên cứu khoa học đã bám mục tiêu, phương hướng phục vụ thiết thực nhiệm vụ phát triển KT - XH, giữ vững quốc phòng an ninh ở địa phương.
Từ năm 2000-2002 có 77 đề tài, dự án thuộc nhiều lĩnh vực. Đáng chú ý là các đề tài đã tập trung và định hướng phát triển kinh tế xã hội, nghiên cứu các vấn đề văn hoá, xã hội, lịch sử, bảo tồn các giá trị văn hoá vật chất; tinh thần; Các đề tài, dự án thuộc lĩnh vực điều tra cơ bản tập trung điều tra tài nguyên thiên nhiên, những vấn đề xã hội, con người; Các đề tài, dự án đã tập trung nghiên cứu, ứng dụng, khảo nghiệm tập đoàn các giống cây trồng, vật nuôi, các tiến bộ kỷ thuật trong nuôi trồng, đánh bắt, bảo quản, chế biến, làm cơ sở cho việc quy hoạch, lập kế hoạch phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường; Bước đầu cung cấp luận cứ khoa học cho quá trình ban hành các chủ trương, nghị Quyết của công tác quản lý và phát triển kinh tế, quản lý xã hội.
Công tác quản lý, kiểm soát ô nhiễm môi trường đã có nhiều tiến bộ, không có sự cố môi trường lớn. Các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ đã được giám sát chặt chẽ, đã phân cấp quản lý môi trường nhằm phân định rõ chức năng, quyền hạn và nhiệm vụ quản lý môi trường ở tỉnh, huyện.
Hoạt động Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng đã có nhiều chuyển biến tích cực.
Thông tin khoa học có nhiều tiến bộ.
Hạn chế:
Đội ngủ cán bộ KHCN còn thiếu và chưa hợp lý về cơ cấu, phân bổ không đều, còn thiếu lực lượng cán bộ đầu ngành. Cơ sở vật chất, trang thiết bị còn lạc hậu, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. Chính sách khuyến khích cán bộ khoa học có đề tài công trình phát huy trong thực tiển chậm.
Hiệu quả kinh tế xã hội, tính thực tiễn của một số đề tài, dự án chưa cao, công tác quản lý KHCN, thẩm định công nghệ còn nhiều bất cập, chậm đổi mới.
Trình độ công nghệ của một số lĩnh vực sản xuất và dịch vụ còn ở dưới mức của trung bình cả nước.
Việc lồng ghép các chương trình KHCN với các chương trình kinh tế xã hội còn hạn chế, chưa tập trung đầu tư vào những vấn đề có tính đột phá.

