|
UBND TỈNH VĨNH LONG Số: 1759/2006/QĐ-UBND |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------------------------- tỉnh Vĩnh Long, ngày 08 tháng 09 năm 2006 |
QUYẾT ĐỊNH
Ban hành Chương trình hành động về bảo vệ môi trường
trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước
___________________________
UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân, ngày 26 tháng 11 năm 2003;
Căn cứ Quyết định số 34/2005/QĐ-TTg, ngày 22 tháng 02 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 41 - NQ/TW, ngày 15 tháng 11 năm 2004 của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước;
Theo đề nghị của Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Vĩnh Long,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Chương trình hành động về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.
Điều 2. Chánh Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh, Thủ trưởng các Sở, ban, ngành tỉnh, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các huyện, thị xã và các đơn vị có liên quan đóng trên địa bàn tỉnh chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.
Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 10 ngày, kể từ ngày ký và được đăng trên Công báo tỉnh./.
TM. UỶ BAN NHÂN DÂN
CHỦ TỊCH
(Đã ký)
Phạm Văn Đấu
CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG
Về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước
(Ban hành kèm theo Quyết định số 1759 /2006/QĐ-UBND,
ngày 8 tháng 9 năm 2006 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long )
______________________
I. ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
Tỉnh Vĩnh Long đang trong thời kỳ đẩy mạnh phát triển công nghiệp và đô thị, kinh tế xã hội của tỉnh phát triển đạt những thành tựu quan trọng về mọi mặt. Đồng thời thực hiện Chỉ thị số 36/CT-TW của Bộ Chính trị, công tác bảo vệ môi trường ngày càng được các ngành, các cấp quan tâm thực hiện và đạt được những kết quả đáng ghi nhận, tạo được tiền đề tốt cho nhiệm vụ bảo vệ môi trường trong thời gian tới. Tổ chức quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường (BVMT) từng bước ổn định, phát triển. Thu gom rác thải sinh hoạt ở các đô thị có chuyển biến tích cực, cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường có nhiều tiến bộ, nhận thức xã hội và ý thức bảo vệ môi trường của các tầng lớp nhân dân và tổ chức trong tỉnh được nâng lên, các phong trào bảo vệ môi trường ngày càng thu hút được sự quan tâm thực hiện của các ngành, các cấp, các đoàn thể và cộng đồng dân cư.
Tuy vậy, nhiệm vụ bảo vệ môi trường vẫn có những hạn chế nhất định. Luật bảo vệ môi trường từng nơi, từng lúc chưa được chấp hành nghiêm; Nhận thức về bảo vệ môi trường của một bộ phận dân cư chưa cao, nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa đầy đủ về công tác bảo vệ môi trường. Các ngành, các cấp vẫn chưa quan tâm đúng mức đến công tác BVMT để phát triển bền vững, thể hiện qua các qui hoạch, kế hoạch phát triển chỉ chú trọng về các chỉ tiêu kinh tế, mà chưa thật sự quan tâm đầu tư hài hòa với nhiệm vụ BVMT. Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường còn nhiều hạn chế, ít về số lượng, năng lực yếu, chưa tương xứng, ngang tầm với nhiệm vụ được giao, việc phân bổ kinh phí cho công tác quản lý, đánh giá diễn biến môi trường còn quá khiêm tốn so với yêu cầu. Đầu tư hạ tầng về bảo vệ môi trường ở các đô thị tuy đã được quan tâm nhưng vẫn hạn chế; thu gom, xử lý chất thải y tế còn bộc lộ những yếu kém. Bảo vệ môi trường tại các doanh nghiệp còn nhiều bất cập. Khai thác tài nguyên cát, sét, nước mặt, nước ngầm vẫn chưa lưu ý đúng mức đến các vấn đề môi trường phát sinh. Nguồn nước mặt trên các sông, rạch chính trong tỉnh bắt đầu có dấu hiệu ô nhiễm, nhất là ở các đô thị. Ô nhiễm không khí cục bộ ở vùng sản xuất còn cao làm ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống dân cư xung quanh.
