|
UBND TỈNH VĨNH LONG Số: 1758/2006/QĐ-UBND |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------------------------- tỉnh Vĩnh Long, ngày 08 tháng 09 năm 2006 |
QUYẾT ĐỊNH
Về việc Ban hành Đề án thu hút đầu tư trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long giai đoạn 2006 - 2010
______________________________________
UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân, ngày 26/11/2003;
Căn cứ Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2006 - 2010;
Căn cứ Nghị quyết số 21/2006/NQ-HĐND, ngày 16/02/2006 của Hội đồng nhân dân tỉnh về việc thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội , quốc phòng - an ninh năm 2006;
Theo đề nghị của Giám đốc Sở Kế hoạch và đầu tư ,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Nay ban hành kèm theo Quyết định này " Đề án thu hút đầu tư trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long giai đoạn 2006 - 2010 " .
Điều 2. Giao Giám đốc Sở Kế hoạch và đầu tư chủ trì phối hợp Thủ trưởng các Sở, ngành tỉnh có liên quan và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện, thị xã triển khai thực hiện.
Điều 3. Quyết định này có hiệu lực sau 10 ngày, kể từ ngày ký và được đăng Công báo của tỉnh.
Điều 4. Chánh Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh, Thủ trưởng các Sở, ban, ngành tỉnh, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các huyện, thị xã chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
TM. UỶ BAN NHÂN DÂN
CHỦ TỊCH
(Đã ký)
Phạm Văn Đấu
ĐỀ ÁN
Thu hút vốn đầu tư trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long giai đoạn 2006 - 2010
(Ban hành kèm theo quyết định số 1758 /2006/QĐ-UBND, ngày 08/9/2006 của Uỷ ban nhân dân tỉnh )
_________________________________________
Căn cứ vào chương trình thu hút vốn đầu tư cho phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long giai đoạn 2006 - 2010;
Thực hiện sự chỉ đạo của Ban Chỉ đạo thực hiện 5 chương trình mục tiêu theo Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2005 - 2010, Uỷ ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long xây dựng báo cáo đánh giá kết quả tình hình thực hiện Chương trình thu hút vốn đầu tư giai đọan 2001 - 2005 và Đề án thu hút vốn đầu tư giai đoạn 2006 - 2010 như sau:
Phần I
BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN
CHƯƠNG TRÌNH THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ GIAI ĐOẠN 2001 - 2005
Thực hiện Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ Vĩnh Long lần thứ VII, nhiệm kỳ 2001 - 2005, Hội đồng nhân dân tỉnh Vĩnh Long khoá VI, kỳ họp lần thứ 6 đã Quyết nghị phê chuẩn Chương trình thu hút vốn đầu tư cho phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2001 - 2005 (Số 26/2002/NQ-HĐND-K6 ngày 18 tháng 01 năm 2002). Qua 5 năm thực hiện Chương trình đã đạt kết quả trên các mặt như sau:
I. ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH XÚC TIẾN KÊU GỌI, THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ
Để thực hiện thắng lợi chương trình thu hút vốn đầu tư theo Nghị quyết đại hội VII Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long (nhiệm kỳ 2001 - 2005) nhằm phát huy tối đa các nguồn lực trong và ngoài tỉnh, tập trung cho đầu tư phát triển kinh tế - xã hội với tốc độ cao và bền vững. Trong các năm qua (2001 - 2005) bằng nhiều hình thức và giải pháp thực hiện khác nhau, tỉnh đã chú trọng và đa dạng hoá các hoạt động kêu gọi, xúc tiến đầu tư như: Xây dựng và thực hiện hệ thống thông tin tuyên truyền tổng hợp qua báo, đài và các phương tiện thông tin, truyền thông đại chúng.
Cùng với hoạt động xúc tiến kêu gọi đầu tư, tỉnh đã thành lập Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư để tư vấn, hỗ trợ giúp các nhà đầu tư lập các thủ tục cấp phép, tổ chức triển khai và thực hiện dự án đầu tư. Thành lập Ban Chỉ đạo thực hiện Quyết định số 22/BTC, của Bộ Tài chính về sử dụng quỹ đất tạo vốn phát triển hạ tầng và hình thành bộ máy Ban Quản lý các dự án theo tinh thần trên. Đồng thời, đã ban hành quy chế sử dụng quỹ đất tạo vốn phát triển cơ sở hạ tầng làm cơ sở pháp lý cho quá trình tổ chức thực hiện.
- Để tạo môi trường thông thoáng nhằm thu hút các nguồn vốn của các nhà đầu tư trong và ngoài nước, tỉnh đã và đang đẩy mạnh việc cải thiện môi trường đầu tư như:
+ Về môi trường chính trị: Tỉnh uỷ đã ban hành Chỉ thị 01/CT-TU của Ban thường vụ Tỉnh uỷ “Về vận động toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư và vận động xây dựng nếp sống văn minh nơi công cộng” và một số văn bản pháp quy khác,... do vậy tình hình an ninh chính trị và trật tư an toàn xã hội luôn được giữ vững.
+ Về môi trường pháp lý: Uỷ ban nhân dân tỉnh đã ban hành Quyết định số 2642/QĐ-UB, ngày 19/8/2003 và Quyết định số 2104/2005/QĐ-UBND, ngày 12/9/2005 về các chính sách khuyến khích, ưu đãi cùng một số quy chế và thành lập các quỹ xúc tiến đầu tư ... với các chính sách ưu đãi chủ yếu trong các mặt: Công tác xúc tiến đầu tư, giá thuê đất, thuế, khuyến khích xuất khẩu, lập Quỹ hỗ trợ xúc tiến thương mại và đầu tư và thực hiện cải cách thủ tục hành chánh ở các cơ quan.
+ Về lĩnh vực phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội: Tỉnh đã tập trung các nguồn vốn để nâng cấp, cải tạo và xây dựng mới các cơ sở hạ tầng, hầu hết các xã đã có đường ôtô đến trung tâm xã, 96% số hộ dân đươc sử dụng điện, 75% số hộ dân trong tỉnh được dùng nước sạch và bình quân 100 người dân có 9 máy điện thoại…
+ Về môi trường kinh tế: Trong 5 năm 2001 - 2005 tình hình phát triển kinh tế của tỉnh Vĩnh Long có mức độ tăng trưởng khá cao, tốc độ tăng trưởng GDP là 8,6%, cao hơn giai đoạn 1996 - 2000 là 1,96%. Năm 2001 tăng trưởng GDP chỉ ở mức 6,33%, năm 2005 tăng lên 10,65%. Tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế 5 năm 2001 - 2005 nhanh hơn so với 5 năm trước. Qui mô nền kinh tế ngày càng mở rộng và phát triển,… là những môi trường thuận lợi để các nhà đầu tư trong và ngoài nước có cơ hội bỏ vốn để đầu tư.
+ Từ năm 2002 - 2005 ngân sách tỉnh đã bố trí một nguồn kinh phí khá lớn để phục vụ cho công tác xúc tiến đầu tư, xúc tiến thương mại
. Năm 2002: 2 tỷ đồng
. Năm 2003: 4,5 tỷ đồng
. Năm 2004: 2,5 tỷ đồng
. Năm 2005: 2,5 tỷ đồng
Đây là những yếu tố rất thuận lợi có tác động tích cực đến việc huy động các nguồn vốn đầu tư trong và ngoài tỉnh.
II. KẾT QUẢ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ GIAI ĐOẠN 2001 - 2005
1. Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội:
Tổng vốn đầu tư phát triển xã hội trong 5 năm qua có tốc độ tăng bình quân hàng năm khá cao. Năm 2001 trong toàn tỉnh mới huy động được 626,3 tỷ đồng, đến năm 2005 đã huy động được 2.680 tỷ đồng, tăng gấp 1,65 lần. Trong 5 năm 2001 - 2005 đã huy động được 10.473,5 tỷ đồng, chiếm 34,7% GDP (Giá hiện hành), tốc độ tăng bình quân hàng năm 10,77%. (Xem Phụ lục 01).
Tổng vốn đầu tư phát triển xã hội 5 năm 2001 - 2005 tăng gấp 1,67 lần so với 5 năm trước (5 năm 1996 - 2000 đạt 6.278 tỷ đồng). Tốc độ vốn đầu tư phát triển xã hội tăng bình quân hàng năm 10,77% và nhanh hơn tốc độ tăng trưởng GDP (8,60%). Hệ số ICOR thể hiện lượng vốn đầu tư xã hội cần thiết để tăng thêm 1 đơn vị giá trị GDP trong 5 năm 2001 - 2005 là 2,83 trong khi 5 năm trước (1996 - 2000) là 3,42.
2. Phân theo nguồn vốn đầu tư:
Trong 5 năm qua tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội là tổng hợp từ tất cả các nguồn vốn đầu tư của toàn xã hội trên địa bàn tỉnh, trong đó nguồn vốn ngoài Nhà nước đóng góp 69,96% lượng vốn huy động được. Đây là nguồn lực chủ yếu cho phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh những năm qua. Cơ cấu vốn đầu tư phát triển trên địa bàn tỉnh tiếp tục chuyển dịch theo hướng huy động ngày càng cao đóng góp của các thành phần kinh tế ngoài Nhà nước.
Tổng hợp nguồn vốn đã huy động được 5 năm qua, khu vực Nhà nước chiếm tỷ trọng 29,04% và có chiều hướng giảm dần tỷ trọng, từ 35,63% tổng vốn huy động năm 2001 xuống còn 27,43% năm 2005. Ngược lai khu vực ngoài Nhà nước tăng từ 66,48% năm 2001 lên 70,34% năm 2005 và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng từ 0,34% năm 2001 lên 2,24% năm 2005 (xem phụ lục 2).
