|
UBND TỈNH VĨNH PHÚC Số: 1922/2002/QĐ-UBND |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------------------------- tỉnh Vĩnh Phúc, ngày 28 tháng 05 năm 2002 |
QUYẾT ĐỊNH CỦA UBND TỈNH VĨNH PHÚC
Về việc ban hành quy định một số điểm về chế độ và trách nhiệm
của các cấp, các ngành trong công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc
---------------
UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Căn cứ Luật Tổ chức HĐND và UBND các cấp ngày 21-6-1994;
- Căn cứ Luật Khiếu nại, tố cáo ban hành ngày 02-12-1998 và Nghị định số 67/1999/NĐ-CP ngày 07-8-1999 của Chính phủ về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Khiếu nại, tố cáo;
- Xét đề nghị của Chánh Thanh tra tỉnh tại tờ trình số 09/TT-TTr ngày 25-12-2001 về việc ban hành quy định chế độ và trách nhiệm của các cấp, các ngành trong công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Ban hành kèm theo quyết định này quy định một số điểm về chế độ và trách nhiệm của các cấp, các ngành trong công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
Điều 2. Quyết định này thay thế quyết định số 839/QĐ-UB ngày 27-02-1998 của UBND tỉnh Vĩnh Phúc, có hiệu lực kể từ ngày ký ban hành.
Thủ trưởng các cơ quan: Văn phòng HĐND và UBND tỉnh, các Sở, Ban, Ngành, trực thuộc UBND tỉnh, Chủ tịch UBND các huyện, thị xã, Chủ tịch UBND các xã, phường, thị trấn và các cơ quan, đơn vị có liên quan, căn cứ quyết định thi hành./.
TM. UỶ BAN NHÂN DÂNTỈNH VĨNH PHÚC
CHỦ TỊCH
(Đã ký)
Trịnh Đình Dũng
QUY ĐỊNH
MỘT SỐ ĐIỂM VỀ CHẾ ĐỘ VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC CẤP,
CÁC NGÀNH TRONG CÔNG TÁC TIẾP CÔNG DÂN VÀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH VĨNH PHÚC
(Ban hành kèm theo Quyết định số 1922/2002/QĐ-UB ngày 28-5-2002
của Uỷ ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc)
---------------
CHƯƠNG I
QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1.
1. Bản quy định này nhằm cụ thể hoá một số điểm về chế độ, trách nhiệm của các cấp, các ngành trong công tác tiếp công dân, xử lý đơn và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo (KNTC) trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc theo quy định của Luật KNTC và Nghị định số 67/1999/NĐ-CP ngày 07-8-1999 của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thị hành Luật KNTC.
2. Những nội dung không nêu trong bản quy định này, được thực hiện, xử lý theo các quy định của Pháp luật về KNTC và các Luật khác có liên quan của Nhà nước CHXHCN Việt Nam.
Điều 2.
1. Chủ tịch UBND các cấp, Thủ trưởng các sở, ban, ngành chịu trách nhiệm trước pháp luật và thủ trưởng cấp trên trực tiếp về việc thực hiện chế độ tiếp công dân, giải quyết đơn thư KNTC thuộc thẩm quyền của cấp mình, ngành mình.
2. Hệ thống Thanh tra Nhà nước ở các cấp, các ngành có trách nhiệm tham mưu, giúp việc cho Chủ tịch UBND cùng cấp, Thủ trưởng các sở, ban, ngành trong công tác tiếp công dân và giải quyết KNTC.
CHƯƠNG II
NHỮNG QUY ĐỊNH CỤ THỂ
MỤC I- TỔ CHỨC TIẾP CÔNG DÂN VÀ XỬ LÝ ĐƠN, THƯ KNTC
Điều 3. - Chủ tịch UBND các cấp, Thủ trưởng các sở, ban, ngành, đơn vị, cơ quan phải bố trí phòng tiếp công dân tại trụ sở cơ quan mình, để tiếp công dân đến phản ánh, đề nghị KNTC.
- Phòng tiếp công dân phải được bố trí riêng, địa điểm thuận lợi, có bàn ghế, có nội quy tiếp, lịch tiếp, biển báo, hòm thư góp ý và các điều kiện cần thiết khác để phục vụ công tác tiếp công dân.
