Quay lại

Quyết định 2006/QĐ-KTNN 2018 Tài liệu bồi dưỡng lãnh đạo quản lý cấp Trưởng đoàn kiểm toán

KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 2006/QĐ-KTNN

Hà Nội, ngày 03 tháng 10 năm 2018

QUYẾT ĐỊNH

BAN HÀNH TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG KỸ NĂNG LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ CẤP TRƯỞNG ĐOÀN KIỂM TOÁN

TNG KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC

Căn cứ Luật Kiểm toán nhà nước;

Căn cứ Nghị định số 101/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức;

Căn cứ Quyết định số 1822/QĐ-KTNN ngày 20/12/2017 của Tổng Kiểm toán nhà nước về việc ban hành Quy chế đào tạo, bồi dưỡng của Kiểm toán nhà nước;

Xét đề nghị của Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ và Giám đốc Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này "Tài liệu bồi dưỡng kỹ năng lãnh đạo, quản lý cấp Trưởng đoàn kiểm toán"

Điều 2. Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ, Giám đốc Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán, Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc Kiểm toán nhà nước và các đơn vị, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.


Nơi nhận:
- Như Điều 2;
- Lãnh đạo KTNN;
- Các đơn vị trực thuộc KTNN;
- Trường ĐT&BD NVKT (02);
- Lưu: VT, TCCB (02).

KT. TỔNG KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC
PHÓ TỔNG KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC




Đoàn Xuân Tiên



DANH MỤC VIẾT TẮT


Viết tắt
Nguyên nghĩa
KTNN
Kiểm toán nhà nước
KTVNN
Kiểm toán viên nhà nước
KHKT
Kế hoạch kiểm toán
BBKT
Biên bản kiểm toán
BCTC
Báo cáo tài chính
BCKT
Báo cáo kiểm toán
CMKTNN
Chuẩn mực kiểm toán nhà nước
KSNB
Kiểm soát nội bộ
KSCLKT
Kiểm soát chất lượng kiểm toán
CĐ&KSCLKT
Chế độ và Kiểm soát chất lượng kiểm toán
HTKSNB
Hệ thống kiểm soát nội bộ
UBND
Ủy ban nhân dân
XDCB
Xây dựng cơ bản

MỤC LỤC


I. TỔNG QUAN


1. Tên chương trình: Bồi dưỡng kỹ năng lãnh đạo, quản lý cấp Trưởng đoàn kiểm toán


2. Số tiết: 24 tiết


3. Đối tượng đào tạo


- KTVNN đáp ứng tiêu chuẩn Trưởng đoàn kiểm toán theo quy định của Luật KTNN, cụ thể: KTVNN chính giữ chức vụ từ Phó trưởng phòng trở lên hoặc KTVNN giữ chức vụ từ Trưởng phòng trở lên.


- Các đối tượng khác cần bồi dưỡng, bổ trợ kỹ năng và kiến thức chuyên môn nghiệp vụ kiểm toán theo quyết định của Tổng KTNN.


4. Mục tiêu


Bồi dưỡng kỹ năng quản lý, lãnh đạo Đoàn kiểm toán cho người học.


5. Mô tả tóm tắt chương trình


Trang bị cho học viên các kỹ năng quản lý, lãnh đạo (Kỹ năng tổ chức, sắp xếp nhân sự Đoàn kiểm toán; Kỹ năng tổ chức cuộc họp; Kỹ năng tổ chức và kiểm soát tiến độ công việc của các Tổ kiểm toán; Kỹ năng kiểm soát và đánh giá chất lượng công việc của các Tổ kiểm toán) và kinh nghiệm xử lý các mối quan hệ trong hoạt động kiểm toán gắn với vị trí Trưởng đoàn kiểm toán nhằm nâng cao năng lực thực thi nhiệm vụ kiểm toán được phân công của Trưởng đoàn kiểm toán đáp ứng yêu cầu phát triển của KTNN.


Việc trang bị kiến thức nghiệp vụ chuyên môn cho Trưởng đoàn kiểm toán được triển khai tại các chương trình đào tạo, bồi dưỡng khác.


6. Tài liệu tham khảo


- Luật KTNN số 81/2015/QH13 ngày 24 tháng 6 năm 2015 của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.


- Hệ thống Chuẩn mực KTNN được ban hành theo Quyết định số 02/2016/QĐ-KTNN ngày 15 tháng 7 năm 2016 của Tổng KTNN về việc Ban hành Hệ thống CMKTNN.


- Quy trình kiểm toán của KTNN ban hành kèm theo Quyết định số 08/2016/QĐ-KTNN ngày 23/12/2016 của Tổng KTNN.


- Quy tắc ứng xử của KTVNN ban hành kèm theo Quyết định số 04/2016/QĐ-KTNN ngày 29/8/2016 của Tổng KTNN.


- Quy chế tổ chức và hoạt động của Đoàn kiểm toán ban hành kèm theo Quyết định số 01/2016/QĐ-KTNN ngày 20/6/2016 của Tổng KTNN.


- Các tài liệu khác có liên quan.


II. NỘI DUNG


PHẦN 1. KỸ NĂNG LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ CỦA TRƯỞNG ĐOÀN KIỂM TOÁN


1. NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA TRƯỞNG ĐOÀN KIỂM TOÁN


1 .1 . Nhiệm vụ của Trưởng đoàn kiểm toán


Thứ nhất, tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm toán.


Đoàn kiểm toán được thành lập để thực hiện nhiệm vụ kiểm toán của KTNN. Trưởng đoản kiểm toán là người đứng đầu Đoàn kiểm toán, có nhiệm vụ tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm toán theo quyết định kiểm toán được Tổng KTNN ban hành. Trưởng đoàn phân công nhiệm vụ cho Phó Trưởng đoàn kiểm toán, Tổ trưởng Tổ kiểm toán; chỉ đạo việc xây dựng và phê duyệt KHKT chi tiết của các Tổ kiểm toán theo đúng mục tiêu, nội dung, phạm vi đã được lãnh đạo KTNN phê duyệt tại KHKT của Đoàn kiểm toán. Trưởng đoàn tổ chức, kiểm tra việc thực hiện Quy chế tổ chức và hoạt động của Đoàn kiểm toán, chuẩn mực kiểm toán, quy trình, phương pháp chuyên môn, nghiệp vụ kiểm toán, ghi chép và lưu trữ, bảo quản hồ sơ kiểm toán và thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, soát xét nhằm đảm bảo chất lượng kiểm toán. Bên cạnh đó, Trưởng đoàn kiểm toán thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát nhật ký kiểm toán, hồ sơ kiểm toán của Đoàn kiểm toán; chỉ đạo thành viên Đoàn kiểm toán hoàn chỉnh hồ sơ kiểm toán, sắp xếp, nộp hồ sơ lưu trữ của Đoàn kiểm toán theo quy định.


Thứ hai, duyệt BBKT của Tổ kiểm toán.


Trên cơ sở báo cáo kết quả kiểm toán của Tổ kiểm toán, Trưởng đoàn kiểm tra, soát xét BBKT, các bằng chứng kiểm toán; giải quyết theo thẩm quyền những vấn đề còn có các ý kiến khác nhau trong Tổ kiểm toán. Trưởng đoàn cũng yêu cầu Tổ kiểm toán làm rõ, giải trình những nội dung ghi trong dự thảo BBKT, đánh giá mức độ hoàn thành KHKT và mục tiêu kiểm toán; chỉ đạo Tổ kiểm toán tiếp tục thực hiện các thủ tục kiểm toán nếu thấy cần thiết. Trưởng đoàn kiểm toán phê duyệt BBKT của Tổ kiểm toán trước khi Tổ kiểm toán thông qua tại đơn vị kiểm toán chi tiết.


Thứ ba, chủ trì lập BCKT của Đoàn kiểm toán.


Trên cơ sở kết quả tổng hợp tình hình, số liệu kiểm toán, Trưởng đoàn lập dự thảo BCKT. Tổ chức thảo luận trong Đoàn kiểm toán để lấy ý kiến tham gia của các thành viên Đoàn kiểm toán về đánh giá, nhận xét, kết luận và kiến nghị trong dự thảo BCKT; xem xét, tiếp thu các ý kiến đóng góp của các thành viên trong Đoàn kiểm toán, hoàn chỉnh dự thảo BCKT để trình Kiểm toán trưởng xét duyệt.


Bên cạnh đó, Trưởng đoàn có nhiệm vụ báo cáo, giải trình kết quả kiểm toán trước Thủ trưởng đơn vị chủ trì cuộc kiểm toán và cùng Thủ trưởng đơn vị chủ trì cuộc kiểm toán báo cáo, giải trình kết quả đó trước Tổng KTNN; báo cáo giải trình kết quả kiểm toán đột xuất khi Tổng KTNN yêu cầu; tổ chức thông báo kết quả kiểm toán đã được Tổng KTNN thông qua với đơn vị được kiểm toán; ký vào BCKT.


Thứ tư, quản lý các thành viên Đoàn kiểm toán


Trưởng đoàn có nhiệm vụ quản lý các thành viên Đoàn kiểm toán trong thời gian thực hiện nhiệm vụ kiểm toán.


Thứ năm, báo cáo với người có thẩm quyền.


Trưởng đoàn có nhiệm vụ báo cáo định kỳ hoặc đột xuất theo yêu cầu của Thủ trưởng đơn vị chủ trì cuộc kiểm toán hoặc Tổng KTNN về tiến độ thực hiện KHKT, tình hình và kết quả hoạt động kiểm toán.


Thứ sáu, chấp hành các quy định của KTNN.


Với tư cách của KTVNN, Trưởng đoàn có nhiệm vụ chấp hành kỷ luật công tác của Đoàn kiểm toán theo quy định của Tổng KTNN.


1.2. Quyền hạn của Trưởng đoàn kiểm toán


Để đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ kiểm toán, Trưởng đoàn có thẩm quyền sau:


Một là, yêu cầu cung cấp thông tin.


Trưởng đoàn có quyền yêu cầu đơn vị được kiểm toán cung cấp thông tin, tài liệu cần thiết và giải trình các vấn đề có liên quan đến nội dung kiểm toán; yêu cầu kiểm kê tài sản, đối chiếu công nợ của đơn vị được kiểm toán liên quan đến nội dung kiểm toán. Bên cạnh đó, Trưởng đoàn cũng có quyền đề nghị tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp tài liệu, thông tin liên quan đến nội dung kiểm toán.


Để có thể thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán, Trưởng đoàn có quyền đề nghị Thủ trưởng đơn vị chủ trì cuộc kiểm toán kiến nghị Tổng KTNN quyết định kiểm tra tài khoản của đơn vị được kiểm toán hoặc cá nhân có liên quan tại tổ chức tín dụng hoặc Kho bạc nhà nước theo quy định của pháp luật; niêm phong tài liệu của đơn vị được kiểm toán khi có hành vi vi phạm pháp luật hoặc có hành vi sửa đổi, chuyển dời, cất giấu, tiêu hủy tài liệu có liên quan đến nội dung kiểm toán.


Hai là, yêu cầu báo cáo kết quả kiểm toán.


Trưởng đoàn có quyền yêu cầu Phó Trưởng đoàn kiểm toán, Tổ trưởng Tổ kiểm toán và các thành viên Đoàn kiểm toán báo cáo kết quả kiểm toán. Trưởng đoàn quyết định khi có các ý kiến khác nhau trong Đoàn kiểm toán về kết quả kiểm toán.


Ba là, bảo lưu ý kiến.


Trưởng đoàn có quyền bảo lưu bằng văn bản ý kiến của mình khác với đánh giá, xác nhận, kết luận và kiến nghị trong BCKT.


Bốn là, báo cáo để đề nghị xử lý trách nhiệm của đơn vị được kiểm toán.


Trong quá trình tổ chức thực hiện kiểm toán, Trưởng đoàn có quyền báo cáo Thủ trưởng đơn vị chủ trì cuộc kiểm toán đề nghị Tổng KTNN kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý đối với hành vi vi phạm pháp luật của đơn vị được kiểm toán.


Năm là, tạm đình chỉ nhiệm vụ kiểm toán.


Khi phát hiện các thành phần của Đoàn kiểm toán (từ Tổ trưởng Tổ kiểm toán trở xuống) có dấu hiệu vi phạm “các hành vi bị nghiêm cấm trong quá trình thực hiện nhiệm vụ kiểm toán”, Trưởng đoàn kiểm toán có quyền tạm đình chỉ nhiệm vụ của thành viên vi phạm.


Sáu là, được đảm bảo điều kiện thực hiện kiểm toán.


Trưởng đoàn được bảo đảm điều kiện và phương tiện cần thiết để tiến hành kiểm toán có hiệu quả. Đồng thời được pháp luật bảo vệ trong quá trình thực hiện nhiệm vụ kiểm toán.


Bảy là, đề nghị khen thưởng, kỷ luật.


Trưởng đoàn có quyền đề nghị khen thưởng, kỷ luật đối với Phó Trưởng đoàn kiểm toán, Tổ trưởng Tổ kiểm toán và các thành viên Đoàn kiểm toán khi có thành tích đột xuất hoặc có sai phạm trong thời gian thực hiện kiểm toán.


1.3. Trách nhiệm của Trưởng đoàn kiểm toán


Trên cơ sở nhiệm vụ, quyền hạn được giao, Trưởng đoàn kiểm toán chịu những trách nhiệm cơ bản sau.


Thứ nhất, chịu trách nhiệm trước Kiểm toán trưởng và Tổng KTNN


Trưởng đoàn kiểm toán được giao nhiệm vụ tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm toán của Đoàn kiểm toán, chịu trách nhiệm trước Thủ trưởng đơn vị chủ trì cuộc kiểm toán, Tổng KTNN về hoạt động của Đoàn kiểm toán và chất lượng kiểm toán.


Ngoài ra, Trưởng đoàn kiểm toán chịu trách nhiệm về ý kiến bảo lưu của mình trước Tổng KTNN.


Thứ hai, chịu trách nhiệm trước pháp luật.


Với thẩm quyền được trao trong khi tổ chức thực hiện kiểm toán, Trưởng đoàn kiểm toán chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính đúng đắn, trung thực, khách quan của những đánh giá, xác nhận, kết luận và kiến nghị trong BCKT. Đồng thời chịu trách nhiệm liên đới về hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động kiểm toán của thành viên Đoàn kiểm toán; chịu trách nhiệm về quyết định tạm đình chỉ việc thực hiện nhiệm vụ từ Tổ trưởng Tổ kiểm toán trở xuống.


Trưởng đoàn kiểm toán chịu trách nhiệm đảm bảo bí mật về hồ sơ, tài liệu và kết quả kiểm toán khi chưa được công bố chính thức. Với tư cách là thành phần Đoàn kiểm toán, Trưởng đoàn sẽ bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, đồng thời, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật khi có hành vi vi phạm pháp luật.


Thứ ba, trách nhiệm báo cáo.


Trưởng đoàn kiểm toán có trách nhiệm báo cáo kịp thời và đầy đủ với Thủ trưởng đơn vị chủ trì cuộc kiểm toán, Tổng KTNN khi có trường hợp vi phạm các hành vi bị nghiêm cấm trong quá trình thực hiện nhiệm vụ kiểm toán và các trường hợp không được bố trí làm thành viên Đoàn kiểm toán hay các tình huống khác ảnh hưởng đến tính độc lập của KTNN.


2. KỸ NĂNG TỔ CHỨC NHÂN SỰ ĐOÀN KIỂM TOÁN


2.1. Khái quát về Đoàn kiểm toán và nội dung tổ chức nhân sự Đoàn kiểm toán


2.1.1. Khái niệm tổ chức nhân sự Đoàn kiểm toán


Tổ chức nhân sự Đoàn kiểm toán được tiếp cận trên 2 mặt: Tổ chức bộ máy và tổ chức công việc của các bộ phận và các thành viên của Đoàn kiểm toán.


Tổ chức bộ máy của Đoàn kiểm toán là hoạt động hình thành các bộ phận (Tổ kiểm toán) và bố trí nhân sự tại các bộ phận (số lượng, cơ cấu, năng lực) để đảm bảo điều kiện cho việc hoàn thành nhiệm vụ của các bộ phận và Đoàn kiểm toán.


Tổ chức công việc của nhân sự của Đoàn kiểm toán là hoạt động phân công nhiệm vụ, tổ chức kiểm tra - KSNB và tổ chức phối hợp giữa các bộ phận, các thành viên trong các bộ phận phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ được giao (tiến độ, chất lượng công việc) và tổ chức đánh giá về nhân sự trong công việc được giao.


Hai mặt hoạt động tổ chức nhân sự ở trên có mối quan hệ thống nhất: Tổ chức bội máy là tiền đề cho tổ chức công việc; tổ chức công việc là phương thức để bộ máy thực hiện được nhiệm vụ được giao.


Bản chất hoạt động tổ chức nhân sự Đoàn kiểm toán là hoạt động quản trị tổ chức, nhân sự của Trưởng đoàn kiểm toán đối với các bộ phận, các thành viên của Đoàn kiểm toán.


2.1.2. Mục đích và yêu cầu trong tổ chức nhân sự Đoàn kiểm toán


Đoàn kiểm toán là tổ chức do KTNN (Tổng KTNN hoặc người được ủy quyền) thành lập để thực hiện nhiệm vụ kiểm toán theo quyết định kiểm toán của KTNN. Đoàn kiểm toán có thể được tổ chức theo mô hình có cấp quản lý trung gian (Trưởng đoàn chỉ làm công tác quản lý đoàn, không trực tiếp thực hiện kiểm toán; cấp quản lý trực tiếp và thực hiện kiểm toán là cấp Tổ trưởng) hoặc không có cấp quản lý trung gian (Trưởng đoàn trực tiếp quản lý và trực tiếp thực hiện kiểm toán; không có cấp quản lý là Tổ trưởng). Tùy theo mô hình tổ chức mà Đoàn kiểm toán có thể hình thành hoặc không hình thành các Tổ kiểm toán, nhóm kiểm toán (nhóm kiểm toán được hình thành do sự bố trí, phân công của Trưởng đoàn hoặc Tổ trưởng Tổ kiểm toán).