2.1 Vốn nhà nước quản lý:
Nhìn chung trong 5 năm qua vốn đầu tư của Nhà nước biến động không đều. Nguồn vốn cân đối từ ngân sách địa phương do tác động của các nguồn thu nên có năm tăng khá nhưng có năm giảm, tác động nhiều nhất là nguồn thu từ cấp quyền, chuyển quyền sử dụng đất. Vốn hỗ trợ theo các chương trình mục tiêu tương đối ổn định do thực hiện chủ trương ổn định ngân sách 3 năm theo luật. Nguồn vốn Trung ương trực tiếp đầu tư trên địa bàn tỉnh có tỷ trọng giảm. Riêng nguồn vốn tín dụng đầu tư có chiều hướng giảm dần do thực hiện thu hẹp phạm vi các đối tượng được hưởng.
a) Vốn nhà nước quản lý đầu tư cho xây dựng cơ bản:
Với tổng vốn đầu tư xây dựng cơ bản thuộc ngân sách nhà nước thực hiện trong 5 năm 2001 - 2005 là: 27,4 tỷ đồng thì nguồn vốn ngân sách tập trung trong nước đã đầu tư 423 tỷ đồng, nguồn vốn nước ngoài 60 tỷ, nguồn để lại theo Nghị quyết Quốc hội và Trung ương bổ sung có mục tiêu 797 tỷ đồng và nhiều nguồn vốn khác như: Tín dụng đầu tư, nguồn vượt thu, phụ thu, công trái giáo dục,... Vốn đầu tư từ nguồn do Nhà nước quản lý đã đầu tư xây dựng được 561 dự án (thuộc tỉnh quản lý), hoàn thành đưa vào sử dụng 345 công trình. Ngoài ra hàng năm thông qua nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản hổ trợ từ ngân sách tỉnh, các huyện, thi đã đầu tư và hoàn thành hàng trăm công trình khác trên địa bàn .
b) Cơ cấu vốn đầu tư xây dựng cơ bản phân theo ngành:
Vốn đầu tư xây dựng cơ bản thuộc ngân sách nhà nước quản lý chủ yếu dành chi đầu tư xây dựng hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội phục vụ cho mục tiêu khắc phục sự tụt hậu về cơ sở hạ tầng và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Từ mục tiêu đó, trong 5 năm 2001 - 2005, tỷ trọng đầu tư xây dựng cơ bản của giao thông chiếm tỷ trọng cao nhất với 22,4 và có chiều hướng tăng, từ 27,61 năm 2001 lên 30,23 năm 2005. Chiếm tỷ trọng cao thứ 2 sau giao thông là công nghiệp với 22,4 và có chiều hướng giảm từ 29,06 năm 2001 xuống 19,35 năm 2005. Sau giao thông và công nghiệp, các lĩnh vực nông nghiệp, giáo dục cũng chiếm tỷ trọng khá trong cơ cấu đầu tư xây dựng cơ bản của tỉnh (Xem Phụ lục 3).
2.2. Vốn ngoài quốc doanh:
- Nguồn vốn ngoài quốc doanh chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng nguồn vốn đầu tư phát triển trên địa bàn tỉnh. Trong 5 năm toàn tỉnh đã huy động được 7.327,2 tỷ đồng, chiếm 69,96% tổng nguồn huy động. Huy động vốn từ các thành phần kinh tế ngoài Nhà nước ngày càng được mở rộng, tỷ trọng đóng góp trong tổng nguồn huy động ngày càng tăng, từ 66,48% tổng nguồn huy động năm 2001 tăng lên 70,34% năm 2005, tốc độ tăng bình quân hàng năm 13,08%. Vốn đầu tư trong khu vực dân doanh đầu tư chủ yếu cho mục đích sản xuất kinh doanh thu lợi nhuận và phục vụ đời sống cho chính bản thân người đầu tư. Theo mục tiêu đó nhà đầu tư không chỉ đầu tư xây dựng công trình, mua sắm lắp đặt thiết bị, nhà xưởng, kho hàng, cửa hàng... mà còn đầu tư tăng vốn kinh doanh của mình, đầu tư xây dựng nhà ở. Một phần của nguồn vốn đầu tư dân doanh là các khoản đóng góp tự nguyện và theo quy định để xây dựng các công trình phục vụ lợi ích của cộng đồng.
Trong những năm qua với việc ban hành nhiều chính sách thông thoáng hơn, các thủ tục hành chính trong việc khởi sự doanh nghiệp không ngừng được cải tiến nên vốn đầu tư để hình thành doanh nghiệp dân doanh phát triển mạnh. Trong 5 năm vốn đầu tư phát triển từ các doanh nghiệp dân doanh tuy mới chỉ chiếm 8,54% tổng vốn đầu tư nhưng đang có chiều hướng phát triển rất nhanh với tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 31,07%. Một trong những kênh huy động vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp dân doanh là hình thành doanh nghiệp và tăng vốn hoạt động của doanh nghiệp. Trong 5 năm 2001 - 2005 đã cấp mới giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho:
+ 801 doanh nghiệp (Công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân) với số vốn đăng ký 1.802 tỷ đồng, giải quyết việc làm cho 8.330 lao động (Số lao động khi các doanh nghiệp đăng ký ban đầu).
+ 52 Hợp tác xã với 4.870 xã viên, 161,1 tỷ đồng vốn điều lệ, giải quyết việc làm cho 4.244 lao động
+ Trên 10.000 hộ kinh doanh với số vốn đăng ký khoảng 300 tỷ đồng
Ngoài ra còn có 245 doanh nghiệp đăng ký thay đổi và bổ sung thêm vốn với số vốn đăng ký tăng thêm là 516,569 tỷ đồng, nhưng cũng đã có 130 doanh nghiệp giải thể với số vốn đầu tư: 138,9 tỷ đồng. Số lượng các doanh nghiệp mới đăng ký thành lập tăng thêm từ 2001 - 2005 là: 801 doanh nghiệp.
+Về tổng vốn đăng ký của các doanh nghiệp từ 2001- 2005 là: 1.751,657 tỷ đồng, trong đó:
Năm 2001: 156,127 tỷ đồng;
Năm 2002: 216,862 tỷ đồng;
Năm 2003: 176,062 tỷ đồng;
Năm 2004: 691,676 tỷ đồng;
Năm 2005: 510,930 tỷ đồng.
+ Quy mô vốn đăng ký của một doanh nghiệp cũng tăng từ 1,126 tỷ đồng/ 1DN (giai đoạn 1992 - 2000) lên 2,186 tỷ đồng/1 DN (giai đoạn 2001 - 2005), tăng bình quân hàng năm 14,2%
Như vậy trong giai đoạn 2001 - 2005 có 801 doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng thêm và bình quân cứ 1.312 người dân thì có 1 DN tăng thêm, số doanh nghiệp tăng cao hơn giai đoạn 1996 – 2000 (trong giai đoạn 1996 - 2000 cứ 2.982 người dân mới có 1 DN tăng thêm).
- Các nguồn vốn đầu tư ngoài tỉnh (không kể vốn đầu tư nước ngoài):
Số lượng các doanh nghiệp đầu tư ngoài tỉnh (không kể các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) trong 5 năm 2001 - 2005 đã đầu tư được 222 DN, chiếm tỷ lệ: 27,7% so với số doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng thêm giai đoạn 2001 - 2005 (222 DN/ 801DN) và số vốn chiếm tỷ trọng 22,1% so với tổng số vốn đăng ký tăng thêm của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh giai đoạn 2001 - 2005. Cụ thể: (Năm 2001: 30 DN - Số vốn: 47,169 tỷ đồng, Năm 2002: 38 DN - Số vốn: 25,440 tỷ đồng, Năm 2003: 47 DN - Số vốn: 89,695 tỷ đồng, Năm 2004: 54 DN - Số vốn: 16,340 tỷ đồng). Năm 2005: 53 doanh nghiệp với số vốn: 64,730 tỷ đồng.
Đổi mới phương thức hoạt động của Doanh nghiệp Nhà nước, cổ phần hoá DNNN là một kênh huy động vốn đầu tư xã hội vào sản xuất kinh doanh. Trong 5 năm 2001 - 2005 đã hoàn thành cổ phần hoá 10 DNNN với vốn điều lệ 137,56 tỷ đồng, trong đó huy động từ cán bộ công nhân viên của doanh nghiệp 38,5 tỷ đồng, từ ngoài xã hội 28,9 tỷ đồng.
Thực hiện công tác xã hội hóa các lĩnh vực văn hóa xã hội bước đầu huy động thêm vốn đầu tư của xã hội cho lĩnh vực này. Kết quả xã hội hoá đã đạt được trong 5 năm 2001 - 2005 trên một số lĩnh vực như sau:
+ Y tế: đã có 2 doanh nghiệp tư nhân (DNTN) đầu tư trong lĩnh vực khám chữa bệnh với tổng số vốn là 10 tỷ đồng.
+ Giáo dục: Tổng giá trị xã hội hoá giáo dục hỗ trợ cho trường học, giáo viên, học sinh là 8,744 tỷ đồng (không tính hiện vật) và người dân hiến đất xây dựng trường 25.694 m2. Ngoài ra các DNTN còn đầu tư vào lĩnh vực đào tạo tin học với tổng số vốn trên 3 tỷ đồng. Nhân dân đóng góp để xây dựng 2 trường Mầm non Tư thục, trường Đại học Dân lập Cửu Long với tổng vốn 9,191 tỷ đồng.
+ Lao động - thương binh và xã hội: Đầu tư trong lĩnh vực dạy nghề do tư nhân đầu với tổng số vốn là 5,02 tỷ đồng, xây dựng nhà tình nghĩa, nhà tình thương do các thành phần kinh tế đóng góp với tổng vốn 2,356 tỷ đồng, vận động được gần 11 tỷ 500 triệu đồng xây dựng 1.300 nhà tình nghĩa và sửa chữa 850 nhà cho các đối tượng chính sách gặp khó khăn về nhà ở.
2.3 Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài:
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ở tỉnh tuy còn khá nhỏ nhưng với những chính sách ưu đãi đã ban hành cùng với sự nổ lực của các cấp các ngành nên việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài đang có chiều hướng phát triển khá. Tỷ trọng đóng góp trong tổng nguồn huy động đã tăng từ 0,34% tổng nguồn huy động năm 2001 lên 2,24% năm 2005. Trong 5 năm 2001 - 2005 đã thu hút được 04 dự án có vốn đầu tư nước ngoài, với tổng số vốn đầu tư đăng ký 25.735.000 USD, trong đó: số vốn đã đưa vào thực hiện 5 năm 2001 - 2005 là: 9,05 triệu USD (Công ty TNHH thực phẩm Phú Quí, Công ty liên doanh Tỷ Xuân, Công ty TNHH ROSA PLANTERS Việt Nam, Công ty TNHH Quốc Thảo). Số dự án đầu tư nước ngoài hiện đang hoạt động sản xuất, kinh doanh trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long với số vốn đầu tư và tổng doanh thu của các loại sản phẩm còn rất khiêm tốn, song bước đầu đã có vai trò, ý nghĩa rất quan trọng là động lực ban đầu mời gọi các nhà đầu tư đến Vĩnh Long. Thông qua các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh đã góp phần thúc đẩy kinh tế của tỉnh tiếp tục tăng trưởng khá. Đồng thời cũng thông qua các dự án, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã góp phần đẩy mạnh phát triển ngành nông nghiệp, công nghiệp của địa phương, nhất là giải quyết đầu ra các sản phẩm nông sản cho người dân và giải quyết công ăn việc làm cho 2.621 lao động.
