|
UBND TỈNH GIA LAI Số: 19/2013/QĐ-UBND |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------------------------- tỉnh Gia Lai, ngày 09 tháng 08 năm 2013 |
QUYẾT ĐỊNH
Về việc ban hành Đề án tổ chức xây dựng, huấn luyện, hoạt động
và chế độ, chính sách đối với dân quân tự vệ trên địa bàn tỉnh Gia Lai giai đoạn 2013 - 2016
__________________________________
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH
Căn cứ Luật Tổ chức HĐND và UBND ngày 26 tháng 11 năm 2003;
Căn cứ Luật Ngân sách nhà nước ngày 16/12/2002;
Căn cứ Luật dân quân tự vệ ngày 23/11/2009;
Căn cứ Nghị định số 58/2010/NĐ-CP ngày 01/6/2010 của Chính Phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật dân quân tự vệ;
Căn cứ thông tư 85/2010/TT-BQP ngày 01/7/2010 của Bộ Quốc Phòng hướng dẫn một số điều của Luật dân quân tự vệ và Nghị định số 58/2010/NĐ-CP ngày 01/6/2010 của Chính Phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật dân quân tự vệ;
Căn cứ thông tư liên tịch 85/2010/TTLT-BQP-BLĐTBXH-BNV-BTC ngày 02/8/2010 của Bộ Quốc Phòng, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Bộ Nội vụ và Bộ Tài chính về hướng dẫn thực hiện một số chế độ,chính sách đối với DQTV và việc lập dự toán, chấp hành và quyết toán ngân sách cho công tác DQTV;
Căn cứ Thông báo Kết luận số 753-TB/TU ngày 01/7/2013 của Ban thường vụ tỉnh ủy, về các tờ trình của UBND tỉnh; Nghị quyết số 76/2013/NQ-HĐND ngày 17/7/2013 của Hội đồng nhân dân tỉnh về việc phê chuẩn Đề án tổ chức xây dựng, huấn luyện, hoạt động và chế độ, chính sách đối với dân quân tự vệ trên địa bàn tỉnh Gia Lai giai đoạn 2013 – 2016,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Đề án tổ chức xây dựng, huấn luyện, hoạt động và chế độ, chính sách đối với dân quân tự vệ trên địa bàn tỉnh Gia Lai giai đoạn 2013 -2016.
Điều 2. Giao cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh chủ trì phối hợp với các sở, ngành có liên quan; UBND các huyện, thị xã, thành phố tổ chức triển khai thực hiện Đề án đạt hiệu quả chất lượng.
Điều 3. Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 10 ngày, kể từ ngày ký.
Các ông (bà): Chánh Văn phòng UBND tỉnh, Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh, Giám đốc Sở Tài chính; Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị có liên quan; Chủ tịch UBND các huyện, thị xã, thành phố chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
TM. UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNHCHỦ TỊCH
(Đã ký)
Phạm Thế Dũng
ĐỀ ÁN
Tổ chức xây dựng, huấn luyện, hoạt động và chế độ, chính sách
đối với dân quân tự vệ trên địa bàn tỉnh Gia Lai giai đoạn 2013 - 2016
(Ban hành kèm theo Quyết định số 19/2013/QĐ-UBND ngày 09/8/2013 của UBND tỉnh)
_____________________________
Phần I
CƠ SỞ PHÁP LÝ VÀ SỰ CẦN THIẾT XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
I. Chủ trương, chính sách của Đảng và cơ sở pháp lý xây dựng đề án:
- Chỉ thị số 16/CT-TW ngày 05/10/2002 của Ban bí thư trung ương Đảng (khóa IX) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng dân quân tự vệ và lực lượng dự bị động viên trong tình hình mới;
- Kết luận số 41-KL/TW ngày 31/3/2009 của Ban bí thư trung ương Đảng về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 16-CT/TW;
- Hướng dẫn số 246-HD/ĐU và chương trình hành động số 247/CTr/ĐU ngày 08/7/2009 của Đảng ủy quân sự trung ương; Nghị quyết của Đảng ủy Quân khu 5 về lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng giai đoạn 2010-2015; Nghị quyết số 227-NQ/ĐUQK ngày 07/6/2012 của Đảng ủy Quân khu 5 về xây dựng lực lượng dân quan tự vệ trong tình hình mới;
- Chương trình số 69-CTr/TU ngày 06/01/2010 của Tỉnh ủy Gia Lai về thực hiện Kết luận số 41-KL/TW của Ban bí thư trung ương Đảng (khóa X);
- Luật Dân quân tự vệ số 43/2009/QH12 ngày 23/11/2009; Nghị định số 58/2010/NĐ-CP ngày 01/6/2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Dân quân tự vệ; Thông tư số 85/2010/TT-BQP ngày 01/7/2010 của Bộ Quốc Phòng hướng dẫn một số điều của Luật Dân quân tự vệ và Nghị định số 58/2010/NĐ-CP; Thông tư liên tịch số 102/2010/TTLT-BQP-BLĐTBXH-BNV-BTC ngày 02/8/2010 của liên Bộ Quốc phòng, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Bộ Nội vụ và Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện một số chế độ, chính sách đối với dân quân tự vệ và việc lập dự toán, chấp hành và quyết toán ngân sách cho công tác dân quân tự vệ.
II. Sự cần thiết xây dựng đề án:
Xây dựng lực lượng dân quân tự vệ (DQTV) là một nhiệm vụ quan trọng trong đường lối quân sự của Đảng, của toàn dân và cả hệ thống chính trị, nhằm tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu quốc phòng, an ninh trong các tình huống, góp phần giữa vững ổn định chính trị ở cơ sở trong thời bình và chuẩn bị nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo về Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, khi đất nước chuyển vào các trạng thái về quốc phòng.
Việc xây dựng, thực hiện Đề án nhằm đảm bảo tính pháp lý trong lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức xây dựng, huấn luyện, hoạt động và bảo đảm chế độ chính sách cho lực lượng DQTV theo Luật dân quân tự vệ, thống nhất công tác quản lý nhà nước về xây dựng lực lượng DQTV gắn với mọi hoạt động về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và QP – AN ở địa phương, cơ sở đạt chất lượng hiệu quả, làm cơ sở để các cấp thanh tra, kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết, việc triển khai thực hiện Luật Dân quân tự vệ trên địa bàn tỉnh.
Phần II
THỰC TRẠNG TỔ CHỨC XÂY DỰNG, HUẤN LUYỆN, HOẠT ĐỘNG CỦA DQTV VÀ BẢO ĐẢM CHẾ ĐỘ CHÍNH SÁCH CHO DQTV TỪ NĂM 2010 -2020
I. Những kết quả đạt được:
Qua gần 3 năm thực hiện Luật Dân quân tự vệ, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng và chính quyền, sự phối hợp của các ban, ngành, đoàn thể các cấp, công tác tổ chức xây dựng, huấn luyện hoạt động và đảm bảo chế độ chính sách cho lực lượng DQTV đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần cùng các lực lượng chức năng giữ vũng an ninh trật tự an toàn xã hội, tạo điều kiện phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh.
1. Tổ chức xây dựng lực lượng DQTV:
- Đến tháng 5 năm 2013, toàn tỉnh đã cũng cố, xây dựng được 459/459 cơ sở, tỉ lệ DQTV đạt 1,49% so với dân số (trong đó dân quân đạt 1,2% so với dân số; tự vệ đạt 14,6% so với cán bộ, công nhân viên; nữ DQTV đạt 9,73%, dân tộc thiểu số 38,72% so với lực lượng DQTV); 100% thôn, làng, tổ dân phố có tổ chức dân quân tại chổ. Biên chế: dân quân thường trực 2%, DQTV cơ động 32%; DQTV tại chổ 47%; DQTV binh chủng chiến đấu (PK-PB) 5%, DQTV binh chủng đảm bảo 8%; tổ chức ở cấp đại đội, trung đội, tiểu đội (khẩu đội), tổ.