Điều 4. Lịch tiếp công dân định kỳ của lãnh đạo các cấp, các ngành được quy định cụ thể như sau:
1. Chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) trực tiếp tiếp công dân ít nhất một ngày trong tuần.
2. Chủ tịch UBND huyện, thị xã, Thủ tưởng các sở, ban, ngành trực thuộc cấp tỉnh trực tiếp tiếp công dân vào ngày 10 và 20 hàng tháng nếu trùng vào ngày nghỉ, ngày lễ, ngày tết... thì tiếp vào ngày làm việc tiếp theo.
3. Chủ tịch UBND tỉnh trực tiếp tiếp công dân vào ngày 10 hàng tháng nếu trùng vào ngày nghỉ, ngày lễ, ngày tết... thì tiếp vào ngày làm việc tiếp theo.
4. Ngoài các ngày tiếp công dân theo quy định tại các khoản: 1,2,3 điều này, việc tiếp công dân còn được thực hiện trong trường hợp khẩn thiết theo quy định tại điều 52 Nghị định 67/1999/NĐ-CP ngày 07-8-1999 của Chính phủ.
Điều 5. Trong các ngày tiếp công dân định kỳ của Chủ tịch UBND các cấp, tuỳ theo tình hình thực tế ở từng nơi, từng thời điểm, khi cần thiết Chủ tịch UBND các cấp có thể mời đại diện cấp uỷ, HĐND, Hội Nông dân, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể cùng cấp tham gia tiếp công dân, hoặc yêu cầu Chủ tịch UBND cấp dưới, Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc cấp mình đến trụ sở tiếp công dân cùng tham gia tiếp công dân và xử lý các sự vụ, tình huống đột xuất xảy ra trong ngày tiếp công dân.
Điều 6.
1. UBND các cấp thành lập tổ tiếp công dân và xử lý đơn thư KNTC do một Phó Văn phòng HĐND và UBND làm Tổ trưởng (ở cấp xã là cán bộ tư pháp hoặc cán bộ văn phòng) để giúp việc cho Chủ tịch UBND cùng cấp trong các ngày tiếp công dân định kỳ.
2. Cơ cấu, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Tổ do Chủ tịch UBND cùng cấp quy định, đảm bảo tổ hoạt động có hiệu quả, không trái các quy định của Pháp luật hiện hành.
3. Sau mỗi ngày tiếp công dân định kỳ, UBND các cấp phải ra thông báo kết quả tiếp công dân (chậm nhất sau 5 ngày) để báo cáo và chỉ đaọ các cơ quan chức năng xem xét giải quyết trả lời các đề nghị, kiến nghị, KNTC của Tổ chức, cá nhân đảm bảo đúng thời hạn, hình thức văn bản theo quy định của Luật KNTC.
Điều 7. Việc tiếp công dân trong ngày tiếp định kỳ thực hiện theo thứ tự đã đăng ký trước. Trường hợp có nhiều công dân, nhiều đoàn KNTC đông người đến đăng ký gặp người chủ trì tiếp công dân, thì người chủ trì buổi tiếp quyết định thời gian tiếp cho từng lượt người, số người đại diện cho từng đoàn... Đảm bảo tiếp được nhiều lượt người, thực hiện công bằng, dân chủ và bình đẳng giữa các công dân.
Điều 8. Chế độ tiếp công dân thường xuyên do hệ thống Thanh tra Nhà nước ở các cấp, các ngành thực hiện (ở cấp xã do Thanh tra Nhân dân đảm nhận). Chánh Thanh tra các huyện, thị xã, sở, ban, ngành chịu trách nhiệm về công tác này trước Chủ tịch UBND cùng cấp, Thủ trưởng các sở, ban, ngành và Chánh Thanh tra tỉnh.
Điều 9. Việc phân công hoặc cử cán bộ, công chức thường trực tiếp công dân thường xuyên ở các cấp, các ngành do Thủ trưởng các cơ quan Thanh tra Nhà nước ở cấp đó, ngành đó quyết định. Những nơi chưa có tổ chức thanh tra thì do Thủ trưởng cơ quan quyết định. Trách nhiệm, quyền hạn của cán bộ, công chức tiếp công dân thực hiện theo quy định của Luật KNTC và Nghị định 67/1999/NĐ-CP của Chính phủ.