Ngoài các nguồn vốn nêu trên, nguồn vốn thu hút của các tổ chức phi Chính phủ, kiều hối phục vụ cho các mục tiêu xã hội ở tỉnh được chú ý. Trong 5 năm 2001 - 2005 đã vận động được khoảng 58 tỷ VNĐ, trong đó lĩnh vực xây dựng cơ bản là 29,9 tỷ VNĐ. Các tổ chức phi Chính phủ chủ yếu đầu tư vào các lĩnh vực giáo dục, y tế, xoá đói giảm nghèo, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn và giao thông nông thôn... Nhiều công trình, dự án đưa vào sử dụng và hoạt động đã mang lại hiệu quả về kinh tế và xã hội.
3. Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn đầu tư phát triển giai đoạn 2001 - 2005:
Từ những kết quả thu hút và thực hiện chương trình thu hút vốn đầu tư 5 năm (2001 - 2005) so với mục tiêu và nhu cầu vốn đầu tư của chương trình thu hút vốn đầu tư đã đề ra cho thấy những mặt làm được, hạn chế và nguyên nhân chủ yếu như sau:
3.1. Những mặt làm được:
a) Trong lĩnh vực kinh tế:
Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 5 năm 2001 - 2005 tốc độ tăng trưởng GDP trên địa bàn tỉnh là 8,60% đạt mục tiêu của Nghị quyết Đại hội Tỉnh Đảng bộ lần thứ VII đề ra (8 - 9%) và cao hơn tăng trưởng nhiệm kỳ trước 1,96%. Năm 2001 tăng trưởng GDP chỉ ở mức 6,33%, năm 2002 là 7,95%, năm 2003 là 8,12%, năm 2004 tăng 9,63% và năm 2005 tăng trên 10,65%.
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, năm 2005 tỷ trọng khu vực nông, ngư nghiệp - công nghiệp, xây dựng và dịch vụ trong GDP là là 53,38 - 15,49 - 31,13%, cơ bản đạt mục tiêu Đại hội đề ra (52 - 15 - 33%). Tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế 5 năm 2001 - 2005 nhanh hơn so với 5 năm trước. Tỷ trọng nông - ngư nghiệp giảm 5,83% (5 năm 1996 - 2000 giảm 5,83%), tỷ trọng công nghiệp - xây dựng tăng 3,56% (5 năm 1996 - 2000 tăng 1,78 % và tỷ trọng dịch vụ tăng 2,27%).
GDP bình quân đầu người (Theo giá hiện hành) năm 2005 đạt 7,628 triệu đồng, (tăng 1,79% so với năm 2000). Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người 5 năm 2001 - 2005 đạt 12,35%/năm. GDP bình quân đầu người tăng từ 301 USD/người năm 2000 lên 481 USD/người năm 2005. Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người 5 năm 2001 - 2005 là 9,77%/năm.
b) Trên lĩnh vực đời sống xã hội:
Là một tỉnh chưa mạnh về kinh tế nhưng trong những năm qua tỉnh đã tập trung chú ý cho các lĩnh vực xã hội nên chỉ số phát triển con người(HDI), một loại chỉ số tổng hợp về kinh tế và đời sống xã hội ở Vĩnh long đạt khá và tăng đều qua các năm, từ 0,656 năm 1996 lên 0,702 năm 2003. Năm 2001 chỉ số HDI tỉnh Vĩnh long là 0,695, ngang bằng với chỉ số HDI cả nước (0,696) và cao hơn chỉ số HDI vùng đồng bằng sông Cửu long (0,669).
Kinh tế - xã hội phát triển thu hút người lao động vào các ngành, góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm. Trong 5 năm 2001 - 2005, trong toàn tỉnh đã thu hút thêm gần 50 ngàn người vào làm việc trong các ngành, kinh tế - xã hội, tỷ lệ lao động trong nông nghiệp giảm từ 71,6% năm 2000 xuống còn 67,0% năm 2005.
c) Năng lực mới tăng thêm:
Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội giai đoạn 2001 - 2005 cùng với việc mang lại hiệu quả trên lĩnh vực kinh tế, lĩnh vực đời sống xã hội,… đã tạo ra năng lực mới tăng thêm trên 1 số mặt như:
- Nông nghiệp - thủy lợi:
Đã xây dựng hệ thống bờ bao, nạo vét kênh mương thuỷ lợi đảm bảo diện tích vùng khép kín cho: 82.000 ha, trong đó cây hàng năm 67.722 ha, cây lâu năm: 19.278ha, xây dựng trạm, trại phục vụ cho ngành nông nghiệp được: 492 m2.
- Công nghiệp:
Đã xây dựng mới được: 2.030 km đường dây trung thế, 2.629km đường dây hạ thế, xây dựng các trạm biến áp với tổng dung lượng đạt: 221.654KVA và nâng cấp được 111,7 km đường dây trung thế.
- Giao thông vận tải:
Đã tập trung vốn đầu tư cho lĩnh vực giao thông, trong 5 năm qua đã đầu tư xây dựng mới và nâng cấp mặt đường cấp phối cấp 5 đồng bằng: 136,5 km, nền đường cấp 5 đồng bằng: 149km. Đã thảm bán thâm nhập nhựa: 183,5km, thảm BT nhựa nóng: 7,7km, xây dựng cầu bêtông cốt thép: 5.080m.
- Y tế:
Xây dựng và nâng cấp các trạm y tế xã, phường và đã tăng thêm 84 giường bệnh, phòng khám khu vực: 55 giường bệnh và ban bảo vệ cán bộ được 20 giường bệnh.
- Giáo dục đào tạo:
Đã đầu tư xây dựng trường, lớp đảm bảo chỗ học tăng thêm cho: 45.870 em học sinh cấp 2, 3; 21.440 em học sinh cấp 1 và 5.789 sinh viên cho các trường Trung học chuyên nghiệp, Cao đẳng và Đại học.
- Văn hoá thông tin:
Xây dựng và hoàn chỉnh khu tưởng niệm cố Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Hùng: 2.333m2, xây dựng sân khấu cho 2.000 chỗ ngồi và sân vận động: 1.500 chỗ.
- Quản lý nhà nước và công cộng:
Đã xây dựng mới được 11.885m2 nhà làm việc, nhà ở, nhà ăn; 810m2 hội trường, phòng khách; xây dựng khu ký túc xá đảm bảo 80 chỗ nội trú cho học viên và xây dựng mới hệ thống điện chiếu sáng được: 5,37km.
3.2. Những mặt hạn chế, yếu kém:
- Trong các năm qua (2001-2005) tuy tổng vốn đầu tư toàn xã hội tiếp tục tăng, nhưng tổng mức vốn đầu tư chưa đáp ứng được yêu cầu huy động nguồn lực tập trung cho đầu tư phát triển, nguồn vốn trong dân và của các loại hình doanh nghiệp chưa được huy động một cách tối đa. Khả năng và tích lũy vốn trong nội bộ dân cư chưa được khai thác đúng mức, còn hiện tượng nguồn tích lũy vốn trong dân cư trên địa bàn tỉnh chảy ra ngoài tỉnh.
- Nguồn vốn đầu tư do nhà nước quản lý chủ yếu là vốn đầu tư xây dựng cơ bản, tuy tiến độ có đạt khá nhưng đầu tư vẫn còn dàn trải và chủ yếu vẫn là những công trình chuyển tiếp và trả vốn cho các công trình đã ứng trước của các năm trước đó.
- Các công trình mới khởi công, nhất là các công trình nhỏ đã phân cấp cho huyện, tiến độ vẫn còn chậm, một số công trình đầu tư còn kéo dài, khâu giải phóng mặt bằng còn quá chậm (như các khu công nghiệp và một số tuyến đường giao thông).
- Lợi dụng sự thông thoáng của Luật Doanh nghiệp, các chính sách ưu đãi đầu tư và kẻ hở của một số Luật, có một số doanh nghiệp hình thành, đăng ký vốn nhưng không có thực, khi có pháp nhân thì không sản xuất kinh doanh mà chỉ thực hiện mua, bán thầu, hoá đơn tài chính hoặc thực hiện hoạt động các lĩnh vực khác ngoài ngành nghề đã đăng ký kinh doanh.
- Nguồn vốn đầu tư nước ngoài tuy có tăng cao, song còn chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội.
- Công tác phối kết hợp giữa các Sở ban ngành trong các bước thu hút và triển khai thực hiện vốnđầu tư Nhà nước (ĐTNN) chưa có sự gắn kết và đồng bộ, do vậy còn ảnh hưởng đến tiến độ triển khai các dự án ĐTNN.
- Công tác giải phóng mặt bằng, đền bù giải toả gặp rất nhiều khó khăn là một trở ngại lớn hạn chế khả năng thu hút vốn đầu tư. Ngay đối với các công trình đầu tư bằng vốn do Nhà nước quản lý, đây cũng là khâu trì trệ nhất.
- Do điều kiện khách quan nên tỉnh hầu như không có qũy đất công, việc chủ động tạo quỹ đất công, tạo mặt bằng sạch để thu hút vốn đầu tư chưa được quan tâm nhiều nên khi có nhà đầu tư đến Vĩnh Long tìm cơ hội đầu tư thì việc lựa chọn địa điểm rất khó khăn.
3.3. Những nguyên nhân tồn tại:
Ngoài những nguyên nhân khách quan như xuất phát điểm ở tỉnh thấp, không có nhiều thuận lợi trong đầu tư xây dựng (Nền đất yếu, suất đầu tư cao, không có quỹ đất công...), nằm xa vùng kinh tế trọng điểm, chất lượng nguồn nhân lực thấp... còn có những nguyên nhân chủ quan làm cho thực hiện thu hút đầu tư chưa mang lại kết quả như mong muốn, tập trung trên một số lĩnh vực chủ yếu:
- Công tác tuyên truyền, vận động, giải thích, hướng dẫn các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về huy động mọi nguồn lực để đầu tư phát triển cho mọi thành phần kinh tế, nhất là tư nhân và các doanh nghiệp ngoài quốc doanh bỏ vốn để phát triển sản xuất, kinh doanh chưa được thường xuyên và sâu rộng.
- Nhận thức của cán bộ đảng viên về thu hút các nguồn nội lực, ngoại lực tuy đã được nâng cao, tuy nhiên năng lực lãnh đạo, giải pháp tổ chức thực hiện còn hạn chế. Trong chỉ đạo và điều hành chỉ tập trung vào khai thác nguồn lực, vốn đầu tư do Nhà nước quản lý mà coi nhẹ nguồn vốn dân cư.
- Công tác quy hoạch chưa hoàn chỉnh, còn chậm nhất là quy hoạch phát triển các khu công nghiệp, quy hoạch đô thị và dịch vụ thương mại,….