Nhằm tổ chức thực hiện tốt Nghị quyết số 41-NQ/TW, ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị, Quyết định số 34/2005/QĐ-TTg, ngày 22 tháng 02 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 41-NQ/TW, ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước và Kế hoạch 45-KH/TU ngày 25/02/2005 của Tỉnh uỷ Vĩnh Long về "Bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước", trên cơ sở quán triệt những quan điểm chỉ đạo, các nhiệm vụ chủ yếu và căn cứ vào tình hình thực tế tại tỉnh, Uỷ ban nhân dân tỉnh đề ra chương trình hành động, tập trung vào các mục tiêu và nhiệm vụ chủ yếu sau:
II. MỤC TIÊU
1. Nâng cao nhận thức, ý thức của các tầng lớp trong xã hội về bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.
2. Phát triển Thị xã Vĩnh Long thành Thành phố xanh, sạch, đẹp, văn minh, là địa điểm du lịch sinh thái và đảm bảo sự gắn kết hài hòa giữa phát triển kinh tế, xã hội với bảo vệ môi trường.
3. Ngăn ngừa, hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm. Khắc phục ô nhiễm môi trường, trước hết ở những nơi đã bị ô nhiễm nghiêm trọng, từng bước nâng cao chất lượng môi trường.
4. Bảo vệ và sử dụng hợp lý tài nguyên đất, nước mặt, nước ngầm, cát và bảo vệ sự đa dạng sinh học.
III. NHIỆM VỤ CHỦ YẾU
1. Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, ý thức và trách nhiệm của các tầng lớp trong xã hội về bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.
- Tổ chức học tập, quán triệt các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ của Nghị quyết số 41-NQ/TW của Bộ Chính trị, Quyết định số 34/2005/QĐ-TTg, ngày 22 tháng 02 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 41-NQ/TW, ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước và Kế hoạch 45-KH/TU của Tỉnh uỷ về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và những chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước về bảo vệ môi trường , phát triển bền vững cho cán bộ công chức từ tỉnh đến cơ sở và nhân dân trong tỉnh.
- Đa dạng hóa hình thức tuyên truyền, phổ biến chính sách, chủ trương, pháp luật về môi trường cho các tầng lớp trong xã hội. Các ngành, các cấp cần tăng cường phối hợp trong công tác truyền thông nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường, với các hình thức như tổ chức hội nghị phổ biến, tập huấn, hội thảo, tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng, áp phích, băng rôn, bướm tin, tài liệu tuyên truyền hoặc phát động các phong trào toàn dân tham gia bảo vệ môi trường, xây dựng khu phố, ấp, khóm, thị trấn, xã, phường xanh, sạch , nhân các ngày lễ lớn, ngày tết trồng cây, ngày đất ngập nước thế giới, Tuần lễ quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường (29/4 - 6/5), Ngày đa dạng sinh học (22/5), Ngày môi trường thế giới (5/6) và Chiến dịch làm cho thế giới sạch hơn (tháng 9) được tổ chức hàng năm. Xem công tác truyền thông, giáo dục vận động nhân dân có nhận thức đúng về công tác bảo vệ môi trường là việc làm thường xuyên, liên tục của các cơ quan chức năng.
- Xây dựng và áp dụng các tiêu chí về môi trường trong công tác thi đua khen thưởng; công khai hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường nhằm tạo dư luận xã hội lên án nghiêm khắc đối với những hành vi đó.
- Từng bước lồng ghép giáo dục môi trường trong các trường học. Các cơ sở học đường cần chú trọng giáo dục truyền thống yêu thiên nhiên, nếp sống gần gũi, thân thiện với môi trường nhằm nâng cao nhận thức và ý thức giữ gìn môi trường cho học sinh, sinh viên.
- Tăng cường công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường cho các Công ty, xí nghiệp, doanh nghiệp, cơ sở sản xuất công nghiệp và toàn xã hội nhận thức rõ trách nhiệm , tự giác thực hiện các yêu cầu về bảo vệ môi trường.