4. Lĩnh vực Thể dục Thể thao
Phong trào tập luyện thể dục thể thao đã phát triển trong mọi đối tượng. Hiện nay, số người tập luyện thường xuyên chiếm 15,1% dân số, số gia đình thể thao chiếm 8% hộ, 100% số trường đảm bảo chương trình dạy thể dục thể thao nội khoá, số cán bộ công chức tham gia luyện tập TDTT chiếm 65%. Số chiến sĩ trong lực lượng vũ trang đạt tiêu chuẩn chiến sĩ khoẻ chiếm 95%.
Thể thao thành tích cao: Hàng năm đạt 1000-115 huy chương các loại, trong đó có những chương đạt tại khu vực Đông Nam Á; Bình quân hàng năm có 10-15 VĐV đạt đẳng cấp kiện tướng; 10-13 VĐV đạt cấp 1 quốc gia.
Năm 2002 tham gia thi đấu tại Đại hội TDTT lần thứ 4 đạt 20 huy chương các loại, xếp thứ 18/64 tỉnh, thành, ngành trong cả nước.
Cơ sở vật chất, trang thiết bị luyện tập được quan tâm đầu tư.
Việc quy hoạch đất cho hoạt động TDTT theo chỉ thị 274/TTG của Thủ tướng Chính phủ được triển khai đồng bộ ở các huyện, thị xã.
Hạn chế:
Hiệu quả sử dụng cơ sở vật chất phục vụ cho các hoạt động tập luyện thi đấu còn thấp. Cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động TDTT ở phường xã, huyện, thị còn thiếu và lạc hậu. Tình trạng đất dành cho hoạt động TDTT còn bị lấn chiếm và sử dụng vào mục đích khác.
Chế độ chính sách cho vận động viên, huấn luận viên chưa hợp lý, ngân sách được cấp hàng năm còn thấp.
Tổ chức bộ máy làm công tác TDTT ở các huyện, thị còn quá ít ( mới chỉ có một cán bộ )Cán bộ TDTT ở phường không định suất nên không có người trực tiếp tổ chức các hoạt động xây dựng phong trào.
Lĩnh vực lao động việc làm XĐCN
Các địa phương trong tỉnh ta đã lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện Nghị quyết, Chỉ thị, Quyết định và các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về xoá đói giảm nghèo, xây dựng chương trình Xoá đói giảm nghèo giai đoạn 2001-2005. Năm 2001 xoá 4986 hộ nghèo, năm 2002 xoá được 7245 hộ nghèo, giảm tỷ lệ hộ đói nghèo toàn tỉnh đến nay còn 18,59%.
Đến cuối năm 2002 đã giải quyết cho 23,549 lao động có việc làm, trong đó đã tạo được việc làm mới cho 1000 lao động, tạo thêm việc làm cho 9,549 lao động, đưa tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị xuống 4,15%, tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn lên 79%; thẩm định cho 507 dự án cho vay vốn giải quyết việc làm, với tổng vốn cho vay 9.070.700.000 đồng, thu hút 3147 lao động.
`Tuyển chọn hơn 1000 lao động đi làm việc có thời gian ở nước ngoài.
Việc huy động nghĩa vụ lao động công ích đã góp phần đáp ứng cho việc khôi phục và phát triển cơ sở hạ tầng ở các địa phương.
Thực hiện tốt các chế độ chính sách của Nhà nước đối với người có công với cách mạng.
Hạn chế:
Việc tổ chức quán triệt các nghị quyết, Chỉ thị của Đảng và Chính sách của Nhà nước nhằm mục đích XĐGN của các địa phương chưa thường xuyên, chưa sâu. Chuyển biến nhận thức của nhân dân chưa mạnh và thiếu sự năng động, sáng tạo quyết tâm vươn lên xoá đói giảm nghèo, chưa khai thác tiềm năng đất đai lao động, còn có tư tưởng bảo thủ, trông chờ, ỷ lại, không muốn thoát đói nghèo để hưởng chính sách của Nhà nước.
Các ban chỉ đạo XĐGN từ tỉnh đến huyện, xã hoạt động chưa có hiệu quả còn hình thức, chưa xây dựng được quy chế hoạt động, chưa nắm chắc số hộ nghèo, nguyên nhân đói nghèo.
Đến nay, tủ lệ hộ đói, nghèo tuy có giảm nhưng chưa vững chắc và còn rất cao ở các huyện miền núi, tỷ lệ tái đói nghèo còn 1,8%/ năm.
Người lao động chưa có việc làm hàng năm còn hơn 2 vạn lao động.
Tỷ lệ lao động qua đào tạo còn thấp (13% năm 2002).

6. Lĩnh vực Y tế, chăm sóc sức khỏe:
Mạng lưới y tế bố trí rộng khắp trên địa bàn. Đến nay có 7 trung tâm y tế huyện, 6 bệnh viện và 8 phòng khám khu vực, 152/154 xã có trạm y tế, 154 xã, phường có cán bộ y tế hoạt động, có 950/1165 thôn bản có cán bộ y tế.
Cơ sở vật chất phục vụ cho công tác chăm sóc sức khỏe của nhân dân được cải thiện, có 49/152 ( chiếm 32%) trạm y tế đạt tiêu chuẩn quốc gia về cơ sở hạ tầng đại đa số các trạm y tế trong toàn tỉnh được cải thiện hoặc xây mới, cơ bản đủ điều kiện làm việc, trang bị thêm một số máy móc, thiết bị phục vụ chẩn đoán, điều trị bệnh cho nhân dân.
Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát các loại bệnh nhân xã hội và phòng chống dịch bệnh, mấy năm gần đây không xẩy ra dịch bệnh lớn.
Thực hiện tốt các chương trình tiêm chủng hàng năm cho trẻ em đạt trên 95% số trẻ em trong độ tuổi được tiêm chủng.
Quyền lợi trong khám chữa bệnh của người dân tham gia BHYT ngày càng được nâng cao. Đối tượng tham gia BHYT ngày càng tăng, đến nay có 100% CB-CNVC và người lao động có hợp đồng dài hạn trong các cơ quan, doanh nghiệp đều được thực hiện chính sách BHYT. Toàn bộ người có công với Nước và các đối tượng chính sách xã hội đều được thực hiện chính sách BHYT, 10% số người nghèo cấp thẻ BHYT.
Đội ngủ cán bộ Y tế được tăng cường cả số lượng và chất lượng. Chất lượng khám chữa bệnh ngày càng được nâng cao.
Hạn chế:
Trình độ chuyên môn của cán bộ y tế chưa đáp ứng với nhu cầu ngày càng cao về chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân.
- Ngành Y : Bác sĩ trở lên, chiếm 14,46%
- Ngành Dược: Đại học trở lên chiếm 6,1%
Số xã có bác sĩ chỉ mới đạt 41,6%; trình độ, năng lực cán bộ y tế xã, phường còn yếu.
Một số cán bộ y tế y đức còn hạn chế, chưa tạo được miền tin cho nhân dân đối với đội ngủ thầy thuốc.
Công tác quy hoạch cán bộ ngành y tế còn lúng túng bị động.
Vấn đề môi trường và y tế học đường còn yếu.
Xã hội hoá công tác chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ nhân dân tại cộng đồng chưa đồng đều. Một số xã chưa có ban chỉ đạo chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân, chính quyền địa phương ỷ lại, giao khoán cho trạm y tế. Y tế thôn bản chưa được phủ kín.
Cơ sở vật chất của các sở y tế xuống thấp.
Chưa thành lập được bệnh viện y học dân tộc.
Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam Cu Ba Đồng Hới xuống cấp nặng sau hơn 20 năm hoạt động, kinh phí đầu tư nâng cấp và tu sửa thấp.
Các cơ sở khám, chữa bệnh trong toàn tỉnh không có khoa tâm thành.
Số người nghèo đông, nhu cầu khám chữa bệnh lớn trong lúc khi kinh phí có hạn, nên số thẻ bảo hiểm y tế cấp cho người nghèo chiếm tỷ lệ thấp, (10% so với các đối tượng nghèo). Học sinh tham gia BHYT chiếm tỷ lệ còn thấp ( từ 6 - 10% ).

