|
UBND THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG Số: 178/2005/QĐ-UBND |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------------------------- thành phố Đà Nẵng, ngày 22 tháng 12 năm 2005 |
QUYẾT ĐỊNH
Ban hành Đề án củng cố và nâng cao chất lượng các cơ sở dạy nghề
trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đến năm 2010
____________________
ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ngày 26 tháng 11 năm 2003;
Căn cứ Quyết định số 201/2001/QĐ-TTg ngày 28 tháng 12 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010;
Căn cứ Quyết định số 48/2002/QĐ-TTg ngày 11 tháng 4 năm 2002 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Quy hoạch mạng lưới trường dạy nghề giai đoạn 2002-2010;
Theo đề nghị của Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội,
QUYẾT ĐỊNH :
Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Đề án củng cố và nâng cao chất lượng các cơ sở dạy nghề trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đến năm 2010.
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực sau 10 ngày, kể từ ngày ký.
Điều 3. Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân thành phố, Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị, các tổ chức và cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.
TM. ỦY BAN NHÂN DÂN
CHỦ TỊCH
(Đã ký)
Hoàng Tuấn Anh
ĐỀ ÁN
Củng cố và nâng cao chất lượng các cơ sở dạy nghề
trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đến năm 2010
(Ban hành kèm theo Quyết định số 178/2005/QĐ-UBND
ngày 22 tháng 12 năm 2005 của Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng)
__________________________
Những năm gần đây, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, sự nghiệp dạy nghề đã được phục hồi và phát triển song vẫn còn nhiều bất cập. Mạng lưới các trường, trung tâm dạy nghề (sau đây gọi chung là cơ sở dạy nghề) phát triển nhanh, nhưng phân bố không đều, mất cân đối về quy mô đầu tư, ngành nghề đào tạo; trình độ đội ngũ giáo viên còn hạn chế, kỹ năng nghề của học sinh sau khi tốt nghiệp chưa đáp ứng được yêu cầu thị trường lao động.
Nhằm khắc phục các tồn tại nêu trên, đảm bảo nguồn nhân lực có trình độ kỹ thuật, tay nghề cao đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành phố trong giai đoạn mới, Ủy ban nhân dân thành phố ban hành Đề án củng cố và nâng cao chất lượng các cơ sở dạy nghề trên địa bàn thành phố đến năm 2010.
Phần I
THỰC TRẠNG
Quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa không ngừng phát triển, đòi hỏi nguồn nhân lực rất lớn, đặc biệt là nhân lực có trình độ kỹ thuật và tay nghề cao. Song số lượng cũng như chất lượng lao động có nghề vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của người tuyển dụng. Hệ thống các cơ sở dạy nghề phát triển nhanh, nhưng rất manh mún, năng lực các cơ sở dạy nghề trên địa bàn còn yếu. Bên cạnh đó, người dân chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc học nghề, có xu hướng muốn học ở các trường đại học, cao đẳng hay trung học chuyên nghiệp. Trong khi rất nhiều người tốt nghiệp đại học trở lên khó tìm được việc làm phù hợp, thì lao động có nghề không đủ cung ứng cho thị trường lao động. Sự mất cân đối về nguồn nhân lực trở nên vấn đề bức xúc.
I. Những kết quả đạt được
1. Phát triển cơ sở dạy nghề
Cơ sở dạy nghề phát triển nhanh, từ năm 2000 có 21 cơ sở dạy nghề đến năm 2005 đã có 53 cơ sở đăng ký hoạt động dạy nghề (xem phụ lục 1), với tổng diện tích là 335.432m2, trong đó các cơ sở dạy nghề trung ương có tổng diện tích 277.815m2 chiếm 67,9%, các cơ sở dạy nghề thuộc địa phương có tổng diện tích 57.617m2. Đội ngũ giáo viên từ 469 người năm 2000 tăng lên 717 người năm 2005, trong đó giáo viên có trình độ cao đẳng trở lên chiếm 84,1%. Bình quân có 19,5 học sinh/giáo viên (Bộ Lao động - Thương binh và xã hội quy định mức chuẩn là 15 học sinh/giáo viên).