Điều 10.
1. Công dân đến trụ sở tiếp công dân của các cấp, các ngành để phản ánh, đề nghị, KNTC phải chấp hành nội quy nơi tiếp, có quyền và nghĩa vụ theo quy định tại điều 17, 18, 57, 58, 78, 79 Luật KNTC. Mọi hành vi vi phạm pháp luật như: Gây rối trật tự, vu cáo, xúc phạm người thi hành công vụ... của các công dân tại trụ sở tiếp công dân phải được xử lý theo đúng Pháp luật.
2. Công an tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo lực lượng Công an các huyện, thị xã, xây dựng phương án bảo vệ an toàn trật tự công cộng tại trụ sở tiếp công dân của các cấp, các ngành trong các ngày tiếp công dân định kỳ của UBND các cấp, các ngành và lập hồ sơ theo dõi để xử lý các đối tượng thường vi phạm tại trụ sở tiếp công dân của các cấp, các ngành.
Điều 11.
1. Việc tiếp nhận, phân loại, xử lý đơn thư KNTC phải thực hiện theo đúng quy định tại các điều 5, 43, 44, 45 Nghị định 67/1999/NĐ-CP của Chính phủ và phải được ghi chép, cập nhật đầy đủ vào sổ, sách, mẫu, biển theo mẫu thống nhất chung trong toàn tỉnh.
2. Thanh tra Nhà nước các cấp có trách nhiệm tham mưu, giúp việc cho Chủ tịch UBND cùng cấp phân loại, xử lý đơn thư KNTC theo đúng quy định của pháp luật hiện hành.
MỤC II- TRÌNH TỰ GIẢI QUYẾT ĐƠN, THƯ KNTC
Điều 12. Việc giải quyết đơn, thư KNTC phải đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục, thờin hạn theo quy định của Luật KNTC, đối với các vụ việc, điểm phức tạp về KNTC phải được các cấp, các ngành tập trung, ưu tiên xem xét giải quyết trước theo đúng thời hạn, chỉ đạo của cấp trên.
Điều 13. Các cơ quan được giao nhiệm vụ thụ lý, xác minh, xem xét giải quyết đơn thư KNTC phải thường xuyên trực tiếp đối thoại với các công dân có đơn thư KNTC trong quá trình xem xét giải quyết. Để việc giải quyết hoặc đề xuất giải quyết đúng bản chất nội dung KNTC, đảm bảo tính khách quan, trung thực, công khai và dân chủ (trừ những vụ việc KNTC có liên quan công tác bảo mật theo quy định của pháp luật).
Điều 14. Đối với những vụ việc phức tạp có liên quan đến công tác quản lý Nhà nước của nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều lĩnh vực thì cơ quan hoặc đoàn thanh tra được giao nhiệm vụ thẩm tra, xác minh, trước khi ra văn bản chính thức phải tham khảo ý kiến của các cấp, các ngành có liên qua dưới các hình thức: mở hội nghị tư vấn hoặc gửi văn bản xin ý kiến sau đó trực tiếp đối thoại với: nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan để việc giải quyết KNTC được khách quan, đúng pháp luật, tránh trường hợp phải làm đi, làm lại nhiều lần, mất lòng tin của công dân đi KNTC.
Điều 15. Các cơ quan, đơn vị được giao nhiệm vụ thẩm tra, xác minh, kết luận vụ việc KNTC khi báo cáo, đề xuất biện pháp giải quyết với cấp có thẩm quyền cần nêu ra nhiều phương án xử lý để lựa chọn, nhưng nhất thiết phải nêu rõ quan điểm xử lý của cơ quan, đơn vị mình về một phương án nhất định, cơ sở pháp lý và thực tế, tính khả thi của phương án đó.
Điều 16.
1. Chủ tịch UBND các cấp, Thủ trưởng cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giải quyết KNTC, khi cần giải quyết KNTC phải ra quyết định giải quyết đối với đơn khiếu nại, kết luận giải quyết và quyết định xử lý đối với đơn tố cáo với các nội dung theo đúng quy định tại các điều 37, 38, 45, 53, 68 Luật KNTC.