Tổ kiểm toán là một bộ phận thuộc Đoàn kiểm toán, được thành lập để thực hiện một hoặc một nhóm nhiệm vụ của Đoàn kiểm toán. Tổ kiểm toán có thể được tổ chức theo chế độ thủ trưởng hoặc theo chế độ đồng sự. Theo chế độ thủ trưởng, mọi hoạt động của tổ và các thành viên của tổ đều do Tổ trưởng quyết định; theo chế độ đồng sự (thường được tổ chức dưới hình thức nhóm KTVNN) thì hoạt động và những quyết định của tổ dựa trên sự bàn bạc, thống nhất của các thành viên trong Tổ kiểm toán. Ngoài ra, có thể phân chia Tổ kiểm toán thành Tổ kiểm toán thực hiện chuyên sâu theo lĩnh vực, Tổ kiểm toán thực hiện theo đơn vị được kiểm toán.


Việc tổ chức nhân sự Đoàn kiểm toán (dù tổ chức theo mô hình nào) cũng nhằm đạt được các mục đích sau:


- Thực hiện được các mục tiêu, nhiệm vụ của Đoàn kiểm toán về khối lượng, và tiến độ công việc;


- Đảm bảo thực hiện được các yêu cầu nghề nghiệp về chất lượng của hoạt động kiểm toán;


- Đảm bảo được các nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp của các thành viên của Đoàn kiểm toán.


Để đạt được mục đích đó, tổ chức nhân sự Đoàn kiểm toán cần đáp ứng được các yêu cầu chủ yếu sau:


- Tổ chức bộ máy (cơ cấu Đoàn (các Tổ) kiểm toán và cơ cấu các thành viên mỗi Tổ kiểm toán) phải phù hợp với nhiệm vụ kiểm toán được giao; nhân sự của đoàn và các bộ phận của Đoàn kiểm toán phải đảm bảo có cơ cấu, chất lượng, số lượng phù hợp với nhiệm vụ của từng bộ phận của Đoàn kiểm toán;


- Việc phân công nhiệm vụ giữa các Tổ kiểm toán vừa phải đáp ứng được yêu cầu rõ ràng, đồng thời, phải có sự phối hợp giữa các tổ để thực hiện hiệu quả các nhiệm cụ của Đoàn kiểm toán; việc phân định quyền và trách nhiệm giữa cấp Trưởng đoàn và cấp Tổ trưởng phải phù hợp với phạm vi quản lý của mỗi cấp và không trùng lắp giữa 2 cấp quản lý;


- Tổ chức hoạt động điều hành, phối hợp, kiểm tra, kiểm soát phải phù hợp với tiến độ công việc của nhiệm vụ của từng bộ phận và từng thành viên của mỗi bộ phận kiểm toán;


- Đảm bảo sự hỗ trợ, bổ sung của các KTVNN và kiểm soát của Tổ trưởng Tổ kiểm toán trong hoạt động kiểm toán;


- Kết thúc công việc, Đoàn kiểm toán phải tổ chức đánh giá về kết quả hoạt động kiểm toán của từng Tổ kiểm toán, Đoàn kiểm toán và đánh giá kết quả, chất lượng hoạt động của từng thành viên của Đoàn kiểm toán.


2 .1.3. Nhân sự Đoàn kiểm toán


Như đã trình bày tại mục 1.1 ở trên, bản chất công việc tổ chức nhân sự Đoàn kiểm toán là hoạt động quản trị nhân sự Đoàn kiểm toán, trong đó, chủ thể quản trị là Trưởng đoàn kiểm toán; đối tượng quản trị là Đoàn kiểm toán, gồm các Tổ kiểm toán và các thành viên của các Tổ kiểm toán. Như vậy, hoạt động tổ chức quản trị nhân sự của Trưởng đoàn kiểm toán bao gồm 2 mặt: i) Hoạt động tự quản công việc liên quan đến tổ chức, nhân sự Đoàn kiểm toán của bản thân Trưởng đoàn; ii) Hoạt động quản trị đối với các tổ và các thành viên của các Tổ kiểm toán (đối tượng quản trị của Trưởng đoàn kiểm toán). Nội dung quản trị đối với Đoàn kiểm toán thuộc phạm vi nghiên cứu của chuyên đề này.


Như vậy, nghiên cứu về nhân sự Đoàn kiểm toán chính là nghiên cứu về đối tượng quản trị nhân sự của Trưởng đoàn kiểm toán. Nhân sự thuộc đối tượng quản trị trên bao gồm:


- Tổ trưởng Tổ kiểm toán là người đứng đầu Tổ kiểm toán (trực tiếp quản lý và thực hiện hoạt động kiểm toán) để thực hiện nhiệm vụ kiểm toán thuộc nhiệm vụ của Đoàn kiểm toán. Tổ trưởng Tổ kiểm toán phải có năng lực chuyên môn giỏi (tiêu chuẩn: KTVNN chính) để quản lý, thực hiện nhiệm vụ kiểm toán được giao cho Tổ kiểm toán;


- Các KTVNN (được bố trí vào các Tổ kiểm toán): Mỗi KTVNN được bố trí vào một vị trí công việc, thực hiện những nhiệm vụ cụ thể của tổ; KTVNN phải có năng lực chuyên môn phù hợp với yêu cầu thực hiện nhiệm vụ được giao; KTVNN trong mỗi Tổ kiểm toán phải có số lượng và cơ cấu chuyên môn phù hợp với yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của Tổ kiểm toán;


- Các thành viên khác của Đoàn kiểm toán (được bố trí vào các Tổ kiểm toán) là những người có chuyên môn phù hợp hoặc là những chuyên gia cần thiết cho những nhiệm vụ có tính chuyên biệt của Đoàn kiểm toán.


2.1.4. Nội dung công việc chủ yếu trong tổ chức nhân sự Đoàn kiểm toán


Với cách tiếp cận các chức năng của quản trị nhân sự, nội dung chủ yếu trong tổ chức nhân sự Đoàn kiểm toán như sau:


2.1.4.1. Xác định mô hình tổ chức và nhu cầu nhân sự Đoàn kiểm toán.


Công việc đầu tiên trong quản trị nhân sự Đoàn kiểm toán là xác định nhu cầu nhân sự Đoàn kiểm toán mà cụ thể là xác định cơ cấu tổ chức Đoàn kiểm toán và nhân sự Đoàn kiểm toán.


Việc xác định cơ cấu và nhân sự Đoàn kiểm toán là cơ sở cho các hoạt động bố trí và sử dụng nhân sự trong hoạt động kiểm toán bao gồm các nhiệm vụ chủ yếu: i) Xác định mô hình tổ chức Đoàn kiểm toán và xác định các mô hình quản trị Tổ kiểm toán; ii) Xác định công việc (loại công việc, khối lượng công việc) của các Tổ kiểm toán (lập bảng mô tả công việc của Tổ kiểm toán); iii) Xác định nhu cầu nhân sự (cơ cấu, số lượng, thời gian, năng lực chuyên môn) cho từng vị trí công việc.


2.1.4.2. Bố trí nhân sự và tổ chức các mối quan hệ trong hoạt động của Đoàn kiểm toán.


Việc bố trí nhân sự cho mỗi Tổ kiểm toán cần phải đáp ứng các yêu cầu của từng vị trí công việc; mặt khác, cần chú ý đến các vấn đề thực tiễn: Khả năng hỗ trợ lẫn nhau về chuyên môn, sự phối hợp và khả năng làm việc nhóm… Bên cạnh đó không được bố trí nhân sự thiếu minh bạch, thiếu công tâm, không căn cứ vào nhiệm vụ, năng lực của KTVNN…


Việc tổ chức các mối quan hệ trong hoạt động của Đoàn kiểm toán là rất cần thiết, đặc biệt là trong các cuộc kiểm toán mà thông tin giữa các Tổ kiểm toán và các thành viên trong mỗi Tổ kiểm toán có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau (các nội dung kiểm toán phức tạp, KTHĐ…).


Việc bố trí nhân sự và tổ chức các mối quan hệ trong hoạt động của Đoàn kiểm toán cần thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu: i) Đánh giá năng lực chuyên môn của KTVNN; ii) Bố trí nhân sự cho từng vị trí công việc và giao việc; iii) Xác lập các mối quan hệ phối hợp (thông tin, sự hỗ trợ, phối hợp trong suốt thời gian làm việc của Tổ kiểm toán); iv) Tổ chức tập huấn nghiệp vụ trước khi thực hiện kiểm toán; v) Đánh giá rủi ro trong hoạt động và dự kiến các biện pháp phòng ngừa rủi ro về nhân sự.


2.1.4.3. Tổ chức điều hành hoạt động của các Tổ kiểm toán.


Tổ chức điều khiển, điều chỉnh, phối hợp các bộ phận và các thành viên Đoàn kiểm toán thực chất là thực hiện chức năng điều hành của quản trị. Đây là chức năng quyết định sự thành công của cuộc kiểm toán.


Việc tổ chức điều hành hoạt động của các Tổ kiểm toán cần thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu: i) Tổ chức triển khai, điều khiển hoạt động kiểm toán;ii) Tổ chức phối hợp hoạt động giữa các Tổ kiểm toán.


2.1.4.4. Tổ chức đánh giá nhân sự Đoàn kiểm toán


Tổ chức đánh giá nhân sự Đoàn kiểm toán là công việc cuối cùng của cuộc kiểm toán. Tuy đây không phải là công việc trực tiếp thực hiện kiểm toán, song, nó có ý nghĩa quan trọng trong công tác tổ chức, đào tạo và phát triển năng lực đối với mỗi đơn vị và mỗi KTVNN.


Việc tổ chức đánh giá nhân sự Đoàn kiểm toán cần thực hiện các nhiệm vụ: i) Đánh giá quá trình thực hiện nhiệm vụ và kết quả kiểm toán; ii) Xếp loại công chức theo các cấp độ chất lượng, khối lượng công việc đã thực hiện.


2.1.5. Những nhân tố tác động đến tổ chức nhân sự Đoàn kiểm toán


Việc xác định các nhân tố tác động đến tổ chức nhân sự Đoàn kiểm toán là cơ sở cho việc thực hiện các kỹ năng trong tổ chức nhân sự Đoàn kiểm toán. Các nhân tố chủ yếu tác động đến tổ chức nhân sự Đoàn kiểm toán gồm:


2.1.5.1. Pháp luật và các quy định về hoạt động kiểm toán của KTNN


Hệ thống pháp luật về KTNN (Hiến pháp, Luật KTNN, các văn bản quy phạm pháp luật về KTNN, các đạo luật và văn bản quy phạm pháp luật có liên quan) có các quy định, đặc biệt là quy định về hoạt động kiểm toán của KTNN, là những ràng buộc đòi hỏi việc tổ chức hoạt động nói chung, hoạt động tổ chức nhân sự của Đoàn kiểm toán phải tuân thủ: i) Nhóm các quy định về tiêu chuẩn Trưởng đoàn, Tổ trưởng Tổ kiểm toán, KTVNN nhà nước; ii) Nhóm các quy định về quyền hạn, trách nhiệm, nhiệm vụ của Trưởng đoàn, Tổ trưởng, KTVNN và các thành viên trong Đoàn kiểm toán; iii) Nhóm các quy định về quy trình, chuẩn mực nghề nghiệp kiểm toán của KTNN; iii) Nhóm các quy định về tổ chức, hoạt động của đoàn, Tổ kiểm toán; iv) Nhóm các quy định về thời gian, địa điểm của cuộc kiểm toán của KTNN...


2.1.5.2. Mô hình tổ chức Đoàn kiểm toán và phân cấp tổ chức nhân sự Đoàn kiểm toán


Việc phân cấp tổ chức nhân sự Đoàn kiểm toán là một bộ phận thuộc phân cấp quản lý Đoàn kiểm toán; việc đó phụ thuộc vào mô hình tổ chức Đoàn kiểm toán:


- Trong mô hình tổ chức Đoàn kiểm toán mà Trưởng đoàn là cấp quản lý trung gian, sẽ hình thành 2 cấp quản lý của Đoàn kiểm toán và cũng là 2 cấp tổ chức nhân sự kiểm toán là cấp Trưởng đoàn và cấp Tổ trưởng Tổ kiểm toán. Việc hình thành 2 cấp tổ chức nhân sự kiểm toán sẽ quyết định việc xác định nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của mỗi cấp quản lý, tổ chức nhân sự kiểm toán ở phạm vi đoàn, Tổ kiểm toán. Việc phân cấp trong tổ chức nhân sự Đoàn kiểm toán phải tuân thủ các nguyên tắc trong phân cấp quản lý kiểm toán nói chung và được cụ thể trong các hoạt động tổ chức nhân sự Đoàn kiểm toán.


Mặt khác, việc xác định mô hình quản trị của Tổ kiểm toán cũng là một yếu tố tác động đến công tác tổ chức nhân sự kiểm toán. Nếu tổ chức quản trị Tổ kiểm toán theo cơ chế thủ trưởng (thường áp dụng cho kiểm toán tài chính, các nhiệm vụ kiểm toán của mỗi thành viên độc lập với nhau) thì Tổ trưởng chỉ đạo toàn bộ các hoạt động và nhân sự của Tổ kiểm toán; nếu tổ chức quản trị Tổ kiểm toán theo cơ chế đồng sự (thường áp dụng đối với KTHĐ, các nhiệm vụ kiểm toán của mỗi thành viên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau) thì Tổ trưởng giữ vai trò là người phối hợp giữa các thành viên của Tổ kiểm toán, hoạt động của Tổ kiểm toán do sự phối hợp của các thành viên của Tổ kiểm toán quyết định.


- Trong mô hình tổ chức Đoàn kiểm toán mà Trưởng đoàn là cấp quản lý cơ sở, trực tiếp, nên là cấp duy nhất quản lý Đoàn kiểm toán (thường có quy mô nhỏ, từ 3-6 KTVNN) và cấp duy nhất trong tổ chức nhân sự Đoàn kiểm toán. Thực chất mô hình Đoàn kiểm toán không có cấp quản lý trung gian có sự tương đồng với mô hình Tổ kiểm toán mà Trưởng đoàn kiểm toán thực chất giữ vai trò Tổ trưởng Tổ kiểm toán và chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Kiểm toán trưởng.


Mô hình tổ chức Đoàn kiểm toán không có cấp quản lý trung gian hiện nay đã trở thành mô hình được vận dụng phổ biến của các SAI; mô hình này sẽ giúp cho giảm khâu quản lý trung gian, việc chỉ đạo đảm bảo sự thống nhất của Kiểm toán trưởng và phát huy được vai trò quản lý kiểm toán, tránh trùng chéo, trùng lặp trong quản lý.


2.1.5.3. Nguồn nhân lực Đoàn kiểm toán


Nguồn nhân lực Đoàn kiểm toán (số lượng, năng lực, cơ cấu về chuyên môn và kinh nghiệm kiểm toán…) là một nhân tố quan trọng, tác động trực tiếp đến công tác tổ chức nhân sự Đoàn kiểm toán. Mặc dù được giả định là nguồn nhân sự, về tổng quan, đáp ứng được yêu cầu trong thực hiện nhiệm vụ của Đoàn kiểm toán, song, trong thực tiễn, mỗi cuộc kiểm toán lại có những đặc điểm riêng cần phải thực hiện việc bố trí, sắp xếp hợp lý: i) Việc ưu tiên nhân sự thực hiện những nhiệm vụ trọng tâm, phức tạp; ii) Việc bố trí nhân sự cho những nhiệm vụ kiểm toán có tính chất mới; iii) Việc bố trí nhân sự có năng lực chuyên môn khác nhau trong nội dung KTHĐ; iv) Việc bố trí hợp lý, kết hợp giữa KTVNN có năng lực chuyên môn và kinh nghiệm nghề nghiệp cao với những KTVNN còn hạn chế về trình độ nghề nghiệp...


2.1.5.4. Đặc điểm về đơn vị được kiểm toán (khách thể kiểm toán)


Đặc điểm về đơn vị được kiểm toán là một yếu tố chi phối tổ chức các Tổ kiểm toán, các nhóm KTVNN, bố trí cơ cấu KTVNN trong các nhóm, Tổ kiểm toán; những nhân tố chủ yếu gồm: i) Tổ chức hệ thống bộ máy của đơn vị được kiểm toán; ii) Phân cấp quản lý kinh tế - tài chính giữa các cấp của đơn vị được kiểm toán; iii) Đặc điểm về lĩnh vực hoạt động của đơn vị được kiểm toán; iv) Quy mô về nguồn lực kinh tế - tài chính của đơn vị được kiểm toán… Những đặc điểm đó sẽ chi phối việc tổ chức nhân sự: Bố trí Tổ trưởng Tổ kiểm toán (hoặc hình thành các nhóm KTVNN); bố trí về số lượng, thời gian kiểm toán, năng lực chuyên môn, cơ cấu KTVNN…


2.1.5.5. Nội dung, đối tượng kiểm toán và các nhân tố khác


Nội dung và đối tượng kiểm toán thể hiện ở các mặt: i) Cuộc kiểm toán có nội dung kiểm toán tài chính hay KTHĐ hay kiểm toán hỗn hợp? ii) Đối tượng kiểm toán (gắn với nội dung kiểm toán) với tính chất phức tạp, quy mô, phạm vi phân bố… sẽ là những nhân tố tác động đến việc xác định yêu cầu công việc để bố trí Tổ trưởng Tổ kiểm toán; bố trí cơ cấu, năng lực, thời gian kiểm toán của các tổ, nhóm KTVNN phù hợp.


Bên cạnh đó các tổ chức nhân sự Đoàn kiểm toán cũng chịu tác động của các nhân tố khác như mục tiêu, phạm vi kiểm toán.


2.2. Vận dụng các kỹ năng trong tổ chức nhân sự Đoàn kiểm toán


Kỹ năng của Trưởng đoàn kiểm toán trong tổ chức nhân sự Đoàn kiểm toán thuộc kỹ năng quản lý; do vậy, về cơ bản bao gồm: Xác định nội dung công việc; xác định trình tự thực hiện công việc; áp dụng các phương pháp trong thực hiện từng công việc tổ chức nhân sự. Như vậy, những công việc thuộc về kỹ thuật - nghiệp vụ thuộc kỹ năng của KTVNN không thuộc phạm vi nghiên cứu của chuyên đề này.