7. Dân số Gia đình và Trẻ em:
Dân số trung bình năm 2002 toàn tỉnh là 816.016 người. Bình quân mỗi năm tăng 10.550 người, tốc độ tăng 18,36%. Tỷ suất sinh thô năm 1991; 34,85%, đến năm 2002 chỉ còn 13,34% không giảm 21,11%. Bình quân mỗi năm giảm 1,76%.
Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở năm 1991 là 52,56%, đến năm 2002 còn 20,95%
Tỷ lệ các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ đang áp dụng các biện pháp tránh thai hiện đại, bình quân mỗi năm tăng 3,44%.
Kết quả trên góp phần ổn định về quy mô dân số, đồng thời từng bước nâng cao chất lượng dân số theo mục tiêu đề ra.
Công tác bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em được chú trọng.
Ngành Dân số - Gia đình và Trẻ em củng cố, bổ sung và xây dựng mới 7 điểm vui chơi cho trẻ em đạt tiêu chuẩn, xây dựng mới 5 phòng học Mần non cho trẻ ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn.
Hệ thống Quỹ bảo trợ trẻ em được củng cố và phát triển từ tỉnh đến huyện, xã. ( Trong năm 2002 đã thu được ở các cấp là 1.309.30700đ), góp phần hoàn thành các mục tiêu, chỉ tiêu trong chương trình hành động vì trẻ em.
Hạn chế:
Đội ngũ cán bộ chuyên trách ở huyện thị xã thiếu, không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
Đối với cán bộ chuyên trách xã, phường thị trấn và cộng tác viên thôn, bản chế độ phụ cấp, phù lao quá thấp, không tương xứng với công việc được giao, đời sống gặp nhiều khó khăn, thiếu an tâm công tác.
Tỷ suất sinh giảm nhanh, nhưng tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên giảm chậm và không đồng đều ở một số vùng, có xã tỷ lệ sinh con thứ 3 còn rất cao ( trên 40%).
Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng còn cao so với mức bình quân chung của cả nước. Hoạt động của Quỹ bảo trợ trẻ em một số nơi chưa được triển khai, vì vậy tỷ lệ các cháu có hoàn cảnh khó khăn được chăm sóc, giúp đỡ. Cơ sở vật chất, điểm vui chơi cho trẻ em còn thiếu.
Ở vùng miền núi và nông thôn, điều kiện đầu tư khu vui chơi giải trí cho trẻ em còn khó khăn.
II. NGUYÊN NHÂN NHỮNG ƯU ĐIỂM, HẠN CHẾ:

1. Về nguyên nhân ưu điểm:
Có được những kết quả nêu trên, trước hết là nhờ tỉnh Uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh thường xuyên lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát, chặt chẽ, Các cấp, các ngành và Nhà nước vào cuộc sống và được nhân dân hưởng ứng thực hiện.
Sự ổn định chính trị - xã hội, nhất là tăng trưởng kinh tế của địa phương trong những năm qua đã tạo cho xã hội cuộc sống mới, có nhiều đổi thay đáng kể; Kinh tế phát triển sẽ có điều kiện đầu tư cho văn hoá xã hội phát triển.
Sự năng động sáng tạo của đội ngủ cán bộ quản lý; cán bộ, nhân viên trong khối văn hoá - xã hội; Ý thức vươn lên, khắc phục khó khăn, nêu cao tinh thần trách nhiệm để hoàn thành chỉ tiêu, kế hoạch đề ra. Số lượng, chất lượng cán bộ được nâng lên đáng kể so với ngành chia tỉnh.

2. Nguyên nhân hạn chế:
Một số cấp Đảng uỷ, Chính quyền địa phương chưa thực sự quan tâm đầy đủ công tác văn hóa xã hội.
Công tác quy hoạch, kế hoạch, chính sách đối với lĩnh vực văn hoá xã hội còn hạn chế.
Đội ngủ cán bộ thiếu đồng bộ; Năng lực tham mưu quản lý của cán bộ các cấp thiếu hiệu quả.