2. Chủ tịch UBND cấp trên có quyền yêu cầu Chủ tịch UBND cấp dưới hoặc Thủ trưởng các cơ quan trực thuộc xem xét lại quyết định hoặc kết luật giải quyết của mình mà nội dung và hình thức văn bản đó không đúng quy định của pháp luật.
Điều 17. Một vụ việc KNTC được coi là đã hết thẩm quyền giải quyết của một cấp khi Chủ tịch UBND cấp đó có quyết định giải quyết (đối với khiếu nại) hoặc kết luật giải quyết (đối với tố cáo) mà nội dung, hình thức của nó đúng quy định tại điều 16 (nêu trên) và có văn bản trả lời lần cuối của cấp đó khi quyết định hoặc kết luận giải quyết này bị khiếu nại, tố cáo.
Điều 18. Chủ tịch UBND cấp trên hoặc Thủ trưởng các cơ quan cùng cấp được giao nhiệm vụ thẩm tra, xác minh, giải quyết KNTC tiếp theo, khi phát hiện những vụ việc đã được cơ quan, đơn vị, cấp dưới giải quyết hết thẩm quyền, nhưng việc giải quyết đó có vi phạm pháp luật hoặc xử lý chưa đúng, chưa khách quan, gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân thì có quyền trả lại hồ sơ, yêu cầu cấp dưới hoặc cơ quan, đơn vị đã giải quyết, giải quyết lại vụ việc theo đúng quy định của pháp luật.
Điều 19. Việc giải quyết đơn thư KNTC phải lập thành bộ hồ sơ theo quy định tại các điều 47, 73 Luật KNTC. Được lưu trữ tập trung, bảo mật theo quy định ở từng cấp, cơ quan, đơn vị đã giải quyết. Khi cần thiết, người, cơ quan cấp trên có thẩm quyền yêu cầu thì cấp dưới hoặc các đơn vị cơ quan đã tham gia giải quyết vụ việc có trách nhiệm sao gửi toàn bộ hồ sơ vụ việc cho người, cơ quan yêu cầu để nghiên cứu giải quyết vụ việc theo đúng trình tự, quy định của pháp luật.
MỤC III- VIỆC THỰC HIỆN CÁC QUYẾT ĐỊNH, KẾT LUẬN GIẢI QUYẾT KNTC CỦA CƠ QUAN NHÀ NƯỚC CÓ THẨM QUYỀN.
Điều 20.
1. Các quyết định, kết luận giải quyết KNTC và quyết định xử lý đã có hiệu lực pháp luật của cấp có thẩm quyền phải được Chủ tịch UBND cấp dưới và thủ trưởng các cơ quan, đơn vị, cá nhân có liên quan chấp hành nghiêm chỉnh, theo đúng thời hạn quy định trong văn bản giải quyết hoặc theo quy định của pháp luật.
2. Khi tổ chức thực hiện các quyết định, kết luận giải quyết KNTC và quyết định xử lý đã có hiệu lực pháp luật của cấp có thẩm quyền, các cơ quan tham mưu ở các cấp, các ngành phải xây dựng các phương án, biện pháp cụ thể trình Chủ tịch UBND, Thủ trưởng cơ quan cùng cấp phê duyệt. Sau đó tổ chức thực hiện theo phương án, biện pháp đã được phê duyệt.
3. Trong quá trình tổ chức thực hiện có khó khăn, vướng mắc phát sinh thì cơ quan, đơn vị có trách nhiệm tổ chức thực hiện phải báo cáo, xin ý kiến bằng văn bản với cơ quan ra văn bản giải quyết KNTC biết, để các cơ quan này có biện pháp xử lý tiếp theo. Các cấp, các ngành, cơ quan được xin ý kiến phải trả lời cho cấp, ngành, cơ quan xin ý kiến bằng văn bản trong thời hạn nhất định, để vụ việc KNTC được thực hiện triệt để, không bị kéo dài.