2.2.1. Hoạch định nhu cầu nhân sự của Đoàn, Tổ kiểm toán


Việc hoạch định nhu cầu nhân sự của Đoàn, Tổ kiểm toán là nhóm kỹ năng đầu tiên, tạo cơ sở cho toàn bộ công tác tổ chức nhân sự Đoàn kiểm toán. Các kỹ năng cụ thể của nhóm kỹ năng này gồm 3 kỹ năng chủ yếu sau:


2.2.1.1. Xác định mô hình tổ chức Đoàn kiểm toán và xác định các mô hình quản trị Tổ kiểm toán.


Để xác định mô hình tổ chức đoàn và Tổ kiểm toán; trước tiên, Trưởng đoàn kiểm toán phải thực hiện phân tích nhiệm vụ của Đoàn kiểm toán. Trên cơ sở phân tích nhiệm vụ kiểm toán, Trưởng đoàn kiểm toán thực hiện các công việc sau:


(1) Nội dung xác định mô hình tổ chức Đoàn kiểm toán và xác định các mô hình quản trị Tổ kiểm toán.


Trưởng đoàn kiểm toán phải dựa trên Quyết định kiểm toán để xác định nhiệm vụ, phạm vi kiểm toán, làm cơ sở xác định mô hình cuộc kiểm toán; nếu cuộc kiểm toán có quy mô, phạm vi tương đối lớn, gồm nhiều đơn vị thành viên của đơn vị được kiểm toán, nhiều nội dung kiểm toán có tính độc lập cao… thì nên lựa cho mô hình đoàn gồm nhiều Tổ kiểm toán và Trưởng đoàn kiểm toán là cấp quản lý trung gian. Trong mô hình này, Đoàn kiểm toán được tổ chức thành một số Tổ kiểm toán. Nếu nhiệm vụ kiểm toán của Tổ kiểm toán khá đơn giản thì nên thiết lập mô hình quản trị theo cơ chế thủ trưởng; nếu nhiệm vụ của Tổ kiểm toán gồm các nội dung có mối quan hệ chặt chẽ với nhau thì nên thiết lập mô hình quản trị theo cơ chế đồng sự.


Nếu quy mô, phạm vi cuộc kiểm toán nhỏ, có nội dung kiểm toán có mối quan hệ khá chặt chẽ… thì nên lựa chọn mô hình Đoàn kiểm toán chỉ có một cấp quản lý, không có cấp quản lý trung gian.


(2) Trình tự, phương pháp xác định mô hình tổ chức Đoàn kiểm toán và xác định các mô hình quản trị Tổ kiểm toán:


- Đánh giá về quy mô và tính chất phức tạp của nhiệm vụ của Đoàn kiểm toán. Việc xác định quy mô nhiệm vụ kiểm toán tương đối đơn giản, chủ yếu dựa trên việc xác định phạm vi, số lượng, quy mô quản lý tài chính của đơn vị được kiểm toán. Có thể phân loại thành 3 cấp độ: Quy mô nhỏ (1 Tổ kiểm toán có thể hoàn thành nhiệm vụ kiểm toán; quy mô trung bình (2-5 Tổ kiểm toán có thể hoàn thành nhiệm vụ kiểm toán - tối đa không quá 20 KTVNN, thời gian không quá 60 ngày); quy mô lớn (có số Tổ kiểm toán và số KTVNN cao hơn mức trung bình). Về việc đánh giá mức độ phức tạp của hoạt động kiểm toán có thể chia thành 3 cấp độ: Cấp độ ít phức tạp (đối với kiểm toán tài chính); mức độ phức tạp trung bình (đối với cuộc KTHĐ hoặc kiểm toán chuyên đề gồm nhiều nội dung kiểm toán); mức độ phức tạp cao (đối với cuộc KTHĐ hoặc kiểm toán chuyên đề gồm nhiều nội dung kiểm toán mới thực hiện lần đầu; các cuộc kiểm toán mà đối tượng kiểm toán đa dạng về lĩnh vực hoạt động - ví dụ cuộc kiểm toán ngân sách cấp tỉnh, huyện).


- Lựa chọn mô hình tổ chức Đoàn kiểm toán. Trong điều kiện hiện nay (do bị ràng buộc bởi yếu tổ pháp luật và theo “truyền thống” của KTNN) nên chỉ có cuộc kiểm toán có quy mô nhỏ mới có thể lựa chọn mô hình tổ chức Đoàn kiểm toán nhỏ, không có cấp quản lý trung gian, còn lại thực hiện theo mô hình tổ chức Đoàn kiểm toán gồm nhiều Tổ kiểm toán, có cấp quản lý trung gian. Nếu có sự thay đổi về các ràng buộc pháp luật (không khống chế thời gian của cuộc kiểm toán) hoặc KTNN thực hiện đổi mới tổ chức Đoàn kiểm toán thì chỉ có các cuộc kiểm toán phức tạp, đối tượng kiểm toán đa dạng về lĩnh vực hoạt động mới cần chọn mô hình tổ chức Đoàn gồm nhiều Tổ kiểm toán, có cấp quản lý trung gian; còn lại, các cuộc kiểm toán khác đều có thể lựa chọn mô hình tổ chức Đoàn kiểm toán không có cấp quản lý trung gian.


- Lựa chọn mô hình quản trị Tổ kiểm toán. Mô hình quản trị Tổ kiểm toán chủ yếu bị chi phối bởi tính phức tạp, tính liên kết trong các nội dung kiểm toán. Nếu nhiệm vụ kiểm toán khá đơn giản (kiểm toán tài chính) thì tổ chức quản trị theo cơ chế thủ trưởng: Tổ trưởng chỉ đạo trực tiếp từng KTVNN; nếu nhiệm vụ kiểm toán phức tạp, mới, cần có sự phối hợp chặt chẽ của các thành viên của tổ trong quá trình kiểm toán thì lựa chọn mô hình tổ chức quản trị Tổ kiểm toán theo cơ chế đồng sự (Tổ trưởng chủ yếu thực hiện chức năng phối hợp, điều hòa công việc).


- Xác định các Tổ kiểm toán và nhiệm vụ của từng Tổ kiểm toán. Trên cơ sở nhiệm vụ kiểm toán của Đoàn kiểm toán, việc lựa chọn mô hình tổ chức Đoàn kiểm toán, mô hình tổ chức quản trị của Tổ kiểm toán, Trưởng đoàn kiểm toán sẽ xác định số Tổ kiểm toán và nhiệm vụ của từng Tổ kiểm toán.


(3) Những hạn chế, khó khăn trong thực tế xác định mô hình tổ chức Đoàn kiểm toán và xác định các mô hình quản trị Tổ kiểm toán:


- Việc xác định mô hình tổ chức Đoàn kiểm toán thường bị chi phối bởi yếu tố “truyền thống”, hành chính” nên thiếu khả năng áp dụng các mô hình tổ chức năng động, hiệu quả;


- Vẫn tồn tại nhiều trường hợp bố trí Trưởng đoàn, Tổ trưởng có năng lực chuyên môn không phù hợp với nhiệm vụ kiểm toán;


- Xây dựng cơ chế quản trị Tổ kiểm toán trong cuộc KTHĐ chưa thật phù hợp (chế độ thủ trưởng).


2.2.1.2. Xác định công việc của các Tổ kiểm toán


(1) Nội dung xác định công việc của các Tổ kiểm toán


Việc xác định công việc của các Tổ kiểm toán là cơ sở trực tiếp cho việc bố trí Tổ trưởng và KTVNN của từng Tổ kiểm toán. Trên cơ sở nhiệm vụ chung của Tổ kiểm toán, Trưởng đoàn kiểm toán phải xác định từng nội dung công việc kiểm toán, ước tính khối lượng (thời gian làm việc) cho từng nội dung kiểm toán và những công việc liên quan (tổng hợp kết quả kiểm toán, họp lấy ý kiến của đơn vị được kiểm toán...).


(2) Trình tự, phương pháp xác định công việc của các Tổ kiểm toán


- Phân tích công việc (nhiệm vụ) của từng Tổ kiểm toán (dựa vào “chương trình kiểm toán chuẩn”), giới hạn đến những nội dung kiểm toán (theo khoản mục kiểm toán trong kiểm toán BCTC hoặc nội dung công việc kiểm toán có quy mô, phạm vi tương tự) đủ để xác định rõ phạm vi, khối lương công việc để giao nhiệm vụ đến từng KTVNN;


- Lập “Bảng mô tả công việc” cho các nội dung kiểm toán đã phân chia cho từng Tổ kiểm toán và xác định mối quan hệ giữa các nội dung kiểm toán;


- Đánh giá về thời gian thực hiện các nội dung kiểm toán của từng Tổ kiểm toán theo “Bảng mô tả công việc” kiểm toán (dựa trên “định mức công việc” (nếu có) hoặc dựa trên kinh nghiệm của các KTVNN).


(3) Những hạn chế, khó khăn trong thực tế xác định công việc của các Tổ kiểm toán:


- Chưa tiến hành phân tích công việc phù hợp với nhiệm vụ kiểm toán mà chủ yếu dựa vào kinh nghiệm hoặc cảm tính của Trưởng đoàn, Tổ trưởng;


- Chưa thiết kế quy trình và lập “Bảng mô tả công việc” cho từng Tổ kiểm toán nên việc xác định nhiệm vụ cho từng KTVNN thiếu xác thực và hợp lý;


- Chưa xây dựng được định mức thời gian kiểm toán cho các loại đối tượng, khách thể kiểm toán.


2.2.1.3. Xác định nhu cầu nhân sự (cơ cấu, số lượng, năng lực chuyên môn) cho từng vị trí công việc


(1) Nội dung xác định nhu cầu nhân sự của Đoàn kiểm toán.


Việc xác định nhu cầu nhân sự của Đoàn kiểm toán bao gồm: Nhu cầu về các Tổ trưởng Tổ kiểm toán, nhu cầu về các KTVNN và các thành viên khác (gọi chung là các KTVNN) về số lượng, cơ cấu và năng lực chuyên môn.


(2) Trình tự, phương pháp xác định nhu cầu nhân sự của Đoàn kiểm toán.


Để xác định một cách hợp lý nhu cầu nhân sự của các Tổ kiểm toán cần dựa trên nhu cầu về công việc (Bảng mô tả công việc) của từng Tổ kiểm toán, số lượng và cơ cấu KTVNN của Đoàn kiểm toán và thời gian kiểm toán của từng Tổ kiểm toán cho từng nhiệm vụ kiểm toán (từng “cuộc” kiểm toán bộ phận mà Tổ kiểm toán cần thực hiện). Quy trình và phương pháp thực hiện như sau:


- Xây dựng bảng yêu cầu về chuyên môn, năng lực và thời gian thực hiện cho từng công việc (hoặc nhóm công việc) kiểm toán.


Để xác định yêu cầu về chuyên môn, năng lực của KTVNN phải dựa trên “Bảng mô tả công việc” đã được xây dựng. Trên cơ sở “Bảng mô tả công việc” cần thực hiện việc tập hợp theo nhóm công việc có cùng yêu cầu về chuyên môn, năng lực để làm cơ sở xác định nhu cầu.


Dựa trên khối lượng công việc đã được phân nhóm và định mức thời gian kiểm toán (nếu có) hoặc ước tính (theo kinh nghiệm nghề nghiệp) để xác định yêu cầu về chuyên môn và năng lực KTVNN, yêu cầu về thời gian cần thiết/1 KTVNN để hoàn thành công việc để làm cơ sở xác định nhu cầu KTVNN. Việc xác định về yêu cầu năng lực KTVNN thường dựa trên đánh giá về mức độ phức tạp của công việc hoặc nhóm công việc để xác định và thường dựa trên kinh nghiệm nghề nghiệm để xác định mà không có sự phân loại cụ thể.


Điểm cần lưu ý trong việc thực hiện xác định yêu cầu về chuyên môn là: trong khi thực hiện kiểm toán tài chính của “cuộc” kiểm toán bộ phận do Tổ kiểm toán cụ thể thường là một (hoặc một số) đối tượng kiểm toán có sự tương đồng về tính chất (ví dụ: Các hoạt động tài chính của đơn vị dự toán hành chính, doanh nghiệp, dự án đầu tư xây dựng…) nên cần có những KTVNN có cùng chuyên môn kiểm toán thì trong các cuộc KTHĐ, yêu cầu về chuyên môn kiểm toán đối với các công việc hoặc nhóm công việc lại có sự khác nhau (ví dụ: KTVNN kiểm toán, đánh giá việc quản lý, sử dụng lao động tại doanh nghiệp có yêu cầu chuyên môn khác với KTVNN thực hiện kiểm toán việc quản lý và sử dụng tài sản, vật tư); do vậy, cần xác định cơ cấu chuyên môn kiểm toán có sự khác nhau.


- Xác định số lượng, cơ cấu, năng lực của KTVNN trong từng Tổ kiểm toán:


Việc xác định số lượng KTVNN cho từng nhóm công việc và cho toàn bộ “cuộc” kiểm toán bộ phận cần dựa trên định mức khối lượng công việc/1 KTVNN, song khi chưa có định mức khối lượng công việc thì thường phải dựa trên việc ước tính theo kinh nghiệm nghề nghiệp.


Việc xác định cơ cấu năng lực chuyên môn thường phải dựa trên việc phân loại công việc theo độ phức tạp, tuy nhiên, việc phân loại trong thực tế cũng chủ yếu dựa trên quy mô, tính chất của đối tượng kiểm toán và kinh nghiệm nghề nghiệp của người xác định.


(3) Những hạn chế, khó khăn trong thực tế xác định nhu cầu nhân sự.


- Việc xác định định mức công việc trong thực tế kiểm toán chưa được thực hiện nên thường thực hiện theo kinh nghiệm nghề nghiệp nên thiếu tính khoa học;


- Việc đánh giá chất lượng công việc chưa có tiêu chí và tiêu chuẩn xác định nên thường việc đánh giá mang nặng cảm tính;


- Việc xác định cơ cấu chuyên môn KTVNN trong KTHĐ và những lĩnh vực kiểm toán mới thường khó khăn vì cơ cấu KTVNN hiện tại đang phục vụ chủ yếu cho kiểm toán tài chính.


2.2.2. Thiết lập các Tổ kiểm toán và giao nhiệm vu


Dựa trên nhiệm vụ kiểm toán, việc xác định yêu cầu công việc và yêu cầu KTVNN cần xác định nhân sự cụ thể và giao nhiệm vụ kiểm toán; cụ thể:


2.2.2.1. Đánh giá năng lực chuyên môn của KTVNN


(1) Nội dung đánh giá năng lực chuyên môn của KTVNN.


Nội dung đánh giá năng lực chuyên môn gồm 2 nội dung chi tiết: Phân loại khả năng chuyên môn (dựa trên chuyên môn nghề nghiệp và chuyên môn kiểm toán được đào tạo) và đánh giá năng lực thực tiễn (kinh nghiệm - thời gian làm nhiệm vụ kiểm toán và năng lực trong thực tiễn kiểm toán).


(2) Trình tự, phương pháp đánh giá năng lực chuyên môn của KTVNN.


Việc phân loại khả năng chuyên môn cần dựa trên sự theo dõi nhân sự và cập nhật về công tác đào tạo hàng năm để phân loại. Trong thực tế, rất nhiều KTVNN, chuyên ngành đào tạo ban đầu chưa thật phù hợp với chuyên ngành hẹp được giao kiểm toán, song, quá trình đào tạo chuyển đổi, bổ sung và đào tạo KTVNN có thể dần hình thành khả năng thích hợp; do vậy, việc đánh giá khả năng chuyên môn của KTVNN phải gắn với quá trình quy hoạch, đào tạo và cần được cập nhật hàng năm. Việc phân loại khả năng chuyên môn hàng năm của đơn vị là cơ sở cho việc bố trí KTVNN trong thực hiện nhiệm vụ kiểm toán. Việc đánh giá khả năng chuyên môn của KTVNN cần dựa trên các tiêu chí về chuyên môn nghề nghiệp cơ sở, chuyên môn kiểm toán (theo từng chuyên ngành hẹp của kiểm toán) và xây dựng các mức tiêu chuẩn để đánh giá theo 3 cấp độ: Tốt; Phù hợp và Chưa phù hợp.


Đánh giá năng lực thực tiễn kiểm toán của KTVNN là một công việc rất quan trọng và phức tạp. Trong thực tế của KTNN, việc này được tiến hành sau khi kết thúc mỗi cuộc kiểm toán và cuối năm. Việc đánh giá năng lực thực tiễn kiểm toán của KTVNN cần dựa trên những tiêu chí về số lượng, chất lượng công việc, sự hợp tác, phối hợp trong kiểm toán, hiệu quả quản lý (nếu KTVNN được giao nhiệm vụ quản lý), đạo đức nghề nghiệp; đồng thời, phải xây dựng các mức tiêu chuẩn để đánh giá theo 5 cấp độ: Giỏi, Khá, Trung bình, Yếu, Kém.


(3) Những hạn chế, khó khăn trong thực tế đánh giá năng lực chuyên môn của KTVNN.


- KTNN chưa đánh giá và từ đó, chưa xây dựng tiêu chí, tiêu chuẩn phân loại và đánh giá khả năng chuyên môn của KTVNN theo từng chuyên ngành và chuyên ngành hẹp kiểm toán của KTNN;


- Việc đánh giá KTVNN (thực chất là đánh giá năng lực thực tiễn kiểm toán của KTVNN) theo từng cuộc kiểm toán và hàng năm còn mang tính hình thức, thiếu chính xác, thiếu cơ sở, do chưa xây dựng được các tiêu chí, tiêu chuẩn đánh giá theo từng chuyên ngành và chuyên ngành hẹp kiểm toán của KTNN.


2.2.2.2. Bố trí nhân sự cho từng vị trí công việc và giao việc


(1) Nội dung bố trí công việc và giao việc.


Dựa trên việc đánh giá năng lực của Tổ trưởng, KTVNN và nhiệm vụ được phân định cho từng Tổ kiểm toán, Trưởng đoàn kiểm toán thực hiện việc bố trí công việc cho Tổ trưởng và KTVNN của mỗi Tổ kiểm toán.


(2) Trình tự, phương pháp bố trí và giao việc.


Việc bố trí và giao việc cho Tổ trưởng và các KTVNN được thực hiện như sau:


- Căn cứ yêu cầu công việc của mỗi Tổ kiểm toán; dựa vào năng lực chuyên môn (chủ yếu) và quản lý để bố trí các Tổ trưởng Tổ kiểm toán;


- Bố trí các KTVNN vào các Tổ kiểm toán: Đảm bảo đáp ứng yêu cầu của từng Tổ kiểm toán về số lượng, chuyên môn, ngoài ra, trong thực tế kiểm toán còn cần xem xét đến các yếu tố khác: Sự hỗ trợ lẫn nhau về chuyên môn, khả năng hợp tác, phối hợp...; sự cân đối, hợp lý giữa các Tổ kiểm toán...