PHẦN THỨ II

PHƯƠNG HƯỚNG NHIỆM VỤ, MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN VĂN HOÁ XÃ HỘI TỪ NĂM 2003-2005
I. PHƯƠNG HƯỚNG NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM:
Nâng cao chất lượng và hiệu quả của hệ thống giáo dục và đào tạo nhằm đáp ứng yêu cầu học tập và nâng cao dân trí cho nhân dân, đào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. Phát triển khoa học công nghệ gắn với phát triển các ngành đạt tiêu chuẩn hiện đại. Phát triển và hiện đại hoá mạng lưới chăm sóc sức khoẻ, khám chữa bệnh đảm bảo phục vụ cho nhân dân ngày càng tốt hơn. Cũng cố và nâng cao chất lượng chương trình dân số kế hoạch hoá gia đình, đẩy mạnh phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá, bại trừ các tệ nạn xã hội. Tạo được sự chuyển biến trong hoạt động thể dục thể thao, mở rộng và nâng cao chất lượng của hệ thống phát thanh truyền hình để đảm bảo nhu cầu thông tin cho nhân dân. Đẩy mạnh chương trình giải quyết việc làm, tạo thêm một việc làm ở các thành phần kinh tế. Phấn đấu xoá cơ cán hộ đói trong toàn tỉnh.
Cụ thể các lĩnh vực
Giáo dục - Đào tạo:
Quán triệt tinh thần Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lầm thứ IX, kết luận của hội nghị lần thứ 6 của BCHTW Đảng khoá IX, phát triển giáo dục theo hướng:Chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá,tạo bước chuyển biến rõ rệt chất lượng giáo dục toàn diện, thực hiện mạnh mẽ đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục, mở rộng hợp lý quy mô trên cơ sở nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục; Chăm lo và phát triển giáo dục mần non, củng cố thành quả phổ cập giáo dục tiểu học và xoá mù chữ, đẩy mạnh phổ cập giáo dục THCS, từng bước triển khai phổ cập giáo dục THPT; xây dựng một xã hội học tập; Tiếp tục chấn chỉnh nền nếp, kỷ cương, cải tiến thi cử, đáng giá kết quả học tập và rèn luyện của học sinh; phát triển giáo dục ở đồng bào dân tộc thiểu số và các địa bàn đặc biệt khó khăn; Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục đào tạo; gắn phát triển giáo dục và đào tạo với phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.
Nhiệm vụ trọng tâm:
- Củng cố phổ cập giáo dục Tiểu học - Xoá mù chữ, phổ cập Tiểu học đúng độ tuổi và đẩy nhanh phổ cập Trung học cơ sở.
- Tập trung xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia ở các cấp học.
- Đào tạo nguồn nhân lực
Văn hoá thông tin:
Tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả tinh thần Nghị quyết TW5 khoá VIII của Đảng và xây dựng phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Tăng cường đổi mới và mở rộng các hoạt động văn hoá thông tin, giữ gìn và phát huy bản chất, truyền thống cách mạng của quê hương Quảng Bình, xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh cho sự phát triển xã hội. Coi trong xây dựng phong trào VHTT quần chúng và xây dựng đời sống văn hoá. Nâng cao chất lượng các hoạt động văn học nghệ thuật, thông tin báo chí, xuất bản, phấn đấu có nhiều tác phẩm mới tốt phục vụ nhân dân, phục vụ công cuộc đổi mới. Mở rộng và nâng cao chất lượng phát thanh truyền hình.
Nhiệm vụ trọng tâm:
- Xây dựng phong trào văn hoá quần chúng và xây dựng thiết chế văn hoá thông tin cơ sở mang tính đồng bộ.
Khoa học Công nghệ và Môi trường:
Phát triển mạnh mẽ năng lực khoa học và công nghệ, nắm bắt và vận dụng sáng tạo những thành tựu KH và CN mới, cung cấp luận cứ khoa học cho việc định ra những quyết sách chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, các quá trình ra quyết định lãnh đạo, chỉ đạo của điạ phương.
Nhiệm vụ trọng tâm:
- Xây dựng tiềm lực khoa học công nghệ theo hướng phát triển năng lực nội sinh đủ sức đảm nhận nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội, quốc phòng, an ninh trong giai đoạn mới ở địa phương.
- Gắn khoa học công nghệ với hiệu quả sản xuất kinh doanh và chú trọng ứng dụng tiến bộ khoa học kỷ thuật
Y tế, chăm sóc sức khoẻ, DSGDTE:
Phát triển và hiện đại hoá mạng lưới chăm sóc sức khoẻ, khám và chữa bệnh, bảo đảm phục vụ nhân dân ngày càng tốt hơn. Triển khai công tác chăm sóc sức khoẻ người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số ở miền núi, vùng sâu, vùng xa. Triển khai khám chữa bệnh BHYT tại tuyến xã, chăm lo thực hiện chính sách BHYT người nghèo. Đẩy mạnh BHYT học sinh bằng biện pháp phát triển y tế trường học.
Duy trì mức sinh vững chắc, củng cố và nâng cao chất lượng chương trình dân số kế hoạch hoá gia đình. Từng bước hoàn thiện cơ chế chính sách dân số- Gia đình và Trẻ em.
Nhiệm vụ trọng tâm:
- Nâng cao chất lượng khám chữa bệnh của y tế cơ sở và bệnh viện Hữu Nghị việt Nam - Cu ba - Đồng Hới.
- Hạn chế sinh đẻ và trẻ em suy dinh dưỡng
- Xây dựng cơ sở vật chất vui chơi cho trẻ.
Thể dục Thể thao:
Tạo bước mạnh mẽ trong phong trào thể dục thể thao quần chúng, gắn hoạt động thể thao với hoạt động chuyên môn ở các cơ quan, đoàn thể để nâng cao sức khoẻ; đào tạo phát huy nhân tố con người đáp ứng nhu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước. Xây dựng đội ngũ vận động viên đỉnh cao nâng cao thành tích thể thao, xây dựng đội bóng đá thiếu niên.
Nhiệm vụ trọng tâm:
- Xây dựng phong trào toàn dân rèn luyện TDTT và xây dựng có sở vật chất phục vụ hoạt động TDTT.
Lao động việc làm, xoá đói giảm nghèo
Tiếp tục thực hiện ngày càng tốt hơn các lĩnh vực lao động việc làm, tạo việc làm xoá đói giảm nghèo; thực hiện tốt, kịp thời các chính sách đối với người có công với Cách mạng và các Chính sách xã hội khác. Cùng với các ngành, các cấp chăm lo đời sống vật chất và tin thần cho người lao động.
Nhiệm vụ trọng tâm: Giải quyết việc làm cho người lao động.
II. MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN VĂN HOÁ XÃ HỘI TỪ NĂM 2003-2005

1. Giáo dục - đào tạo:
Đến năm 2005 có 15-16% cháu trong độ tuổi vào nhà trẻ, 67-68% cháu Mẫu giáo. Hàng năm có trên 95% số trẻ 5 tuổi vào lớp mẫu giáo, 100% số trẻ trong độ tuổi vào Tiểu học.
Củng cố vững chắc kết quả phổ cập GDTH - CMC, đẩy mạnh phổ cập Giáo dục tiểu học đúng độ tuổi vào phổ cập GDTHCS. Phấn đấu đến cuối năm 2005, toàn tỉnh có 150/154 xã, phường và 7/7 huyện, thị đạt chuẩn phổ cập GDTH đúng độ tuổi.
Cuối năm 2005, có 147/154 xã, phường ( đạt tỷ lệ 95,5%) và 7/7 huyện, thị đạt chuẩn phổ cập GDTHCS. Tỉnh Quảng Bình được công nhận đạt chuẩn phổ cập GDTHCS vào cuối năm 2005 và hoàn thành sự nghiệp phổ cập THCS ( có 100% xã, phường đạt chuẩn phổ cập THCS) trước năm 2010.
Tập trung xây dựng các trường đạt chuẩn quốc gia ở tất cả các lớp học, ngành học nhằm không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Phấn đấu có ít nhất 60% số trường Tiểu học đạt chuẩn quốc gia giai đoạn 1; 20% số trường đạt chuẩn quốc gia giai đoạn 2; có ít nhất 10% số trường mần non và 10% số trường THCS - THPT đạt chuẩn quốc gia.
Quy hoạch lại mạng lưới các trường chuyên nghiệp để đào tạo nhân lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá của tỉnh. Trước mắt xây dựng trường cao đẳng cộng đồng trên cơ sở sát nhập Trường Trung học y tế, Trường Trung học kỷ thuật công nông nghiệp và Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh.