a) Cơ sở dạy nghề thuộc các Bộ, ngành Trung ương, các tổng công ty, các chi nhánh công ty có trụ sở chính ở địa phương khác có đăng ký và được cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động dạy nghề (gọi chung là cơ sở dạy nghề Trung ương) hiện có 16 đơn vị, bao gồm :
- Trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, trường dạy nghề (gọi chung là trường dạy nghề) hiện có 11 đơn vị, trong đó có 5 trường dạy nghề, 01 phân hiệu trường dạy nghề, 3 trường cao đẳng, 01 trường trung học chuyên nghiệp, 01 trung tâm thuộc Đại học Đà Nẵng.
- Trung tâm dạy nghề, trung tâm khác, doanh nghiệp có đăng ký và được cấp giấy chứng nhận hoạt động dạy nghề (gọi chung là trung tâm dạy nghề) hiện có 5 trung tâm.
b) Cơ sở dạy nghề thuộc địa phương (thuộc các sở, ngành, Ủy ban nhân dân quận, huyện, các doanh nghiệp địa phương) có đăng ký và được cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động dạy nghề gồm 37 đơn vị, trong đó :
- Trường dạy nghề có 8 đơn vị (01 công lập, 07 ngoài công lập).
- Trung tâm dạy nghề có 29 đơn vị (17 công lập, 12 ngoài công lập).
Trong tổng số 53 cơ sở dạy nghề được cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động dạy nghề chỉ có 25 cơ sở có hoạt động chính là dạy nghề. Đối với 28 cơ sở còn lại, dạy nghề chỉ là chức năng phụ. Hiện có 01 trường và 05 trung tâm dạy nghề đang gặp khó khăn về mặt bằng, nhân sự, vốn nên ngừng hoạt động cần xem xét củng cố.
Thông qua chính sách xã hội hóa dạy nghề, cơ sở dạy nghề ngày càng phát triển và mở rộng. Trước năm 2000 chỉ có 3 cơ sở dạy nghề ngoài công lập, đến nay đã có 20 cơ sở. Bên cạnh đó, trước năm 2000 chưa có doanh nghiệp tham gia đào tạo nghề thì nay có 11 doanh nghiệp đăng ký tham gia dạy nghề, chưa kể các doanh nghiệp được ủy ban nhân dân thành phố giao tiếp nhận lao động phổ thông để đào tạo tại doanh nghiệp và bố trí việc làm. Sự phát triển cơ sở dạy nghề đã đưa quy mô đào tạo nghề từ 17.000 học sinh/năm lên 32.000 học sinh/năm.
2. Tuyển sinh đào tạo nghề
Từ năm 2001 đến nay, học sinh học nghề không những tăng về số lượng mà chất lượng đầu vào cũng tăng (xem phụ lục 3). Bên cạnh việc xét tuyển, gần đây nhiều trường dạy nghề tổ chức thi tuyển đầu vào. Chất lượng đầu vào của học sinh học nghề được nâng lên do nhận thức xã hội chuyển biến, do số cơ sở dạy nghề, số ngành nghề không ngừng được đầu tư mở rộng, ngân sách nhà nưổc hỗ trợ học nghề cho các đôi tượng chính sách xã hội tăng lên, tạo thuận lợi cho học sinh chọn trường, chọn nghề để học...