- Tổ chức hội nghị (Lãnh đạo đơn vị, Trưởng đoàn, các Tổ trưởng) để thông báo dự kiến (có thể có thay đổi, điều chỉnh phù hợp) và quyết định nhân sự của các Tổ kiểm toán; giao nhiệm vụ cho các Tổ trưởng.


(3) Những hạn chế, khó khăn trong thực tế.


- Hoạt động kiểm toán, ngoài các nhiệm vụ ổn định (chủ yếu là kiểm toán tài chính), luôn phải tiếp cận với các chuyên đề, nội dung kiểm toán mới, do vậy, việc đánh giá năng lực, kinh nghiệm nghề nghiệp đối với Tổ trưởng, KTVNN khó chính xác để bố trí một cách hợp lý;


- Cơ cấu KTVNN trong mỗi đơn vị thường rất ổn định nên khi có những chuyển hướng rõ rệt trong thực hiện các nhiệm vụ kiểm toán (vượt khỏi nhiệm vụ truyền thống là kiểm toán BCTC) thì việc đào tạo, huấn luyện bổ sung thường không đáp ứng kịp thời nên tạo khó khăn nhất định cho việc bố trí, giao nhiệm vụ kiểm toán.


2.2.2.3. Xác lập các mối quan hệ phối hợp trong hoạt động kiểm toán


(1) Nội dung việc xác lập các mối quan hệ phối hợp.


Phối hợp trong hoạt động kiểm toán là những hoạt động rất quan trọng, tác động đến việc hoàn thành nhiệm vụ của mỗi KTVNN và của Đoàn kiểm toán. Sự phối hợp trong hoạt động kiểm toán gồm: Phối hợp giữa Tổ kiểm toán với các bộ phận quản lý của đơn vị (phòng Tổng hợp); phối hợp giữa các Tổ kiểm toán; phối hợp giữa các thành viên trong mỗi Tổ kiểm toán. Ngoài ra, có thể còn có sự phối hợp với các đoàn KSCLKT, Thanh tra của KTNN.


(2) Trình tự, phương pháp xác lập các mối quan hệ phối hợp.


- Xác định trong các chương trình làm việc của Đoàn, Tổ kiểm toán và KTVNN về thời gian, nội dung công việc, đối tượng cần có sự phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ kiểm toán (thống nhất trong các Tổ kiểm toán và trong mỗi Tổ kiểm toán);


- Tổ trưởng Tổ kiểm toán cần thống nhất và tạo lập các quy định trong phối hợp trong các giai đoạn làm việc chung của tổ (họp) để đảm bảo sự thống nhất trong thực hiện.


(3) Những hạn chế, khó khăn trong thực tế.


- Mô hình tổ chức Tổ kiểm toán truyền thống (chế độ thủ trưởng), các KTVNN thực hiện nhiệm vụ độc lập theo chỉ đạo của Tổ trưởng dẫn đến hạn chế sự phối hợp khi thực hiện những nhiệm vụ kiểm toán đòi hỏi tăng cường làm việc nhóm (các chương trình mục tiêu, KTHĐ);


- Việc tổ chức, thực hiện phối hợp trong kiểm toán thường không quy định cụ thể trong các quy chế làm việc nên các Đoàn, Tổ kiểm toán thường không xác định như một nhiệm vụ trong kế hoạch, chương trình kiểm toán nên việc thực hiện có thể gặp khó khăn.


2.2.2.4. Tổ chức tập huấn nghiệp vụ trước khi thực hiện kiểm toán


(1) Nội dung tổ chức tập huấn nghiệp vụ.


Tập huấn nghiệp vụ trước khi triển khai nhiệm vụ kiểm toán là một nhiệm vụ rất cần thiết, đảm bảo cho mỗi KTVNN chuẩn bị đầy đủ các kỹ năng cho việc thực hiện các nhiệm vụ được giao phù hợp với yêu cầu về chuyên môn kiểm toán, phù hợp với các đặc điểm cụ thể của đơn vị được kiểm toán, đặc biệt là đối với những nội dung kiểm toán mới hoặc chưa có kinh nghiệm thực hiện.


(2) Trình tự, phương pháp tổ chức tập huấn nghiệp vụ.


- Tổ trưởng cần xây dựng chương trình tập huấn phù hợp với nhiệm vụ kiểm toán được giao và phù hợp với đặc điểm của đơn vị được kiểm toán, việc tập huấn dựa trên KHKT chi tiết và chương trình kiểm toán đã được xây dựng và xét duyệt;


- Tổ chức huấn luyện theo hình thức thảo luận nhóm, phù hợp với nhiệm vụ được phân công và lấy kế hoạch, chương trình kiểm toán của tổ, nhóm, mỗi KTVNN làm nội dung nghiên cứu, trao đổi.


(3) Những hạn chế, khó khăn trong thực tế.


- Thực tế việc tổ chức tập huấn nghiệp vụ đã được quy định trong quy trình, chuẩn mực kiểm toán, song, việc này chưa thật được quan tâm đúng mức, thực hiện mang tính hình thức, tổ chức huấn luyện thường thực hiện chung cho cả Đoàn kiểm toán;


- Việc tổ chức thực hiện tập huấn thường chưa được chuẩn bị chu đáo, chưa phù hợp nhiệm vụ được giao cho từng tổ, nhóm và từng KTVNN, thậm chí được thực hiện khi chưa có KHKT chi tiết được duyệt.


2.2.2.5. Đánh giá rủi ro trong hoạt động và dự kiến các biện pháp phòng ngừa rủi ro về nhân sự


(1) Nội dung đánh giá rủi ro trong hoạt động và dự kiến các biện pháp phòng ngừa.


Thực tế kiểm toán luôn tồn tại rủi ro trong quá trình thực hiện: Sự thay đổi về tiến độ công việc, các sự việc chưa lường trước về nghiệp vụ và các tình huống phát sinh, do vậy, mỗi Đoàn, Tổ kiểm toán cần đánh giá rủi ro và dự kiến trước 1 số giải pháp phòng ngừa.


(2) Trình tự, phương pháp đánh giá rủi ro trong hoạt động và dự kiến các biện pháp phòng ngừa.


- Tổ kiểm toán cần nghiên cứu, xác định những khả năng, những bộ phận công việc có thể xảy ra những vấn đề chưa lường trước (những nhiệm vụ mới, công việc phức tạp…);


- Cần xây dựng các phương án dự phòng (bố trí thời gian dự phòng, nhân sự) và những biện pháp (thảo luận xác định phương pháp…) để giải quyết các vấn đề.


(3) Những hạn chế, khó khăn trong thực tế.


- Sự quy định của KTNN dựa trên sự thiếu phân cấp quản lý kiểm toán cho Kiểm toán trưởng, Trưởng đoàn, Tổ trưởng trong xử lý các bất thường đã tạo nên việc khó khăn trong việc chủ động giải quyết các tình huống có vấn đề cần giải quyết trong kiểm toán;


- Công việc này hầu như chưa được xác định trong các kế hoạch, chương trình kiểm toán; do vậy, khi thực hiện các chủ để, nội dung kiểm toán phức tạp, mới… thì việc việc xuất hiện các vấn đề chưa lường trước sẽ nhiều, việc xử lý sẽ lúng túng.


2.2.3. Điều hành hoạt động của nhân sự Đoàn kiểm toán


2.2.3.1. Tổ chức triển khai, điều khiển hoạt động kiểm toán


(1) Nội dung triển khai, điều khiển hoạt động kiểm toán.


Việc triển khai và điều khiển hoạt động kiểm toán thực chất là hoạt động quản lý kiểm toán (trong phạm vi Tổ kiểm toán là Tổ trưởng Tổ kiểm toán) là công việc được quy định trong quy trình và chuẩn mực kiểm toán. Đây là công việc cần thiết đảm bảo cho hoạt động kiểm toán được thực hiện phù hợp với kế hoạch và chương trình kiểm toán. Trong quá trình triển khai nên lưu ý đến việc thực hiện theo đúng kế hoạch đã được duyệt; tập trung chỉ đạo các vấn đề nhạy cảm, các nội dung trọng tâm; tổng hợp các phát hiện quan trọng, phát hiện mới phổ biến các Tổ kiểm toán khác rà soát và xử lý thống nhất.


(2) Trình tự, phương pháp triển khai, điều khiển hoạt động kiểm toán.


- Tổ chức triển khai kiểm toán tại đơn vị được kiểm toán (hội nghị) cần xác định rõ ràng, đầy đủ về nội dung, trình tự, tiến độ để tạo cơ sở cho việc phối hợp của Tổ kiểm toán với các bộ phận của đơn vị được kiểm toán tốt nhất;


- Tổ chức tốt thông tin kiểm toán (các tài liệu theo quy định của KTNN và theo quy định của Đoàn, Tổ kiểm toán) là điều kiện cho hoạt động điều hành được kịp thời;


- Khi phát sinh những tình huống chưa dự liệu trước, Tổ trưởng cần bàn bạc, chỉ đạo KTVNN xử lý kịp thời hoặc báo cáo Trưởng đoàn để giải quyết theo thẩm quyền (điều chỉnh kế hoạch...).


(3) Những hạn chế, khó khăn trong thực tế.


- Do hạn chế về phân cấp quản lý nên có thể xảy ra việc các cấp quản lý Đoàn kiểm toán bị động, không giải quyết kịp thời vấn đề, tạo nên sự chậm trễ;


- Tổ chức thông tin trong hệ thống kiểm toán tuy đã được quy định, song, vẫn có rủi ro là thông tin không đầy đủ hoặc không kịp thời dẫn đến công việc phát sinh sẽ chậm hoặc không được phát hiện, gây khó khăn trong điều hành, điều chỉnh công việc.


2.2.3.2. Tổ chức phối hợp công việc giữa các Tổ kiểm toán


(1) Nội dung phối hợp công việc giữa các Tổ kiểm toán.


Trong một số Đoàn kiểm toán, việc phối hợp giữa các Tổ kiểm toán là điều kiện cho các tổ và Đoàn kiểm toán hoàn thành nhiệm vụ (ví dụ: Đoàn kiểm toán NSĐP), do vậy, cần tổ chức hợp lý công tác phối hợp giữa các Tổ kiểm toán của Đoàn kiểm toán.


(2) Trình tự, phương pháp phối hợp công việc giữa các Tổ kiểm toán.


- Cần xây dựng trong kế hoạch và chương trình kiểm toán về nội dung, thời điểm, yêu cầu, hình thức phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ giữa các Tổ kiểm toán;


- Tạo lập kênh thông tin, và tổ chức phương pháp phối hợp phù hợp (cung cấp thông tin, trao đổi hoặc họp bàn thống nhất cách làm…) để đảm bảo sự phối hợp công việc nhịp nhàng, hiệu quả.


(3) Những hạn chế, khó khăn trong thực tế.


- Thực tế, việc phối hợp giữa các Tổ kiểm toán thường còn chưa được chú trọng nên dẫn đến nhiều trường hợp công việc còn trùng lắp hoặc cùng một nhiệm vụ, sự việc nhưng các Tổ kiểm toán lại xử lý khác nhau làm hạn chế chất lượng và lãng phí thời gian kiểm toán;


- Một số KTVNN thực hiện nhiệm vụ được giao có sự kết hợp, phục vụ chung cho đoàn, Tổ kiểm toán vẫn tồn tại sự hạn chế về trách nhiệm nên chưa tạo được sự tin tưởng giữa các Tổ kiểm toán.


2.2.4. Đánh giá nhân sự


Nội dung đánh giá nhân sự.


Việc tổ chức đánh giá nhân sự Đoàn kiểm toán là công việc cần thiết khi kết thúc kiểm toán; việc đánh giá nhân sự gồm các nội dung: Đánh giá quá trình thực hiện nhiệm vụ và kết quả kiểm toán; xếp loại công chức theo các cấp độ về chất lượng.


(2) Trình tự, phương pháp đánh giá nhân sự.


- Dựa trên các tiêu chí và tiêu chuẩn đánh giá (hoặc cụ thể hóa các tiêu chí, tiêu chuẩn theo quy định của KTNN) về: i) Thực hiện công việc chuyên môn kiểm toán (tiến độ thực hiện công việc; áp dụng các phương pháp kiểm toán; kết quả kiểm toán và mức độ thực hiện mục tiêu); ii) Trách nhiệm với công việc; tính kỷ luật và sự phối hợp trong công việc; iii) Tuân thủ đạo đức nghề nghiệp kiểm toán; iv) Sáng tạo trong công việc; ngoài ra, đối với Tổ trưởng còn đánh giá về hiệu quả quản lý.


- Lập bảng so sánh chi tiết so sánh từng tiêu chí với việc thực hiện của từng KTVNN;


- Đánh giá theo phương pháp cho điểm (lượng hóa) cho từng tiêu chí, đối với từng KTVNN (mỗi tiêu chí có thể xác định trọng số khác nhau theo mức độ “quan trọng” của tiêu chí đánh giá);


- Tổng hợp điểm, xếp loại chất lượng (xuất sắc, khá, trung bình, yếu) và thông báo kết quả đánh giá.


(3) Những hạn chế, khó khăn trong thực tế.


- Hiện nay, các tiêu chí đánh giá công chức của KTNN thiếu cụ thể; mặt khác, chưa có hướng dẫn riêng cho công tác kiểm toán và hướng dẫn theo phương pháp lượng hóa nên khó khăn trong đánh giá;


- Tư tưởng “cào bằng”, thiếu tính xây dựng, “ngại va trạm” là sức cản lớn trong đánh giá KTVNN đúng đắn, trung thực;


- Các quy định hiện hành về “thi đua, khen thưởng”, “phân loại công chức” chưa tạo cơ sở, động lực cho việc đánh giá công chức đúng đắn, trung thực.


3. KỸ NĂNG TỔ CHỨC KIỂM SOÁT NỘI BỘ ĐOÀN KIỂM TOÁN


3.1. Khái quát về tổ chức Kiểm soát nội bộ và nội dung tổ chức thực hiện kiểm soát nội bộ của Đoàn kiểm toán


3.1.1. Khái niệm và mục tiêu tổ chức kiểm soát nội bộ của Đoàn kiểm toán


3.1.1.1. Khái niệm kiểm soát nội bộ


KSNB là hoạt động thuộc chức năng “tự quản” vốn có của mỗi tổ chức. Mỗi tổ chức phải thực hiện hoạt động KSNB nhằm thực hiện được các mục tiêu hoạt động của tổ chức. Để thực hiện hoạt động KSNB hiệu quả, mỗi tổ chức phải thiết lập hệ thống KSNB.


Theo quan điểm chung được thừa nhận rộng rãi hiện nay thì Hệ thống KSNB là toàn bộ các chính sách, những quy định, các thủ tục do tổ chức xây dựng và áp dụng trong hoạt động nhằm thực hiện được các mục tiêu hoạt động của tổ chức. Như vậy, Hệ thống KSNB của Đoàn kiểm toán là tổng thể các chính sách, các quy định, các thủ tục do KTNN xác lập trong hoạt động của Đoàn kiểm toán nhằm đảm bảo cho Đoàn kiểm toán thực hiện được các mục tiêu trong hoạt động.


Hệ thống KSNB cần mang lại hiệu lực thực tiễn thông qua hoạt động KSNB. Hoạt động KSNB của Đoàn kiểm toán thực chất là việc thực hiện các thủ tục kiểm soát trong quá trình hoạt động của đoàn để thực hiện được mục đích của hệ thống KSNB và các mục tiêu hoạt động của Đoàn kiểm toán.


Hệ thống KSNB của đoàn được cấu thành bởi 3 bộ phận cơ bản: i) Môi trường kiểm soát gồm: Pháp luật và các quy định trong hoạt động kiểm toán; hệ thống tổ chức Đoàn kiểm toán; ii) Hệ thống thông tin kiểm toán; iii) Các thủ tục kiểm soát trong hoạt động kiểm toán.


KSNB thường được đề cập đến 2 mặt thống nhất: Thiết lập hệ thống KSNB và tổ chức thực hiện hoạt động KSNB.


Như vậy, KSNB của Đoàn kiểm toán là việc thiết lập và tổ chức thực hiện các thủ tục kiểm soát trong nội bộ Đoàn kiểm toán về các chính sách, quy định nội bộ phù hợp với quy định của pháp luật nhằm bảo đảm thực hiện được các mục tiêu của hoạt động kiểm toán với rủi ro kiểm toán được giảm thiểu (mức rủi ro kiểm toán mong muốn).


3.1.1.2. Các thủ tục kiểm soát nội bộ


Hoạt động KSNB có phạm vi rộng, đối với mọi lĩnh vực hoạt động của Đoàn kiểm toán và do vậy cũng có rất nhiều hoạt động thuộc về KSNB. Tuy tồn tại nhiều loại hoạt động, song có thể khái quát, KSNB được thực hiện thông qua 2 loại thủ tục (hay thể thức) kiểm soát trực tiếp: Là kiểm soát xử lý (tự kiểm soát) và Kiểm soát quản lý (kiểm soát độc lập).


- Kiểm soát xử lý (tự kiểm soát): Là loại kiểm soát được thực hiện bởi từng KTVNN trong xử lý các nghiệp vụ phát sinh thuộc phạm vi nhiệm vụ được giao, đảm bảo nghiệp vụ đó được xử lý hợp lý và phù hợp với các quy định. Kiểm soát xử lý là hoạt động mà mỗi thành viên của Đoàn kiểm toán tự kiểm soát các hoạt động nghiệp vụ của mình.


- Kiểm soát quản lý (kiểm soát độc lập): Là loại kiểm soát mà người thực hiện độc lập với người thực hiện hoạt động được kiểm soát. Kiểm soát quản lý có đối tượng là các hoạt động cụ thể theo những nhiệm vụ, yêu cầu, mục tiêu, quy trình, phương pháp… mà người thực hiện hoạt động phải thực hiện. Kiểm soát quản lý là hoạt động do người được giao trách nhiệm quản lý (Trưởng đoàn, Tổ trưởng, nhóm trưởng) thực hiện đối với người chịu sự quản lý (Tổ trưởng, nhóm trưởng, KTVNN).