- Chủ trương chuyển đổi Khu công nghiệp Mỹ Thuận về Khu công nghiệp Hoà Phú ít nhiều đã ảnh hưởng đến cơ hội cho các nhà đầu tư đăng ký vào Khu công nghiệp Mỹ Thuận, đồng thời khâu thực hiện thủ tục, chuẩn bị mặt bằng Khu công nghiệp Hoà Phú kéo dài đã hạn chế đến sự thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
- Những chính sách khuyến khích, ưu đãi đầu tư tuy đã được Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành từ năm 2003 song việc triển khai thực hiện vẫn còn một số mặt bất cập, một số điểm chưa phù hợp với lộ trình hợp tác kinh tế quốc tế và thu hút đầu tư.
- Công tác giải tỏa, đền bù, san lấp mặt bằng để đầu tư hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật còn chậm (nhất là các KCN) tiến độ triển khai về vốn và thủ tục đầu tư để đầu tư hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật ngoài hàng rào các khu công nghiệp và doanh nghiệp chưa đáp ứng kịp yêu cầu đầu tư.
- Cải cách thủ tục hành chính theo mô hình "một cửa" tuy đã thực hiện nhưng mang lại hiệu quả chưa cao. Thủ tục đầu tư trên lĩnh vực xây dựng và đất đai còn phức tạp nhưng chậm được đổi mới, thời gian chờ đợi còn kéo dài.
- Việc phối hợp giữa các ngành, các cấp trong việc thu hút đầu tư chưa được chặt chẽ, thường xuyên. Một số công chức trong các ngành tuy tuân thủ đúng các quy định nhưng quá máy móc khi áp dụng khiến nhiều nhà đầu tư nản lòng.
- Việc vận động, kêu gọi và xúc tiến thu hút đầu tư còn thiếu kinh nghiệm, thiếu tính đồng bộ giữa các Sở, ban ngành của tỉnh, các huyện thị và các doanh nghiệp có liên quan trong tỉnh.
- Công tác đào tạo, huấn luyện nguồn nhân lực tại chỗ có trình độ chuyên môn, kỹ thuật và tay nghề để đáp ứng cho các doanh nghiệp còn thiếu về số lượng và thấp về chất lượng.
- Công tác ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin trong các loại hình doanh nghiệp còn nhiều hạn chế.
Phần II
ĐỀ ÁN THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ GIAI ĐOẠN 2006 - 2010
CỦA UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
I. PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU, CHỈ TIÊU
1. Phương hướng:
Tập trung khai thác và huy động tối đa mọi nguồn lực trong và ngoài tỉnh nhằm đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội với tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt 14%/năm trở lên. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, ưu tiên phát triển và đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng của khu vực công nghiệp - xây dựng và dịch vụ. Nâng cao năng lực sản xuất, phát triển nền kinh tế với tốc độ nhanh và bền vững gắn liền với sự phát triển đời sống văn hoá và tinh thần cho nhân dân.
2. Mục tiêu của Đề án thu hút vốn đầu tư:
Nhằm thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu kinh tế - xã hội mà Nghị quyết Đại hội VIII, Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long (nhiệm kỳ 2005 - 2010), trong thời gian tới tỉnh cần tập trung khai thác và huy động tối đa các nguồn nội lực của mọi thành phần kinh tế và toàn xã hội trong tỉnh cùng với việc vận động, thu hút đầu tư nguồn ngoại lực gồm các nguồn vốn đầu tư trực tiếp FDI, ODA, NGO và các nguồn vốn khác để tạo thành nguồn lực tổng hợp cho đầu tư phát triển kinh tế - xã hội với tốc độ tăng trưởng cao và bền vững.
Đa dạng hoá các hình thức huy động vốn của mọi thành phần kinh tế, tiếp tục huy động và khai thác có hiệu quả các nguồn vốn ngoài quốc doanh của các doanh nghiệp dân doanh, vốn trong dân và của các tổ chức kinh tế - xã hội khác.
3. Các chỉ tiêu chủ yếu của Đề án thu hút vốn đầu tư giai đoạn 2006 - 2010:
Các chỉ tiêu chủ yếu thu hút vốn đầu tư giai đoạn 2006 - 2010 như sau:
Đơn vị tính: triệu đồng
Năm 2006
Năm 2010
Tổng 5 năm 2006 - 2010
Vốn đầu tư
Tốc độ tăng, giảm BQ (%)
Tổng vốn đầu tư
28.216.900 23,31
1. Vốn nhà nước quản lý
6.266.900 15,97
2. Vốn ngoài quốc doanh
20.737.500 24,77
3. Đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.212.500 46,14
(Xem Phụ lục 04)
II. ĐỊNH HƯỚNG SỬ DỤNG CÁC NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ
1. Theo nguồn vốn huy động:
1.1. Nguồn vốn do Nhà nước quản lý :
- Vốn ngân sách do địa phương quản lý: Chủ yếu tập trung cho đầu tư xây dựng công trình hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội theo các chương trình mục tiêu của Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ Vĩnh Long lần thứ VIII . Trong 5 năm 2006 - 2010, vốn ngân sách nhà nước sẽ tập trung đầu tư theo các ngành và lĩnh vực như sau:
+ Nông nghiệp - thuỷ lợi: Tiếp tục đầu tư cho các kè bảo vệ bờ sông, nạo vét các kênh tạo nguồn tưới tiêu, hệ thống cấp nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn, đê bao bảo vệ cây ăn trái, trại giống...
+ Công nghiệp: Hoàn chỉnh hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật khu công nghiệp Hoà phú giai đoạn I, triển khai thực hiện tiếp giai đoạn II và một số tuyến, cụm công nghiệp ở các huyện, Thị xã.
+ Xây dựng: Hệ thống cấp nước các Thị trấn, các khu dân cư tập trung và các công trình hạ tầng kỹ thuật khu vực phát triển đô thị theo quy hoạch.
+ Giao thông: Tiếp tục đầu tư hoàn chỉnh các đường tỉnh, đường về trung tâm các xã chưa có đường ô tô tới trung tâm, các đường mới phục vụ cho định hướng phát triển Thị xã Vĩnh Long thành đô thị loại III, thị trấn Cái Vồn thành đô thị loại IV, thị trấn Tân Qưới và 1 số khu dân cư tập trung theo qui hoạch.
+ Giáo dục đào tạo: Tiếp tục đầu tư hoàn thành chương trình kiên cố hoá và xây dựng các trường Phổ thông trung học, trường cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, trường và các trung tâm dạy nghề...
+ Văn hoá thông tin, y tế, thể dục thể thao: Đầu tư trang thiết bị bệnh viện Đa khoa tỉnh, bệnh việc đa khoa các huyện, thị xã, phòng khám đa khoa khu vực, hồ bơi, nhà thi đấu TDTT, khu công viên chiến thắng mậu thân...
+ Công trình công cộng và quản lý Nhà nước: Đầu tư xây dựng khu hành chính mới của tỉnh, thị trấn Cái Vồn, Bình Minh lên thị xã, xây dựng cụm tuyến dân cư vùng ngập lũ, tin học hoá quản lý nhà nước, công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị...
Ngoài ra nguồn kinh phí sự nghiệp được bố trí từ ngân sách sẽ đầu tư cho công tác nghiên cứu, phổ biến và ứng dụng kỹ thuật mới. Đầu tư nâng cấp sửa chữa, trang bị mới phương tiện làm việc của các cơ quan Đảng, đoàn thể, chính quyền. Vốn ngân sách Nhà nước cũng sẽ hỗ trợ một phần đầu tư xây dựng công trình hạ tầng kỹ thuật đến ngoài hàng rào các khu công nghiệp tập trung, cụm công nghiệp và cho các đối tượng chính sách, cho công tác xoá đói giảm nghèo, vùng đồng bào dân tộc, vùng sâu, vùng xa.
- Vốn đầu tư của các Bộ, ngành Trung ương:
Vốn đầu tư trực tiếp và vốn hỗ trợ các chương trình mục tiêu của Bộ, ngành trên địa bàn cho các dự án, công trình do Bộ ngành trực tiếp quản lý và theo định hướng chung của ngành.
-Vốn tín dụng đầu tư:
Vốn tín dụng phát triển của Nhà nước hỗ trợ cho những dự án đầu tư mà Nhà nước khuyến khích, có hiệu quả kinh tế - xã hội và đảm bảo hoàn trả được vốn vay. Các dự án ưu tiêu đầu tư bao gồm cả đầu tư mới, đầu tư mở rộng, hiện đại hoá sản xuất, công trình hạ tầng kỹ thuật . Ngoài vốn tín dụng phát triển, một số nguồn vốn có hình thức tương tự như Quỹ hỗ trợ đầu tư, Quỹ Quốc gia giải quyết việc làm, Quỹ hỗ trợ đồng bào dân tộc đặc biệt khó khăn, Quỹ xoá đói giảm nghèo ... cũng sẽ đầu tư cho các mục tiêu phát triển sản xuất, tăng thu nhập cho các đối tượng.
- Vốn đầu tư của các Doanh nghiệp nhà nước :
Các Doanh nghiệp nhà nước (DNNN) đầu tư mở rộng, hiện đại hoá sản xuất kinh doanh theo ngành nghề đăng ký. Nguồn vốn đầu tư của các DNNN là vốn tích luỹ trong quá trình kinh doanh, quỹ khấu hao, góp vốn liên doanh, tín dụng ..
Đầu tư vốn của Doanh nghiệp nhà nước bao gồm cả đầu tư xây dựng, trang thiết bị sản xuất kinh doanh và đầu tư tăng quy mô vốn kinh doanh, nghiên cứu, ứng dụng sản phẩm mới, xây dựng thương hiệu, tạo lập thị trường...
- Một số nguồn vốn khác:
Một số nguồn thu phí (thuỷ lợi phí, lệ phí chợ ...) nhằm đầu tư để mở rộng quy mô, xây dựng cơ sở vật chất cho chính lĩnh vực đem lại nguồn thu đó.
1.2. Vốn đầu tư ngoài quốc doanh :
Nhà nước huy động vốn đầu tư của dân đóng góp xây dựng cho các công trình phục vụ trực tiếp cho người dân như: Xây dựng trường học, thuỷ lợi, nước sinh hoạt, giao thông nông thôn .v.v... Vốn huy động được phụ thuộc vào mức độ thiết thực của các công trình đối với người dân, mức đóng góp vốn của Nhà nước và chính sách tuyên truyền vận động của các cấp, các ngành.
Khuyến khích các doanh nghiệp dân doanh và tư nhân trong và ngoài tỉnh đầu tư vào các lĩnh vực mà tỉnh có nhiều ưu thế như: Chế biến nông sản, công nghiệp sử dụng nhiều lao động, cơ sở tiểu thủ công nghiệp, làng nghề, cơ sở kinh doanh dịch vụ, du lịch, hạ tầng cụm công nghiệp...