3. Chất lượng đào tạo nghề
Năm 2000 đến nay, tỷ lệ người lao động qua đào tạo tăng từ 25,36% lên 35%. Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp nghề dài hạn bình quân qua 5 năm (2000-2004) đạt loại giỏi 4,5- 5%, loại khá 25-27%, còn lại trên dưới 70% tốt nghiệp loại trung bình. Trong khi đó xếp loại đạo đức tốt từ 57,5 - 59,5%, trung bình từ 7,2-9,4%. Điều đó cho thấy chất lượng đào tạo nghề tuy có được nâng lên nhưng còn chậm, hơn 2/3 học sinh tốt nghiệp loại trung bình cho thấy kỹ năng nghề nghiệp còn thấp, chất lượng đào tạo chưa cao.
4. Việc làm sau đào tạo nghề
Giải quyết việc làm sau đào tạo là một trong những vấn đề rất khó trong cơ chế thị trường hiện nay. Trong thời gian qua hầu hết các cơ sở dạy nghề không có được hợp đồng đào tạo, bởi các doanh nghiệp muốn tuyển dụng lao động qua đào tạo có sẩn trên thị trường chứ không bỏ vốn đầu tư đào tạo lao động kỹ thuật theo đơn đặt hàng. Theo số liệu thống kê qua 4 lần tổ chức Hội chợ việc làm ở thành phố từ năm 2000 đến nay, bình quân hàng năm có đến 72,5% chỗ việc làm cần tuyển tại hội chợ là lao động kỹ thuật, hơn 21% là lao động phổ thông, chỉ có 6,5% là nhu câu tuyển kỹ sư, cử nhân, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp. Trong khi đó, trên 70% lao động đến với Hội chợ việc làm là người có bằng trung học chuyên nghiệp trở lên. Kết quả điều tra của các trường dạy nghề trên địa bàn trong năm 2003 và 2004 cho thây 77,79% thợ bậc 3/7 nghề cơ khí, điện, xây dựng, giao thông sau khi tốt nghiệp ra trường đã tìm được việc làm phù hợp ngay trong năm đầu, trên 94% thợ học nghề ngắn hạn như may công nghiệp, hàn, gò, điện dân dụng, sửa chữa ô tô, mô tô... tốt nghiệp ra trường có việc làm phù hợp nghề đào tạo.
II. Những tồn tại
Việc phát triển các cơ sở dạy nghề và hoạt động dạy nghề trong những năm qua còn nhiều bất cập, cụ thể như sau :
1. Mạng lưới dạy nghề trên địa bàn hình thành khá lâu và phát triển nhanh trong giai đoạn 1998-2002. Trong giai đoạn này, quy hoạch mạng lưới dạy nghề chưa định hình nên việc phát triển cơ sở dạy nghề còn mang tính tự phát dẫn đến mất cân đôi về ngành nghề đào tạo (xem phụ lục 1), về địa bàn đào tạo (xem phụ lục 2). Chưa chú trọng đầu tư đào tạo các ngành tự động hóa, cơ điện tử, công nghệ sinh học, chế biến thực phẩm, hàng tiêu dùng cao cấp...
2. Đầu tư của Nhà nước cũng như các thành phần kinh tế trong lĩnh vực dạy nghề vẫn còn quá ít, chưa tương xứng với nhu cầu phát triển sự nghiệp dạy nghề.
Ngoài dự án giáo dục kỹ thuật và dạy nghề đầu tư cho trường Kỹ thuật - kinh tế Đà Nẵng, Chương trình mục tiêu quốc gia đầu tư cho trung tâm dạy nghề Hòa Vang và một vài trung tâm dạy nghề công lập hàng năm khoảng 1 tỉ đồng. Mức đầu tư này trong 3 năm qua đã giúp một số cơ sở dạy nghề hình thành được trang thiết bị phục vụ thực hành. Tuy nhiên với nguồn kinh phí quá ít, hầu hết các trung tâm dạy nghề đều không có thiết bị dạy nghề đồng bộ. Các cơ sở dạy nghề ngoài công lập hầu như không tìm được nguồn tài trợ, chưa mạnh dạn đầu tư trang thiết bị dạy nghề tiên tiến.