Ngoài ra, do đặc điểm cụ thể về cuộc kiểm toán và tổ chức Đoàn kiểm toán, Trưởng đoàn kiểm toán có thể có những quy định bổ sung riêng cho Đoàn kiểm toán về những thủ tục kiểm soát đặc thù để đảm bảo thực hiện toàn diện các mục tiêu kiểm toán.


3.1.1.3. Tổ chức thực hiện kiểm soát nội bộ và mục tiêu tổ chức thực hiện kiểm soát nội bộ của Đoàn kiểm toán


Tổ chức thực hiện KSNB của Đoàn kiểm toán là việc bố trí, sắp xếp các yếu tố và công việc KSNB của Đoàn kiểm toán để nhằm đạt được các mục tiêu của KSNB.


Việc tổ chức thực hiện KSNB của Đoàn kiểm toán (thực chất là của Trưởng đoàn kiểm toán) gồm các nội dung chủ yếu sau:


- Bổ sung các quy định đặc thù về tổ chức, kiểm soát và thông tin phù hợp với những yêu cầu riêng có của Đoàn kiểm toán (do tính phức tạp, quy mô, những khu vực có rủi ro kiểm toán lớn...); đây thực chất là các biện pháp để đảm bảo thực hiện được mục tiêu của KSNB;


- Tổ chức tự kiểm soát đối với các hoạt động nghiệp vụ thuộc nhiệm vụ mà Trưởng đoàn xử lý;


- Tổ chức các hoạt động kiểm soát quản lý thuộc chức năng và phạm vi quản lý của Trưởng đoàn kiểm toán;


- Tổ chức thông tin và giám sát để đảm bảo hiệu lực của KSNB, thực chất là việc kiểm soát hoạt động KSNB của thuộc cấp quản lý nhằm đảm bảo việc duy trì hiệu lực của KSNB của Đoàn kiểm toán.


Việc tổ chức tốt hoạt động KSNB của Đoàn kiểm toán nhằm thực hiện được các mục tiêu chủ yếu sau:


(1) Đảm bảo hoạt động kiểm toán tuân thủ pháp luật; tuân thủ hệ thống chuẩn mực KTNN, quy trình kiểm toán, quy chế tổ chức và hoạt động của Đoàn kiểm toán, mẫu biểu hồ sơ kiểm toán và các quy định khác của KTNN có liên quan trong hoạt động của Đoàn kiểm toán; phát hiện và chấn chỉnh kịp thời những hạn chế, sai sót, góp phần giảm thiểu rủi ro kiểm toán.


(2) Tổ chức tốt hoạt động KSNB của Đoàn kiểm toán là cơ sở đảm bảo sự vận hành của hệ thống thông tin kiểm toán có độ tin cậy cao; cung cấp các thông tin chính xác, kịp thời, đầy đủ về toàn bộ hoạt động và kết quả kiểm toán của từng thành viên Đoàn kiểm toán, là cơ sở cho việc quản lý, điều hành hoạt động của Đoàn kiểm toán đảm bảo được hiệu quả.


(3) Tổ chức hoạt động KSNB của Đoàn kiểm toán là điều kiện cho việc duy trì đúng tiến độ, nội dung nhiệm vụ, áp dụng các phương pháp thích hợp và sử lý kịp thời các tình huống phát sinh trong hoạt động kiểm toán; trên cơ sở đó đảm bảo cho mỗi KTVNN, mỗi Tổ kiểm toán hoàn thành được nhiệm vụ kiểm toán phù hợp mục tiêu đề ra.


3.1.2. Nội dung công việc chủ yếu trong tổ chức thực hiện kiểm soát nội bộ của Đoàn kiểm toán


Để thực hiện công việc tổ chức thực hiện KSNB của Đoàn kiểm toán, Trưởng đoàn kiểm toán phải thực hiện các công việc chủ yếu sau:


3.1.2.1. Bổ sung các quy định về kiểm soát nội bộ của Đoàn kiểm toán


Những quy định của pháp luật, của KTNN là cơ sở cho hoạt động KSNB thường là những quy định chung, áp dụng cho mọi cuộc kiểm toán. Tuy nhiên, trong hoạt động của từng cuộc kiểm toán, có những yếu tố tác động đến cuộc kiểm toán cần có những quy định về KSNB cụ thể phù hợp: Tính chất phức tạp của đối tượng kiểm toán; đặc thù về nội dung - nhiệm vụ kiểm toán (kiểm toán tài chính hoặc KTHĐ hoặc kiểm toán hỗn hợp hoặc chuyên đề kiểm toán mới); quy mô, sự tập trung hay phân tán của các đơn vị được kiểm toán; những bộ phận có rủi ro kiểm toán cao hoặc nội dung kiểm toán trọng tâm; sự không đồng đều về năng lực của KTVNN tại các Tổ kiểm toán...


Thực tế đó, đòi hỏi Trưởng đoàn kiểm toán cần bổ sung các quy định về KSNB, bao gồm: i) Bổ sung các thủ tục kiểm soát (kiểm soát xử lý và kiểm soát độc lập) và các quy định về tổ chức thông tin cần thiết cho từng nội dung, hoạt động kiểm toán; ii) Bổ sung các thủ tục giám sát KSNB.


3.1.2.2. Lập chương trình kiểm soát nội bộ (của Trưởng đoàn kiểm toán)


Để tổ chức tốt hoạt động KSNB, Trưởng đoàn kiểm toán cần dựa trên các kế hoạch và chương trình kiểm toán của đoàn và các Tổ kiểm toán để lập Chương trình KSNB của Trưởng đoàn (và tương tự yêu cầu các Tổ trưởng, các KTVNN phải lập chương trình KSNB của mình). Nội dung chương trình KSNB phải toàn diện, gồm: i) Hoạt động tự kiểm soát; ii) Kiểm soát quản lý của 3 giai đoạn kiểm toán; iii) Gám sát thực hiện KSNB của Đoàn kiểm toán; iv) Đánh giá chất lượng hoạt động kiểm toán.


3.1.2.3. Thực hiện tự kiểm soát


Trưởng đoàn kiểm toán (với tư cách là một thành viên của Đoàn kiểm toán) cũng phải thực hiện công việc tự kiểm soát đối với những hoạt động có tính chất nghiệp vụ thuộc nhiệm vụ của Trưởng đoàn phải giải quyết (kiểm soát lại những vấn đề đã xử lý trước khi đưa ra quyết định): Bố trí nhân sự; quyết định phương pháp tổ chức kiểm toán; điều chỉnh KHKT; chỉ đạo xử lý nghiệp vụ kiểm toán; xử lý các tình huống phát sinh từ các Tổ kiểm toán… Việc thực hiện tự kiểm soát của Trưởng đoàn là rất quan trọng vì nó liên quan đến các chất lượng của cac quyết định về hoạt động và xử lý nghiệp vụ của các Tổ kiểm toán.


3.1.2.4. Kiểm soát quản lý các giai đoạn kiểm toán (phân chia cụ thể theo 3 giai đoạn của cuộc kiểm toán)


Do trách nhiệm của Trưởng đoàn kiểm toán là quản lý hoạt động của Đoàn kiểm toán, do vậy, nhiệm vụ kiểm soát quản lý là hoạt động chủ đạo trong KSNB của Trưởng đoàn kiểm toán. Hoạt động kiểm soát quản lý gắn liền với tiến độ hoạt động của các Tổ kiểm toán. Với nhiệm vụ kiểm soát quản lý, nhiệm vụ chủ yếu của Trưởng đoàn là công tác tổ chức kiểm soát gắn với các quy trình kiểm toán theo các quy định và xử lý những hạn chế trong các nội dung và kết quả hoạt động kiểm toán.


Nội dung của hoạt động tổ chức kiểm soát quản lý được định hình tương ứng với 3 giai đoạn của cuộc kiểm toán gồm: i) Kiểm soát quản lý giai đoạn chuẩn bị kiểm toán; ii) Kiểm soát quản lý giai đoạn thực hiện kiểm toán; iii) Kiểm soát quản lý giai đoạn lập BCKT.


3.1.2.5. Tổ chức thực hiện giám sát việc thực hiện kiểm soát nội bộ của Đoàn kiểm toán


Giám sát là hoạt động thuộc chức năng quản lý để đảm bảo chất lượng và hiệu lực của hoạt động KSNB của Đoàn kiểm toán. Nội dung của hoạt động giám sát gồm: chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh, xử lý đối với hoạt động KSNB của các Tổ trưởng kiểm toán và các KTVNN. Hình thức thực hiện giám sát có thể được vận dụng linh hoạt phù hợp với yêu cầu quản lý. Phạm vi thực hiện giám sát được thực hiện ở tất cả các hoạt động KSNB, trong tất cả các giai đoạn của quy trình kiểm toán.


3.1.2.6. Tổ chức đánh giá chất lượng hoạt động kiểm toán


Đánh giá chất lượng hoạt động kiểm toán là một nội dung rất quan trọng của KSNB của Đoàn kiểm toán. Đánh giá chất lượng trong nội bộ Đoàn kiểm toán nhằm mục tiêu: i) Xác định chất lượng và phân loại chất lượng những hoạt động của cuộc kiểm toán; ii) Xác định những nguyên nhân và các biện pháp khắc phục những hoạt động ở mức trung bình, yếu; iii) Tạo cơ sở cho việc đánh giá, xếp loại lao động đối với KTVNN của Đoàn kiểm toán.


Việc tổ chức đánh giá chất lượng hoạt động kiểm toán cần được thực hiện sau khi kết thúc cuộc kiểm toán. Nội dung đánh giá chất lượng hoạt động kiểm toán gồm; sự tuân thủ pháp luật và những quy định; thực hiện kế hoạch, chương trình và tiến độ kiểm toán; việc áp dụng chuẩn mực và phương pháp nghiệp vụ kiểm toán; mức độ thực hiện nhiệm vụ và mục tiêu kiểm toán… Phạm vi đánh giá chất lượng hoạt động kiểm toán gồm hoạt động của các giai đoạn của cuộc kiểm toán. Cơ sở của việc đánh giá chất lượng hoạt động kiểm toán là thực hiện dựa trên các quy định của KTNN và việc thực hiện thực tế của Đoàn kiểm toán.


3.1.3. Những nhân tố tác động đến tổ chức thực hiện kiểm soát nội bộ của Đoàn kiểm toán


Việc xác định các nhân tố tác động đến tổ chức thực hiện KSNB của Đoàn kiểm toán là cơ sở cho việc thực hiện các biện pháp để nâng cao chất lượng và hiệu lực của hoạt động KSNB; các nhân tố chủ yếu tác động gồm:


3.1.3.1. Pháp luật và các quy định của KTNN về hoạt động kiểm toán và kiểm soát nội bộ của Đoàn kiểm toán


Hệ thống pháp luật về KTNN (Hiến pháp, Luật KTNN, các văn bản quy phạm pháp luật về KTNN, các đạo luật và văn bản quy phạm pháp luật có liên quan) có các quy định, đặc biệt là quy định về hoạt động kiểm toán của KTNN, là những ràng buộc đòi hỏi việc tổ chức hoạt động nói chung, hoạt động tổ chức nhân sự của Đoàn kiểm toán phải tuân thủ: i) Nhóm các quy định của Luật KTNN về quyền hạn, trách nhiệm, nhiệm vụ của Trưởng đoàn, Tổ trưởng, KTVNN và các thành viên trong Đoàn kiểm toán; ii) Nhóm các quy định của KTNN về quy trình, chuẩn mực nghề nghiệp kiểm toán của KTNN; iii) Nhóm các quy định của KTNN về KSCLKT và KSNB của Đoàn kiểm toán. Tính toàn diện, đầy đủ, cụ thể, hợp lý của các quy định sẽ tác động đến tính hiệu quả, hiệu lực của việc tổ chức thực hiện KSNB của Đoàn kiểm toán.


3.1.3.2. Mô hình tổ chức KSNB của Đoàn kiểm toán


Thực chất, đây là nhóm yếu tố liên quan đến mô hình tổ chức Đoàn kiểm toán, từ đó tác động đến tổ chức thực hiện KSNB của Đoàn kiểm toán:


- Trong mô hình tổ chức Đoàn kiểm toán mà Trưởng đoàn kiểm toán là cấp quản lý trung gian sẽ hình thành 2 cấp quản lý của Đoàn kiểm toán và cũng là 2 cấp tổ chức KSNB của Đoàn kiểm toán là cấp Trưởng đoàn và cấp Tổ trưởng Tổ kiểm toán. Việc hình thành 2 cấp tổ chức thực hiện KSNB sẽ quyết định việc xác định nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của mỗi cấp quản lý và hoạt động KSNB. Việc phân cấp trong quản lý Đoàn kiểm toán cũng đồng thời là sự phân cấp tổ chức KSNB Đoàn kiểm toán.


- Trong mô hình tổ chức Đoàn kiểm toán mà Trưởng đoàn là cấp quản lý cơ sở, trực tiếp, nên là cấp duy nhất quản lý Đoàn kiểm toán (thường có quy mô nhỏ, từ 3-6 KTVNN) và do vậy, cũng là cấp duy nhất tổ chức thực hiện KSNB của Đoàn kiểm toán. Thực chất mô hình tổ chức KSNB Đoàn kiểm toán không có cấp quản lý trung gian có sự tương đồng với mô hình Tổ kiểm toán mà Trưởng đoàn kiểm toán giữ vai trò Tổ trưởng Tổ kiểm toán, trực tiếp tổ chức KSNB của Đoàn kiểm toán.


3.1.3.3. Tổ chức hệ thống thông tin kiểm toán


Hệ thống thông tin là một yếu tố của hệ thống KSNB của Đoàn kiểm toán. Mọi hoạt động KSNB gồm tự kiểm soát, kiểm soát quản lý và hoạt động giám sát KSNB đều dựa trên chất lượng của hệ thống thông tin của hoạt động kiểm toán. Việc tổ chức hệ thống thông tin kiểm toán, một mặt, được thực hiện theo các quy định chung của KTNN đối với mọi Đoàn kiểm toán; mặt khác, nó cần được bổ sung phù hợp với những đặc thù của cuộc kiểm toán và phù hợp với các biện pháp cụ thể phục vụ cho việc thực hiện giám sát hoạt động KSNB của Đoàn kiểm toán.


3.1.3.4. Đặc điểm về đơn vị được kiểm toán và nhiệm vụ kiểm toán


Đặc điểm về đơn vị được kiểm toán là một yếu tố chi phối tổ chức Đoàn kiểm toán (tổ chức Đoàn kiểm toán tập trung hay phân tán; bố trí về số lượng các tổ và thành viên Đoàn kiểm toán); do đó, nó sẽ tác động đến việc tổ chức thông tin kiểm toán, các biện pháp giám sát KTNB của Đoàn kiểm toán.


Mặt khác, nhiệm vụ kiểm toán thể hiện ở các mặt: i) Mức độ phức tạp của nội dung kiểm toán: cuộc kiểm toán tài chính hay KTHĐ hay kiểm toán hỗn hợp? ii) Đặc điểm đối tượng kiểm toán (gắn với nội dung kiểm toán) với tính chất phức tạp, quy mô, phạm vi phân bố… sẽ là những nhân tố tác động đến việc xác định yêu cầu về thực hiện KSNB; iii) Rủi ro kiểm toán (phân bố rủi ro kiểm toán) sẽ tác động đến việc bổ sung các thủ tục kiểm soát, tăng cường các biện pháp giám sát trong tổ chức thực hiện KSNB.


3.2. Vận dụng các kỹ năng trong tổ chức thực hiện kiểm soát nội bộ của Đoàn kiểm toán


Các kỹ năng của Trưởng đoàn kiểm toán trong tổ chức KSNB của Đoàn kiểm toán là một bộ phân của kỹ năng quản lý; do vậy, nó được thể hiện; xác định các nội dung công việc; xác định trình tự các bước công việc và áp dụng các phương pháp trong thực hiện từng công việc KSNB.


3.2.1. Bổ sung các quy định về kiểm soát nội bộ của Đoàn kiểm toán


(1) Nội dung bổ sung các quy định về KSNB của Đoàn kiểm toán


Trong mỗi cuộc kiểm toán, thường có thể có một số trường hợp đòi hỏi Trưởng đoàn kiểm toán cần bổ sung những biện pháp kiểm soát nhằm đảm bảo hoàn thành tốt nhất các nhiệm vụ kiểm toán:


- Nhiệm vụ kiểm toán riêng có của cuộc kiểm toán (nhiệm vụ đặc thù của đơn vị được kiểm toán);


- Nhiệm vụ kiểm toán thuộc nhiệm vụ trọng tâm của toàn ngành cần được chú trọng và ưu tiên trong tổ chức kiểm toán;


- Nhiệm vụ kiểm toán được xác định là chuyên đề kiểm toán chuyên sâu của cuộc kiểm toán;


- Nhiệm vụ kiểm toán được xác định có rủi ro kiểm toán rất cao hoặc nội dung kiểm toán có độ phức tạp rất cao;


- Những nhiệm vụ kiểm toán khác mà KTNN chưa ban hành những quy định cụ thể, chi tiết về KSNB (ví dụ: Nhiệm vụ KTHĐ).


Trên đây là những nhiệm vụ được coi là “trọng tâm” cần được “kiểm soát đặc biệt” trong hoạt động kiểm toán, do vậy, trong hoạt động quản lý, trong đó có hoạt động KSNB của Đoàn kiểm toán, cần có các quy định bổ sung để đảm bảo chất lượng kiểm toán.


Những quy định bổ sung chủ yếu về KSNB gồm 3 nội dung: Các thủ tục kiểm soát; hệ thống thông tin kiểm toán và các thủ tục giám sát.


(2) Trình tự, phương pháp bổ sung các quy định về KSNB của Đoàn kiểm toán


Việc thực hiện nghiên cứu, bổ sung các thủ tục KSNB được thực hiện ngay trong giai đoạn chuẩn bị kiểm toán; được thực hiện đồng thời với việc lập và xét duyệt KHKT; cụ thể theo trình tự và phương pháp sau:


- Tổng hợp những nhiệm vụ kiểm toán thuộc đối tượng cần “kiểm soát đặc biệt”;


- Phân tích những đặc điểm của những nhiệm vụ kiểm toán cần “kiểm soát đặc biệt” để xác định những bước công việc, những nội dung công việc cần có những thủ tục “kiểm soát đặc biệt”;


- Thiết kế những thủ tục kiểm soát bổ sung đối với công việc đã lựa chọn, gồm: thủ tục kiểm soát xử lý (ví dụ: Bổ sung hình thức “kiểm soát chéo”, bổ sung các phương pháp kiểm toán bắt buộc; thủ tục ghi chép chi tiết, phương pháp kiểm toán...), thủ tục kiểm soát quản lý (ví dụ: Bổ sung thủ tục soát xét của cấp quản lý - Trưởng đoàn, Tổ trưởng);


- Thiết kế yêu cầu bổ sung về tổ chức thông tin: Mẫu biểu, thời điểm báo cáo, xử lý báo cáo về thông tin báo cáo từ KTVNN đến các cấp quản lý;


- Bổ sung các biện pháp giám sát của các cấp quản lý Đoàn kiểm toán: Yêu cầu, đôn đốc thực hiện các thủ tục kiểm soát; bổ sung các hình thức kiểm tra trực tiếp hoặc gián tiếp đối với các Tổ kiểm toán về những nhiệm vụ cần “kiểm soát đặc biệt”...