- Chất lượng:
+ Đảng viên trong DQTV đạt 19% so với tổng số DQTV (trong đó dân quân đạt 14,4%; tự vệ đạt 35,7%); Chi bộ quân sự 222/222 Đảng bộ xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã), trong đó chi bộ quân sự có cấp ủy 16,2%; Đoàn viên trong DQTV 58,3% so với tổng số DQTV.
+ Cán bộ Ban CHQS cấp xã: kiện toàn đủ 222/222 xã, phường, thị trấn; mỗi Ban CHQS biên chế 04 – 05 đồng chí gồm: Chỉ huy trưởng, chính trị viên, Chỉ huy phó, Chính trị viên phó; các xã, phường, thị trấn trọng điểm về QP –AN biên chế 05 đồng chí; trong đó cán bộ quân sự: Chỉ huy trưởng 219 đ/c, đảng viên 219 đ/c, cấp ủy 219 đ/c, DTTS 83 đ/c, thành viên UBND 219 đ/c, qua đào tạo trung cấp quân sự 200 đ/c, chưa qua đào tạo 19 đ/c (số quá tuổi đào tạo bổ nhiệm trước năm 2004 chưa được chuẩn hóa); chỉ huy phó: 298 đ/c, đảng viên 203 đ/c, cấp ủy 06 đ/c, DTTS 115 đ/c, qua đào tạo trung cấp quân sự 100 đ/c, chưa qua 198 đ/c.
+ Cán bộ Ban CHQS cơ quan, tổ chức: kiện toàn 103/103 Ban CHQS cơ quan, tổ chức ở cơ sở, mỗi Ban CHQS biên chế 04 đ/c gồm: Chỉ huy trưởng. Chính trị viên, Chỉ huy phó, Chính trị viên phó.
+ Sắp xếp, bổ nhiệm cán bộ: Đại đội 08 đ/c; trung đội 367 đ/c; tiểu đội (khẩu đội) 381 đ/c; cán bộ thôn trưởng 2.161 đ/c.
2. Công tác đạo tạo, bồi dưỡng, tập huấn, huấn luyện quân sự:
- UBND tỉnh đã chỉ đạo Bộ CHQS tỉnh tổ chức 05 khóa đào tạo trung cấp chuyên nghiệp quân sự cơ sở cho 404 đồng chí cán bộ quân sự Ban CHQS cấp xã và 01 lớp đào tạo hoàn thiện trung chuyên nghiệp quân sự 80 đồng chí. Qua đào tạo đã kiện toàn, chuẩn hóa trình độ chuyên môn và nâng cao năng lực công tác của cán bộ quân sự Ban CHQS cấp xã; phát huy tốt vai trò tham mưu lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng ở cơ sở đạt kết quả khá. Hàng năm, từ tỉnh đến huyện, thị xã, thành phố (gọi chung là cấp huyện) đều tổ chức mở các lớp tập huấn cán bộ theo phân cấp, số lượng đạt trên 85%. Thông qua nội dung bồi dưỡng, tập huấn, hội thi đã nâng cao trình độ, năng lực tổ chức chỉ huy, tổ chức huấn luyện, chỉ đạo hoạt động của đội ngũ cán bộ dân quân tự vệ, từng bước đáp ứng nhu cầu nhiệm vụ trong tình mới.
- Hằng năm, cơ quan quân sự các cấp đều xây dựng kế hoạch huấn luyện quân sự, giáo dục chính trị, pháp luật cho lực lượng DQTV, trình cấp trên phê duyệt; công tác huấn luyện được triển khai, tổ chức thự hiện theo đúng nội dung, chương trình, thời gian quy định, theo phương châm“cơ bản, thiết thực, chất lượng”. 100% cơ sở được tổ chức huấn luyện, quân số tham gia huấn luyện đạt từ 85% trỏ lên, chất lượng huấn luyện đạt khá, giỏi từ 50-60%; từng bước năng cao trình độ kỹ thuật, chiến thuật và sử dụng vũ khí, trang bị được biên chế. Sau huấn luyện đều tổ chức hội thao, kiểm tra đánh giá kết quả. Tổ chức diễn tập chiến đấu trị an cấp xã hằng năm đạt 25%, cấp huyện tổ chức diễn tập khu vực phòng thủ, phòng chống cháy nổ, phòng chống lụt bão, tìm kiếm cứu nạn được cấp ủy, chính quyền địa phương và cơ quan quân sự cấp trên đánh giá cao.
3. Hoạt động chiến đấu trị an:
Tổ chức xây dựng kế hoạch chiến đấu trị an, kế hoạch chiến đấu tại chỗ, kế hoạch sử dụng DQTV trong trạng thái quốc phòng cho 100% cơ sở cấp xã; hằng năm, tiến hành rà soát, bổ sung kế hoạch sát với thực tế và tổ chức huấn luyện, diễn tập theo phương án.
Chỉ đạo cấp xã, cơ quan, đơn vị, tổ chức, lực lượng DQTV trực SSCĐ thường xuyên bảo vệ trụ sở UBND, cơ quan 24/24 giờ, quân số từ 02 – 04 đ/c/ xã, cơ quan, tổ chức; có trên 1.000 lượt DQTV (khoảng trên 400.000 ngày công/năm) tham gia phối hợp với Bộ đội biên phòng, công an cấp xã tuần tra canh gác, kịp thời phát hiện và tham gia đấu tranh phòng chống tội phạm; phối hợp tham mưu cho cấp ủy đảng, chính quyền đấu tranh với các hoạt động lợi dụng tôn giáo, truyền đạo trái pháp luật và phòng, chống các tệ nạn xã hội; phối hợp với các lực lượng khác tham gia phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, tìm kiếm cứu nạn, cháy rừng, sự cố môi trường, vận động quần chúng tham gia xây dựng cơ sở, phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp. cùng với các lực lượng vũ trang, ban, ngành, đoàn thể của tỉnh, của huyện, thị xã, thành phố và cơ sở tham gia luyện tập, diễn tập khu vực phòng thủ tỉnh, huyện và cơ sở theo kế hoạch A, A2, A3, A4 đạt kết quả khá, góp phần giữ vũng an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
4. Đảm bảo chế độ chính sách:
Việc bảo đảm chế độ chính sách cho lực lượng DQTV luôn được cấp ủy, chính quyền địa phương các cấp, cơ quan, đơn vị quan tâm thực hiện theo quy định của Luật DQTV và các văn bản hướng dẫn thi hành như: chi trả chế độ phụ cấp trách nhiệm quản lý, chỉ huy đơn vị DQTV của cán bộ; mua sắm trang phục cho cán bộ, chiến sĩ dân quân và các chế độ chính sách khác cơ bản đảm bảo theo chế độ, tiêu chuẩn và vận dụng linh hoạt theo điều kiện, khả năng cụ thể củ từng địa phương, đơn vị. Việc chi trả ngày công lao động, hỗ trợ tiền ăn cho DQTV khi thực hiện nhiệm vụ thực hiện đúng theo Quyết định 36/2010/QĐ-UBND ngày 20/12/2010 của UBND tỉnh , hỗ trợ ngày công lao động, mức hỗ trợ 0.08 mức lương tối thiểu chung, chi trả tiền ăn bằng 33.000 đ/ người/ ngày.
II. Những tồn tại, hạn chế trong tổ chức xây dựng, huấn luyện, hoạt động và đảm bảo chế độ, chính sách cho lực lượng DQTV
1. Những tồn tại, hạn chế:
Công tác đăng ký công dân trong độ tuổi thực hiện Luật DQTV hiệu quả còn thấp; một số cơ sở tuyển chọn, kết nạp, đăng ký, quản lý lực lượng DQTV chưa đúng quy trình, chất lượng tuy đã được nâng lên, nhưng chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới, độ tin cậy về chính trị có mặt chưa được toàn diện; tổ chức xây dựng lực lượng ở một số cơ sở thiếu chặt chẽ, khả năng sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu và hiệu quả hoạt động chưa cao, nhất là khi tình hình diễn biến phức tạp. Chưa thực hiện phương châm xây dựng lực lượng DQTV“vững mạnh rộng khắp”; trình độ năng lực của cán bộ ở một số cơ sở, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào DTTS có mặt chưa đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ; việc bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực cán bộ phân đội, cán bộ Ban CHQS cấp xã, phường, thị trấn còn thấp, có đơn vị trong năm không kết nạp được Đảng viên.