3. Chất lượng đào tạo những năm gần đây có nâng lên, song vẫn chưa đáp ứng yêu cầu của người học cũng như người tuyển dụng. Chương trình đào tạo thiếu sự thông nhất, chủ yếu vận dụng các bộ chương trình cũ ; cấp trình độ đào tạo thiếu thống nhất, danh mục nghề đào tạo chậm xác định.
4. Các cơ sở dạy nghề trung ương (chủ yếu đóng trên địa bàn quận Liên Chiểu) có tiềm lực mạnh nhưng đào tạo theo sự phân bổ chỉ tiêu của Nhà nước, phạm vi tuyển sinh rộng và đào tạo tập trung cho các chuyên ngành về bưu điện, đường sắt, giao thông, xây dựng... nên không đảm bảo cung ứng lao động kỹ thuật có nghề phù hợp cho các doanh nghiệp hoạt động trong các khu công nghiệp trên địa bàn thành phố.
5. Nhận thức của người dân về nghề nghiệp có chuyển biến song tâm lý khoa cử, bằng cấp vẫn còn in đậm. Do đó công tác tuyển sinh đào tạo nghề còn nhiều khó khăn, một số trường thường tuyển không đủ chỉ tiêu như trường công nhân kỹ thuật xây dựng, trường Nghiệp vụ đường bộ 5, trường Công kỹ nghệ Đà Nẵng.
6. Các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố còn thụ động chờ nguồn lao động kỹ thuật từ các cơ sở đào tạo, chưa chủ động đào tạo lao động hoặc tiếp nhận học sinh thực tập.
Phần II
PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP
I. Phương hướng
Phương hướng phát triển dạy nghề đến năm 2010 được xác định như sau :
1. Dạy nghề phải bám sát các mục tiêu của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội; góp phần giải quyết việc làm, tự tạo việc làm cho người lao động; góp phần giảm nghèo; đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường lao động. Chuyển hướng mạnh mẽ đào tạo từ định hướng cung sang định hướng cầu của thị trường lao động. Tạo cơ hội cho mọi người được học tập thường xuyên.
2. Hình thành và phát triển hệ thống dạy nghề với nhiều cấp trình độ. Chú trọng đào tạo trình độ cao.
3. Mở rộng quy mô đi đôi với đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo theo phương châm chuẩn hóa, hiện đại hóa; xây dựng hệ thông trường chất lượng cao, tiếp cận trình độ đào tạo khu vực và quốc tế.
4. Thực hiện xã hội hóa đào tạo. Huy động mọi nguồn lực từ các chương trình mục tiêu nâng cao năng lực các cơ sở dạy nghề, ngân sách địa phương, tranh thủ đầu tư nước ngoài, viện trợ trong và ngoài nước. Tạo chính sách để các thành phần kinh tế, nhất là kinh tế tư nhân mạnh dạn bỏ vốn đầu tư để nâng cao năng lực của hệ thống dạy nghề trên địa bàn. Đa dạng hóa các loại hình cơ sở, phương thức đào tạo.
5. Đẩy mạnh phân cấp quản lý, tăng quyền tự chủ cho các cơ sở đào tạo nghề trên cơ sở kiểm soát nội dung và chất lượng đào tạo.
II. Mục tiêu
1. Mục tiêu chung
Thực hiện được những nội dung cơ bản về dạy nghề của Chiến lược phát triển giáo dục và Quy hoạch mạng lưới trường dạy nghề đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng dạy nghề, bảo đảm cơ cấu ngành nghề, cơ cấu trình độ hợp lý, góp phần đáp ứng nguồn nhân lực có chất lượng cao theo ngành, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động, giải quyết việc làm, xuất khẩu lao động và chuyên gia. Nâng cao hiệu quả đào tạo, gắn đào tạo với sử dụng lao động.