(3) Những hạn chế, khó khăn trong thực tế


Trong thực tế hoạt động kiểm toán, việc bổ sung các quy định KSNB có những khó khăn, hạn chế sau:


- Đây là công việc đòi hỏi sự chỉ đạo sâu, sát của mỗi Trưởng đoàn kiểm toán; song với mô hình tổ chức Trưởng đoàn kiểm toán là “cấp quản lý trung gian” thường hạn chế sự sâu, sát nên hầu như không được thực hiện;


- Tư duy quản lý theo kinh nghiệm trong các cuộc kiểm toán “BCTC” dẫn đến xu hướng đơn giản hóa, ngại thay đổi… là sức cản trong bổ sung, hoàn thiện KSNB Đoàn kiểm toán;


- Hoạt động KSNB (trong quy định của KTNN là “KSCLKT’) còn trùng lắp giữ các cấp quản lý, hình thức chủ nghĩa, thiếu hiệu quả nên làm giảm sự quan tâm của các cấp quản lý đến hoạt động KSNB của Đoàn kiểm toán.


3.2.2. Lập chương trình kiểm soát nội bộ (của Trưởng đoàn kiểm toán)


(1) Nội dung chương trình KSNB (của Trưởng đoàn kiểm toán)


Trưởng đoàn kiểm toán phải lập chương trình kiểm soát của mình; chương trình gồm các nội dung chính: Nội dung kiểm soát; thời gian thực hiện; hình thức kiểm soát; phương pháp kiểm soát. Các nhóm nội dung cần thực hiện kiểm soát gồm:


- Chương trình Tự kiểm soát của Trưởng đoàn kiểm toán;


- Chương trình Kiểm soát quản lý của Trưởng đoàn kiểm toán;


- Chương trình giám sát của Trưởng đoàn kiểm toán.


(2) Trình tự, phương pháp lập chương trình KSNB (của Trưởng đoàn kiểm toán)


Trưởng đoàn kiểm toán phải dựa trên việc xác định các nhiệm vụ mà Trưởng đoàn phải trực tiếp thực hiện; các kế hoạch, chương trình kiểm toán của các Tổ kiểm toán (cả 3 giai đoạn kiểm toán); các thủ tục kiểm soát bổ sung; các dự kiến về biện pháp giám sát đề xây dựng chương trình kiểm soát; các bước công việc gồm:


- Liệt kê theo từng nhóm công việc và xác định yêu cầu về KSNB của từng hoạt động kiểm soát của Trưởng đoàn kiểm toán;


- Sắp xếp theo tiến độ thực hiện các hoạt động của Đoàn, các Tổ kiểm toán;


- Xác định thời gian, hình thức, phương pháp, cho các thủ tục kiểm soát, giám sát.


(3) Những hạn chế, khó khăn trong thực tế


Trong thực tế hoạt động kiểm toán, việc lập chương trình KSNB của Trưởng đoàn kiểm toán có những khó khăn, hạn chế sau:


- Quản lý mang nặng tính “Kinh nghiệm chủ nghĩa” và “cảm tính” là một hạn chế làm cản trở việc xây dựng và tổ chức thực hiện KSNB của cả 2 cấp quản lý Đoàn kiểm toán, trong đó có Trưởng đoàn kiểm toán;


- Việc quan niệm KSNB của Đoàn kiểm toán đồng nghĩa với KSCLKT của KTNN dẫn đến thiếu các hướng dẫn phù hợp hoạt động KSNB của Đoàn kiểm toán (2 loại kiểm soát này có chủ thể, đối tượng, phương thức tổ chức kiểm soát... khác nhau) nên trong thực tế, hoạt động KSNB của Đoàn kiểm toán chưa được xác định đúng đắn, hiệu lực hạn chế.


3.2.3. Thực hiện tự kiểm soát


(1) Nội dung thực hiện tự kiểm soát của Trưởng đoàn kiểm toán


Hoạt động tự kiểm soát của Trưởng đoàn kiểm toán thể hiện ở những việc mà Trưởng đoàn tự thực hiện kiểm soát việc xử lý các tác nghiệp, nghiệp vụ quản lý của mình, thể hiện ở những nhóm nội dung chính sau:


- Các quyết định quản lý: Bố trí và điều chỉnh nhân sự kiểm toán; xác định phương thức tổ chức kiểm toán; xác định Chương trình KSNB của Trưởng đoàn kiểm toán; bổ sung các thủ tục kiểm soát...;


- Các ý kiến chỉ đạo về hoạt động kiểm toán: Chỉ đạo về tiến độ kiểm toán; chỉ đạo về các nghiệp vụ đặc thù trong kiểm toán; chỉ đạo về điều chỉnh kế hoạch, chương trình kiểm toán; chỉ đạo các hoạt động liên quan đến tổ chức - nhân sự, xử lý các quan hệ với đơn vị được kiểm toán...;


- Các báo cáo về công tác kiểm toán định kỳ hoặc đột xuất gửi Kiểm toán trưởng.


(2) Trình tự, phương pháp thực hiện tự kiểm soát của Trưởng đoàn kiểm toán


Về tổng thể, Trưởng đoàn phải thực hiện tổng hợp nhiều phương pháp để tự kiểm soát: so sánh - đối chiếu, phân tích, tổng hợp, kiểm tra - soát xét...; và thực hiện theo trình tự tổng quát sau:


- Kiểm tra - soát xét về các yêu cầu của công việc dự định thực hiện;


- Áp dụng các phương pháp để tổng hợp, phân tích, đánh giá về những cơ sở của những quyết định, chỉ đạo, báo cáo... Kiểm toán trưởng;


- Kiểm soát lại những dự định quyết định, hướng dẫn, báo cáo... trước khi chuyển các thông tin đến các bộ phận thực hiện hoặc các cấp quản lý;


- Theo dõi các ý kiến phản hồi.


(3) Những hạn chế, khó khăn trong thực tế


Do tính chuyên nghiệp còn hạn chế nên hoạt động tự kiểm soát của Trưởng đoàn kiểm toán chưa thật sự nề nếp; mặt khác, việc giám sát từ Kiểm toán trưởng đối với Trưởng đoàn cũng cần phải được tăng cường mới đảm bảo hiệu lực kiểm soát.


3.2.4. Kiểm soát quản lý các giai đoạn kiểm toán


3.2.4.1. Kiểm soát quản lý giai đoạn chuẩn bị kiểm toán


(1) Nội dung kiểm soát quản lý giai đoạn chuẩn bị kiểm toán


Trưởng đoàn kiểm toán phải thực hiện kiểm soát đối với các hoạt động tổ chức công việc chuẩn bị kiểm toán thuộc phạm vi nhiệm vụ của Trưởng đoàn, gồm:


- Hoạt động khảo sát, thu thập thông tin về đối tượng và đơn vị được kiểm toán (gồm: bố trí nhân sự tổ khảo sát; xây dựng đề cương khảo sát; tổ chức khảo sát; phân tích, đánh giá thông tin đã thu thập);


- Lập KHKT tổng quát và KHKT chi tiết;


- Phổ biến KHKT và tập huấn nghiệp vụ cho KTVNN.


(2) Trình tự, phương pháp kiểm soát quản lý giai đoạn chuẩn bị kiểm toán


Các phương pháp và trình tự thực hiện kiểm soát, gồm:


- Phân tích, đánh giá về việc bố trí nhân sự khảo sát phù hợp với các yêu cầu về: số lượng, cơ cấu về chuyên môn và năng lực phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của cuộc kiểm toán. Nhân sự thực hiện khảo sát thường là lực lượng chủ chốt của Đoàn kiểm toán;


- Phân tích đánh giá về đề cương khảo sát, gồm: yêu cầu về những thông tin, số liệu cần thu thập; phương thức tổ chức khảo sát và các phương pháp thu thập thông tin; địa điểm, thời gian, lịch trình và phạm vi thực hiện khảo sát;


- Kiểm tra, soát xét, đánh giá việc phân tích thông tin thu thập và báo cáo khảo sát;


- Kiểm tra, soát xét, đánh giá và chỉ đạo hoàn thiện KHKT tổng quát và KHKT chi tiết về: thể thức kế hoạch; tính chính xác, đầy đủ, hợp lý của các thông tin, số liệu; tính hợp lý của các phân tích, đánh giá hệ thống KSNB, xác định trọng tâm, trọng yếu, rủi ro kiểm toán; tính hợp lý của việc xác định phương thức tổ chức, phương pháp kiểm toán, bố trí thời gian và nhân sự kiểm toán, lựa chọn đơn vị được kiểm toán; tính thống nhất, phù hợp giữa các nội dung của kế hoạch;


- Kiểm tra nội dung phổ biến kế hoạch và chương trình tập huấn nghiệp vụ cho Đoàn kiểm toán và cho từng Tổ kiểm toán để đảm bảo cập nhật được kiến thức cho KTVNN và phù hợp với nhiệm vụ kiểm toán.


(3) Những hạn chế, khó khăn trong thực tế


Trong thực tế hoạt động kiểm toán, việc thực hiện kiểm soát quản lý đối với giai đoạn chuẩn bị kiểm toán có những khó khăn, hạn chế sau:


- Việc tổ chức thông tin (cơ sở dữ liệu kiểm toán) của các KTNN khu vực và KTNN chuyên ngành còn rất hạn chế nên công việc khảo sát thường tốn nhiều thời gian và nhân lực; mặt khác, việc xét duyệt KHKT tổng quát theo mô hình hiện tại (không phân cấp cho Kiểm toán trưởng) nên tốn nhiều thời gian và nhân lực, kinh phí và chất lượng cũng còn rất hạn chế;


- Việc kiểm soát chất lượng của KHKT (cả KHKT tổng quát và KHKT chi tiết) còn nhiều hạn chế, đặc biệt là các nội dung về xác định trọng yếu kiểm toán, rủi ro kiểm toán, các phương thức tổ chức kiểm toán, phương pháp kiểm toán, chọn mẫu kiểm toán có chất lượng rất thấp, ít tác dụng đối với việc chỉ đạo việc thực hiện kiểm toán.


3.2.4.2. Kiểm soát quản lý giai đoạn thực hiện kiểm toán


(1) Nội dung kiểm soát quản lý giai đoạn thực hiện kiểm toán


Trưởng đoàn kiểm toán phải kiểm soát đối với các hoạt động tổ chức công việc thực hiện kiểm toán thuộc phạm vi nhiệm vụ của Trưởng đoàn, gồm:


- Việc tuân thủ KHKT và tiến độ kiểm toán của các Tổ kiểm toán;


- Kết quả kiểm toán của các Tổ kiểm toán và các KTVNN: Biên bản xác nhận số liệu và tình hình kiểm toán; biên bản kiểm toán (hoặc BCKT) của Tổ kiểm toán;


- Việc tuân thủ pháp luật và các quy định trong tổ chức hoạt động kiểm toán của các Tổ kiểm toán.


(2) Phương pháp kiểm soát quản lý giai đoạn thực hiện kiểm toán


Các phương pháp thực hiện kiểm soát, gồm:


- Kiểm tra, soát xét việc tuân thủ KHKT và tiến độ kiểm toán của các Tổ kiểm toán thông qua các báo cáo định kỳ hoặc đột xuất của các Tổ kiểm toán, trong đó, chú trọng các nội dung: tiến độ thực hiện kiểm toán tại từng đơn vị, sự điều chỉnh thời gian kiểm toán (nếu có) và nguyên nhân; những điều chỉnh về phương pháp kiểm toán, quy mô mẫu, phạm vi kiểm toán… và nguyên nhân;


- Kiểm tra, soát xét biên bản xác nhận số liệu và tình hình kiểm toán về: nội dung, kết quả kiểm toán; sự hợp lý của các phát hiện kiểm toán; tính đầy đủ, thích hợp của bằng chứng kiểm toán; sự phù hợp của các phát hiện kiểm toán với những kết luận, kiến nghị kiểm toán;


- Kiểm tra, soát xét biên bản kiểm toán (hoặc BCKT) của Tổ kiểm toán về: mức độ thực hiện các mục tiêu và nội dung kiểm toán; sự hợp lý của các phát hiện kiểm toán; sự thống nhất, phù hợp giữa các kết quả, kết luận, kiến nghị của biên bản kiểm toán với biên bản xác nhận số liệu và tình hình kiểm toán của KTVNN; sự phù hợp, hợp lý của các phát hiện kiểm toán, kết luận, kiến nghị kiểm toán;


- Kiểm tra, soát xét các báo cáo của Tổ kiểm toán về việc tuân thủ pháp luật và các quy định trong tổ chức hoạt động kiểm toán, đảm bảo đạo đức nghề nghiệp của KTVNN.


(3) Những hạn chế, khó khăn trong thực tế


Trong thực tế hoạt động kiểm soát quản lý đối với giai đoạn thực hiện kiểm toán có những khó khăn, hạn chế sau:


- Mô hình tổ chức kiểm toán mà Trưởng đoàn kiểm toán là cấp quản lý trung gian, dễ dẫn đến sự “quan liêu” trong hoạt động kiểm soát thực hiện kiểm toán của Trưởng đoàn (ỷ lại vào sự kiểm soát của Tổ trưởng hoặc Kiểm toán trưởng);


- Nhiều Trưởng đoàn kiểm toán thực hiện kiểm soát thiếu toàn diện, thường chỉ chú trọng đến kiểm soát những phát hiện và kiến nghị xử lý tài chính nên kết quả kiểm toán thường thiếu toàn diện (mục tiêu KTHĐ ít được thực hiện; các nội dung và kiến nghị về quản lý ít được chú trọng...).


3.2.4.3. Kiểm soát quản lý giai đoạn lập Báo cáo kiểm toán


(1) Nội dung kiểm soát quản lý giai đoạn lập BCKT


Trưởng đoàn kiểm toán phải kiểm soát đối với các hoạt động tổ chức công việc lập BCKT thuộc phạm vi nhiệm vụ của Trưởng đoàn, gồm:


- Tổ chức lập dự thảo BCKT của Đoàn kiểm toán;


- Tổ chức thông qua dự thảo BCKT tại đơn vị;


- Chỉnh sửa, bổ sung, hoàn thiện BCKT theo kết luận, chỉ đạo của cấp có thẩm quyền.


(2) Trình tự, phương pháp kiểm soát quản lý giai đoạn lập BCKT


Các phương pháp và trình tự thực hiện kiểm soát, gồm:


- Kiểm tra, soát xét, đánh giá và kết luận (tại cuộc họp Đoàn kiểm toán) đối với dự thảo BCKT về: thể thức, cấu trúc báo cáo; kết quả kiểm toán (số liệu, nhận xét, đánh giá) phù hợp với kết quả tổng hợp từ các biên bản kiểm toán của các Tổ kiểm toán; tính đầy đủ, phù hợp, khả thi của các kết luận, kiến nghị kiểm toán...;


- Kiểm tra, soát xét các nội dung chỉnh sửa, bổ sung, hoàn thiện BCKT sau khi Trưởng đoàn kiểm toán đã kết luận và chỉ đạo hoàn thiện;


- Kiểm tra, soát xét các nội dung chỉnh sửa, bổ sung, hoàn thiện BCKT theo kết luận và chỉ đạo của Kiểm toán trưởng, Lãnh đạo KTNN.


(3) Những hạn chế, khó khăn trong thực tế


Trong thực tế hoạt động kiểm toán, việc tổ chức kiểm soát quản lý đối với giai đoạn lập BCKT có những khó khăn, hạn chế sau:


- Không ít Trưởng đoàn chỉ chú trọng đến việc tổ chức (lãnh đạo) lập BCKT mà ít chú trọng đến kiểm soát các nội dung của BCKT nên nội dung báo cáo thường phải sửa chữa, bổ sung nhiều;


- Chất lượng của BCKT còn hạn chế (cả về thể thức và nội dung): Kết quả thực hiện kiểm toán so với mục tiêu kiểm toán thường có sự sai lệch khá lớn (việc thực hiện mục tiêu kiểm toán về quản lý hoặc KTHĐ thường có kết quả rất hạn chế).


3.2.5. Tổ chức thực hiện giám sát việc thực hiện kiểm soát nội bộ của Đoàn kiểm toán


(1) Nội dung tổ chức thực hiện giám sát việc thực hiện KSNB của Đoàn kiểm toán


Đặc điểm cơ bản về đối tượng giám sát của Trưởng đoàn kiểm toán là những hoạt động KSNB của các thuộc cấp (không thuộc đối tượng KSNB của Trưởng đoàn kiểm toán), bao gồm:


- Hoạt động KSNB của các Tổ trưởng Tổ kiểm toán (bao gồm: Tự kiểm soát, kiểm soát quản lý, giám sát, tổ chức thông tin);


- Hoạt động KSNB của từng KTVNN (bao gồm tự kiểm soát và tổ chức thông tin).