Một số đơn vị cấp huyện tổ chức tập huấn cho cán bộ có nội dung thời gian chưa đảm bảo. trong huấn luyện DQTV chỉ mới chú trọng huấn luyện lực lượng DQTV cơ động , DQTV phòng không, pháo binh, trinh sát, còn các lực lượng khác như DQTV tại chỗ, công binh, thông tin, y tế, phong hóa chưa được quan tâm đầu tư, huấn luyện đúng mức; chất lượng huấn luyện một số nội dung còn yếu, nhất là về nhận thức chính trị và điều lệnh đội ngũ, trình độ kỹ, chiến thuật và thực hành bắn đạn thật ở các binh chủng; nhiều địa phương tổ chức huấn luyện chưa đảm bảo đúng đối tượng được biên chế ở các đơn vị DQTV và thực hiện thời gian ít hơn theo quy định; chất lượng hoạt động của DQTV còn hạn chế, có địa phương có lúc, có nơi không đảm bảo lực lượng trực, nhất là vào giờ nghỉ, ngày nghỉ và ban đêm.
Hiện có 03 xã có nhà làm việc riêng của Ban CHQS (Pleiku: 02, Chư Pưh: 01); 06 xã chưa có chưa có phòng làm việc riêng của Ban CHQS (Đak Đoa: 01, Chư Păh: 01, Krông Pa: 01, Kbang: 01, Kông Chro: 02); 121 xã chưa có nhà trực cho dân quân trực SSCĐ; phòng làm việc của Ban CHQS có diện tích còn quá chật hẹp; biển bảng chưa thống nhất, trang thiết bị cho công tác, sinh hoạt còn thiếu: 97/222 xã, phường, thị trấn chưa được trang bị máy vi tính, máy in; 101/222 xã, phường, thị trấn chưa có điện thoại bàn làm việc. Ngân sách đảm bảo cho tổ chức xây dựng, huấn luyện, hoạt động của lực lượng dân quân một số xã chưa kịp thời.
Công tác quản lý nhà nước về DQTV có mặt còn hạn chế, ngân sách bảo đảm cho DQTV khi tham gia huấn luyện, hoạt động theo nhiệm vụ chưa đúng với quy định của pháp luật về DQTV trong tình hình mới, do đó chưa đề cao trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng lực lượng DQTV.
2. nguyên nhân:
- Một số cấp Đảng, chính quyền địa phương, cơ quan, đơn vị nhận thức chưa đầy đủ và sâu sắc về nhiệm vụ quốc phòng, quân sự địa phương; về vai trò vị trí của lực lượng DQTV trong tình hình mới, do đó chưa đề cao trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng lực lượng DQTV.
- Vai trò tham mưu và năng lực chỉ đạo, chỉ huy tổ chức thực hiện về công tác DQTV của một số Ban CHQS cấp huyện, cấp xã có mặt còn hạn chế, chưa gắn với việc đổi mới, nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở. Tổ chức biên chế, đào tạo, bổ nhiệm cán bộ DQTV các cấp còn nhiều bất cập, chất lượng có mặt còn chưa đạt so với yêu cầu nhiệm vụ.
- Quá trình tuyển chọn, kết nạp công dân tham gia vào lực lượng DQTV còn nặng về tính tự nguyện, tự giác, vận động là chính, việc xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về DQTV đối với cá nhân thiếu kiên quyết, chưa phát huy hiệu quả.
- Một số địa phương, cơ quan, đơn vị chưa quan tâm thực hiện đầy đủ chế độ, chính sách đối với DQTV, chỉ bảo đảm trước mắt cho dân quan cơ động; tham gia huấn luyện, hội thi, hội thao ở một số địa phương cơ sở còn mang tính hình thức, chất lượng còn hạn chế.
Phần III
TỔ CHỨC, XÂY DỰNG, HUẤN LUYỆN, HOẠT ĐỘNG VÀ CHẾ ĐỘ,
CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI DQTV TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH GIA LAI
GIAI ĐOẠN 2013 – 2016
A. MỤC TIÊU, YÊU CẦU
I. Mục tiêu xây dựng:
Xây dựng lực lượng DQTV có số lượng hợp lý, chất lượng tổng hợp ngày càng cao; chất lượng xây dựng chính trị, độ tin cậy làm chính; tổ chức biên chế gọn chặt chẽ; trang bị vuc khí phù hợp; được giáo dục chính trị, pháp luật, huấn luyện quân sự toàn diện, thiết thực; nâng cao khả năng sãn sàng chiến đấu và phục vụ chiến đấu, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ QP – AN trong tình hình mới, thực sự là lực lượng chính trị tin cậy bảo vệ Đảng , chính quyền, bảo vệ tài sản tính mạng của nhân dân, của nhà nước; làm nòng cốt cùng nhân dân đánh giặc ở địa phương, cơ sở khi có chiến tranh. Chú trọng xây dựng nâng cao chất lượng DQTV ở các xã, phường, thị trấn trọng điểm về QP-AN và những địa bàn phức tạp, đảm bảo sức đối phó với các tình huống xảy ra.
II. Yêu cầu xây dựng:
1. Tổ chức quán triệt sâu sắc Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương (khóa IX) về chiến lược bảo vệ tổ quốc trong tình hình mới, Kết luận số 41-KL/TW ngày 31/3/2009 của Ban bí thư trung ương Đảng, Luật Dân quân tự vệ và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Dân quân tự vệ; làm cho mọi tổ chức, cá nhân, trước hết là cấp ủy Đảng, lãnh đạo địa phương, đơn vị nâng cao nhận thức về vị trí chiến lược, nội dung cơ bản, tính cấp bách, nâng cao trách nhiệm, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, các tổ chức trong xây dựng, huấn luyện, hoạt động, sử dụng và bảo đảm chế độ, chính sách cho lực lượng DQTV.
2. Thực hiện nghiêm túc chế độ đăng ký, quản lý công dân trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ DQTV theo quy định của Luật DQTV; xét duyệt dân chủ, công khai, tuyển chọn những người có đủ năng lực, phẩm chất chính trị để kết nạp vào lực lượng DQTV. Xây dựng lực lượng DQTV theo phương châm“vững mạnh, rộng khắp”, thực hiện đâu có dân, có tổ chức Đảng, ở đó có DQTV; chú trọng kiện toàn nâng cao năng lực lãnh đạo, chỉ huy của đội ngũ cán bộ DQTV các cấp; gắn việc xây dựng lực lượng DQTV với việc đổi mới, nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở. Các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế phải thực hiện nghiêm túc việc tổ chức lực lượng tự về theo quy định pháp luật về DQTV.
3. Xây dựng lực lượng DQTV có số lượng hợp lý, chất lượng chính trị ngày càng cao, phù hợp với từng địa phương, cơ sở. Quy mô tổ chức cân đối giữa các thành phần lực lượng, giữa số lượng và chất lượng. Chú trọng xây dựng, nâng cao lực lượng DQTV ở cấp huyện, xã, phường, thị trấn trọng điểm về quốc phòng, an ninh.
4. Cấp ủy, chính quyền địa phương các cấp, các ban, ngành, đoàn thể có trách nhiệm quan tâm bảo đảm chế độ, chính sách cho lực lượng DQTV khi làm nhiệm vụ và thực hiện quyết định của cấp có thẩm quyền theo quy định của Luật DQTV, gắn trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ với quyền lợi của người tham gia DQTV cả về vật chất và tinh thần, phù hợp với từng địa phương và cơ sở.