1.3. Vốn đầu tư nước ngoài :
- Vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA): Nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) chủ yếu do Chính phủ quản lý và phân bổ. Mục tiêu đầu tư của nguồn vốn này là cho xây dựng công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội .
- Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI): Do tổ chức, tư nhân, tập đoàn, công ty nước ngoài bỏ vốn đầu tư nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận. Tỉnh có những chính sách khuyến khích, ưu đãi đầu tư nhất là đối với các dự án đầu tư vào các lĩnh vực xây dựng công trình hạ tầng kỹ thuật, công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm, đầu tư vào các khu, cụm, tuyến công nghiệp và nông nghiệp và phát triển nông thôn.
- Vốn tài trợ của các tổ chức phi Chính phủ (NGO): Tỉnh khuyến khích hoan nghênh các cá nhân, tổ chức đầu tư vào tỉnh với mục đích nhân đạo như: Xoá đói giảm nghèo, y tế, giáo dục, bảo vệ trẻ em, giao thông nông thôn, cung cấp nước sạch, bảo trợ xã hội.
- Vốn của Việt kiều: Vốn của Việt kiều đầu tư trực tiếp cho phát triển kinh tế - xã hội của địa phương hầu như rất ít. Để có thể huy động được lượng vốn này vào đầu tư nhiều hơn, đòi hỏi tỉnh phải có chính sách cởi mở hơn để động viên, thu hút nguồn vốn của Việt kiều.
2. Theo ngành và lĩnh vực đầu tư:
2.1. Trong nông nghiệp
Mục tiêu đầu tư nhằm đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng hiệu quả trên một đơn vị diện tích canh tác và khai thác các thế mạnh trong nông nghiệp. Theo đó vốn đầu tư Nhà nước quản lý tiếp tục đầu tư cho các công trình thuỷ lợi đầu mối, đê bao liên vùng và các dự án về giống cây con theo chương trình giống. Vốn sự nghiệp bảo đảm cho công tác duy tu bảo dưỡng công trình thuỷ lợi, hoạt động khuyến nông và sự nghiệp nông nghiệp.
Vận động nhân dân được hưởng lợi từ các công trình thuỷ lợi đóng góp công sức làm thủy lợi nội đồng, bờ bao nội vùng và chi phí bồi hoàn giải phóng mặt bằng cho các công trình thuỷ lợi đầu mối.
Định hướng đầu tư vốn của doanh nghiệp, hộ sản xuất vào trồng lúa, cây ăn trái mà chủ yếu là cây có múi với mục tiêu là chất lượng để có thể xuất khẩu hoặc làm nguyên liệu đồng chủng cho dự án nhà máy chế biến trái cây. Tiếp tục khai thác thế mạnh về rau màu, mở rộng thị trường tiêu thụ gắn với quy trình sản xuất an toàn. Phát triển mô hình hợp tác xã rau sạch và gắn sản xuất với tiêu thụ thông qua hợp đồng đầu tư, bao tiêu sản phẩm với các đầu mối.
Phát triển đàn bò đồng bộ với chế biến sản phẩm và tận dụng phụ phẩm làm phân bón cho cây trồng theo hướng phát triển bền vững. Đầu tư chăn nuôi heo theo hướng nạc hóa nhằm cung cấp sản phẩm theo xu hướng tiêu dùng phát triển, cung cấp nguyên liệu cho dự án đóng hộp xuất khẩu.
Khai thác điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát huy các nguồn vốn của dân cư và doanh nghiệp vào nuôi thuỷ sản theo hướng công nghiệp bằng bè và ao nuôi chuyên canh. Mở rộng hình thức nuôi thủy sản trên ruộng lúa, mương vườn. Xây dựng trung tâm giống thuỷ sản nước ngọt quy mô lớn cung ứng cho cả vùng.
2.2. Trên lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
Phù hợp với định hướng sử dụng nguồn vốn do Nhà nước quản lý sẽ đầu tư hổ trợ cho xây dựng công trình hạ tầng kỹ thuật các khu công nghiệp tập trung, tuyến và các cụm công nghiệp; cho xây dựng các nhà máy nước ở thị trấn, thị tứ, các điểm tập trung dân cư, hổ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng làng nghề. Vốn đầu tư của ngành điện cho cải tạo và phát triển lưới điện đáp ứng cho sự phát triển sản xuất và đời sống.
Vốn đầu tư của doanh nghiệp, hộ sản xuất cho xây dựng các nhà máy, cơ sở sản xuất mới và mở rộng, trang bị mới máy móc thiết bị sản xuất của các cơ sở hiện có. Khai thác các thế mạnh về chế biến nông thủy sản.
Huy động vốn và kinh nghiệm, tay nghề của các hộ sản xuất để sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu bao gồm sản phẩm truyền thống và du nhập thêm các sản phẩm mới. Xây dựng các làng nghề, bao gồm cả nghề hiện có và các nghề mới phát sinh.
Phát huy lợi thế về vị trí địa lý, trung tâm vùng và thuận tiện giao thông thuỷ bộ để sản xuất kinh doanh các loại vật liệu mới giá thành thấp phục vụ cho chương trình nhà ở, sản xuất hàng tiêu dùng, phương tiện sinh hoạt, xuồng ghe bằng vật liệu composit, may mặc, thêu ren hàng xuất khẩu, sản xuất dược phẩm, mỹ phẩm, gia công, lắp ráp động cơ, điện, điện tử, sản xuất phụ tùng, sửa chữa.
2.3. Trên lĩnh vực dịch vụ :
Đa dạng vốn đầu tư phát triển kinh doanh thương mại và các loại hình dịch vụ như hệ thống khách sạn, nhà hàng ven sông. Xây dựng Trung tâm Thương mại Mỹ Thuận và các trung tâm thương mại, siêu thị ở đô thị, trước mắt là ở thị xã Vĩnh Long và thị trấn Cái Vồn. Tiếp tục huy động các nguồn vốn để xây dựng các chợ theo quy hoạch được duyệt, khuyến khích hình thức B.O.T đối với xây dựng chợ. Phát triển các khu du lịch sinh thái, hệ thống dịch vụ vui chơi giải trí, trên các cù lao An Bình, Quới Thiện, Lục Sĩ Thành, Mỹ hoà và các khu du lịch văn hóa gắn với các di tích lịch sử, các thắng cảnh đã có.
Củng cố và nâng cao chất lượng đào tạo đại học, cao đẳng, dạy nghề. Tạo điều kiện để các trường Đại học, Học viện, Trường chuyên nghiệp nổi tiếng mở Phân hiệu, Chi nhánh tại tỉnh. Phát huy lợi thế đã có để biến Vĩnh Long thành trung tâm đào tạo nghề của cả khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Phát triển các Bệnh viện tư nhân, phòng khám và điều trị bệnh có chất lượng cao, các rạp chiếu bóng hiện đại, đa năng.
Xây dựng khu đô thị mới Mỹ Thuận, Phước Yên, các dự án nhà ở cho thuê, nhà bán trả góp ở các đô thị mà trước hết là Thị xã Vĩnh Long và Thị trấn Cái Vồn.
Hình thành và phát triển các loại hình chi nhánh, đại lý, phòng giao dịch chứng khoán, chi nhánh công ty chứng khoán trên địa bàn tỉnh.
2.4. Xây dựng công trình hạ tầng kỹ thuật:
Tiếp tục xây dựng công trình hạ tầng kỹ thuật theo hướng hiện đại hóa nhằm mục tiêu phục vụ tốt hơn cho tăng trưởng và cải thiện về mọi mặt của đời sống dân cư, chủ yếu được đầu tư bằng nguồn vốn của Nhà nước và dùng quỹ đất để tạo vốn xây dựng công trình hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội ở các đô thị theo mục tiêu phát triển đô thị,
Trong 5 năm 2006 - 2010, Tỉnh tập trung vốn đầu tư do Nhà nước quản lý và huy động vốn của các doanh nghiệp, vốn của nhân dân đóng góp để đầu tư xây dựng công trình hạ tầng kỹ thuật như:
- Tiếp tục đầu tư xây dựng hoàn chỉnh công trình hạ tầng kỹ thuật Khu Công nghiệp Hoà Phú giai đoạn I và triển khai tiếp giai đoạn II, Khu Công nghiệp Bình Minh, Tuyến Công nghiệp Cổ Chiên và các Cụm Công nghiệp ở các huyện. Với phương thức vừa xây dựng công trình hạ tầng kỹ thuật vừa kêu gọi đầu tư.
+ Tranh thủ nguồn vốn của ngành điện để đầu tư hạ thế các đường điện, phấn đấu đến 2010 số hộ dân sử dụng điện đạt 98% so tổng số hộ trong toàn tỉnh.
+ Tiếp tục nhựa hoá các tuyến đường từ tỉnh xuống huyện, từ huyện xuống xã và đường liên xã; Tập trung vốn đầu tư và phấn đấu đến 2010 có 100% số xã có đường ôtô đến trung tâm.
+ Tăng cường cơ sở vật chất cho ngành giáo dục, phấn đấu đến năm 2010 có 100% trường lớp được kiên cố hoá, trang thiết bị phục vụ giảng dạy và học tập cơ bản được bảo đảm. Mạng lưới y tế được mở rộng đến tận xã, phường, thị trấn, 100 % trạm y tế được ngói hoá và có bác sĩ phục vụ.
+ Với các nguồn vốn đầu tư của ngân sách Nhà nước, Chương trình mục tiêu quốc gia, nguồn vốn ODA và vận động nhân dân đóng góp, tiếp tục đầu tư cho chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn nhằm phát triển và phục vụ tốt đời sống nhân dân trong tỉnh. Đến năm 2010 phấn đấu có 98% hộ sử dụng nước sạch, trong đó có 75% từ hệ thống cấp nước tập trung.
III. CÁC BIỆN PHÁP, GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
Để đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế GDP bình quân đạt 14% trên cơ sở huy động các nguồn lực với tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2006 - 2010 là 28.200 tỷ, trong đó: Bình quân 1 năm phải thực hiện huy động khoảng 5.640 tỷ, trong 5 năm 2006 - 2010 cần tập trung thực hiện một số biện pháp, giải pháp chủ yếu như sau:
1. Tăng cường vận động xúc tiến và kêu gọi thu hút vốn đầu tư:
- Tiếp tục tuyên truyền, nâng cao nhận thức việc thực hiện huy động, sử dụng hiệu quả vốn đầu tư và thực tốt các hiện chính sách khuyến khích đầu tư đã ban hành. Trong quá trình thực hiện cần bổ sung, sửa đổi, cải tiến phù hợp với điều kiện, khả năng của tỉnh nhà mà vẫn tạo ra sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư. Tăng cường tuyên truyền và phổ biến rộng rãi Luật Khuyến khích đầu tư mới cho các loại hình doanh nghiệp trong và ngoài nước. Đẩy nhanh tiến độ xét ưu đãi đầu tư cho các doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân trong và ngoài tỉnh đầu tư sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh.