(2) Trình tự, phương pháp tổ chức thực hiện giám sát việc thực hiện KSNB của Đoàn kiểm toán


Các hình thức, phương pháp và trình tự thực hiện kiểm soát, gồm:


a) Xây dựng chương trình giám sát: ngay từ giai đoạn chuẩn bị kiểm toán, Trưởng đoàn kiểm toán phải xây dựng chương trình giám sát đối với các Tổ kiểm toán và các KTVNN; đồng thời, đề ra yêu cầu (văn bản chỉ đạo) đối với thuộc cấp về thực hiện KSNB.


b) Lựa chọn các hình thức tổ chức thực hiện giám sát bao gồm: giám sát trực tiếp (kiểm tra tại Tổ kiểm toán) hoặc giám sát gián tiếp (kiểm tra qua các báo cáo và tài liệu); giám sát định kỳ hoặc giám sát đột xuất; giám sát toàn diện hoặc giám sát chuyên đề. Tùy theo tình hình của Đoàn kiểm toán, nhiệm vụ kiểm toán, yêu cầu quản lý... mà Trưởng đoàn lựa chọn hình thức giám sát phù hợp.


c) Nội dung và phương pháp giám sát:


- Giám sát đối với hoạt động của Tổ trưởng Tổ kiểm toán, gồm:


+ Việc xây dựng chương trình KSNB của Tổ trưởng;


+ Kiểm soát tiến độ kiểm toán của KTVNN;


+ Kiểm soát việc tuân thủ các quy định về đạo đức nghề nghiệp của KTVNN;


+ Các hoạt động kiểm soát quản lý của Tổ trưởng Tổ kiểm toán (kiểm soát các chương trình và thực hiện chương trình kiểm toán của KTVNN; kiểm soát việc ghi chép nhật ký KTVNN và các các giấy tờ làm việc; kiểm soát các biên bản xác nhận số liệu và tình hình kiểm toán của KTVNN, biên bản kiểm toán của Tổ kiểm toán và các giấy tờ làm việc của Tổ kiểm toán...);


+ Kiểm soát việc thực hiện các báo cáo định kỳ, đột xuất của KTVNN.


- Giám sát đối với hoạt động của KTVNN, gồm:


+ Việc tuân thủ chương trình và áp dụng các phương pháp nghiệp vụ kiểm toán;


+ Việc tuân thủ các quy định về đạo đức nghề nghiệp của KTVNN;


+ Việc ghi chép Nhật ký KTVNN và các giấy tờ làm việc;


+ Việc thực hiện các báo cáo định kỳ và đột xuất.


Các phương pháp giám sát được vận dụng linh hoạt: Chọn mẫu hoặc giám sát toàn diện; kiểm tra, soát xét tài liệu; phỏng vấn, trao đổi.


d) Đánh giá, xử lý, chỉ đạo điều chỉnh và theo dõi điều chỉnh hoạt động KSNB của các Tổ kiểm toán.


(3) Những hạn chế, khó khăn trong thực tế


Trong thực tế hoạt động kiểm toán, việc tổ chức giám sát của Trưởng đoàn kiểm toán có những khó khăn, hạn chế sau:


- Hoạt động giám sát chưa được quy định và hướng dẫn cụ thể về đối tượng, nội dung, hình thức, phương pháp, phạm vi giám sát của từng cấp quản lý của Đoàn kiểm toán nên hoạt động này chưa được tổ chức thống nhất để phục vụ yêu cầu quản lý của mỗi cấp;


- Thực tế hoạt động giám sát của Trưởng đoàn kiểm toán được thực hiện dưới hình thức kiểm tra của Trưởng đoàn kiểm toán; tuy nhiên, nội dung của các cuộc kiểm tra này chủ yếu phụ thuộc vào “kinh nghiệm nghề nghiệp” mang nhiều cảm tính của Trưởng đoàn nên thiếu sự thống nhất và hiệu quả.


3.2.6. Tổ chức đánh giá chất lượng hoạt động kiểm toán


(1) Nội dung tổ chức đánh giá chất lượng hoạt động kiểm toán


Việc đánh giá chất lượng hoạt động kiểm toán được thực hiện đối với 3 giai đoạn của cuộc kiểm toán; cụ thể:


- Đánh giá chất lượng của từng bước và nội dung công việc của giai đoạn chuẩn bị kiểm toán. Các hoạt động này đã được sự chỉ đạo trực tiếp và kiểm soát của Trưởng đoàn kiểm toán;


- Đánh giá chất lượng của từng bước và nội dung công việc của giai đoạn thực hiện kiểm toán. Các hoạt động này chịu sự chỉ đạo trực tiếp và kiểm soát của các Tổ trưởng Tổ kiểm toán;


- Đánh giá chất lượng của từng bước và nội dung công việc của giai đoạn chuẩn lập BCKT. Các hoạt động này đã được sự chỉ đạo trực tiếp và kiểm soát của Trưởng đoàn kiểm toán.


(2) Trình tự, phương pháp tổ chức đánh giá chất lượng hoạt động kiểm toán


a) Phân nhóm hoạt động và phân loại chất lượng hoạt động:


- Phân nhóm hoạt động theo mức độ rủi ro chất lượng, gồm; i) Mức độ rủi ro thấp (do tính chất đơn giản của công việc hoặc do công việc được kiểm soát trước, không thể xảy ra sai sót, hạn chế) ii) Mức độ rủi ro trung bình (những công việc được thực hiện nề nếp và được kiểm soát chặt chẽ, ít xảy ra sai sót, hạn chế); iii) Mức độ rủi ro cao (công việc có tính phức tạp cao, có ý nghĩa quan trọng đối với chất lượng kiểm toán nhưng đòi hỏi sự chủ động, sáng tạo, năng lực của KTVNN);


- Phân loại để đánh giá chất lượng hoạt động cần theo 4 cấp độ: Chất lượng tốt; chất lượng khá; chất lượng trung bình và chất lượng yếu. Việc phân loại hợp lý nhất là dựa vào phương pháp lượng hóa (cho điểm) để có thể tổng hợp chất lượng của các nhóm công việc.


b) Đánh giá hoạt động giai đoạn chuẩn bị kiểm toán:


- Hoạt động chuẩn bị kiểm toán có sản phẩm cuối cùng là các KHKT (KHKT tổng quát và KHKT chi tiết), được nhiều cấp kiểm soát (kiểm soát trước và kiểm soát sau), thẩm tra trước khi triển khai thực hiện kiểm toán nên đã đảm bảo chất lượng kiểm toán;


- Những hoạt động có tính phức tạp, rủi ro chất lượng cao của giai đoạn chuẩn bị kiểm toán cần được đánh giá kỹ lưỡng, chặt chẽ, gồm: i) Phân tích tình hình kinh tế - tài chính của đơn vị được kiểm toán; ii) Xác định trọng yếu kiểm toán và đánh giá rủi ro kiểm toán; iii) Xác định tiêu chí và tiêu chuẩn đánh giá kiểm toán.


c) Đánh giá hoạt động giai đoạn thực hiện kiểm toán:


- Hoạt động thực hiện kiểm toán là hoạt động phức tạp, chất lượng kiểm toán phụ thuộc chủ yếu vào sự chủ động, sáng tạo và năng lực của KTVNN nên được coi là hoạt động có rủi ro chất lượng cao; hơn nữa, chất lượng của giai đoạn này sẽ quyết định chất lượng cuộc kiểm toán và ảnh hưởng đến chất lượng lập BCKT;


- Hoạt động của giai đoạn này cần được đánh giá thận trọng và toàn diện; tuy nhiên, cần chú trọng đến các hoạt động có tính phức tạp, rủi ro chất lượng cao phải được đánh giá kỹ lưỡng, chặt chẽ, gồm: i) Sự hợp lý của việc xây dựng chương trình kiểm toán của từng KTVNN và Tổ kiểm toán; ii) Việc chọn mẫu kiểm toán; iii) Mức độ phù hợp trong áp dụng các phương pháp, kỹ năng kiểm toán; iv) Sự đầy đủ, xác đáng của các bằng chứng kiểm toán; v) Sự hợp lý của các phát hiện, kết luận, kiến nghị kiểm toán.


d) Đánh giá hoạt động giai đoạn lập BCKT:


- Hoạt động lập BCKT có sản phẩm cuối cùng là các BCKT của Đoàn kiểm toán, được nhiều cấp kiểm soát (kiểm soát trước và kiểm soát sau), thẩm tra trước khi triển khai thực hiện kiểm toán nên đã đảm bảo chất lượng kiểm toán;


- Những hoạt động có tính phức tạp, rủi ro chất lượng cao của giai đoạn lập BCKT cần được đánh giá kỹ lưỡng, chặt chẽ, gồm: i) Tổng hợp các phát hiện kiểm toán; ii) Sự hợp lý của các phát hiện với các kết luận, kiến nghị kiểm toán.


e) Phương pháp đánh giá và xếp loại chất lượng:


- Các phương pháp chủ yếu để đánh giá gồm: i) Kiểm tra, soát xét nội dung công việc thể thiện trong các tài liệu làm việc và bằng chứng kiểm toán; ii) So sánh, đối chiếu với tiêu chuẩn (các quy định, mục tiêu, KHKT...); iii) Đánh giá công việc kiểm toán (định tính);


- Việc xếp loại chất lượng hoạt động kiểm toán được thực hiện, gồm các công việc: i) Lượng hóa (cho điểm) từng công việc kiểm toán dựa trên kết quả đánh giá chất lượng công việc kiểm toán; ii) Tổng hợp kết quả đánh giá chất lượng hoạt động từ điểm của các công việc; iii) Xếp loại chất lượng công việc và hoạt động kiểm toán.


f) Xác định những yếu kém, hạn chế, nguyên nhân và đề xuất các biện pháp khắc phục


Trên cơ sở những đánh giá và xếp loại chất lượng hoạt động kiểm toán, Trưởng đoàn kiểm toán cần thực hiện các công việc:


- Tổng hợp các công việc, hoạt động có chất lượng ở mức trung bình và yếu, kém theo từng giai đoạn của quy trình kiểm toán (kèm theo xác định trách nhiệm của từng KTVNN thực hiện);


- Xác định từng nguyên nhân hạn chế, yếu, kém dẫn đến chất lượng thấp của từng công việc và hoạt động kiểm toán trên (nguyên nhân về chuyên môn; nguyên nhân về trách nhiệm công việc; nguyên nhân về KSNB);


- Xác định các biện pháp cụ thể để khắc phục những hạn chế, yếu kém trên.


(3) Những hạn chế, khó khăn trong thực tế


Trong thực tế hoạt động kiểm toán, việc đánh giá chất lượng hoạt động kiểm toán của Đoàn kiểm toán có những khó khăn, hạn chế sau:


- Theo quy định của KTNN, hoạt động KSNB của Đoàn kiểm toán được đồng nhất với hoạt động KSCLKT nên xác định không đúng chủ thể, đối tượng, mục tiêu kiểm soát và đánh giá chất lượng kiểm toán nên việc đánh giá chất lượng kiểm toán không đáp ứng được yêu cầu quản lý của Đoàn kiểm toán;


- Thực tế, hoạt động đánh giá chất lượng hoạt động kiểm toán theo Quy chế KSCLKT tại Đoàn kiểm toán mang tính “hình thức”, không thực chất, thiếu trọng tâm nên kết quả có chất lượng và giá trị rất thấp.


4. KỸ NĂNG TỔ CHỨC CUỘC HỌP


(Áp dụng trong các tình huống triển khai KHKT, công bố quyết định kiểm toán, thông báo kết quả kiểm toán,… Tùy từng hoàn cảnh cụ thể mà Trưởng đoàn kiểm toán lựa chọn nội dung để vận dụng phù hợp)


4.1. Nội dung cơ bản của công tác tổ chức cuộc họp


Theo nghĩa thông thường, cuộc họp là sự tập trung một số người để cùng nhau làm một việc nhất định. Họp chính là một hoạt động quản lý, một cách thức giải quyết công việc. Họp cũng là một dạng của giao tiếp. Những thông tin, kiến thức, phương pháp hay kết luận để giải quyết vấn đề được thực hiện thông qua cuộc họp.


Trong quá trình kiểm toán, Trưởng đoàn chủ trì nhiều cuộc họp để hoàn thành chức trách “tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm toán theo quyết định kiểm toán”. Trước khi tiến hành kiểm toán, Trưởng đoàn phải tổ chức họp Đoàn kiểm toán quán triệt Quyết định kiểm toán, KHKT của cuộc kiểm toán. Sau khi kết quả kiểm toán đã được Tổng KTNN xét duyệt, Trưởng đoàn tổ chức thông báo kết quả kiểm toán với đơn vị được kiểm toán. Trưởng đoàn chủ trì và đóng vai trò quan trọng đối với sự thành công của các cuộc họp được thực hiện trong quy trình của một cuộc kiểm toán. Ở khía cạnh ngược lại, thực hiện thành công cuộc họp có ý nghĩa quan trọng đối với người chủ trì cuộc họp. Chất lượng cuộc họp phản ánh một phần năng lực điều hành, kiến thức chuyên môn và kỹ năng giao tiếp của người chủ trì. Rèn luyện kỹ năng và nâng cao năng lực tổ chức cuộc họp là công việc không thể thiếu đối với những cá nhân đảm nhiệm vị trí Trưởng đoàn kiểm toán.


Tổ chức cuộc họp (dù là cuộc họp lớn hay nhỏ) đều gồm 3 nội dung cơ bản:


- Chuẩn bị cuộc họp;


- Thực hiện cuộc họp;


- Kết luận cuộc họp.


a) Chuẩn bị cuộc họp


Công tác chuẩn bị có ý nghĩa đảm bảo cho cuộc họp thành công. Một số nội dung chủ yếu mà Trưởng đoàn cần phải xử lý trước khi tiến hành cuộc họp như sau:


- Xác định mục tiêu cuộc họp. Mục tiêu cuộc họp cần được xác định rõ ràng và diễn đạt chính xác, ngắn gọn.


- Chuẩn bị nội dung cuộc họp. Trưởng đoàn xác định nội dung phù hợp với mục tiêu cuộc họp. Trưởng đoàn cần xem xét trước những tài liệu phản ánh nội dung cuộc họp, sắp xếp các nội dung chi tiết theo trật tự logic với diễn tiến thời gian và tính chất của vấn đề nhằm hình thành chỉnh thể nội dung cuộc họp. Trưởng đoàn nên lập dàn ý cho những nội dung chính sẽ được trình bày hoặc thảo luận. Việc nắm vững nội dung cuộc họp phản ánh tính chuyên nghiệp và trình độ chuyên môn của người chủ trì cuộc họp. Trong những trường hợp cần thiết, Trưởng đoàn cần đảm bảo nội dung cuộc họp đã được phê duyệt của người có thẩm quyền.


- Tìm hiểu các thành viên. Thông thường trong quá trình kiểm toán, những cuộc họp do Trưởng đoàn chủ trì được quy định cụ thể thành phần tham gia. Vấn đề ai tham gia có thể không phải xác định như đối với các loại hình họp khác (Hội nghị, hội thào,...), nhưng trong những trường hợp nhất định, người chủ trì cần thiết phải tìm thông tin để hiểu rõ hơn về các thành viên dự kiến tham gia, đặc biệt là những cá nhân giữ vị trí quan trọng. Thông tin về độ tuổi, vị trí công việc, tính cách, quan hệ xã hội có khả năng ảnh hưởng đến cuộc họp,... được tìm hiểu kỹ trước sẽ tránh cho người chủ trì những khó xử trong điều hành cũng như đưa ra kết luận của cuộc họp. Cách thức điều hành hay ngôn từ sử dụng cũng điều chỉnh phù hợp với các cá nhân tham gia cuộc họp.


- Chuẩn bị chương trình cuộc họp. Nội dung chính cuộc họp và trình tự những ý kiến phát biểu hay nội dung được thực hiện cần được xác định trước. Trong quá trình tổ chức cuộc họp, không nhất thiết phải tuân thủ đúng trình tự đã định. Nhưng trình tự được xác định trước là cơ sở để điều hành và hướng cuộc họp đạt mục tiêu, tiết kiệm thời gian và có hiệu quả cao. Những tình huống phức tạp có thể xảy ra như nhiều ý kiến trái chiều, người phát biểu có vị trí quyền lực đáng kể đưa ra quan điểm trái ngược, vấn đề phải giải quyết vượt quá thẩm quyền,... nên được trù liệu trước để có những giải pháp phù hợp.


- Dự kiến các kết luận. Trật tự thông thường của cuộc họp là người chủ trì đưa ra kết luận sau khi đã hoàn thành các nội dung. Tuy vậy, Trưởng đoàn nên dự kiến kết luận dựa trên các nội dung đã được chuẩn bị trước khi tổ chức cuộc họp. Dự kiến kết luận hữu ích, đảm bảo chất lượng, tính chính xác và tính khả thi của kết luận; đồng thời tạo thế chủ động cho người chủ trì. Tuy vậy, người chủ trì cần điều chỉnh các kết luận phù hợp với nội dung công việc đã được làm sáng rõ thông qua các ý kiến phát biểu trong cuộc họp.


b) Thực hiện cuộc họp


Trưởng đoàn thể hiện vai trò của mình khi điều hành các cuộc họp thông qua các hoạt động như:


- Tuyên bố mục tiêu cuộc họp. Người chủ trì cần trình bày một cách ngắn gọn, rõ ràng mục tiêu của cuộc họp. Thông thường chỉ cần một câu để phản ánh đầy đủ ý nghĩa của cuộc họp, tuy vậy thực tiễn cho thấy không dễ thực hiện được điều này. Với vai trò của người điều hành cuộc họp, Trưởng đoàn nên viết ra giấy mục tiêu và tránh trình bày quá dài khiến người tham dự không hiểu được mục tiêu hoặc có đánh giá về sự yếu kém khả năng trình bày của người điều hành cuộc họp;


- Điều hành cuộc họp đi đúng hướng. Tùy từng quy mô và tính chất cuộc họp mà vai trò của người chủ trì được thể hiện khác nhau; nhưng trong mọi hoàn cảnh người chủ trì phải luôn đảm bảo cuộc họp diễn tiến theo nội dung đã định và đạt mục tiêu đề ra. Mức độ đạt mục tiêu là thước đo hiệu quả cuộc họp.


Trong quá trình điều hành, người chủ trì phải luôn quan tâm và đảm bảo tính khoa học, tính nghệ thuật, hướng cuộc họp đạt mục tiêu đề ra.


Tính khoa học phản ánh cuộc họp được diễn ra với đầy đủ nội dung cần được giải quyết thông qua cuộc họp với những nghi thức, thủ tục nhất định.


Tính nghệ thuật phản ánh thông qua cách thức điều hành của người chủ trì. Khác biệt lớn nhất giữa những người chủ trì thể hiện ở phong thái giao tiếp, cách gợi mở, đặt vấn đề, giải quyết vấn đề,... trong quá trình điều hành cuộc họp.


c) Kết luận cuộc họp


Kết luận là kết quả của cuộc họp. Kết luận cũng có thể mở ra một số công việc cần tiếp tục thực hiện để hoàn thiện công việc theo quy trình nhất định. Người chủ trì phải đưa ra kết luận chính xác, giải quyết được những nội dung công việc của cuộc họp. Những nội dung công việc chưa quyết định được tại cuộc họp cần có hướng để tiếp tục xử lý.