5. Cán bộ, chiến sĩ DQTV cần nhận thức đầy đủ vai trò, vị trí chiến lược của lực lượng DQTV trong tình hình mới. Trên cơ sở đó, đề cao trách nhiệm cá nhân, hoàn thiện tốt mọi nhiệm vụ mà đảng, nhà nước mà nhân dân giao phó. Gắn nhiệm vụ xây dựng, huấn luyện, hoạt động của DQTV với xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc, tăng cường quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế - xã hội và phát triển thế trận quốc phòng toàn dân, gắn với thế trận an ninh nhân dân địa phương, cơ sở.
B. TỔ CHỨC XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG DQTV
I. Đăng ký, quản lý nguồn, tuyển chọn lực lượng DQTV nòng cốt, tổ chức luân phiên lực lượng DQTV
1. Tổ chức đăng ký công nhận công dân thực hiện Luật DQTV:
Đăng ký công dân trong độ tuổi thực hiện Luật DQTV là điều kiện để tuyển chọn công dân bảo đảm chất lượng kết nạp vào lực lượng DQTV trong thời bình và mở rộng quy mô khi chuyển lực lượng vũ trang vào các trạng thái sẵn sàng chiến đấu. Trách nhiệm đăn ký là UBND cấp xã và cơ quan tổ chức; trước khi đăng ký phải tổ chức tập huấn cho các thành phần tham gia đăng ký vào tháng 4 hằng năm; địa điểm đăng ký tại thôn, buôn, làng, tổ dân phố, đội sản xuất, công nông trường, cơ quan, tổ chức.
Đối tượng đăng ký là nam công nhân từ đủ 18 tuổi đến hết 45 tuổi, nữ công nhân từ đủ 18 tuổi đến hết 40 tuổi; sau khi đăng ký, Hội đồng nghĩa vụ quân sự cấp xã, cấp ủy, thủ trưởng cơ quan, tổ chức, công đoàn, đoàn thanh niên, tiến hành xét duyệt công dân đủ điều kiện kết nạp vào lực lượng DQTV; công dân đủ điều kiện sẵn sàng mở rộng khi có tình huống về quốc phòng, tổng hợp kết quả đăng ký báo cáo cấp trên và tháng 5 hằng năm.
2. Tổ chức luân phiên lực lượng DQTV:
Thực hiện luân phiên là yêu cầu cần thiết với mục đích thực hiện quân sựu hóa toàn dân, đảm bảo tính công bằng xã hội, cung cấp nguồn lực cho lực lượng vũ trang khi có tình huống chiến tranh xãy ra. Ban CHQS cấp xã phải lập kế hoạch trình Ban CHQS cấp huyện phê duyệt, tổ chức luân phiên theo tỷ lệ từ 20-25% so với tổng số DQTV. Trong điều kiện thời bình, xây dựng lực lượng DQTV theo phương châm“vững mạnh, rộng khắp”;xây dựng vững mạnh toàn diện làm căn bản, trong đó vững chắc về chính trị làm khâu then chốt. 100% thôn, buôn, làng, tổ dân phố, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp phải xây dựng lực lượng DQTV.
Căn cứ số lượng dân cư, bố trí dân cư, yêu khả năng kinh phí đảm bảo để xác định tỷ lệ cho phù hợp theo Luật DQTV; Ban CHQS cấp huyện phải trực tiếp chỉ đạo và cùng cơ cơ sở, rà soát tính toán cụ thể để củng cố số lượng dân quân hợp lý, đủ sức hoàn thành nhiệm vụ trong mọi tình huống.
II. Củng cố, kiện toàn Ban CHQS và cán bộ DQTV
1. Ban CHQS cấp xã:
- Kiện toàn đủ biên chế gồm: Chỉ huy trưởng, chính trị viên, Chỉ huy phó, Chính trị viên phó, Chính trị viên phó (đến năm 2016 có 100% xã, phường, thị trấn trong điểm về QP-AN và 100% xã loại 1, loại 2 bố trí đủ 02 Chỉ huy phó).
- Chỉ huy trưởng là công chức, 100% thành viên UBDN cấp xã và được đào tạo từ trung cấp chuyên nghiệp ngành quân sự trở lên.
- Chính trị viên là Bí thư Đảng ủy (chi bộ) cấp xã kiêm nhiệm.
- Chính trị viên phó là Bí thư Đoàn TNCSHCM cấp xã kiêm nhiệm.
- Phó chỉ huy trưởng là những người hoạt động không chuyên trách và được đào tạo từ trung cấp chuyên nghiệp ngành quân sự cở sở trở lên.
2. Ban CHQS cơ quan, tổ chức cơ sở:
- Kiện toàn đử biên chế, chủ yếu là cán bộ kiên nhiệm;
- Chỉ huy trưởng là người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức; Chính trị viên là Bí thư Đảng ủy của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp; Chính trị viên phó là Bí thư Đoàn TNCSHCM hoặc Phó bí thư cấp ủy đảng của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp hoặc trưởng phòng ban của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp đảm nhiệm.
3. Cán bộ quản lý, chỉ huy DQTV:
- Cán bộ phân đội DQTV được bố trí tương ứng với phân đội DQTV, từ tiểu đội đến đại đội gồm:
+ Tiểu đội trưởng (khẩu đội trưởng), trung đội trưởng, thôn đội trưởng;
+ Đại đội có ban chỉ huy gồm: đại đội trưởng, chính trị viên đại đội, đại đội phó quân sự, chính trị viên phó đại đội;
- Cán bộ phân đội phải đủ tiêu chuẩn về sức khỏe, chính trị, trình độ, năng chỉ huy đơn vị DQTV hoàn thành nhiệm vụ được giao.
III. Quy định về số lượng
1. Cấp tỉnh:Tỷ lệ xây dựng lực lượng DQTV từ 1,49% xuống 1,44% so với tổng dân số.
2. cấp huyện:Thành phố Pleiku xây dựng tỷ lệ từ 1,25%-1,21%; thị xã An Khê từ 1,66%-1,60%; Ayun Pa từ 1,85%-1,78%; huyện Chư Păh từ 1,79%-1,72%; Chư Sê từ 1,49%-1,43%; Chư Pưh từ 1,18%-1,13%; Phú Thiện từ 1,24%-1,19%; Krông Pa từ 1,42%-1,36%; Ia Pa từ 1,47%-1,42%; Kông Chro từ 2,31%-2,22%; Kbang từ 1,98%-1,91%; Đăk Pơ từ 1,70%-1,64%; Mang Yang từ 1,63%-1,57%; Đak Đoa từ 1,54%-1,48%; Ia Grai từ 1,52%-1,46%; Đức Cơ từ 1,43%-1,37%; Chư Prông từ 1,53%-1,47% so với dân số.
Hằng năm, căn cứ vào chỉ tiểu giao tên tình hình địa phương, UBND tỉnh ủy quyền cho chỉ huy trưởng Bộ CHQS tỉnh giao chỉ tiêu xây dựng lực lượng DQTV (kể cả số và chất lượng) cho các huyện, thị xã, thành phố.
3. cấp xã:xây dựng lực lượng dân quân theo tỷ lệ cấp huyện giao.
4. cơ quan, tổ chức:Các cơ quan nhà nước có biên chế từ 50 người trở lên, tỷ lệ xây dựng lực lượng tự vệ từ 10%-20% so với tổng số cán bộ, công chức, viên chức. Cơ quan nhà nước có từ 49 trở xuống do Chỉ huy trưởng Ban CHQS cấp huyện căn cứ vào tình hình cụ thể để quyết định tỷ lệ, thành lập đơn vị tự về ở các cơ qua này.
5. Doanh nghiệp:Doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế nếu có tổ chức đảng, hoạt động sản xuất, kinh doanh trên 12 tháng, với quy mô từ 50 lao động trở lên phải tổ chức lực lượng tự vệ. Tỷ lệ xây dựng lực lượng tự vệ được tính trên tổng số lao động đã được ký hợp đồng từ 06 tháng trở lên và trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ DQTV. Cụ thể:
+ Doanh nghiệp có từ 49 lao động trở xuống, nhưng do đặc thù của doanh nghiệp và có yêu cầu về QP-AN thì tổ chức lực lượng tự vệ.