2. Gắn kết hài hòa giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo vệ môi trường.
a) Để đảm bảo cho phát triển bền vững thì cần thiết lồng ghép một cách hài hòa giữa ba yếu tố kinh tế - xã hội - môi trường trong quy hoạch, kế hoạch phát triển. Trước hết phải điều tra rà soát, điều chỉnh chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án phát triển của ngành, địa phương chưa đáp ứng các yêu cầu bảo vệ môi trường, phát triển bền vững. Thực hiện đúng các qui định về bảo vệ môi trường trong các khâu lập, thẩm định, phê duyệt và tổ chức thực hiện các chiến lược, qui hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án, đảm bảo vai trò và trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường, các cơ quan, đoàn thể và cộng đồng dân cư có liên quan trong quản lý, giám sát, kiểm tra; đảm bảo tỷ lệ kinh phí thích hợp để thực hiện các yêu cầu bảo vệ môi trường theo qui định trong tổng kinh phí đầu tư của dự án phát triển; thực hiện nghiêm việc đánh giá tác động môi trường đối với các qui hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án phát triển.
b) Nâng cấp và phát triển đô thị:
- Trong công tác quy hoạch, xây dựng các khu đô thị mới hoặc chỉnh trang đô thị, cần đảm bảo bố trí diện tích đất hợp lý cho các nhu cầu về cảnh quan, bảo vệ môi trường như: công viên - cây xanh, hệ thống thu gom, xử lý rác thải, nước thải, nghĩa địa và xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ. Phấn đấu đến năm 2010, Vĩnh Long trở thành thành phố xanh, sạch, đẹp và văn minh.
- Quy hoạch cụ thể diện tích đất trong thị xã Vĩnh Long và các thị trấn để xây dựng công viên cây xanh, phấn đấu đến năm 2010 có 80% đường phố có vỉa hè đạt tiêu chuẩn, có dãy cây xanh phù hợp.
- Phấn đấu đến năm 2010 về cơ bản các cơ sở sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, các cơ sở dịch vụ, trường học, bệnh viện ở thị xã Vĩnh Long và các thị trấn phải được trang bị phương tiện phù hợp để thu gom, xử lý chất thải.
- Đầu tư nạo vét, cải tạo các kênh, rạch trong thị xã và các thị trấn, trước mắt là ở thị xã Vĩnh Long. Phấn đấu đến năm 2010 di dời cơ bản các khu nhà sàn ven sông, rạch vào khu dân cư quy hoạch, không còn cầu vệ sinh trên sông, rạch.
- Nâng cấp và từng bước xây dựng hoàn chỉnh hệ thống thu gom và xử lý nước thải đô thị, trước mắt là xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung cho các phường chính trong thị xã Vĩnh Long. Có kế hoạch xây dựng các dự án phấn đấu đến năm 2010 có 40 - 60% lưu lượng (hoặc tải lượng ô nhiễm) nước thải sinh hoạt ở thị xã Vĩnh Long được xử lý đạt tiêu chuẩn Việt Nam, tiến tới khống chế ô nhiễm do nước thải công nghiệp, dịch vụ, nước thải sinh hoạt gây ra cho nguồn nước, chấm dứt việc xả nước thải vào hệ thống cống rồi thải trực tiếp ra kênh, rạch.
- Kiên quyết không cấp giấy phép kinh doanh, đình chỉ hoạt động hoặc buộc di dời các cơ sở sản xuất - kinh doanh gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng trong khu dân cư mà không có giải pháp khắc phục hiệu quả.
- Tăng cường đầu tư và nâng cao năng lực cho Công ty Công trình công cộng thu gom, xử lý rác. Xây dựng và áp dụng các chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia thu gom và xử lý rác thải đô thị. Bố trí đầy đủ các công trình vệ sinh nơi công cộng, tại các chợ, phương tiện đựng rác ở những nơi đông người qua lại và xử lý nghiêm các hành vi gây ô nhiễm môi trường nơi công cộng.