2. Văn hoá Thông tin:
Xây dựng thiết chế văn hoá ở cơ sở từ tỉnh đến cơ sở nhằm đáp ứng nhu cầu hoạt động va hưởng thụ về văn hoá thông tin của quần chúng nhân dân ngày càng cao trong tỉnh.
Cụ thể:
* Ở tỉnh
Tập trung xây dựng: Thư viện khoa học tổng hợp, Bảo tàng tổng hợp, Trung tâm thông tin và triển lãm, công viên văn hoá trung tâm tỉnh ly. ( Cầu rào ), trường văn hoá nghệ thuật, tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đồng hới, Tượng đài Quảng Bình hai giỏi...
Nâng cấp tu sữa và sử dụng có hiệu quả Nhà văn hoá trung tâm.
* Ở huyện:
Xây dựng và nâng cấp: Trung tâm văn hoá thông tin, Thư viện, Nhà truyền thống, rạp chiếu bóng, công viên văn hoá cấp huyện.
* Ở xã:
Thành lập Ban VHTT xã, phường, thị trấn; các câu lạc bộ, cụm văn hoá thông tin liên xã, các bưu điện văn hoá xã, thiết chế nhà văn hoá thôn, bản, tiểu khu; tụ điểm văn hoá thể thao xã phường, thị trấn.
Chỉ tiêu cụ thể:
* Chỉ tiêu xây dựng thiết chế văn hoá thông tin:
Có từ 30-40 % số xã, phường, thị trấn và 50-60% làng, thôn, bản, khu phố có điểm vui chơi đồng bộ vào năm 2005 và 100% vào năm 2010, 60% số làng, bản, khu phố có điểm sinh hoạt VHTT vào năm 2005 và 100% vào năm 2010.
* Chỉ tiêu xây dựng và phát triển đời sống cơ sở:
Đẩy mạnh cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá theo tin thần Nghị quyết TW5 ( khoá VIII) của Đảng. Phấn đấu đến năm 2005 có 60-65% số hộ gia đình văn hoá vào năm 2005 và 80-85% vào năm 2010; 40% số làng, bản, tiểu khu đạt chuẩn văn hoá vào năm 2005 có 65-70% vào năm 2010
Đưa diện phủ sóng truyền hình lên 95% số xã vào năm 2005 và 100% số
xã vào năm 2010.

3. Khoa học và công nghệ Môi trường
Xây dựng đội ngủ cán bộ khoa học kỷ thuật đáp ứng nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. Đào tạo đội ngủ cán bộ khoa học kỷ thuật có trình độ chuyên môn cao đầu đàn trên các lĩnh vực trọng yếu. Chú trọng nghiên cứu, có chính sách để phát triển các đề tài nghiên cứu khoa học kỷ thuật ứng dụng trong sản xuất kinh doanh nhất là trong phát triển nông, lâm.
Phấn đấu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên 22% vào năm 2005 và 35-40% vào năm 2010. Trong đó năm 2005 số cán bộ trình độ từ cao đẳng trở lên có trên 17.600 người, kỷ thuật viên và cán bộ có trình độ trung cấp gần 22.000 người, lao động qua đào tạo 176.000 người, năm 2010 số cán bộ có trình độ từ cao đẳng trở lên gần 2000 người, kỷ thuật viên và cán bộ trình độ trung cấp 27.500 người, lao động qua đào tạo gần 230.000 người.
Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác quản lý KHCN, Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng bảo vệ môi trường, ứng dụng và phát triển Công nghệ thông tin ...