+ Doanh nghiệp có từ 50 - 500 lao động, tỷ lệ từ 15%-10%.
+ Doanh nghiệp có từ 501-1.500 lao động, tỷ lệ từ 9,9%-8%.
+ Doanh nghiệp có từ 1.501-3.000 lao động, tỷ lệ từ 7,9%-4%.
+ Doanh nghiệp có từ 3.001 lao động, tỷ lệ từ 3,9%-1,2%.
UBND cấp huyện căn cứ vào chỉ tiêu trên giao, để giao chỉ tiêu xây dựng lực lượng DQTV cho từng đơn vị thuộc quyền.
IV. Quy định về chất lượng DQTV, chỉ tiêu phát triển Đảng, đoàn.
Từng bước nâng cao tỷ lệ đảng viên trong DQTV toàn tỉnh đạt 20% trở lên, trong đó tỷ lệ đảng viên trong quân đạt 16% trở lên; 100% cấp xã có đảng bộ được thành lập chi bộ quân sự , trong đó 20% trở lên chi bộ có cấp ủy, tiểu đội dân quân thường trực có đảng viên, trung đội dân quân cơ động có tổ đảng. Để nâng cao chất lượng của tổ chức đảng, hằng năm các cơ sở có kế hoạch kết nạp từ 01 đến 02 đảng viên ở mỗi chi bộ quân sự. tỉ lệ đoàn viên DQTV đạt trên 60%.
V. Thành phần, quy mô tổ chức xây dựng lực lượng
1. Cơ cấu thành phần lực lượng:
Từ kết quả rà soát. Củng cố kiện toàn về mặt tổ chức, thành phần các lực lượng, cần đạt được cụ thể như sau:
- Lực lượng DQTV cơ động tổ chức cấp trung đội chiếm tỷ lệ 34% so với tổng số DQTV; ở xã, phường, thị trấn trọng điểm về QP-AN được Tư lệnh quân khu ra quyết định công nhận theo đề nghị của UBND cấp tỉnh, thành lập 01 tiểu đội dân quân thường trực trong trung đội quân cơ động, quân số 09 đ/c.
- Lực lượng DQTV tại chỗ tổ chức cấp tổ, tiểu đội, trung đội chiếm tỷ lệ 47% so với tổng số DQTV.
- Lực lượng phòng không, pháp binh chiếm tỷ lệ 5%, các lực lượng binh chủng khác chiếm tổng tỷ lệ 8% so với tổng số DQTV.
2. Quy mô, tổ chức biên chế lực lượng DQTV
Tổ chức biên chế lực lượng DQTV bộ binh, binh chủng ở từng cấp thực hiện theo quy định của Quân khu, cụ thể:
a) Cấp tỉnh:củng cố và duy trì hoạt động 02 đại đội tự vệ pháo phòng không 37mm-1 (1 đại đội thuộc Công ty Chè Bàu cạn, 01 đại đội thuộc Công ty Thủy điện Ia Ly, quân số mỗi đại đội là 44 đ/c).
b) Cấp huyện:Xây dựng, quản lý lực lượng cơ động, binh chủng chiến đấu và một số binh chủng bảo đảm cần thiết gồm: Cối 82mm, ĐKZ 82mm, SMPK 12,7 mm, trinh sát, công binh, thông tin, y tế, phòng hóa với quy mo cụ thể:
* Lực lượng cơ động:Mỗi huyện, thị xã, thành phố xây dựng 01 trung đội Dân quân cơ động, quân số 28 đ/c. Công ty TNHH MTV cao su Mang Yang, Chư Prông, Chư Păh, chư Sê mỗi đơn vị xây dựng 03 trung đội tư vệ cơ động, quân số 28 đ/c, Công ty chè Đăk Đoa xây dựng 01 trung đội tư vệ cơ động, quân số 28 đ/c.
* Lực lượng phòng không, pháo binh:Xây dựng ở những xã dự kiến trên hướng tiến công chủ yếu, thứ yếu của địch hoặc địa bàn có giá trị về chiến thuật để bảo vệ khu sơ tán, khu tập trung bí mật, tiếp nhận dân quân dự bị và phương tiện kỹ thuật theo quyết tâm tác chiến phòng thủ của huyện, thị xã, thành phố, cụ thể:
* Lực lượng phòng không:1 trung đội quân số 15 đ/c:
+ Thành phố Pleiku, thị xã An Khê, Ayun Pa, huyện Chư Păh, Chư Sê, Chư Pưh, Phú Thiện, Krông Pa, Ia Pa, Kông Chro, Kbang, Đăk Pơ, Mang Yang, Đak Đoa, Đức Cơ mỗi đơn vị xây dựng 01 trung đội cối 82 mm, 01 trung đội ĐKZ và 02 khẩu cối 60mm.
+ Huyện Ia Grai, Chư Prông mỗi đơn vị xây dựng 01 trung đội cối 82 mm, 01 trung đội ĐKZ và 03 khẩu cối 60mm.
* Lực lượng công binh, thông tin, y tế, phòng hóa:Các huyện, thị xã, thành phố xây dựng mỗi binh chủng 01 tiểu đội, quân số 09 đ/c. Các huyện biên giới, các huyện nội địa (trừ 3 huyện Ia Pa, K ôngChro, Kbang xây dựng 01 tiểu đội công binh, quân số 09 đ/c), còn lại mỗi địa phương xây dựng 01 trung đội công binh, quân số 28 đ/c.
c) Cấp xã:Quy mô tổ chức chủ yếu cấp trung đội, tiểu đội và tổ, cụ thể:
- Lực lượng dân quân cơ động: tổ chức 01 trung đội, quân số 28 đ/c.
- Lực lượng dân quân thường trực: Tiếp tục cũng cố, thành lập các tiểu đội dân quân thường trực. Hằng năm căn cứ vào tình hình an ninh chính trị trật tự an toàn xã hội và tình hình thực tế, các địa phương soát xét, tổng hợp trình UBND tỉnh đề nghị Tư lệnh quân khu quyết định xã, phường, thị trấn trọng điểm về QP-AN,thành lập tiểu đội dân quân thường trực, quân số 09 đ/c trong trung đội dân quân cơ động. Lực lượng dân quân tại chỗ: Xây dựng các thôn, buôn, làng tổ dân phố tổ chức cấp tổ, quân số 03 đ/c.
d) Cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp:Xây dựng theo sự chỉ đạo của cơ quan quân sự cấp huyện, lấy đơn vị công tác, sản xuất, kinh doanh để tổ chức lực lượng tự vệ; quy mô tổ chức là tiểu đội, trung đội chiến đấu tại chổ, trung đội tự vệ cơ động; có thể tổ chức một số binh chủng, chủ yếu là phòng không, thông tin, y tế.
e) Đảm bảo trang bị vũ khí và công cụ hỗ trợ:
- Cấp xã phải quản lý vũ khí, công cụ hỗ trọ tập trung ở tủ súng bằng sắt, để nơi làm việc của ban CHQS xã. Tủ súng phải có 02 ôt kháo do Chỉ huy trưởng Ban CHQS cấp xã giữ 01 bộ khóa của 01 ổ khóa, Chỉ huy trưởng Ban CHQS cấp xã giữ 1 bộ khóa của ổ kháo còn lại; trường hợp 01 trong 02 người đi vắng thì bàn giao lại cho đồng chí Chính trị viên.
- Khi trang bị vũ khí cho lực lượng DQTV đi làm nhiệm vụ, phải có lệnh của Chỉ huy trưởng quân sự cấp huyện, được đăng ký vào sổ (ký nhận) và cấp giấy phép sử dụng vũ khí (mẫu in của Cục DQTV); thi hành xong nhiệm vụ phải thu hồi súng và cấp giấy phép sử dụng vũ khí để quản lý tập trung. Nghiêm cấm việc sử dụng vũ khí của DQTV trang bị cho lực lượng khác, hoặc sử dụng sai quy định. Đối với trường hợp sử dụng vũ khí ra ngoài địa bàn cấp huyện, giấy phép sử dụng vũ khí do Chỉ huy trưởng Bộ CHQS tỉnh ký.