- Có chính sách - kế hoạch kiểm soát, phát triển các phương tiện giao thông trong đô thị hợp lý; Hướng dẫn và tăng cường kiểm tra việc thực hiện các biện pháp giảm khí độc, khói, bụi thải, tiếng ồn… từ các phương tiện giao thông, đảm bảo môi trường không khí trong đô thị đạt tiêu chuẩn môi trường quy định.
c) Phát triển nông nghiệp, nông thôn:
- Coi trọng và đảm bảo ngay từ đầu các yêu cầu về bảo vệ môi trường trong quá trình xây dựng thẩm duyệt và thực hiện các dự án quy hoạch đô thị hóa nông thôn, các cụm, tuyến dân cư nông thôn, các dự án phát triển nông nghiệp, thủy lợi, công nghiệp, giao thông nông thôn.
- Tăng cường kiểm soát việc kinh doanh, tồn trữ và sử dụng hóa chất trong sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản theo quy định của nhà nước, hướng dẫn sử dụng hợp lý phân bón, thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp. Khuyến khích mở rộng các mô hình canh tác hữu cơ, sản xuất nông phẩm sạch, đẩy mạnh việc áp dụng các mô hình lúa-cá, lúa-tôm, vườn ao chuồng, vườn ao chuồng biogaz, các giải pháp IPM trong sản xuất nông nghiệp, đảm bảo cung cấp thực phẩm an toàn cho thị trường trong nước và xuất khẩu; Thu gom và xử lý hợp vệ sinh đối với các loại bao bì chứa đựng hóa chất sau khi sử dụng.
- Nghiêm cấm triệt để việc săn bắt chim, thú trong danh mục cần bảo vệ. Ngăn chặn và xử lý nghiêm các trường hợp sử dụng phương tiện đánh bắt có tính hủy diệt nguồn lợi thủy sản.
- Đẩy mạnh nghiên cứu và triển khai các công nghệ phù hợp để thu gom và tái sử dụng chất thải chăn nuôi, chất thải từ sản xuất nông nghiệp. Khắc phục cơ bản tình trạng ô nhiễm môi trường ở các ngành nghề truyền thống, các cơ sở công nghiệp, dịch vụ ở nông thôn.
- Phát triển các hình thức cung cấp nước sạch thông qua việc xây dựng cơ chế khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư hệ thống cấp nước quy mô vừa và nhỏ nhằm giải quyết cơ bản nước sinh hoạt cho nhân dân nông thôn. Tuyên truyền và hướng dẫn nhân dân bảo vệ nguồn nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất. Quản lý chặt chẽ việc khai thác tài nguyên nước ngầm.
- Xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư gắn với phong trào xây dựng "ba công trình vệ sinh" của từng hộ gia đình; hướng dẫn nhân dân các giải pháp thu gom và xử lý rác thải ở nông thôn.
d) Sử dụng hợp lý và hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên:
- Tiến hành điều tra cơ bản, đánh giá hiện trạng và quy hoạch quản lý, bảo vệ hiệu quả tài nguyên: đất, nước, cát san lấp, sét, động vật, thực vật và các dạng tài nguyên khác thông qua các đề tài, dự án điều tra cơ bản.
- Xây dựng kế hoạch, dự án khai thác, sử dụng hợp lý, hiệu quả các loại tài nguyên của tỉnh theo hướng bền vững.
3. Tăng cường công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường.
- Tiếp tục kiện toàn và tăng cường năng lực tổ chức bộ máy, chất lượng cán bộ, đầu tư trang thiết bị công tác tương xứng, ngang tầm nhiệm vụ được giao, đảm bảo thực hiện có hiệu quả công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường từ tỉnh đến huyện, thị xã và xã, phường, thị trấn. Xác định rõ trách nhiệm và phân công, phân cấp hợp lý nhiệm vụ bảo vệ môi trường giữa các ngành, các cấp theo qui định của pháp luật.
- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, khai thác, sử dụng tài nguyên có gây ảnh hưởng đến môi trường; Áp dụng các chế tài cần thiết để xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường và khai thác tài nguyên.
- Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, đặc biệt là hệ thống thông tin địa lý (GIS) nhằm thu thập, phân tích, đánh giá diễn biến hiện trạng môi trường phục vụ công tác quản lý, khai thác tài nguyên môi trường và phục vụ qui hoạch phát triển kinh tế - xã hội theo hướng bền vững.
4. Tăng cường nguồn lực tài chính, đẩy mạnh áp dụng các biện pháp kinh tế, tạo sự chuyển biến cơ bản trong đầu tư bảo vệ môi trường.
- Từng bước áp dụng các biện pháp kinh tế trong quản lý môi trường theo nguyên tắc “người gây ô nhiễm đối với môi trường phải trả chi phí khắc phục, bồi thường”, lấy nguyên tắc phòng ngừa, hạn chế ô nhiễm là chính, kiên quyết không phê duyệt, cấp kinh phí, giải ngân, cho vay, quyết toán, nghiệm thu.v.v…các công trình, dự án đầu tư chưa lập và thực hiện báo cáo đánh giá tác động môi trường. Trong năm 2006 tiến hành lập quỹ bảo vệ môi trường cấp tỉnh, triển khai việc thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, khai thác tài nguyên và ký quỹ bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật.
- Đa dạng hóa các nguồn đầu tư cho bảo vệ môi trường, lồng ghép đầu tư bảo vệ môi trường vào các chương trình mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. Bên cạnh đó, dành mục chi riêng trong ngân sách nhà nước cho hoạt động sự nghiệp môi trường, bảo đảm đến cuối năm 2006 đạt mức chi không dưới 1% tổng chi ngân sách tỉnh và tăng dần tỷ lệ này theo tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế.
- Từ nay đến 2010, chú trọng ưu tiên nguồn kinh phí đầu tư cho các dự án bảo vệ môi trường mang tính cấp thiết như: Dự án điều tra cơ bản hiện trạng các nguồn tài nguyên của tỉnh; Dự án xây dựng hệ thống thu gom và xử lý rác thải, nước thải đô thị, rác thải và nước thải y tế,...
- Phát triển các tổ chức tài chính, tín dụng về môi trường, quỹ bảo vệ môi trường nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn kinh phí đầu tư bảo vệ môi trường; áp dụng các chính sách, cơ chế hỗ trợ vốn, ưu đãi, khuyến khích về thuế, các biện pháp trợ giá đối với hoạt động bảo vệ môi trường.
- Xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích các tổ chức và cá nhân trong nước và ngoài nước đầu tư bảo vệ môi trường, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn kinh phí bảo vệ môi trường. Tranh thủ các nguồn kinh phí viện trợ của nước ngoài, các tổ chức phi chính phủ thông qua các Dự án, tăng tỉ lệ đầu tư cho bảo vệ môi trường trong nguồn kinh phí hỗ trợ phát triển (ODA).
5. Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, ứng dụng và chuyển giao công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực về bảo vệ môi trường.
- Từ nay đến 2010, tập trung công tác điều tra cơ bản các thành phần môi trường, trước mắt cần điều tra nguồn tài nguyên nước mặt, nước ngầm, cát sông, đất sét qua đó đánh giá hiện trạng qui hoạch và đề xuất các giải pháp quản lý, sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên này phục vụ cho tiến trình phát triển.
- Thường xuyên quan trắc, lập báo cáo hiện trạng môi trường, dự báo, đánh giá diễn biến môi trường trong quá trình phát triển của tỉnh. Đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý tài nguyên môi trường. Nghiên cứu, đánh giá hiện trạng tài nguyên nước mặt, nước ngầm và các dạng tài nguyên khác, để từ đó đề xuất giải pháp quản lý hợp lý tài nguyên phục vụ phát triển kinh tế xã hội của tỉnh.
- Tăng cường nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ môi trường, công nghệ sản xuất sạch, thân thiện với môi trường; Phát triển công nghệ xử lý và tái chế, tái sử dụng chất thải; Xây dựng và nhân rộng các mô hình năng suất-chất lượng; Nghiên cứu, áp dụng sản xuất sạch hơn vào các loại hình sản xuất trọng điểm của tỉnh.