4. Mọi hành vi chống đối, cản trở, trì hoãn, không thực hiện hoặc thực hiện không nghiêm túc văn bản giải quyết KNTC của cấp có thẩm quyền đều được coi là vi phạm pháp luật. Tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm của các đối tượng mà cấp có thẩm quyền xử lý đúng theo quy định của pháp luật hiện hành.
Điều 21.
1. Hệ thống Thanh tra Nhà nước ở các cấp, các ngành có trách nhiệm giúp Chủ tịch UBND cùng cấp, Thủ trưởng các sở, ban, ngành đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện các văn bản giải quyết hoặc văn bản chỉ đạo giải quyết KNTC của cấp có thẩm quyền, định kỳ báo cáo kết quả thực hiện với Chủ tịch UBND cùng cấp, thủ trưởng đơn vị mình và cấp trên trực tiếp theo quy định.
2. Chủ tịch UBND, Thủ trưởng các cơ quan Nhà nước cấp dưới chịu trách nhiệm trước Chủ tịch UBND, Thủ trưởng cơ quan Nhà nước cấp trên về kết quả tổ chức thực hiện các văn bản giải quyết KNTC đã có hiệu lực pháp luật của cấp có thẩm quyền.
MỤC IV- MỐI QUAN HỆ, SỰ PHỐI HỢP GIỮA CÁC CẤP, CÁC NGÀNH TRONG CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT KNTC
Điều 22. Thanh tra tỉnh giúp UBND tỉnh thống nhất quản lý Nhà nước về công tác giải quyết KNTC trong phạm vi toàn tỉnh, có nhiệm vụ: hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra, đôn đốc các ngành, các cấp trong công tác tiếp dân, giải quyết KNTC và thực hiện quyền Thanh tra Nhà nước đối với các cơ quan, đơn vị thuộc quyền quản lý của UBND tỉnh trong việc chấp hành pháp luật về KNTC. Các kiến nghị đúng pháp luật của Chánh thanh tra tỉnh phải được thủ trưởng các sở, ban, ngành trực thuộc UBND tỉnh và Chủ tịch các huyện, thị xã trong tỉnh nghiêm chỉnh thực hiện.
Điều 23.
1. Các cấp, các ngành phải phối hợp chặt chẽ với nhau trong quá trình giải quyết KNTC. Đối với vụ việc KNTC có nhiều nội dung có liên quan đến lĩnh vực quản lý nhà nước của nhiều ngành hoặc thuộc thẩm quyền giải quyết của nhiều cấp thì việc giải quyết các vụ việc này theo trình tự từ dưới lên trên. Cấp dưới trước khi kết luận, quyết định giải quyết một vấn đề phức tạp mà khả năng sau khi giải quyết công dân còn KNTC, thì phải báo cáo, xin ý kiến với cấp trên hoặc ngành có liên quan để có sự thống nhất chung.
2. Cấp trên hoặc ngành có liên quan, khi được xin ý kiến phải cho ý kiến bằng văn bản trong thời hạn nhất định và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung ý kiến đó, đảm bảo vụ việc được giải quyết khách quan, thống nhất, đúng pháp luật. Trường hợp cấp trên, ngành trên được xin ý kiến mà không có ý kiến thì coi như cấp đó, ngành đó đã đồng ý với việc giải quyết KNTC của cấp, ngành đã xin ý kiến.
Điều 24. Trong quá trình giải quyết KNTC Chủ tịch UBND các cấp phải tranh thủ sự lãnh, chỉ đạo của cấp uỷ Đảng, ý kiến của Thường trực HĐND, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể cùng cấp, để việc giải quyết KNTC ở cấp mình đảm bảo khách quan, dân chủ, đúng pháp luật.
Điều 25.
1. Đối với vụ việc KNTC phức tạp, có nhiều nội dung phải thành lập Đoàn thanh tra liên ngành để xem xét giải quyết, trong trường hợp này thời hạn giải quyết được tính theo thời hạn của pháp luật về Thanh tra.
2. Khi giải quyết KNTC liên quan đến nông dân và nông thôn thì UBND các cấp phải phối hợp với Hội Nông dân cùng cấp xem xét giải quyết theo Chỉ thị số 26/2001/CT-TTg ngày 09-10-2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc "Tạo điều kiện để Hội Nông dân các cấp tham gia giải quyết KNTC của nông dân".