- Trang bị súng đạn cho lực lượng DQTV: thực hiện theo quy định của Bộ Quốc phòng, Bộ Tư lệnh quân khu à Bộ CHQS tỉnh.
C. ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG, HUẤN LUYỆN QUÂN SỰ
1. Đào tạo hoàn thiện trung cấp chuyên nghiệp ngành quân sự cơ sở:
Tuyển chọn, tổ chức đào tạo hoàn thiện để cấp bằng trung cấp chuyên nghiệp ngành quân sự cơ sở cho số cán bộ đã qua đào tạo Chi huy truongr quân sự xã, phường, thị trấn theo Quyết định số 54/2004/QĐ-BQP ngày 07/5/2004 của Bộ Quốc phòng.
2. Đào tạo trung cấp chuyên nghiệp ngành quân sự cơ sở:
Tổ chức đào tạo 01 khóa trung cấp chuyên nghiệp ngành quân sự cơ sở quân số 100 đ/c. Phấn đấu đến cuối năm 2016 có 100% cán bộ quân sự cấp xã được đào tạo theo hướng chương trình quy định.
3. Đào tạo cao đẳng, đại học ngành quân sựu cơ sở:
Thực hiện theo Quyết định 97/QĐ-UBND ngày 14/3/2013 của UBND tỉnh phê duyệt kế hoạch đào tạo cán bộ quân sự Ban CHQS cấp xã trình độ cao đẳng, đại học ngành quân sự cơ sở đến năm 2020 và những năm tiếp theo. Phấn đấu đến năm 2016 đạt 30% số cán bộ quân sự có trình độ cao đẳng, đại học ngành quân sự cơ sở.
4. Bồi dưỡng, tập huấn cán bộ, huấn luyện chiến sĩ DQTV:
Thực hiện theo Thông tư 79/2010/TT-BQP ngày 23/6/2010 của Bộ Quốc phòng về ban hành chương trình bồi dưỡng, tập huấn cán bộ và huấn luyện DQTV nòng cốt.
D. HOẠT ĐỘNG CỦA DQTV
1. DQTV hoạt động sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu, phục vụ chiến đấu trong bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và các hoạt động khác phải đạ dưới sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, sự điều hành của chính quyền và sự chỉ huy trực tiếp của Chỉ huy trưởng Ban CHQS cấp xã, Chỉ huy trưởng Ban CHQS cơ quan, tổ chức ở cơ sở và sự chỉ huy, chỉ đạo của cơ quan quân sự cấp trên.
2. Nhiệm vụ hoạt động chiến đấu trị an, phòng chống thiên tai, dịch họa và công tác dân vận của lực lượng DQTV theo quyết định của cấp có thẩm quyền. Căn cứ vào quy định của cấp trên đê xây dựng kế hoạch hoạt động của lực lượng DQTV thông qua cấp ủy, chính quyền cùng cấp, người đứng đầu cơ quan, tổ chức. Ban CHQS huyện, thị xã, thành phố trực tiếp hướng dẫn, đôn đốc và phê chuẩn kế hoạch. Hàng năm, từng đơn vị tổ chức huấn luyện, diễn tập chiến đấu trị an cho 20-25% đơn vị cấp xã, để bổ sung hoàn chỉnh kế hoạch sát hạch với yêu cầu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh ở đơn vị cơ sở.
E. ĐẢM BẢO CHẾ ĐỘ, CHÍNH SÁCH CHO LỰC LƯỢNG DQTV
1. Đối với mức phụ cấp hàng tháng của Thôn đội trưởng; mức hỗ trợ đáng BHXH đối với chỉ huy phó Ban CHQS cấp xã; trọ cấp ngày công lao động; hỗ trợ tiền ăn cho dân quân khi thực hiện nhiệm vụ: áp dụng theo Nghị quyết số 22/2010/NQ-HĐND ngày 09/12/2010 của Hội đồng nhân dân tỉnh (khóa IX, kỳ họp thứ 21) và Quyết định số 36/2010/QĐ-UBND ngày 20/12/2010 của UBND tỉnh về việc quy định mức phụ cấp hàng tháng đối với thôn đội trưởng, mức hỗ trợ đóng Bảo hiểm xã hội trong thời gian giữ chức vụ Chỉ huy phó ban Chỉ huy quân sự cấp xã và các chế độ chính sách đối với dân quân tự vệ.
2. Chế độ, chính sách đối với dân quân thường trực:
- Dân quân thường trực được trợ cấp ngày công lao động bằng 0,08 mức lương tối thiểu chung, được bố trí nới ăn, nghỉ; được hỗ trợ tiền ăn bằng mức tiền ăn cơ bản của chiến sỹ bộ binh trong quân đội nhân dân ViệtNam.
- Dân quân nòng cốt đã hoàn thành nghĩa vụ tham gia DQTV, trong đó có ít nhất 12 tháng làm nhiệm vụ dân quân thường trực thì được miễn thực hiện nghĩa vụ quân sự tại ngũ và được hỗ trợ như sau:
+ 01 tháng tối thiểu chung đối với trường hợp có từ đủ 12 tháng đến dưới 18 tháng.
+ 02 tháng tối thiểu chung đối với trường hợp có từ đủ 18 tháng đến dưới 24 tháng.
+ 03 tháng tối thiểu chung đối với trường hợp có từ đủ 24 tháng trở lên.
3. Chế độ, chính sách đối với tự vệ:
Chính sách trả lương, phụ cấp trách nhiệm quản lý đơn vị, phụ cấp đặc thù quốc phòng, quân sự, phụ cấp thâm niên, các khoản phúc lợi, phụ cấp đi đường và tiền tàu, xe đối với tự vệ được thực hiện theo quy định của pháp luật về DQTV.
4. Các khoản phụ cấp được hưởng:
a) Phụ cấp trách nhiệm quản lý, chỉ huy đơn vị DQTV:thực hiện theo điều 37 nghị định số 58/2010/NĐ-CP ngày 01/6/2010 của Chính Phủ.
b) Chế độ phụ cấp thâm niên:Chỉ huy trưởng, chính trị viên, Chính trị viên phó, Chỉ huy phó Ban CHQS cấp xã có thời gian công tác liên tục từ đủ 60 tháng trở lên, tính từ khi có quyết định bổ nhiệm chức vụ đến khi thôi giữ chức vụ đó, được hưởng phụ cấp thâm niên, mỗi năm công tác bằng 1% lương và phụ cấp hiện hưởng.
c) Chế độ phụ cấp đặc thù quốc phòng, quân sự:Chỉ huy phó Ban chỉ huy quân sự cấp xã (trừ Chỉ huy phó Ban CHQS cấp xã được bố trí theo quy định tại điều 4 nghị định 92/2009/NĐ-CP), trung đội trưởng dân quân cơ động hàng tháng được hưởng chế độ phụ cấp đặc thù quốc phòng, quân sự. Mức hưởng phụ cấp bằng 50% mức phụ cấp hiện hưởng công phụ cấp chức vụ thâm niên (nếu có), tính từ tháng có quyết định bổ nhiệm đến khi thôi giữ chức.
5. Bảo đảm trang phục cho cán bộ, chiến sĩ DQTV nòng cốt:
Cán bộ, chiến sĩ DQTV nòng cốt được bảo đảm trang phục theo điều 21 nghị định số 58/2010/NĐ-CP ngày 01/6/2010 của Chính Phủ. Nguồn kinh phí do ngân sahcs cấp tỉnh cấp cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh để tổ chức may đo tập trung, thống nhất theo quy định.