2. Mục tiêu cụ thể
Từ nay đến năm 2010 phấn đấu đạt các mục tiêu :
a) Nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề của thành phố vào cuối năm 2005 đạt khoảng 25,5% (cả nước 19%) và 37% vào năm 2010 (cả nước 26%); góp phần nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo trong tổng lực lượng lao động của thành phố từ 37% lên 50% (cả nước từ 30% lên 40%) vào các năm tương ứng.
b) Đảm bảo đào tạo trình độ cao đạt khoảng 30% trong tổng chỉ tiêu tuyển sinh đào tạo nghề dài hạn vào năm 2005 và 35% vào năm 2010 (cả nước tương ứng các năm là 7% và 11%).
c) Năm 2005 số lượng tuyển mới vào đào tạo 17.000 học sinh, trong đó hệ trung cấp nghề 5.000 học sinh; năm 2010 tuyển sinh 25.000 học sinh trong đó hệ trung cấp nghề và cao đẳng nghề là 8.500 học sinh. Tổng chỉ tiêu tuyển sinh học nghề 5 năm 2006-2010 là 105.000 học sinh, bình quân 21.000 học sinh/năm. Trong tổng số tuyển sinh đào tạo nghề hàng năm ngân sách chỉ hỗ trợ đào tạo không quá 20% tổng chỉ tiêu tuyển sinh, số còn lại chủ yếu huy động từ nguồn xã hội hóa trong lĩnh vực dạy nghề.
d) 100% giáo viên dạy nghề đạt chuẩn sư phạm; 95% giáo viên có trình độ cao đẳng trở lên; đảm bảo tỷ lệ 15 học sinh/giáo viên.
đ) Học sinh học nghề ra trường có việc làm phù hợp trong năm đầu đạt 80% trở lên.
e) Có chính sách cụ thể khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia phát triển các cơ sở dạy nghề.
g) Củng cố, tăng cường chất lượng cơ sở dạy nghề thông qua việc tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, chương trình, giáo trình giảng dạy; xem xét giải thể cơ sở dạy nghề không đảm bảo điều kiện hoạt động hoặc đình chỉ những cơ sở đào tạo nghề kém chất lượng; xem xét đề nghị nâng cấp một số trường dạy nghề đủ điều kiện lên trường cao đẳng nghề, đưa một số trường dạy nghề đủ điều kiện thành trường trung cấp nghề (theo Luật Giáo dục sửa đổi có hiệu lực từ 01/01/2006); cho phép những tổ chức cá nhân mở thêm cơ sở dạy nghề dân lập, tư thục tại huyện Hòa Vang và các quận Cẩm Lệ, Thanh Khê, Liên Chiểu.
h) Rà soát hoạt động dạy nghề trong các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp nhằm tăng cường quản lý nhà nước về dạy nghề, hướng dẫn các cơ sở có dạy nghề phải đăng ký hoạt động dạy nghề theo đúng quy định pháp luật.
i) Tập trung đầu tư Trường Kỹ thuật - Kinh tế Đà Nẵng thành trường Cao đẳng nghề chất lượng cao, có quy mô đào tạo nghề dài hạn 3.000-4.000 học sinh/năm.
k) Tiếp tục đầu tư kinh phí đào tạo nghề cho các đối tượng chính sách, đối tượng xã hội đã được UBND thành phố phê duyệt tại Quyết định số 65/2005/QĐ-UB ngày 24/5/2005 ban hành đề án Hỗ trợ chuyển đổi ngành nghề, giải quyết việc làm, ổn định đời sống đối với đốì tượng trong diện thu hồi đất sản xuất, di dời, giải tỏa trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
III. Giải pháp
1. Tăng cường quản lý nhà nước về dạy nghề
a) Tổ chức thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước về dạy nghề, đặc biệt, thực hiện tốt Quy chế hoạt động dạy nghề trên địa bàn thành phố Đà Nẵng ban hành kèm theo Quyết định số 19/2003/QĐ-UB ngày 19 tháng 02 năm 2003 của Ủy ban nhân dân thành phố. Đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao năng lực của hệ thống cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về dạy nghề.
b) Sớm ban hành các đề án sau :
- Đề án Quy hoạch mạng lưới dạy nghề đến năm 2020 (trên cơ sở dự thảo quy hoạch đã trình và được UBND thành phố xem xét cho ý kiến trong phiên họp UBND thành phố tháng 3/2005).