Điều 26. Trong quá trình giải quyết KNTC, khi có đủ căn cứ xác định vụ việc có dấu hiệu tội phạm, thì cơ quan đang thụ lý giải quyết kịp thời báo cáo cơ quan có thẩm quyền quyết định chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra để xử lý theo quy định của pháp luật.
CHƯƠNG III
KHEN THƯỞNG VÀ XỬ LÝ VI PHẠM
Điều 27. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thành tích trong việc giải quyết KNTC, người tố cáo đúng, có công trong việc ngăn ngừa thiệt hại cho Nhà nước, tổ chức, cá nhân thì được xem xét khen thưởng theo quy định hiện hành.
Điều 28. Chủ tịch UBND các cấp, Thủ trưởng các cơ quan trực thuộc UBND các cấp, trong phạm vi chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm xem xét, xử lý đối với cán bộ, công chức thuộc quyền quản lý của cấp mình, ngành mình; có hành vi vi phạm pháp luật về giải quyết KNTC theo đúng quy định của pháp luật hiện hành.
Điều 29. Cán bộ, công chức và các công dân có một trong các hành vi quy định tại các điều 96, 97, 98, 99, 100 của Luật KNTC; Thủ trưởng cơ quan Nhà nước thiếu trách nhiệm, không áp dụng các biện pháp cần thiết tuân theo pháp luật để thực hiện các quyết định giải quyết khiếu nại, quyết định xử lý tố cáo... thì tuỳ theo tính chất, mức độ sẽ bị xử phạt hành chính, kỷ luật hành chính, bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật KNTC gây ra, hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật hiện hành.
CHƯƠNG IV
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 30.
1. Chủ tịch UBND các cấp, Thủ trưởng các sở, ngành, đơn vị trực thuộc UBND cùng cấp; hàng tháng, quý, 6 tháng, 1 năm phải báo cáo bằng văn bản kết quả tiếp công dân, giải quyết KNTC với Thủ trưởng cấp trên trực tiếp, cấp uỷ Đảng, Thường trực HĐND, MTTQ cùng cấp, đồng gửi Thanh tra Nhà nước cấp trên để tổng hợp theo dõi.
2. Mỗi tháng một lần UBND cấp huyện, thị xã phải tổ chức kiểm tra việc giải quyết đơn thư KNTC và tổ chức thực hiện ở cơ sở đối với các quyết định, kết luận giải quyết KNTC đã có hiệu lực pháp luật của cấp có thẩm quyền.
3. Mỗi quý một lần UBND tỉnh kiểm tra việc giải quyết đơn thư KNTC và việc thực hiện ở các huyện, thị xã trong tỉnh đối với các quyết định, kết luận giải quyết KNTC của cấp có thẩm quyền, đã có hiệu lực pháp luật. Việc kiểm tra này do Chánh Thanh tra tỉnh chủ trình phối hợp cùng với Tổ tiếp công dân của tỉnh và một số ngành có liên quan thực hiện.
Điều 31. Công tác tiếp công dân, giải quyết KNTC là công việc khó khăn, phức tạp có ảnh hưởng đến tất cả lĩnh vực chính trị, kinh tế, an ninh trật tư, văn hoá, xã hội của tỉnh. Hàng năm UBND các cấp, các ngành cần phải dành một khoản kinh phí hợp lý để hỗ trợ các tổ chức thanh tra của ngành mình, cấp mình hoàn thành tốt công tác tiếp công dân giải quyết KNTC.
Điều 32. Chánh thanh tra tỉnh có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan: Sở Tư pháp, cơ quan thông tin đại chúng của tỉnh tổ chức tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn, kiểm tra đôn đốc việc thực hiện bản quy định này. Định kỳ tổng hợp báo cáo kết quả về UBND tỉnh theo quy định.
Trong quá trình thực hiện các cấp, các ngành, các cơ quan, đơn vị cơ vướng mắc, gửi văn bản về UBND tỉnh (qua Thanh tra tỉnh để tổng hợp báo cáo) để sửa đổi, bổ sung kịp thời.
TM. UỶ BAN NHÂN DÂNTỈNH VĨNH PHÚC