- Hàng năm phải tổ chức các cuộc hội thảo để phân tích, đánh giá các chỉ số về năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Vĩnh Long; từ đó đề ra những giải pháp thích hợp, đồng bộ để nhanh chóng hoàn thiện môi trường đầu tư nhằm tăng cường hơn nữa hiệu quả thu hút đầu tư .
- Tiếp tục hoàn chỉnh và cập nhật thường xuyên Website của tỉnh lên mạng Internet cùng với việc giới thiệu tài liệu “Vĩnh Long tiềm năng và cơ hội đầu tư” theo các chính sách khuyến khích, ưu đãi đầu tư của tỉnh đã được ban hành. Tổ chức và tham gia các cuộc hội thảo ở thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Cần Thơ và các địa phương khác, tổ chức các buổi làm việc trực tiếp với các nhà đầu tư trong và ngoài nước để giới thiệu tiềm năng, đất nước, con người và tạo cơ hội đầu tư cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước đến đầu tư tại Vĩnh Long.
- Tăng cường công tác liên kết, phối hợp hoạt động xúc tiến thương mại và đầu tư với các tỉnh bạn và 2 trung tâm kinh tế, văn hóa lớn là thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Cần Thơ.
- Xây dựng chuyên mục giới thiệu về đất nước con người tỉnh Vĩnh Long phát sóng hàng ngày trên hệ thống phát thanh, truyền hình của tỉnh. Tích cực giới thiệu tiềm năng, các lĩnh vực ưu tiên đầu tư ở tỉnh thông qua tập san, báo chí, phương tiện truyền thông trong và ngoài nước. Tham gia các hội chợ, triển lãm quốc tế và trong nước.
- Tích cực xây dựng các dự án kêu gọi đầu tư và giới thiệu rộng rãi để kêu gọi vốn đầu tư. Tiếp tục thực hiện giảm và miễn phí dịch vụ, trực tiếp giúp các nhà đầu tư làm các thủ tục theo cơ chế một cửa.
- Thực hiện điều chỉnh, bổ sung và ban hành các chính sách khuyến khích, ưu đãi đầu tư trong và ngoài nước theo Luật Đầu tư cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước trên địa bàn tỉnh cùng với danh mục các dự án ưu tiên đầu tư thuộc các ngành và lĩnh vực trong giai đoạn 2006 - 2010.
- Đẩy mạnh hoạt động của Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư của tỉnh nhằm thực hiện tốt công tác dịch vụ tư vấn lập thủ tục triển khai, thực hiện các dự án và các dịch vụ khác cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước và là đơn vị đầu mối quan hệ với Cục Xúc tiến Thương mại, Cục Đầu tư nước ngoài, các Bộ và Tham tán Việt Nam tại các nước để giới thiệu chính sách và danh mục dự án kêu gọi đầu tư của Vĩnh Long hoặc làm đầu mối cho cán bộ và doanh nghiệp Vĩnh Long tiếp cận thị trường và nguồn vốn đầu tư nước ngoài…
- Hình thành mạng lưới tín dụng rộng khắp từ thành thị đến cơ sở, có chính sách khuyến khích các tổ chức tín dụng, ngân hàng trong ngoài tỉnh tham gia mạnh hơn nữa vào việc huy động và đáp ứng nhu cầu vốn của các tổ chức, cá nhân. Tạo sân chơi bình đẳng cho các thành phần kinh tế trong việc kinh doanh tiền tệ cũng như tiếp cận với nguồn vốn tín dụng, ngân hàng. Chú ý phát triển các quỹ tín dụng ở khu vực nông thôn.
- Động viên vốn huy động của các doanh nghiệp để tạo điều kiện cho các đoàn cán bộ và doanh nghiệp tỉnh Vĩnh Long đi tham quan, học tập ở nước ngoài, đồng thời tuyên truyền chính sách, tiềm năng, cơ hội và danh mục dự án kêu gọi đầu tư vào Vĩnh Long.
- Đẩy mạnh hoạt động và sử dụng có hiệu quả Quỹ hỗ trợ đầu tư và xúc tiến thương mại, Qui chế thưởng xuất khẩu,… nhằm kích thích, động viên các doanh nghiệp trong và ngoài nước tích cực bỏ vốn tham gia đầu tư trên địa bàn tỉnh.
- Tăng cường tuyên truyền vận động và có chính sách cởi mở, thông thoáng để thu hút các nguồn vốn của các tổ chức phi chính phủ (NGO), vốn của Việt kiều và vốn Kiều hối để đầu tư phát triển cho tỉnh Vĩnh Long.
2. Tập trung huy động, khai thác các nguồn vốn:
2.1. Nguồn vốn ngân sách nhà nước:
- Có cơ chế, chính sách thông thoáng, phù hợp để mở rộng nguồn thu đảm bảo huy động ngân sách địa phương bình quân giai đoạn 2006 - 2010 đạt 12,5 đến 13% trên GDP của tỉnh.
- Tạo bước đột phá trong việc thực hiện cơ chế tài chính sử dụng quỹ đất tạo vốn xây dựng công trình hạ tầng kỹ thuật thông qua việc công khai hóa, minh bạch hóa quy hoạch sử dụng quỹ đất, tiến hành rà soát thu hồi quỹ đất công đã giao cho các đơn vị, doanh nghiệp và nhiều nguồn đất khác do ngành và huyện thị xã quản lý sử dụng không có hiệu quả để kêu gọi các nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia đấu giá đất thực hiện các dự án.
2.2. Nguồn vốn tín dụng đầu tư:
- Phát triển và mở rộng mạng lưới tín dụng đến các địa bàn cơ sở, nhất là các vùng nông thôn, đa dạng về sở hữu và loại hình tổ chức tín dụng. Hình thành và phát triển quỹ tín dụng nhân dân ở các địa phương theo nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động.
- Đối với các doanh nghiệp và tầng lớp dân cư, trên cơ sở mở rộng cơ chế, chính sách “lãi suất thoả thuận”, khuyến mãi, miễn giảm các loại phí dịch vụ tín dụng, ngân hàng… nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng.
2.3. Huy động nguồn vốn của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh:
- Nhà nước cần có sự hỗ trợ nhất định trên một số mặt như:
* Về đất:
- Quản lý chặt chẽ quy hoạch sử dụng đất đai, chấm dứt việc xây dựng nhà cửa, công trình vĩnh cửu trên đất đã quy hoạch để phát triển công nghiệp, thương mại, xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội để giảm bớt chi phí bồi hoàn khi xây dựng.
- Tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư có đất được chuyển mục đích sử dụng đất phục vụ cho mục tiêu đầu tư phát triển.
- Phải tiến hành rà soát, điều chỉnh và công khai hoá các quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch phát triển đô thị, các quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng dân sinh (nhà ở, cấp nước, đường giao thông, bến xe,…) trên phạm vi từng địa phương trong tỉnh để các doanh nghiệp chủ động, yên tâm bỏ vốn để đầu tư.
* Về vốn:
- Tạo điều kiện để các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận dễ dàng được các nguồn vốn từ các tổ chức tín dụng, ngân hàng, ưu đãi đầu tư, hỗ trợ phát triển thông qua các chính sách hỗ trợ về lãi suất, điều kiện tín chấp, thế chấp và đơn giản hoá các quy trình thủ tục vay vốn.
- Thành lập quỹ hỗ trợ đầu tư để cho vay vốn trung, dài hạn đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa và quỹ bảo lãnh tín dụng
* Về công nghệ:
- Tiến hành điều tra cơ bản, đánh giá trình độ công nghệ của các loại hình doanh nghiệp từ đó có chính sách khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp tăng khả năng tiếp nhận, chuyển giao và đổi mới công nghệ nhằm tăng năng suất lao động, tạo ra sản phẩm có khả năng cạnh tranh.
* Về thị trường:
- Các ngành chuyên môn tăng cường hỗ trợ cho người dân bằng các hình thức liên kết, liên doanh, tìm kiếm thị trường trong và ngoài nước để có điều kiện tiêu thụ và xuất khẩu các loại sản phẩm do người dân sản xuất ra.
- Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư của tỉnh cần phối hợp với các cấp, các ngành, các Hội nghề nghiệp, xây dựng những trang thông tin “nóng”, thường xuyên cập nhật, thông tin tình hình diễn biến của thị trường trong nước, khu vực và thế giới cho các doanh nghiệp, cũng như tổ chức những khoá tập huấn ngắn ngày giúp các doanh nghiệp về kinh nghiệm, nghệ thuật tiếp thị, xây dựng thương hiệu, quảng bá sản phẩm và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tham gia các cuộc triển lãm, hội chợ,… để tìm kiếm đối tác, thị trường khu vực và thế giới.
2.4. Nguồn vốn của dân cư và các tổ chức khác:
- Để huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư và vốn của các tổ chức khác, trước hết trên cơ sở quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội của tỉnh, huyện, quy hoạch các ngành đã được rà soát, điều chỉnh, bổ sung phê duyệt, tiến hành quy hoạch thị xã, thị trấn, các trung tâm xã và các khu dân cư trên cơ sở lấy ý kiến và được công bố rộng rãi đến tận cơ sở để người dân biết và có kế hoạch đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh.
- Cùng với sự hỗ trợ của ngành chuyên môn về giống, kỹ thuật, công nghệ, quy trình sản xuất nhằm nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm để tạo khả năng cạnh tranh hàng hoá trong tiến trình hội nhập, các tổ chức ngân hàng, tín dụng ở các địa phương tạo điều kiện thuận lợi về lệ phí, quy trình thủ tục để người dân tiếp cận được các nguồn vốn vay nhằm bổ sung, hỗ trợ và kích thích vốn trong dân tập trung cho đầu tư phát triển.
- Tiến hành điều tra một cách chính xác nguồn thu nhập, cơ cấu chi tiêu dân cư trên địa bàn tỉnh để làm căn cứ xây dựng và đề xuất các giải pháp nhằm tăng thu nhập một cách bền vững, cải thiện cơ cấu chi tiêu theo hướng giảm tiêu dùng để dành tích luỹ cho đầu tư phát triển.
- Động viên, khen thưởng, nhân điển hình các mô hình kinh tế hộ mang lại hiệu quả cao, các hộ gia đình và cá nhân vượt khó tự vươn lên trong cuộc sống. Tích cực truyên truyền để nhân dân giảm các khoản chi tiêu chưa cần thiết để tích luỹ đầu tư.