Quy hoạch mạng lưới đào tạo nghề trên địa bàn thành phố phải vừa đáp ứng được yêu cầu của địa phương và khu vực, đồng thời vừa phù hợp với quy hoạch của cả nước. Cần xác định rõ địa bàn cần mở thêm hoặc giảm cơ sở đào tạo nghề, ngành nghề đào tạo; đơn vị cần được quan tâm đầu tư phát triển; những đơn vị hoạt động không hiệu quả cần sáp nhập hoặc giải thể. Chú trọng định hướng phát triển trường trung cấp nghề, trường cao đẳng nghề để đào tạo nhân lực chất lượng cao.
- Đề án phát triển xã hội hóa dạy nghề đến năm 2010 theo tinh thần Nghị quyết số 90/CP ngày 21/8/1997, Nghị định số 73/1999/NĐ-CP ngày 19/8/1999 và Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP ngày 18/4/2005 của Chính phủ về đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục thể thao.
- Đề án xây dựng trường dạy nghề chất lượng cao trên cơ sở trường Kỹ thuật - Kinh tế Đà Nẵng theo kết luận của Ban Thường vụ Thành ủy Đà Nẵng (Công văn số 19-KL/TU ngày 21 tháng 6 năm 2004).
c) UBND thành phố ban hành Quy định tạm thời tiêu chí đánh giá chất lượng dạy nghề để đảm bảo việc xem xét nâng cao chất lượng đào tạo nghề.
d) UBND thành phố ban hành chính sách khuyến khích, tôn vinh những người thợ giỏi.
đ) UBND thành phố ban hành chính sách đối với người học nghề như : học bổng, miễn giảm học phí, lập quỹ đào tạo, quỹ khuyến học dành cho học sinh, sinh viên học nghề.
2. Nâng cao chất lượng đào tạo nghề
Để xây dựng được nguồn nhân lực nói chung và đội ngũ công nhân lành nghề nói riêng đáp ứng được yêu cầu phát triển của thành phố, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đảm bảo đến năm 2010 tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt 35-37%, góp phân đưa tỷ lệ qua đào tạo chung lên 45-50%, công tác đào tạo nghề cần tập trung vào các giải pháp sau :
a) Đào tạo nghề gắn với việc làm và phù hợp với cơ sở sử dụng lao động, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế địa phương, vùng, khu vực và cả nước, có tính đến chuyển đổi cơ cấu lao động giữa các ngành nghề trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
b) Trong đào tạo phải lấy chất lượng làm trọng tâm, đặc biệt coi trọng kỹ năng thực hành, giáo dục ý thức, kỷ luật lao động, tác phong công nghiệp.
c) Đẩy mạnh đầu tư và mạnh dạn đổi mới trang thiết bị giảng dạy phù hợp với công nghệ hiện đại, tiếp cận với thiết bị mà các cơ sở sản xuất đang sử dụng giúp người lao động thích ứng nhanh, đồng thời có kế hoạch đào tạo đón đầu các ngành sản xuất mới và công nghệ mới.
d) Xây dựng khung chương trình và nội dung đào tạo phù hợp, có sự tham gia của các cơ sở sản xuất thuộc các ngành nghề tương ứng. Chương trình dạy nghề phải bố trí thời gian thực hành phù hợp từng cấp trình độ đào tạo (70-80% thực hành đối với nghề ngắn hạn; 55-70% đối với trình độ lành nghề; 50-60% đối với trình độ cao). Có thể thực hành ở xưởng trường hoặc ở các cơ sở sản xuất và thiết bị thực hành phải tiếp cận với thiết bị các doanh nghiệp đang sử dụng đồng thời có tính đến thiết bị, công nghệ mới.