6. Chế độ báo chí:
- Hàng ngày, Ban chỉ huy quân sự cấp xã, Ban chỉ huy quân sự cơ quan, tổ chức ở cơ sở, tiểu đội dân quân thường trực được mua 01 số báo Quân đội nhân dân, 01 số báo Gia Lai.
- Kinh phí mua báo do từng cấp bố trí ngân sách cho đơn vị thuộc ngân sách cấp mình. Đối với doanh nghiệp việc mua báo cho đơn vị tự vệ do doanh nghiệp đảm bảo.
G. BẢO ĐẢM TRỤ SỞ HOẶC PHÒNG LÀM VIỆC VÀ TRANG THIẾT BỊ CHUYÊN NGÀNH QUÂN SỰ CHO BAN CHỈ HUY QUÂN SỰ CẤP XÃ
1. Các huyện, thị xã, thành phố phấn đấu mỗi năm xây dựng từ 01 đến 02 nhà làm việc cho Ban CHQS cấp xã, nhằm bảo đảm phòng làm việc và phòng trực, sinh hoạt của lực lượng dân quân, dự bị động viên khi được huy động thực hiện các nhiệm vụ; phấn đấu đén cuối năm 2016 có từ 30-50% nhà làm việc cho Ban CHQS cấp xã. Đối với những địa phương chưa có điều kiện xây dựng nhà làm việc cho Ban CHQS cấp xã, thì bố trí phòng làm việc, phòng trực đủ diện tích cho hội họp, giao ban luân phiên trực sẵn sàng chiến đấu của lực lượng dân quân.
2. Bảo đảm phương tiện, trang thiết bị chuyên ngành quân sự cho Ban SHQS cấp xã theo quy định tại điều 23 nghị định số 58/2010/NĐ-CP ngày 01/6/2010 của Chính Phủ và quy định của Bộ Quốc phòng.
3. Đối với dân quân thường trực tại xã, phường, thị trấn trọng điểm về QP-AN được bảo đảm phòng trực, phòng sinh hoạt, phòng nghỉ nằm trong nhà làm việc của Ban SHQS cấp xã; bảo đảm giường, chiếu, chăn, màn, gối cá nhân và các trang thiết bị cần thiết khác cho công tác sinh hoạt của dân quân thường trực.
H. MUA SẮM CÔNG CỤ HỖ TRỢ
Để bảo đảm cho lực lượng DQTV tham gia có hiệu quả các hoạt động giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở cơ sở, hàng năm cấp xã tiến hành mua sắm và sử dụng trang bị công cụ hố trợ theo quy định của pháp luật, nhằm trang bị cho trung đội dân quân cơ đội, lực lượng dân quân thường trực và lực lượng thường xuyên bảo vệ an toàn trụ sở UBND cấp xã.
K. NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TỔ CHỨC XÂY DỰNG, HUẤN LUYỆN, HOẠT ĐỘNG CỦA LỰC LƯỢNG DQTV TỈNH GIA LAI TRONG TÌNH HÌNH MỚI
1. Tổ chức quán triệt cụ thể đề án này đến cấp ủy Đảng, UBND cấp huyện, cấp xã và đến từng cán bộ chủ chốt, lực lượng DQTV để mọi tổ chức, cá nhân đều hiểu rỏ mục đích, ý nghĩa tầm quan trọng và nắm vững các nội dung của Đề án, thực hiện có hiệu quả.
2. Cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp đề cao trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo, chăm lo xây dựng cơ quan quân sự địa phương, lực lượng DQTV vững mạnh toàn diện. Hàng năm, theo từng giai đoạn, cấp ủy Đảng có Nghị quyết lãnh đạo chuyên đề, chính quyền và các đoàn thể phải có kế hoạch thực hiện cụ thể đối với Luật DQTV. Kết hợp giữa chỉ đạo và tổ chức thực hiện, bảo đảm có nội dung, biện pháp tích cực, thực hiện và vượt các chỉ tiêu về tổ chức xây dựng, huấn luyện, hoạt động của lực lượng DQTV. Bố trí ngân sách, bảo đảm kinh phí, cơ sở vật chất phù hợp, đủ khả năng hoàn thành tót nhiệm vụ được giao trên, chú trong các địa bàn trọng điểm QP-AN, các xã vùng sâu, vùng xa, vùng đồng báo DTTS còn khó khăn.
3. Xây dựng lực lượng DQTV phải gắn liền với việc xây dựng cơ sở vũng mạnh toàn diện để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ QP-AN theo tinh thần Nghị quyết trung ương 5 (khóa IX) và chỉ thị 36/2005/CT-TTg ngày 17/10/2005 của Thủ tướng Chính phủ. Trên cơ sở xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh, thực sự là hạt nhân lãnh đạo toàn diện mọi mặt công tác và đời sống cơ sở, với việc củng cố bộ máy chính quyền thực sự của dân, do dân và vì dân; xây dựng các tổ chức đoàn thể, tổ chức chính trị xã hội thực sự là nòng cốt trong các phong trài cách mạng, để nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện Luật DQTV.
4. Triển khai kế hoạch tạo nguồn, bồi dưỡng, đào tạo, bố trí cán bộ DQTV theo chỉ tiêu được giao, bảo đảm có đủ đội ngũ cán bộ chỉ huy các đơn vị DQTV. Chú trọng xây dựng, củng cố đội ngũ cán bộ Ban chỉ huy quân sự cấp xã, cán bộ thôn đội trưởng vững mạnh. Tập trung nâng cao chất lượng tổng hợp và độ đáng tin cậy chính trị của lực lượng DQTV. Chú trọng lực lượng dân quân cơ động, dân quân vùng trọng điểm có tình hình an ninh chính trị phức tạp. Đẩy mạnh công tác tạo nguồn phát triển đảng viên, phấn đấu hằng năm nâng cao tỷ lệ đản viên trong lực lượng DQTV tăng từ 1- 1,5%, dân quân tăng 1%.
5. Thực hiện đầy đủ, có chất lượng nội dung, chương trình giáo dục chính trị, pháp luật và huấn luyện quân sự đối với lực lượng DQTV, bảo đảm đầu mối đơn vị và quân số đạt và vượt chỉ tiêu mức giao.
6. tăng cường việc hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra, chấn chỉnh những sai sót trong tổ chức xây dựng, huấn luyện và hoạt động của lực lượng DQTV. Định kỳ tiến hành sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm, nhằm phát huy những mặt tích cực tiến bộ, khắc phục những yếu kém tồn tại để xây dựng lực lượng DQTV thực sự tin cậy, chất lượng, hiệu quả.
L. THỜI GIAN, LỘ TRÌNH THỰC HIỆN ĐỀ ÁN
1. Thực hiện từ ngày 01 tháng 7 năm 2013:
- Củng cố, kiện toàn Ban CHQS cấp xã, Ban CHQS cơ quan, tổ chức ở cơ sở đủ thành phần theo Luật DQTV. Sắp xếp 80% Chỉ huy trưởng, Chỉ huy phó Ban CHQS cấp xã được đào tạo theo quy định.
- Cũng cố, kiện toàn đủ lực lượng dân quân thường trực, dân quân cơ động, dân quân tự vệ phòng không, pháo binh, công binh theo Đề án. Tổ chức huấn luyện 100% cơ sở, quân số huấn luyện đạt 85% trở lên so với tổng số lực lượng DQTV, kết quả huấn luyện 100% đạt yêu cầu (trong đó 65% khá, giỏi trở lên).
- Tập trung rèn luyện lễ tiết tác phong, xây dựng chế độ công tác của cán bộ, chiến sỹ DQTV, thống nhất biển bảng, sắp xếp nới ăn, ở cho lực lượng DQTV.
- triển khai thực hiện Đề án tổ chức xây dựng, huấn luyện, hoạt động và chế độ chính sách cho lực lượng DQTV theo Luật DQTV và các văn bản hướng dẫn thi hành. Các chế độ chính sách cho lực lượng DQTV được tính từ ngày 01/7/2013.