- Nhanh chóng hình thành và phát triển ngành công nghiệp môi trường.
- Đẩy mạnh đào tạo năng lực chuyên môn và nghiệp vụ quản lý cho cán bộ công tác trong lĩnh vực môi trường ngang tầm với nhiệm vụ được giao và tốc độ phát triển của nền kinh tế.
6. Xã hội hóa hoạt động bảo vệ môi trường.
- Xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích tổ chức, cá nhân và cộng đồng tham gia công tác bảo vệ môi trường, chú trọng xây dựng và thực hiện các qui định về bảo vệ môi trường, các mô hình tự quản về môi trường. Khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia các dịch vụ cung cấp nước sạch, thu gom, xử lý rác thải, nước thải đô thị và chất thải y tế.
- Từng bước hình thành các loại hình tổ chức đánh giá, tư vấn, giám định, công nhận, chứng nhận về bảo vệ môi trường.
- Đề cao trách nhiệm, tăng cường sự phối hợp, tham gia của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp xây dựng chương trình, kế hoạch hành động bảo vệ môi trường, lồng ghép vào cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư – xây dựng nếp sống văn minh nơi công cộng. Xây dựng các tiêu chí về bảo vệ môi trường thành những chỉ tiêu cụ thể, đưa vào chấm điểm, bình xét, công nhận cá nhân, gia đình, cơ quan, ấp, khóm, xã, phường, thị trấn văn hóa.
- Phát động mạnh các phong trào quần chúng tham gia bảo vệ môi trường như các phong trào trồng cây xanh, phong trào làm vệ sinh nơi công cộng, khu dân cư tập trung, khai thông cống rãnh,... nhân các sự kiện môi trường trong năm và các dịp lễ, tết cổ truyền. Hàng năm có sơ kết, đánh giá và khen thưởng các tổ chức, cá nhân thực hiện tốt các phong trào.
- Khuyến khích các hoạt động tận dụng, tái sử dụng chất thải tại cơ quan, gia đình và đặc biệt là ở các cơ sở sản xuất công nghiệp trong tỉnh.
7. Tăng cường hợp tác về bảo vệ môi trường.
Ưu tiên mở rộng quan hệ hợp tác về BVMT trong phạm vi vùng đồng bằng sông Cửu Long và thành phố Hồ Chí Minh dưới hình thức thiết lập các chương trình, dự án liên tỉnh về quản lý lưu vực sông, khai thác tài nguyên. Cần chú ý mở rộng mối quan hệ hợp tác với các tổ chức Chính phủ, phi Chính phủ, công ty và cá nhân ở trong ngoài nước để tận dụng nguồn lực về tài chính và kiến thức trong bảo vệ môi trường.
IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Đề nghị Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Vĩnh Long và các tổ chức thành thành viên, các tổ chức đoàn thể trong tỉnh xây dựng các chương trình, kế hoạch phối hợp hành động BVMT, cụ thể hóa các nhiệm vụ BVMT thành tiêu chí, lồng ghép vào cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở và các phong trào hoạt động đoàn thể, phát động thành phong trào toàn dân tham gia bảo vệ môi trường.
2. Các Sở, ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh, Uỷ ban nhân dân các huyện, thị xã, các tổ chức kinh tế hợp tác, trang trại và các doanh nghiệp trong tỉnh có trách nhiệm.
- Nghiên cứu, quán triệt các nội dung của Nghị quyết số 41-NQ/TW, Quyết định số 34/2005/QĐ-TTg, Kế hoạch 45-KH/TU và Chương trình hành động này, trong quí II năm 2006 ban hành chương trình, kế hoạch hành động, các đề án ưu tiên của Sở, ngành, địa phương; cụ thể hoá các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ môi trường trong xây dựng các kế hoạch hằng năm, kế hoạch 5 năm của Sở, ban, ngành địa phương.
- Uỷ ban nhân dân huyện, thị xã chịu trách nhiệm triển khai chương trình hành động này ở địa phương; phối hợp với các Sở, ban, ngành liên quan thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường theo qui định của pháp luật.