đ) Thường xuyên tổ chức tốt các hội thi tay nghề, thi nâng bậc thợ, đào tạo lại, nâng cao trình độ cho công nhân : giao cho các đơn vị có năng lực, có đào tạo ngành nghề thích hợp chủ trì tổ chức định kỳ hoặc bất thường theo yêu cầu của các doanh nghiệp.
3. Xây dựng đội ngũ cán bộ, giáo viên
Xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên đạt chuẩn về chuyên môn nghiệp vụ, luôn cập nhật kiến thức, cải tiến phương pháp giảng dạy. Đảm bảo số lượng giáo viên/học sinh và có lực lượng thay dần số giáo viên nghỉ hưu và số không đủ điều kiện giảng dạy. Cụ thể :
a) Tiếp tục mở các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho các giáo viên chưa đạt chuẩn (phấn đấu đến cuối năm 2006 ngành dạy nghề thành phố có 100% giáo viên đạt chuẩn sư phạm). Những năm tiếp theo có kế hoạch tăng tỷ lệ giáo viên dạy nghề có trình độ sư phạm bậc II. Giáo viên tuyển mới phải được đào tạo về phương pháp sư phạm.
b) Thường xuyên cập nhật kiến thức, công nghệ mới cho giáo viên đang công tác tại các đơn vị bằng hình thức tổ chức tại chỗ, gửi đi đào tạo trong nước hoặc nước ngoài theo các chương trình hợp tác đào tạo.
4. Xã hội hóa hoạt động dạy nghề
Theo tinh thần Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP ngày 18/4/2005 của Chính phủ về đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục thể thao, trong giai đoạn 2006-2010 phải xem xã hội hóa hoạt động dạy nghề là một giải pháp quan trọng trong việc huy động nguồn lực đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực, còn ngân sách nhà nước chỉ đóng vai trò hỗ trợ trong việc đào tạo bồi dưỡng giáo viên, đầu tư trang thiết bị cho những cơ sở dạy nghề khó khăn và thực hiện chính sách dạy nghề đối với những nghề cần khuyến khích phát triển, hỗ trợ cho người học nghề là đối tượng chính sách xã hội bao gồm thương binh, con liệt sĩ, thanh niên hoàn thành nghĩa vụ quân sự, hộ nghèo, nông dân bị thu hồi đất sản xuất, người tàn tật và một số đối tượng khác.
Khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư phát triển cơ sở dạy nghề thông qua chính sách ưu đãi về cho thuê đất, vay vốn, miễn giảm thuế... do UBND thành phố ban hành.
Phần III
TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Để đảm bảo tốt việc triển khai thực hiện Đề án này, Ủy ban nhân dân thành phố phân công trách nhiệm cụ thể như sau :
1. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội
Chủ trì phối hợp với các sở, ngành có liên quan tham mưu cho Ủy ban nhân dân thành phố triển khai thực hiện Đề án.
a) Dự thảo, trình Ủy ban nhân dân thành phố phê duyệt Đề án Quy hoạch mạng lưới dạy nghề trên địa bàn thành phố đến năm 2020.
Thời gian trình : ngay sau khi thành phố phê duyệt quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội thành phố Đà Nẵng đến năm 2020.
b) Dự thảo, trình Ủy ban nhân dân thành phố phê duyệt Đề án phát triển xã hội hóa dạy nghề đến năm 2010.
Thời gian trình : cuối năm 2005.
c) Đề án trường dạy nghề chất lượng cao tại trường Kỹ thuật - Kinh tế Đà Nẵng.
Thời gian trình : cuối năm 2005.
d) Dự thảo, trình Ủy ban nhân dân thành phố quyết định thành lập Quỹ dạy nghề, Quỹ khuyến học dành cho hoạt động dạy nghề.