2. Thực hiện đến cuối năm 2016:
- Kiện toàn nâng cao chất lượng lực lượng DQTV, chủ yếu nâng cao chất lượng chính trị và độ tin cậy của lực lượng DQTV, phấn đấu có 100% thôn đội trưởng, trung đội trưởng dân quân cơ động, tiểu đội trưởng dân quân cơ động, tiểu đội trưởng dân quân thường trực là đảng viên.
- Xây dựng lực lượng DQTV theo đúng Luật DQTV, tỷ lệ đảng viên trong lực lượng DQTV đạt 20% trở lên (trong đó dân quân đạt 16% trở lên), tỷ lệ đoàn viên dân quân đạt 60% trở lên so với tổng số.
- 100% Chỉ huy trưởng, Chỉ huy phó Ban CHQS cấp xã, phường, thị trấn qua đào tạo trung cấp chuyên nghiệp quân sự cơ sở (trong đó 30% trở lên có trình độ cao đẳng, đại học ngành quân sự cơ sở).
Phần IV
NGÂN SÁCH THỰC HIỆN ĐỀ ÁN
Bảo đảm ngân sách thực hiện Đề án theo quy định tại điều 47 Nghị định số 58/2010/NĐ-CP ngày 01/6/2010 của Chính Phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật DQTV.
Hàng năm, các địa phương, đơn vị dự toán kinh phí, Sở Tài chính tổng hợp trình UBND tỉnh xem xét, quyết định.
Hàng năm, tùy theo điều kiên ngân sách của đại phương, Chủ tịch UBND tỉnh sẽ báo cáo HĐND tỉnh về phân bổ ngân sách, trong đó có phân bổ kinh phí thực hiện Đề án cho phù hợp.
Phần V
TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Bộ chỉ huy quân sự tỉnh:Căn cứ vào quy định của pháp luật về DQTV; mục tiêu, yêu cầu; tổ chức xây dựng lực lượng; huấn luyện; hoạt động; chế độ, chính sách và những giải pháp chủ yếu để nâng cao tổ chức xây dựng, huấn luyện, hoạt động được quy định tài phần III của Đề án này và những quy định của pháp luật về DQTV để phối hợp với các sở, ban, ngành, địa phương triển khai thực hiện đề án này hiệu quả. Chỉ đạo tổ chức thanh tra, kiểm tra, sơ kết, tổng kết công tác quốc phòng, quân sự địa phương, công tác DQTV trên địa bàn tỉnh hàng năm và từng thời kỳ báo cáo UBND tỉnh.
Chủ trì, phối hợp với các sở, ban, ngành, địa phương có liên quan, tham mưu UBND tỉnh ban hành đầy đủ các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện pháp luật về DQTV trên địa bàn tỉnh; căn cứ pháp luật về DQTV, các chỉ thị, mệnh lệnh về công tác DQTV của cấp trên và chỉ tiêu quy định tại Đề án này để đưa vào kế hoạch công tác DQTV và giáo dục quốc phòng-an ninh hàng năm; chỉ đạo cơ quan, đơn vị, địa phương phối hợp triển khai thực hiện, đồng thời theo chức năng, nhiệm vụ tham mưu cho tỉnh ủy, HĐND tỉnh chỉ đạo chặt chẽ việc xây dựng lực lượng DQTV găn với xây dựng nên quốc phòng toàn dân, xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh ngày càng vững chắc.
Hàng năm, phối hợp với các ngành có liên quan tham mưu cho UBND tỉnh khảo sát, rà soát xác định xã trọng điểm về QP-AN, báo cáo Bộ tư lệnh Quân khu quyết định.
2. Sở Kế hoạch và Đầu tư:Phối hợp với Bộ CHQS cấp tỉnh xây dựng kế hoạch chỉ tiêu thực hiện đào tạo cán bộ quân sự Ban CHQS cấp xã; đầu tư ngân sách cho thực hiện các nội dung của Đề án; hướng dẫn chỉ đạo các địa phương, đơn vị căn cứ vào yêu cầu xây dựng lực lượng DQTV tại địa phương và các nội dung được xác định trong Đề án, xây dựng kế hoạch để triển khai thực hiện Đề án tại cơ sở.
3. Sở Nội vụ:Phối hợp với Bộ CHQS cấp tỉnh thống nhất về tổ chức, biên chế cán bộ Ban CHQS cấp xã; cán bộ thôn, buôn, làng, tổ đội trưởng và chế độ chính sách cho đội ngũ này.
4. Sở Tài nguyên và Môi trường:Chủ trì, phối hợp với Bộ CHQS cấp tỉnh lập quy hoạch đất quốc phòng, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt dự án đầu tư, bố trí kinh phí bồi thường để khảo sát vị trí xây dựng thao trường huấn luyện, trận địa súng máy phòng không và địa trận pháo cối của lực lượng DQTV, phục vụ cho từng công tác huấn luyện, diễn tấp và tác chiến trong khu vực phòng thủ của từng địa phương.
5. Sở Lao động, Thương binh và Xã hội:Phối hợp với Bộ CHQS cấp tỉnh và các cơ quan có liên quan tham mưu cho UBND tỉnh triển khai hướng dẫn thực hiện Đề án, kiểm tra, giải quyết chế độ, chính sách đối với DQTV thuộc phạm vi trách nhiệm của ngành Lao động, Thương binh và Xã hội theo quy định của pháp luật.
6. Sở Tài chính:Chủ trì, phối hợp với Bộ CHQS cấp tỉnh và các cơ quan, ban, ngành, địa phương có liên qua hàng năm lập kế hoạch đảm bảo ngân sách, dự toán, chấp hành và quyết toán ngân sách, để kịp thời chi cho nhiệm vụ tổ chức xây dựng lực lượng; huấn luyện; hoạt động và bảo đảm chế độ, chính sách cho DQTV trên địa bàn tỉnh theo Luật Ngân sách nhà nước, quy định của pháp luật về DQTV.
7. Sở Tư pháp:Chủ trì, phối hợp với Bộ CHQS cấp tỉnh rà soát, soạn thảo các văn bản quy phạm pháp luật về DQTV, để tham mưu cho UBND tỉnh ban hành văn bản điều chỉnh các vấn đề liên quan công tác tổ chức xây dựng, huấn luyện, hoạt động và chế độ, chính sách đối với DQTV.
8. Các sở, ban, ngành:Theo chức năng, nhiệm vụ, tổ chức xây dựng lực lượng tự vệ cơ quan theo Luật DQTV, phối hợp với Bộ CHQS cấp tỉnh tham mưu cho tỉnh ủy, HĐND tỉnh và UBND tỉnh đôn đốc kiểm tra, tạo mọi điều kiện cho các địa phương, cơ sở, cơ quan, đơn vị xây dựng, huấn luyện, hoạt động và chế độ chính sách đối cho DQTV, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quốc phòng quân ở cơ sở trong tình hình mới.
9. Ủy ban nhân dân huyện, thị xã, thành phố:Tăng cường công tác chỉ đạo xây dựng lực lượng DQTV vững mạnh, rộng khắp và độ tin cậy ngày càng cao. Chỉ đạo Ban CHQS cấp huyện, thị xã, thành phố xây dựng kế hoạch tổ chức xây dựng, huấn luyện, hoạt động và bảo đảm các chế độ, chính sách đối với DQTV trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2013 – 2016, báo cáo Bộ CHQS tỉnh thẩm định, trình UBND huyện, thị xã, thành phố phê duyệt, triển khai thực hiện. Ban chỉ đạo Ban CHQS huyện, thị xã, thành phố và cấp xã hằng năm lập dự toán, chấp hành và quyết toán ngân sách chi cho việc tổ chức xây dựng lực lượng, huấn luyện, hoạt động và bảo đảm các chế độ, chính sách cho DQTV thuộc quyền theo Luật Ngân sách nhà nước; tổ chức thanh tra, kiểm tra, sơ kết, tổng kết công tác quốc phòng, quân sự địa phương, công tác DQTV trên địa bàn hàng năm và từng thời kỳ báo cáo UBND tỉnh và Bộ CHQS tỉnh./.