- Uỷ ban nhân dân các cấp ở địa phương trình Hội đồng nhân dân cùng cấp phân bổ, bố trí ngân sách nhà nước cho hoạt động BVMT bảo đảm phù hợp với yêu cầu thực tế tại địa phương, phù hợp với định hướng, mục tiêu, nhiệm vụ chung đã được xác định tại nghị quyết.
Cuối năm tổng kết kết quả thực hiện chương trình hành động trong báo cáo tổng kết công tác năm của cơ quan, đơn vị, địa phương gởi về Sở Tài nguyên và Môi trường tổng hợp báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh và Bộ Tài nguyên và Môi trường.
3. Trong năm 2006, Sở Nội vụ chủ trì phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường đến cấp huyện, xã. Tổ chức phân cấp, phân công, tăng cường năng lực quản lý BVMT giữa các ngành, các cấp theo đúng qui định.
4. Sở Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường tổ chức rà soát, bổ sung các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án đầu tư theo hướng phát triển bền vững, đảm bảo gắn kết hài hòa giữa phát triển kinh tế - xã hội với BVMT; Đề suất kế hoạch đầu tư cho các chương trình, dự án bảo vệ môi trường, các dự án điều tra cơ bản về tài nguyên - môi trường hằng năm.
5. Sở Tài chính phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Kế hoạch và Đầu tư đề xuất chủ trương, biện pháp để đảm bảo bố trí 1% tổng chi ngân sách tỉnh cho hoạt động sự nghiệp môi trường vào năm 2006 và tăng dần hàng năm theo tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh. Đề suất áp dụng các biện pháp kinh tế trong quản lý môi trường đạt hiệu quả.
6. Sở Tư pháp phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường và các ngành liên quan tham mưu Uỷ ban nhân dân tỉnh, Hội đồng nhân dân tỉnh xem xét, ban hành, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật về môi trường của tỉnh phù hợp với Luật bảo vệ môi trường sửa đổi, đồng thời đẩy mạnh việc tuyên truyền pháp luật bảo vệ môi trường đến các tầng lớp nhân dân trong xã hội.
7. Sở Công an chủ trì, phối hợp Sở Tài nguyên và Môi trường đề suất biện pháp tăng cường, chức năng, nhiệm vụ của ngành Công an trong việc thi hành pháp luật về bảo vệ môi trường, tăng cường nhiệm vụ phát hiện, xử lý các vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường.
8. Sở Công nghiệp chủ trì xây dựng giải pháp phòng chống ô nhiễm môi trường, áp dụng sản xuất sạch hơn trong sản xuất công nghiệp. Xây dựng kế hoạch đến 2010, đảm bảo xử lý triệt để các cơ sở công nghiệp gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, nằm xen kẻ trong khu dân cư.
9. Ban Quản lý các Khu Công nghiệp Vĩnh Long chịu trách nhiệm quản lý môi trường các khu công nghiệp theo quy chế bảo vệ môi trường khu công nghiệp.
10. Sở Giao thông Vận tải đề suất chính sách kế hoạch kiểm soát phát triển giao thông thủy bộ hợp lý, hướng dẫn và tăng cường thanh, kiểm tra việc thực hiện các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm do hoạt động giao thông vận tải trong tỉnh.
11. Sở Khoa học và Công nghệ, chủ trì hàng năm phối hợp với Sở, Ngành, các Viện, Trường, các nhà khoa học xem xét,ưu tiên tuyển chọn các đề tài, dự án nghiên cứu về môi trường; ứng dụng và chuyển giao các công nghệ sản xuất thân thiện với môi trường. Nghiên cứu, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý tài nguyên môi trường; Nghiên cứu, điều tra cơ bản, đánh giá hiện trạng tài nguyên nước mặt, nước ngầm và các dạng tài nguyên khác, từ đó đề xuất giải pháp quản lý hiệu quả các nguồn tài nguyên phục vụ phát triển kinh tế xã hội của tỉnh bền vững.
12. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tăng cường nhiệm vụ quản lý bảo vệ môi trường chuyên ngành nông nghiệp, nông thôn; đẩy mạnh công tác bảo vệ nguồn lợi thủy sản, bảo tồn sự đa dạng sinh học trong nông nghiệp; hướng dẫn và tăng cường kiểm tra việc thực hiện bảo vệ môi trường ở các công trình thủy lợi, cơ sở nuôi thủy sản, các cơ sở chăn nuôi tập trung, các trang trại, các cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm và quản lý việc vận chuyển, kinh doanh , sử dụng thuốc bảo vệ thực vật theo đúng qui định của pháp luật.
13. Sở Xây dựng chủ trì hướng dẫn thống nhất việc qui hoạch đô thị, tổ chức thực hiện các quy định quản lý đô thị, qui hoạch cơ sở hạ tầng bảo vệ môi trường đô thị; chủ trì xây dựng và thực hiện các dự án đầu tư xây dựng hệ thống thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt, nước thải đô thị trong tỉnh . Tăng cường quản lý môi trường trong các công trình xây dựng theo quy định của nhà nước.
14. Sở Y tế thực hiện nhiệm vụ hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện công tác phòng dịch và vệ sinh môi trường ,chủ trì xây dựng và thực hiện dự án đầu tư xây dựng hệ thống thu gom, xử lý chất thải y tế trong toàn tỉnh .Triển khai thực hiện tốt quy chế quản lý chất thải y tế, kiểm tra giám sát việc vận chuyển, tiêu hủy chất thải y tế trong tỉnh.
15. Sở Giáo dục thực hiện nhiệm vụ lồng ghép giáo dục ý thức bảo vệ môi trường trong các trường học, nâng cao nhận thức và ý thức yêu thiên nhiên, giử gìn vệ sinh, môi trường cho Học sinh từ lứa tuổi học đường.
16. Sở Văn hóa Thông tin và các cơ quan thông tin có kế hoạch thường xuyên tuyên truyền nâng cao nhận thức về công tác bảo vệ môi trường trong quần chúng nhân dân, cộng đồng xã hội.
17. Sở Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm:
- Chủ trì, tổ chức triển khai chương trình hành động này trên địa bàn toàn tỉnh.
- Tổ chức, hướng dẫn các Sở, ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh, Uỷ ban nhân dân huyện, thị xã, các tổ chức kinh tế hợp tác, trang trại và doanh nghiệp trong xây dựng kế hoạch thực hiện, đồng thời theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện chương trình này. Hàng năm tổ chức đánh giá kết quả thực hiện Chương trình, tổng hợp báo cáo về Tỉnh ủy, Uỷ ban nhân dân tỉnh và Bộ Tài nguyên và Môi trường.
- Phối hợp với các Sở, ngành liên quan xây dựng Chiến lược bảo vệ môi trường tỉnh Vĩnh Long đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020; xây dựng và đề xuất các cơ chế, chính sách khuyến khích xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường; Hoàn chỉnh thủ tục cần thiết để thành lập quỹ bảo vệ môi trường cấp tỉnh, các quy định sử dụng quỹ bảo vệ môi trường; Xây dựng cơ chế, chính sách hỗ trợ về vốn, khuyến khích về thuế và trợ giá đối với các hoạt động bảo vệ môi trường trình Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành.
- Phối hợp với các Sở, ngành xây dựng và nhân rộng các mô hình năng suất-chất lượng, mô hình sản xuất nông nghiệp sạch và áp dụng sản xuất sạch hơn vào các loại hình công nghiệp trọng điểm của tỉnh.
- Phối hợp với Sở, ngành chuyên môn lập dự án xây dựng hệ thống thu gom, xử lý rác thải, nước thải đô thị, y tế để bảo đảm cho việc tổ chức thực hiện chương trình này có hiệu quả.
Trong quá trình triển khai thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc phát sinh, đề nghị các Sở, ban, ngành tỉnh, Uỷ ban nhân dân các huyện, thị xã bàn bạc thống nhất với các ngành chức năng báo cáo kịp thời về Uỷ ban nhân dân tỉnh để xem xét, giải quyết./.