Thời gian trình : năm 2006.
đ) Tập hợp và xem xét phương án củng cố và nâng cao chất lượng cơ sở dạy nghề để đề xuất Ủy ban nhân dân thành phố thực hiện chức năng quản lý nhà nước về dạy nghề.
e) Trình UBND thành phố ban hành quy định tạm thời về các tiêu chí và phương pháp đánh giá chất lượng đào tạo nghề để áp dụng vào việc đánh giá chất lượng đào tạo của các cơ sở dạy nghề trên địa bàn.
Thời gian trình : năm 2006
2. Sở Giáo dục và Đào tạo
Phối hợp với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội có kế hoạch triển khai thực hiện tốt Đề án củng cố và nâng cao chất lượng các cơ sở dạy nghề trong các cơ sở giáo dục có đăng ký hoạt động dạy nghề. Chỉ đạo các đơn vị tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên, rà soát chương trình, giáo trình đào tạo nói chung, đào tạo nghề nói riêng nhằm đảm bảo nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực cho thành phố.
3. Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính
Phối hợp với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tham mưu Ủy ban nhân dân thành phố huy động nguồn lực thông qua xã hội hóa hoạt động dạy nghề, đề xuất bố trí kinh phí hoạt động dạy nghề do ngân sách hỗ trợ hàng năm, bao gồm chỉ tiêu dạy nghề; kinh phí xây dựng các Đề án nêu tại điểm 1, Phần III Đề án này; kinh phí đảm bảo cho các hoạt động hội thi thiết bị dạy nghề tự làm, hội thi tay nghề, hội giảng giáo viên, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm và chuyên môn hàng năm; nhằm đảm bảo mục tiêu củng cố và nâng cao chất lượng cơ sở dạy nghề đến năm 2010.
4. Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Xây dựng
Nghiên cứu, tham mưu cho UBND thành phố về quy hoạch quỹ đất dành cho các cơ sở giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục thể thao ngoài công lập để kêu gọi các tổ chức, cá nhân đầu tư vào các lĩnh vực trên.
5. Ủy ban nhân dân quận, huyện
Rà soát việc thực hiện Quyết định số 19/2003/QĐ-UB ngày 19 tháng 02 năm 2003 của Ủy ban nhân dân thành phố ban hành Quy chế hoạt động dạy nghề trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Hướng dẫn các tổ chức, cá nhân hoạt động dạy nghề nhưng chưa có thủ tục thành lập, chưa đăng ký hoạt động dạy nghề phải làm thủ tục thành lập cơ sở dạy nghề và đăng ký hoạt động theo đúng quy định.
6. Các cơ sở dạy nghề
Từng đơn vị xây dựng phương án củng cô và nâng cao chất lượng dạy nghề gửi về UBND thành phố (qua sở Lao động - Thương binh và Xã hội) để triển khai thực hiện Đề án củng cố nâng cao chất lượng các cơ sở dạy nghề trên địa bàn thành phố.
Phương án củng cố và nâng cao chất lượng dạy nghề của các cơ sở dạy nghề phải được xây dựng thật cụ thể về các biện pháp nâng cấp cơ sở vật chất, đầu tư trang thiết bị mới, đảm bảo đội ngũ giáo viên, rà soát, bổ sung sửa đổi chương trình dạy nghề phù hợp, tiếp cận được công nghệ mới, hiện đại; nêu các đề xuất kiến nghị có liên quan và phải được cơ quan chủ quản phê duyệt.
Thời gian báo cáo phương án : sau khi Đề án này được phê duyệt 60 ngày.
Trên đây là Đề án củng cố và nâng cao chất lượng cơ sở dạy nghề trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đến năm 2010. Đề án này góp phần thực hiện Chương trình "Phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa" (chương trình xây dựng thành phố Đà Nẵng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo Nghị quyết 33 của Bộ Chính trị).