4. Y tế, chăm sóc sức khoẻ, ĐSDGTE:
Giai đoạn 2003-2005 phấn đấu 50% số trạm y tế xã, phường đồng bằng và 45% trạm y tế xã miền núi đạt chuẩn quốc gia và đến năm 2010, 100% trạm y tế xã hoạt động đạt chuẩn quốc gia.
Duy trì vững chắc giảm mức sinh hàng năm 0,5-0,6% để đạt mức sinh thay thế toàn tỉnh vào năm 2009.
Giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng xuống 30% vào năm 2005 và 20% vào năm 2010.
Giảm tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên trên 2%.
Nâng tỷ lệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được chăm sóc từ 55% năm 2000 lên 70% năm 2005, tiếp tục vận động và xây dựng Quỹ Bảo trợ trẻ em hàng năm tăng 20%.

5. Thể dục Thể thao:
Đẩy mạnh phong trào TDTT quần chúng sâu rộng, chú trọng công tác, TDTT ở các vùng sâu, vùng xa. Phấn đấu đến năm 2005 có 17% gia đình tham gia luyện tập thể dục thể thao thường xuyên; 12% gia đình đạt danh hiệu gia đình thể thao; 120/154 xã phường có cán bộ TDTT và cán bộ gia đình chuyên trách được hưởng định suất 200.000,0đ/ tháng.
Xây dựng đội bóng đá U10-U11; U12-U13; U14-U15; U17-U18; đội bóng chuyền nam, nữ của tỉnh; xây dựng trung tâm thi đấu đa năng.

6. Lao động việc làm, xoá đói giảm nghèo.
Tập trung chỉ đạo đẩy nhanh chương trình xoá đói giảm nghèo giải quyết việc làm phấn đấu mỗi năm giảm tỷ lệ hộ đói nghèo từ 4-5% /năm.
Giải quyết việc làm hàng năm từ 2,0 vạn - 2,1 vạn. Đưa tỷ lệ thất nghiệp bình quân chung của tỉnh dưới 3%, nâng tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn lên 80%. Xuất khẩu 1000 lao động sang các nước mỗi năm.
Dạy nghề cho 1500 lao động xã hội/ năm.
Tập trung huy động mọi nguồn lực để xoá đói mái tranh nghèo trên 1500 hộ/năm, để đế năm 2006 cơ bản xoá xong nhà tranh.