2.5. Nguồn vốn đầu tư ngoài tỉnh và nước ngoài (ODA, FDI và NGO…):
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, thông qua các hình thức thông tin tuyên truyền đại chúng, tham gia hội chợ, triển lãm, hội thảo, quảng bá giới thiệu cho các nhà đầu tư hiểu biết về tiềm năng, thế mạnh và các chính sách ưu đãi của tỉnh để đi đến quyết định đầu tư vào tỉnh Vĩnh Long.
- Đẩy mạnh đầu tư nâng cấp, cải tạo và xây dựng mới một cách đồng bộ các công trình hạ tầng kỹ thuật các khu, tuyến, cụm công nghiệp.
- Tiến hành rà soát, thu hồi quỹ đất công đã giao cho các doanh nghiệp thuê sử dụng không có hiệu quả để chuẩn bị mặt bằng cho các nhà đầu tư.
- Chủ động xây dựng các chương trình, dự án ưu tiên vận động nguồn viện trợ ODA, ADB, WB,… tăng cường sự phối hợp giữa Mặt trận Tổ quốc Việt nam tỉnh Vĩnh Long với các ngành và tổ chức đoàn thể để tiếp xúc, vận động các nguồn vốn của các tổ chức phi Chính phủ (NGO) và vốn của Việt kiều hỗ trợ đầu tư phát triển xã hội.
3. Tăng cường công tác nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ:
- Căn cứ vào phương hướng, nhiệm vụ và các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội do Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ VIII và kế hoạch trung hạn, dài hạn đã đề ra, trong thời gian tới các đơn vị, cơ sở nghiên cứu khoa học của tỉnh cần tập trung nghiên cứu đưa ra các đề tài khoa học sát với tình hình thực tế của tỉnh, khi nghiệm thu đề tài có thể áp dụng được ngay và mang lại hiệu quả cao.
- Trước mắt cần chú trọng các đề tài nghiên cứu ứng dụng các thành tựu công nghệ sinh học phục vụ sản xuất nông nghiệp, thủy sản, nghiên cứu tuyển chọn các loại giống cây, con có năng suất, chất lượng cao, nhất là ứng dụng công nghệ mới để nâng cao chất lượng các loại giống cây ăn trái, heo, bò, tôm, cá,… để tạo ra các loại giống đặc sản và sản phẩm có tỷ lệ đồng nhất đáp ứng cho nhu cầu sản xuất, cung cấp sản phẩm tiêu dùng và xuất khẩu.
- Hỗ trợ, hướng dẫn các doanh nghiệp thực hiện chuyển giao, đổi mới công nghệ, ứng dụng các thành tựu khoa học, áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng quốc tế (ISO 9000, ISO 14000,…).
- Nghiên cứu thành lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ để tạo nguồn tài chính hỗ trợ cho việc nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và hình thành trung tâm dịch vụ khoa học công nghệ để tư vấn về thị trường công nghệ, ứng dụng các tiến bộ về khoa học, chuyển giao công nghệ cho các doanh nghiệp và nhân dân; nhằm sớm khắc phục tình trạng lạc hậu về công nghệ.
4. Thu hút, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu đầu tư:
- Có chế độ ưu đãi cụ thể đối với những người làm công tác nghiên cứu khoa học, kỹ thuật; văn hóa, giáo dục; những nghệ nhân, lao động có trình độ, tay nghề cao. Hàng năm, tổ chức xét cấp học bổng cho các học sinh, sinh viên, nghiên cứu sinh...có triển vọng; trao thưởng cho các công trình, tác phẩm, ý tưởng xuất sắc.
- Tăng cường phối hợp với các Viện, Trường Đại học ở thành phố Hồ Chí Minh, các Bộ, ngành Trung ương,… trực tiếp tổ chức hoặc tạo điều kiện tham gia học tập các khoá đào tạo, các lớp tập huấn cho các đối tượng nhất là quan tâm hỗ trợ cho các loại hình doanh nghiệp trong việc đào tạo cán bộ, nhân viên điều hành quản trị doanh nghiệp, nghiên cứu thị trường, tiếp thị và giao dịch quốc tế,…
- Nâng cấp, mở rộng các trường và trung tâm dạy nghề trong tỉnh nhằm tăng quy mô, chất lượng đào tạo công nhân kỹ thuật, công nhân lành nghề.
5. Tiếp tục đầu tư hoàn thiện cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội:
- Tiếp tục rà soát điều chỉnh bổ sung quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội ở các huyện, thị xã, quy hoạch các ngành để xác định các lĩnh vực, ngành nghề cần đầu tư.
- Tiếp tục hỗ trợ đầu tư hoàn thành công trình hạ tầng kỹ thuật của các khu công nghiệp, hoàn thành quy hoạch các cụm, tuyến công nghiêp cùng các chính sách nhằm tạo ra quỹ đất sạch hấp dẫn, lôi cuốn nhà đầu tư.
- Đối với các dự án đầu tư ngoài khu công nghiệp khi nhà đầu tư yêu cầu, tỉnh có thể đầu tư công trình hạ tầng kỹ thuật đến vùng dự án nếu xét thấy dự án thuộc lĩnh vực ưu tiên và công trình hạ tầng kỹ thuật đó ngoài phục vụ cho dự án còn phục vụ cho dân cư quanh vùng dự án.
6. Tăng cường cải cách thủ tục hành chính:
- Tập trung đầu mối quản lý, thực hiện cơ chế "một cửa " đối với tất cả các dự án đầu tư, để các dự án nhanh chóng được triển khai thực hiện. Theo đó các dự án đầu tư ngoài khu công nghiệp được tập trung giải quyết theo cơ chế "một cửa" tại Sở Kế hoạch và Đầu tư, các dự án trong khu công nghiệp được tập trung giải quyết tại Ban quản lý các khu công nghiệp. Uỷ ban nhân dân tỉnh là cơ quan có thẩm quyền cao nhất giải quyết các vướng mắc của các doanh nghiệp, các nhà đầu tư trên cơ sở tham mưu đề xuất của các cơ quan chuyên môn.
- Chủ động tinh giản hơn nữa các thủ tục đầu tư, thủ tục đăng ký và cấp giấy chứng nhận đầu tư, đăng ký kinh doanh, thủ tục giao đất, cho thuê đất và cấp quyền sử dụng đất, kê khai tính thuế và nộp thuế, phấn đấu rút ngắn từ 1/3 đến 1/2 thời gian so với quy định của nhà nước .
- Các thủ tục xin đăng ký đầu tư, cấp giấy chứng nhận đầu tư theo Luật Đầu tư chung cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước phải được niêm yết một cách công khai, rõ ràng tại Sở Kế hoạch và Đầu tư, Ban quản lý các khu công nghiệp, các cơ quan, đơn vị, huyện thị có liên quan.
IV. ĐIỀU HÀNH ĐỀ ÁN
1. Phân công trách nhiệm
a) Uỷ ban nhân dân tỉnh: Là cơ quan chủ trì thực hiện Đề án:
- Có trách nhiệm và thẩm quyền giải quyết các vướng mắc của các doanh nghiệp, hộ cá thể sản xuất kinh doanh, các nhà đầu tư theo quy định của pháp luật.
- Trực tiếp điều hành các cơ quan chuyên môn tổ chức thực hiện nhiệm vụ chung và kế hoạch, giải pháp riêng của từng ngành để đảm bảo thu hút được ngày càng nhiều vốn đầu tư cho phát triển kinh tế xã hội.
- Tổng kết đánh giá tình hình thu hút vốn đầu tư, đề xuất với Hội đồng nhân dân tỉnh bổ sung nội dung và các giải pháp (thuộc thẩm quyền của Hội đồng nhân dân tỉnh ) nhằm tháo gở khó khăn để đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư.
b) Ban điều hành đề án:
Do Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định thành lập, có trách nhiệm:
- Theo dõi nắm tình hình, phân tích, đánh giá, tham mưu cho Uỷ ban nhân dân tỉnh xử lý các công việc thường xuyên có liên quan đến lĩnh vực thu hút đầu tư.
- Giúp Uỷ ban nhân dân tỉnh phối hợp điều hành công việc liên quan đến thực hiện thu hút đầu tư giữa các Sở, Ban, Ngành, Cơ quan, Tổ chức liên quan và các Huyện, Thị xã.
- Nghiên cứu đề xuất với Uỷ ban nhân dân tỉnh về các chủ trương, chính sách trong lĩnh vực thu hút đầu tư.
c) Các sở ban ngành tỉnh:
Sở Kế hoạch và Đầu tư:
Là cơ quan tham mưu tổng hợp giúp Uỷ ban nhân dân tỉnh trong việc triển khai, quản lý các chương trình, dự án đầu tư của tất cả các nguồn vốn.
- Thẩm tra, thẩm định trình Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định đầu tư các dự án thuộc tất cả các nguồn vốn theo quy định của Chính phủ, bảo đảm dự án đầu tư đúng hướng theo quy hoạch được duyệt và các mục tiêu ưu tiên đầu tư.
- Đầu mối tập trung trong việc thẩm định cấp giấy chứng nhận đầu tư và giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh theo quy định của Chính phủ.
- Chủ trì các hoạt động xúc tiến thương mại và đầu tư, hoạt động liên kết và quảng bá hình ảnh của tỉnh Vĩnh Long. Phối hợp với Sở Tài chính bố trí, cân đối trình Uỷ ban nhân dân tỉnh phê duyệt vốn đối ứng, vốn lập dự án và vốn cho hoạt động xúc tiến đầu tư.
- Chủ trì Quỹ xúc tiến thương mại và đầu tư, bảo đảm công minh trong việc xét duyệt kinh phí cho các dự án kêu gọi đầu tư và xúc tiến thương mại của các ngành và địa phương. Phối hợp với cơ quan tài chính trong việc cấp phát và quyết toán các hoạt động xúc tiến đầu tư và thương mại.
- Chủ trì trang Web chuyên về xúc tiến thương mại và đầu tư. Phối hợp với các Sở, ban, ngành, các địa phương trong tỉnh xây dựng và tổng hợp các dự án thu hút vốn đầu tư.
Sở Tài chính
- Chịu trách nhiệm quản lý trực tiếp quỹ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ và các quỹ khác. Có trách nhiệm xây dựng phương án thành lập quỹ và phương án huy động, bổ sung vốn cho quỹ.
- Phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư cân đối bố trí vốn trình Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định vốn đối ứng, vốn lập dự án và vốn cho hoạt động xúc tiến đầu tư.
- Chỉ đạo Trung tâm khai thác và phát triển quỹ đất, triển khai nhanh các dự án được duyệt để tạo mới nhiều mặt bằng sạch thu hút các nhà đầu tư đến đầu tư trên địa bàn tỉnh.
- Phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường cùng các ban, ngành, địa phương liên quan xây dựng các phương án bồi thường, tổ chức bồi thường, giải phóng mặt bằng đáp ứng nhu cầu xây dựng cho các dự án. Xây dựng và điều chỉnh đơn giá cho thuê đất cho phù hợp theo từng thời điểm.
- Phối hợp với Cục thuế và các ngành có liên quan đề xuất các giải pháp cụ thể về thuế, phí, lệ phí... để khuyến khích đầu tư.
Sở công nghiệp
- Phối hợp với Ban Quản lý các khu công nghiệp và Uỷ ban nhân dân các huyện, thị xã khẩn trương tiến hành quy hoạch chi tiết các khu công nghiệp, cụm công nghiệp tại các địa phương để tranh thủ thu hút vốn đầu tư, trước hết là tại địa phương.
- Chỉ đạo thực hiện tốt chương trình khuyến công, nhanh chóng phổ biến kỹ thuật mới trong sản xuất công nghiệp, xây dựng mô hình phát triển làng nghề nhằm tích cực huy động nguồn vốn tại chỗ cho đầu tư phát triển.
Ban quản lý các khu công nghiệp
- Tham mưu cho Uỷ ban nhân dân tỉnh về định hướng phát triển, địa điểm xây dựng, quy mô, chức năng của các khu công nghiệp. Đề xuất các chính sách, giải pháp để thu hút vốn đầu tư vào các khu công nghiệp.
- Phối hợp với các Sở, ban, ngành tỉnh triển khai thực hiện các thủ tục quản lý Nhà nước cho các dự án đầu tư vào khu công nghiệp.
Sở Tài nguyên và Môi trường
- Tham mưu cho Uỷ ban nhân dân tỉnh trong việc giải quyết toàn bộ các thủ tục liên quan đến cho thu hồi, thuê đất, giao cấp đất xây dựng đối với các dự án đầu tư.
- Chủ trì tham mưu về quy hoạch sử dụng đất nói chung và đất cho xây dựng nói riêng, thẩm định các quy hoạch chi tiết về đất đai trong đó có đất xây dựng các khu công nghiệp, đất xây dựng công trình hạ tầng kỹ thuật.
- Chủ trì phối hợp với các ngành có liên quan thẩm định báo cáo đánh giá tác động mối trường của các dự án đầu tư. Chủ trì tham mưu cấp giấy phép khai thác tài nguyên và tham gia xây dựng phương án sử dụng nguồn thu thuế tài nguyên cho bảo vệ và tái tạo môi trường.
- Phối hợp với sở Tài chính trong công tác xây dựng đơn giá cho thuê đất, bồi thường và giải phóng mặt bằng.
Sở Xây dựng
- Tham mưu cho Uỷ ban nhân dân tỉnh về quy hoạch đô thị, điểm, tuyến dân cư, dịch vụ địa ốc, chịu trách nhiệm thực hiện quản lý Nhà nước về xây dựng, kiến trúc, chất lượng công trình của các dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh.
- Giải quyết nhanh gọn các thủ tục về thoả thuận địa điểm xây dựng, xác nhận quy hoạch xây dựng và các thủ tục có liên quan đến chức năng nhiệm vụ của ngành cho các nhà đầu tư. Tham mưu đề xuất các giải pháp ưu đãi để thu hút vốn đầu tư vào xây dựng nhà ở, khu đô thị, điểm dân cư...
Sở Khoa học và Công nghệ
- Nghiên cứu trình Uỷ ban nhân dân tỉnh sớm thành lập Quỹ hỗ trợ nghiên cứu và ứng dụng công nghệ để huy động nhiều hơn các nguồn lực cho nghiên cứu và đưa khoa học kỹ thuật vào sản xuất và đời sống xã hội.
- Quản lý và hỗ trợ mạnh mẽ cho việc xây dựng thương hiệu hàng hoá, tiêu chuẩn đo lương - chất lượng sản phẩm trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Chủ trì hướng dẫn doanh nghiệp xây dựng các tiêu chuẩn quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế.
Liên Hiệp các tổ chức hữu nghị:
Tham mưu cho Uỷ ban nhân dân tỉnh trong việc vận động, thu hút vốn của các tổ chức phi Chính phủ (NGO) bảo đảm đầu tư đúng mục tiêu của nhà đầu tư và phù hợp với phong tục tập quán, chế độ chính trị và Luật pháp Việt Nam.
Cục Thuế tỉnh:
Phối hợp với sở Tài chính đề xuất các giải pháp cụ thể theo quy định chung của Luật để khuyến khích đầu tư thuộc lĩnh vực thuế, phí, lệ phí, thưởng phạt...
Cục Thống kê tỉnh:
Thống kê theo định kỳ 6 tháng, năm số liệu về vốn đầu tư phát triển của toàn xã hội trên địa bàn tỉnh, báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh để kịp thời đánh giá tiến độ, hiệu quả của Đề án, rút ra các ưu, nhược điểm và đề ra hướng cho thời gian tiếp theo.
Các Sở, Ban ngành khác:
Trong phạm vi chuyên môn của từng ngành, đề xuất Danh mục dự án và các giải pháp cụ thể để thu hút vốn đầu tư vào lĩnh vực do ngành quản lý. Phối hợp với các Sở, ban, ngành có liên quan đóng góp cho các chính sách, giải pháp nhằm thu hút vốn đầu tư. Tranh thủ động viên, kêu gọi, khuyến khích nhiều vốn về cho tỉnh.
d) Các huyện, thị
- Trên cơ sở chính sách khuyến khích đầu tư của tỉnh, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội địa phương, xây dựng kế hoạch, Danh mục dự án kêu gọi đầu tư cho địa phương.
- Phối hợp chặt chẽ với các ngành giải quyết nhanh gọn các thủ tục về giải phóng mặt bằng, cấp đất, triển khai dự án ... cho các dự án đầu tư. Đơn giản hóa các thủ tục về cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh tạo mọi điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, nhà đầu tư hoạt động có hiệu quả.
đ) Các doanh nghiệp
- Nhanh chóng đưa vốn tự có, vốn tích lũy của doanh nghiệp đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh để một mặt làm lợi cho doanh nghiệp mặt khác góp phần tăng vốn đầu tư cho xã hội.
- Mạnh dạn đầu tư đổi mới công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh trên cơ sở vốn tự có, vốn vay, vốn hợp tác, liên doanh theo nguyên tắc có hiệu quả, đảm bảo tự chủ về tài chính và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật.
- Quảng bá thương hiệu, đăng ký nhãn hiệu hàng hoá và đề ra chiến lược Maketing cho doanh nghiệp.
2. Quy định về phối hợp hoạt động
a) Đầu mối phối hợp thực hiện Đề án
- Sở Kế hoạch và Đầu tư là đầu mối chung về toàn bộ hoạt động đầu tư trên địa bàn tỉnh (Không kể hoạt động đầu tư trong các khu công nghiệp tập trung), theo cơ chế một cửa để tiếp nhận và giải quyết những khó khăn, vướng mắc sau đầu tư và trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Ban Quản lý các Khu Công nghiệp tỉnh là đầu mối chung về toàn bộ hoạt động đầu tư trong các khu công nghiệp tập trung bao gồm tiếp nhận, hoàn thành các thủ tục cho nhà đầu tư theo cơ chế một của. Phối hợp hoạt động với sở Kế hoạch và Đầu tư trong việc kêu gọi xúc tiến đầu tư vào khu công nghiệp và là đầu mối theo cơ chế một của để tiếp nhận và giải quyết những khó khăn, vướng mắc sau đầu tư và trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong các khu công nghiệp tập trung.
b) Phối hợp hành động
- Sau khi tiếp nhận yêu cầu đầu tư và các vấn đề có liên quan của các tổ chức, cá nhân đầu tư trên địa bàn tỉnh, cơ quan chủ trì (Sở Kế hoạch - Đầu tư và Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh) nhanh chóng chuyển cho các cơ quan chuyên môn trực tiếp thực hiện các thủ tục và quy định thời gian hoàn thành. Đến thời hạn theo quy định, chủ trì báo cáo trình Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định.
- Định kỳ 1 năm 1 lần, Uỷ ban nhân dân tỉnh họp với các cơ quan đầu mối, Thủ trưởng các cơ quan, Địa phương có liên quan và mời Thường trực Hội đồng nhân dân, Ban Kinh tế Ngân sách Hội đồng nhân dân để trực tiếp giải quyết các vướng mắc về đầu tư trong năm.
- Cơ quan đầu mối có trách nhiệm tổng hợp những khó khăn vướng mắc trong hoạt động đầu tư trong năm và đề xuất hướng giải quyết báo cáo tại kỳ họp.
- Mọi vấn đề còn vướng mắc với các quy định chung của Trung ương, Uỷ ban nhân dân tỉnh sẽ tổng hợp kiến nghị và đề nghị Hội đồng nhân dân cùng kiến nghị về trên giải quyết.
V. TỔ CHỨC TRIỂN KHAI
1. Đề án này phải được đưa vào kế hoạch, chỉ đạo thực hiện hàng năm của các cấp, các ngành. Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của mình, Giám đốc các sở, Thủ trưởng các cơ quan trực thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các huyện, thị xã tiếp tục cụ thể hoá thành kế hoạch thực hiện chi tiết của ngành, địa phương mình để thực hiện.
2. Giám đốc các sở, Thủ trưởng các cơ quan trực thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các huyện, thị xã rà soát lại chức năng nhiệm vụ của mình. Tăng cường chỉ đạo việc cải cách, đơn giản hoá các thủ tục hành chính theo cơ chế "một cửa", giáo dục và nâng cao nhận thức cho đội ngũ công chức nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tổ chức, cá nhân đầu tư ở tỉnh.
3. Giám đốc các sở, Thủ trưởng các cơ quan trực thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các huyện, thị xã tập trung chỉ đạo, tăng cường công tác kiểm tra, đôn đốc việc triển khai thực hiện các nội dung của Đề án, kịp thời đề xuất các giải pháp và định kỳ hàng năm tổng hợp báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh. Hàng năm tổ chức kiểm điểm đánh giá việc thực hiện đề án.
4. Các Sở, ngành, địa phương được phân công chuẩn bị các nội dung của quy chế phối hợp chủ động xây dựng các nội dung cụ thể báo cáo về Uỷ ban nhân dân tỉnh.
5. Các thành viên Uỷ ban nhân dân tỉnh, theo ngành và lĩnh vực được phân công thường xuyên nhắc nhở, chỉ đạo các ngành mình phụ trách thực hiện tốt các nội dung của Đề án cũng như kế hoạch của ngành đã đề ra./.