PHẦN THỨ BA

CÁC GIẢI PHÁP VÀ CHÍNH SÁCH CHỦ YẾU ĐỂ PHÁT TRIỂN VĂN HOÁ XÃ HỘI TỪ NĂM 2003-2005
Cùng với việc thực hiện các giải pháp và chính sách phát triển kinh tế xã hội thời kỳ 2001-2005, trong lĩnh vực Văn hóa xã hội thực hiện các giải pháp và chính sách chủ yếu sau đây:
1 Tăng cường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo các cấp uỷ, Hội đồng nhân dân, UBND các cấp đối với công tác Văn hoá - Xã hội, đưa vào Nhị quyết của các cấp uỷ chỉ tiêu phấn đấu và kế hoạch hàng năm của các đơn vị ; tiếp tục kiện toàn Ban Chỉ đạo các cấp, đủ và đúng thành phần để hoạt động hiệu quả.
2 Tuyên truyền sâu rộng nhiệm vụ phát triển Văn hoá - Xã hội, trên cơ sở đó đẩy mạnh công tác xã hội các hoạt động VH-XH và phối hợp hoạt động một cách toàn diện của các ban, ngành, địa phương về phát triển văn hoá xã hội, kết hợp chặt chẽ với các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Đẩy mạnh xã hội hoá các lĩnh vực văn hoá xã hội.
3 Tăng cường công tác quy hoạch, cơ chế chính sách phát triển văn hoá xã hội.
4 Nâng cao trách nhiệm, năng lực tham mưu và công tác quản lý của các ngành chuyên môn.
5 Tăng cường đầu tư cho giáo dục từ ngân sách nhà nước huy động mọi nguồn lực trong xã hội thông qua việc đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục, từng bước chuẩn hoá, hiện đại hoá cơ sở vật chất từng trường, lớp và thiết bị dạy học. Bảo đảm chi ngân sách hàng năm cho giáo dục không thấp hơn tỷ lệ chi trong chiến lược giáo dục của Chính phủ. Hàng năm giành một tỷ ngân sách địa phương để kiến cố hoá trường, lớp, nhà công vụ giáo viên, trang thiết bị dạy học, đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng và thực hiện đổi mới chương trình giáo dục phổ thông. Hỗ trợ kinh phí cho thực hiện nhiệm vụ phổ cập THCS, THPT và xây dựng phòng học, phòng thí nghiệm.
Tiếp tục rà soát quy hoạch đất đai, toạ mọi điều kiện ưu đãi về sử dụng đất xây dựng các cơ sở giáo dục, các đơn vị trường học, các công trình văn hoá, thể thao, công viên tượng đài ... Tranh thủ sự giúp đỡ của các cá nhân và các tổ chức quốc tế đầu tư cho phát triển văn hoá xã hội.
Tăng cường đầu tư tài chính cho hoạt động KHCN&MT từ nhiều nguồn và đạt tỷ lệ 2% tổng chi ngân sách địa phương, khuyến khích mọi cá nhân, tổ chức đầu tư phát triển KHCN.
Đầu tư có trọng điểm vào các môn thể thao mũi nhọn như bơi lội, Điền kinh, Cờ vua. Xây dựng đội tuyển bống đá trẻ của tỉnh, trước mắt tổ chức các lớp nghiệp dư Bóng Đá cơ sở để hình thành đội U10-U11; U12-U13; U14-U15; Hàng năm tổ chức nhiều giải bóng trẻ thu hút nhân tài.
Tăng nguồn ngân sách để xây dựng, nâng cấp và mua sắm trang thiết bị khám chữa bệnh cho trạm y tế. Cấp đủ ngân sách cho trạm y tế hoạt động theo định mức Nhà nước quy định.
Tăng phụ cấp, thù lao đối với cán bộ chuyên trách DS-GĐ- Trẻ em xã, phường và cộng tác viên DS-GĐ-Trẻ em thôn bản tương xứng với công việc.
6 Một số chính sách chủ yếu: Ngoài những chính sách quy định của Trung ương và Tỉnh đã được thực hiện những năm trước đây, UBND tỉnh sẽ bổ sung ban hành thêm một số chính sách cụ thể thực hiện có hiệu quả chương trình với văn hoá xã hội.
PHẦN THỨ TƯ
TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Trên cơ sở chương trình văn hoá của tỉnh, các ngành trong khối văn hoá xã hội, UBND các huyện, thị xã cụ thể hoá thành chương trình kế hoạch, đề án của đơn vị mình, lồng ghép, phối kết hợp với bốn chương trình kinh tế trọng điểm của tỉnh, tạo những chuyển biến tích cực và rõ rệt các lĩnh vực, nhất là ở các cơ sở.
Uỷ ban mặt trận các cấp, các tổ chức đoàn thể đơn vị tổ chức vận động các hội viên, đoàn viên cùng với các ban, ngành và UBND các huyện, thị phối hợp với các đơn vị trong khối văn hoá xã hội triển khai các đề án, đẩy mạnh công tác xã hội hoá trên các lĩnh vực văn hoá xã hội.
Sở Tài chính Vật giá chủ trì, cùng với Sở kế hoạch đầu tư và các cơ quan ban ngành, liên quan tiến hành xây dựng, trình UBND tỉnh về cơ chế, chính sách tài chính, tín dụng cụ nhằm thu hút, tạo nguồn lực thực hiện chương trình phát triển kinh tế xã hội
Sở Kế hoạch và Đầu tư hàng năm có kế hoạch cân đối nguồn vốn bố trí cho các ngành trong khối văn hoá, đảm bảo cho việc đầu tư các hoạt động có hiệu quả.
Sở Địa chính phối hợp với các ngành có kế hoạch tổng thể, đảm bảo đất cho việc xây dựng các công trình thể dục thể thao, công trình văn hoá, trường học, trạm y tế ... theo quy định của Nhà nước.
Ban tổ chức chính quyền chủ trì cùng các xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và làm tốt công tác quy hoạch cán bộ nói chung, cũng như cán bộ công chức trong các ngành văn hoá xã hội nói riêng. Thành lập ban chỉ đạo thực hiện chương trình phát triển VH-XH các cấp để thực hiện chương trình này.

Tổng quan văn bản

Số ký hiệu17/2003/QĐ-UB
Ngày ban hành30/05/2003
Loại văn bảnQuyết định
Ngày có hiệu lực01/06/2003
Nguồn thu thậpCơ sở dữ liệu
Ngày đăng công báo---
Cơ quan ban hành / Người kýUBND tỉnh Quảng Trị / Phan Lâm Phương
Phạm viQuảng Bình
Trích yếuVề việc ban hành chương trình phát triển văn hoá xã hội giai đoạn 2003-2005
Tình trạng hiệu lựcCòn hiệu lực

Chưa có thông tin lược đồ

Văn bản này hiện chưa được cập nhật dữ liệu về lược đồ liên quan.