4.2. Một số kỹ năng khi thực hiện tổ chức cuộc họp


- Kỹ năng phân tích, đánh giá thành viên tham gia cuộc họp. Phân tích, đánh giá thành viên tham gia cuộc họp được tiến hành trước khi cuộc họp diễn ra. Tùy từng tính chất và tầm quan trọng của cuộc họp mà Trưởng đoàn thực hiện kỹ năng này ở mức độ khác nhau. Các cuộc họp phổ biến quyết định kiểm toán, triển khai KHKT vận dụng kỹ năng này không nhiều bởi thành viên tham dự cuộc họp chủ yếu là các KTVNN. Trưởng đoàn cơ bản đã biết năng lực và tính cách của các KTVNN tham gia Đoàn kiểm toán. Tuy vậy, đối với cuộc họp thông báo kết quả kiểm toán đối với đơn vị được kiểm toán, Trưởng đoàn vận dụng kỹ năng này nhiều hơn. Những vấn đề Trưởng đoàn nên quan tâm như: Ai đại diện cho đơn vị được kiểm toán tham dự cuộc họp và người đứng đầu đoàn đại diện là ai? Mối quan tâm này cho Trưởng đoàn biết số lượng người tham dự, mức độ quan tâm của đơn vị được kiểm toán về nội dung cuộc họp, tầm ảnh hưởng của các thành viên tham dự. Trưởng đoàn kiểm toán nên tìm hiểu thông tin, chú trọng những cá nhân của đơn vị được kiểm toán mà trước đó Trưởng đoàn chưa có mối quan hệ giao tiếp, đặc biệt là đối với người đứng đầu tham dự cuộc họp. Người đứng đầu tham dự cuộc họp giữ vị trí gì? độ tuổi? trình độ chuyên môn? kinh nghiệm quản lý? các mối quan hệ xã hội (nếu có) có khả năng gây ảnh hưởng đến việc đưa ra kết luận tại cuộc họp,... Về nguyên tắc càng thu thập được nhiều thông tin và phân tích, đánh giá các thành viên tham gia cuộc họp càng tạo thế chủ động và hạn chế những lỗi, sai sót khi điều hành cuộc họp.


- Kỹ năng thuyết trình, luận giải. Kỹ năng thuyết trình và luận giải về một vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với Trưởng đoàn kiểm toán khi thực hiện nhiệm vụ điều hành cuộc họp. Ngoài phản ánh năng lực và tầm cao của Trưởng đoàn kiểm toán, việc vận dụng thuần thục kỹ năng thuyết trình và luận giải góp phần cho sự thành công của cuộc họp.


Việc học cách truyền đạt thông tin là điều hết sức cần thiết bởi lẽ đây là điều kiện cốt lõi để duy trì sự thấu hiểu trong một cuộc họp cụ thể. Vấn đề là làm thế nào để thông điệp muốn gửi cho người nhận đến “đích” và đạt hiệu quả. Khoa học về giao tiếp cho thấy thông tin được chuyển từ người phát đến người nhận bằng ngôn ngữ hoặc phi ngôn ngữ (ánh mắt, cử chỉ, cảm xúc...). Khi có yếu tố phản hồi tích cực từ người nhận thì chứng tỏ quá trình truyền tin đã có kết quả. Tuy nhiên, không phải lúc nào quá trình này cũng diễn ra suôn sẻ bởi sự tác động của các yếu tố bên ngoài có thể khiến thông tin bị “nhiễu”. Môi trường ồn ào, ký mã và giải mã không rõ ràng, phương tiện hỗ trợ truyền tin không hiệu quả, người trong cuộc thiếu tập trung chú ý và nhận định vội vàng,… tất cả những yếu tố này sẽ làm giảm chất lượng giao tiếp, thậm chí dẫn đến những hiểu nhầm. Chính vì vậy, cần phải rèn luyện và nâng cao khả năng thuyết trình, luận giải.


Trưởng đoàn trong quá trình trình bày một nội dung nào đó cần lưu ý những điểm cơ bản sau:


+ Nắm vững nội dung cần trình bày. Ví dụ như tại cuộc họp thông báo kết quả kiểm toán, Trưởng đoàn kiểm toán cần đảm bảo nắm vững toàn bộ nội dung của dự thảo BCKT, đặc biệt là những nội dung quan trọng hoặc những nội dung còn tranh luận và chuẩn bị đủ thông tin chuyên môn để giải quyết những nội dung quan trọng đó;


+ Nói gọn, rõ ràng, dễ hiểu và truyền cảm;


+ Diễn đạt logic và có lý lẽ. Những nội dung đưa ra cần được ủng hộ bởi bằng chứng đầy đủ và phù hợp;


+ Sử dụng ngôn ngữ thông dụng, không dùng từ trừu tượng hoặc quá sâu về chuyên môn;


+ Không nên nói quá to hoặc quá nhỏ; không nói quá chậm hoặc quá nhanh;


+ Biết cách kết hợp hài hòa giữa giao tiếp ngôn từ và giao tiếp phi ngôn ngữ;


+ Thường xuyên rèn luyện nâng cao kỹ năng thuyết trình và luận giải.


- Kỹ năng giải quyết tình huống đột xuất, phát sinh trong cuộc họp. Khi giải quyết tình huống đột xuất thực chất là đang đối mặt với công việc khó khăn và áp lực. Người giải quyết tình huống có thể rơi vào trạng thái lo lắng, sợ hãi hoặc tức giận, bực bội,... Những cảm xúc tiêu cực đó tạo tâm lý không tốt khi giải quyết tình huống. Nó có thể kìm hãm việc đưa ra các biện pháp chính xác hoặc giải pháp được đưa ra một cách nóng vội, thiếu cân nhắc, tính toán. Do vậy, kiểm soát cảm xúc vừa là kỹ năng nhưng cũng là yêu cầu cần phải có khi giải quyết tình huống đột xuất trong cuộc họp. Kiểm soát cảm xúc là giải pháp quan trọng khi giải quyết các tình huống đột xuất, đặc biệt khi nội dung được đề cập trái so với dự kiến. Kiểm soát cảm xúc chính là việc hiểu được ảnh hưởng của cảm xúc đối với bản thân và đối với người khác như thế nào, đồng thời biết cách điều chỉnh và thể hiện cảm xúc một các phù hợp nhằm đạt mục tiêu nhất định.


Có một số liệu pháp thường được áp dụng để kiểm soát cảm xúc khi giải quyết tình huống đột xuất như sau:


+ Suy nghĩ tích cực. Việc suy nghĩ tiêu cực sẽ làm trầm trọng hơn vấn đề. Vấn đề càng trở nên phức tạp hơn do bị tiêu cực hóa. Suy nghĩ tích cực luôn giúp nhìn nhận vấn đề một cách chính xác và tạo hưng phấn cho tìm kiếm giải pháp chính xác;


+ Bình tĩnh trong mọi tình huống, nhất là khi gặp khó khăn. Mất bình tĩnh có thể gây nổi cáu, tranh luận,... Những cảm xúc này triệt tiêu động lực giải quyết tình huống. Tình huống càng khó khăn càng cần bình tĩnh suy nghĩ để tìm kiếm giải pháp;


+ Tập trung vào vấn đề cần giải quyết hơn là tranh luận đúng, sai. Cho dù vấn đề là lỗi của ai nhưng việc quá chú trọng chứng minh lỗi có thể không đem lại giải pháp tốt khi xử lý vấn đề. Tốt hơn là không nên phàn nàn mà ưu tiên tìm phương án để giải quyết vấn đề;


+ Học cách giải tỏa cảm xúc. Giải tỏa cảm xúc giúp tạo lập sự cân bằng tâm lý. Sự hưng phấn quá mức hay lo âu, sợ sệt thái quá đều có thể mang lại kết quả không tốt, nhất là khi vấn đề được giải quyết liên quan đến nhiều người. Có nhiều liệu pháp giải tỏa cảm xúc và mỗi người nên chọn cho mình một/một số liệu pháp phù hợp. Các liệu pháp thường được áp dụng nhằm giải tỏa cảm xúc như: kiềm chế sự xúc động và không nói khi đang nóng giận; viết ra giấy những suy nghĩ của mình; nghĩ nhiều đến các kết quả triển vọng tốt đẹp; nở nụ cười vui vẻ;...


- Kỹ năng lắng nghe.


Lắng nghe là quá trình tập trung, giải mã để nắm vững thông tin trong cuộc họp. Trong quá trình điều hành cuộc họp, người chủ trì cần nghe và ghi chép các nội dung mà các cá nhân trình bày một cách tích cực. Thực hiện tốt kỹ năng lắng nghe giúp Trưởng đoàn với vai trò là người chủ trì cuộc họp:


+ Thu thập được nhiều thông tin hơn. Lắng nghe thỏa mãn nhu cầu của người nói và tạo động lực khuyến khích người nói truyền đạt nhiều thông tin. Ngoài ra, sự chú ý khi giao tiếp cũng giúp Trưởng đoàn gia tăng sự ghi nhớ thông tin do người nói cung cấp;


+ Tạo môi trường tích cực để người nói và người nghe hiểu và nắm chính xác vấn đề. Những mâu thuẫn sẽ được giải quyết kịp thời khi các bên bình tĩnh, kiểm soát cảm xúc (thông qua lắng nghe);


+ Tạo lập mối quan hệ tốt đẹp ngay chính cuộc họp hiện thời và lâu dài. Người nói sẽ cảm nhận được sự tôn trọng và chân thành trong giao tiếp thông qua các tín hiệu phản ánh sự lắng nghe của người nghe (Trưởng đoàn). Thành công của cuộc họp góp phần gia tăng sự hiểu biết và mối quan hệ giữa các bên.


Tuy vậy, các nhà tâm lý học cho rằng trong giao tiếp lắng nghe là rất khó khăn và không phải ai cũng thực hiện tốt kỹ năng này. Có nhiều nguyên nhân lý giải tại sao khó khăn khi nghe, như người nghe bị phân tâm bởi một cái gì đó, người nghe thiếu tập trung do mệt mỏi hoặc có những vấn đề khác cần quan tâm, người nghe không kiên nhẫn hoặc gặp phải vấn đề khó, phức tạp hay có quan điểm, thái độ coi thường người đang nói.


Để cải thiện kỹ năng lắng nghe, Trưởng đoàn kiểm toán nên:


+ Tập trung: Luôn giữ sự chú ý đến người đang nói, kiểm soát nội dung vấn đề, tránh lơ đãng khiến bỏ sót nội dung đang được người nói trình bày;


+ Rèn luyện ý thức tôn trọng người khác: Lắng nghe chính là biểu hiện của sự tôn trọng, nhưng chính sự tôn trọng người nói của người nghe là yếu tố quyết định việc có lắng nghe hay không;


+ Không ngắt lời người nói hoặc có những bình luận mang tính khiêu khích;


+ Không tỏ thái độ ủng hộ hay phản đối ngay khi chưa phân tích vấn đề thấu đáo.


PHẦN 2 . K INH NGHIỆM VỀ VIỆC VẬN DỤNG CÁC KỸ NĂNG MỀM CỦA TRƯỞNG ĐOÀN KIỂM TOÁN


1. KINH NGHIỆM CỦA TRƯỞNG ĐOÀN KIỂM TOÁN TRONG TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG CỦA ĐOÀN KIỂM TOÁN


1.1. Tổng quan về vận dụng các kỹ năng mềm trong t ổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm toán của Đoàn kiểm toán


1.1.1. Những nhiệm vụ cơ bản


1.1.1.1. Giai đoạn lập Kế hoạch kiểm toán:


a) Tổ chức khảo sát, thu thập thông tin:


Trường hợp được phân công tham gia Tổ Khảo sát lập KHKT của cuộc kiểm toán, Trưởng đoàn kiểm toán dự kiến (thường được bố trí làm Tổ trưởng Tổ Khảo sát) sẽ tham mưu cho Thủ trưởng đơn vị chủ trì cuộc kiểm toán thực hiện các công việc sau đây:


- Bố trí nhân sự khảo sát, thu thập thông tin:


Trưởng đoàn kiểm toán dự kiến tham mưu, đề xuất bố trí nhân sự khảo sát, thu thập thông tin nhằm đáp ứng yêu cầu:


+ Số lượng nhân sự đáp ứng được yêu cầu khảo sát thu thập thông tin;


+ Chất lượng nhân sự phù hợp: Cần đề xuất nhân sự tham gia khảo sát phải am hiểu về đối tượng và đơn vị được kiểm toán, có khả năng xây dựng KHKT của cuộc kiểm toán, đặc biệt nếu quan tâm đến những lĩnh vực chuyên sâu như kiểm toán đầu tư XDCB, kiểm toán môi trường... thì phải bố trí nhân sự là chuyên gia, có kinh nghiệm và hiểu biết về các lĩnh vực này;


+ Cần cân đối để lựa chọn nhân sự khảo sát là những người sẽ dự kiến bố trí tham gia Đoàn kiểm toán.


- Xây dựng đề cương khảo sát:


Trưởng đoàn kiểm toán dự kiến tham mưu xây dựng đề cương khảo sát nhằm đảm bảo chuẩn bị cho công tác thu thập thông tin, số liệu có chất lượng, đủ số lượng nhằm phục vụ tốt cho việc lập KHKT của cuộc kiểm toán, theo đó:


+ Thông tin, số liệu thu thập phải đầy đủ, hợp lý; các chỉ tiêu yêu cầu báo cáo cần phù hợp với chế độ tài chính hiện hành; chuẩn bị các bảng câu hỏi liên quan đến khảo sát HTKSNB;


+ Phương thức thu thập thông tin phù hợp: Cần xây dựng danh mục yêu cầu đơn vị được kiểm toán và đơn vị có liên quan cung cấp bằng văn bản; tìm kiếm từ cơ sở dữ liệu, hồ sơ các cuộc kiểm toán liên quan; tìm kiếm từ nguồn khác…đáp ứng được yêu cầu thu thập thông tin, gắn với mục tiêu kiểm toán dự kiến;


+ Lựa chọn đơn vị được khảo sát và thời gian khảo sát trực tiếp phù hợp.


- Khảo sát, thu thập thông tin theo đề cương khảo sát được duyệt: Với nhiệm vụ Tổ trưởng Tổ Khảo sát, Trưởng đoàn kiểm toán dự kiến triển khai thực hiện nhiệm vụ khảo sát, thu thập thông tin theo đề cương khảo sát được duyệt. Trường hợp thực tế thực hiện có những nội dung cần điều chỉnh, Tổ trưởng Tổ Khảo sát báo cáo Thủ trưởng đơn vị chủ trì cuộc kiểm toán xem xét, điều chỉnh.


- Phân tích, đánh giá thông tin thu thập phục vụ lập KHKT:


Thực hiện phân tích, đánh giá thông tin thu thập đầy đủ, hợp lý:


+ Phân tích, đánh giá tính hiệu lực, hiệu quả và độ tin cậy của hệ thống KSNB;


+ Phân tích, đánh giá thông tin thu thập theo chuẩn mực KTNN, quy trình kiểm toán và hướng dẫn kiểm toán liên quan.


b) Lập KHKT của cuộc kiểm toán


- Để phục vụ cho công tác lập KHKT của cuộc kiểm toán, Trưởng đoàn kiểm toán dự kiến (Tổ trưởng Tổ Khảo sát) thực hiện lập Báo cáo khảo sát, trong đó cần chú trọng đảm bảo các yêu cầu sau:


+ Báo cáo khảo sát phản ánh đầy đủ tình hình kết quả khảo sát;


+ Báo cáo khảo sát phải phản ánh đầy đủ kết quả đánh giá và phân tích thông tin;


+ Báo cáo khảo sát cần lập đúng tiến độ, tuân thủ quy định về mẫu biểu và các quy định khác của KTNN.


Trường hợp không lập Báo cáo khảo sát sẽ thực hiện tổng hợp kết quả khảo sát để lập KHKT theo quy định.


- Trưởng đoàn kiểm toán dự kiến (Tổ trưởng Tổ Khảo sát) tham mưu, dự thảo KHKT của cuộc kiểm toán, đảm bảo đáp ứng các yêu cầu sau:


+ KHKT tuân thủ quy định về thể thức, kết cấu, nội dung theo quy định;


+ Các nội dung của KHKT của cuộc kiểm toán đảm bảo tính chính xác, đầy đủ, hợp lý: KHKT phải đảm bảo đầy đủ, logic về thông tin, số liệu, đánh giá, xác định trọng tâm, trọng yếu, rủi ro kiểm toán…;


+ Các nội dung của KHKT của cuộc kiểm toán thống nhất, phù hợp với các hướng dẫn công tác kiểm toán năm của KTNN và các quy định của KTNN về KHKT của cuộc kiểm toán; đảm bảo tính khả thi và phù hợp với đặc điểm, tình hình của đơn vị được kiểm toán;


+ Đảm bảo các nội dung của KHKT của cuộc kiểm toán có sự phù hợp, thống nhất về tiêu chí lựa chọn và thực tiễn lựa chọn đơn vị được kiểm toán sao cho phù hợp với mục tiêu, nội dung và trọng tâm, trọng yếu kiểm toán; xác định rõ trọng tâm kiểm toán theo từng đơn vị hoặc nhóm đơn vị; xác định phạm vi và giới hạn kiểm toán phù hợp với mục tiêu, nội dung kiểm toán .


- Trưởng đoàn kiểm toán dự kiến (Tổ trưởng Tổ Khảo sát) tham mưu cho Thủ trưởng đơn vị chủ trì cuộc kiểm toán đảm bảo chất lượng của các nội dung sau:


+ Xác định mục tiêu kiểm toán: Mục tiêu kiểm toán phải đảm bảo phù hợp với mục tiêu định hướng chung của KTNN; gắn với mục tiêu cụ thể của cuộc kiểm toán và phù hợp với đặc thù hoạt động của đơn vị được kiểm toán. Tùy theo loại hình kiểm toán được áp dụng, mục tiêu kiểm toán thường bao gồm cả việc xác nhận tính trung thực, hợp lý của thông tin tài chính, BCTC, báo cáo quyết toán; kiểm toán đánh giá việc tuân thủ các quy định của pháp luật, quy định nội bộ của đơn vị được kiểm toán; kiểm toán đánh giá tính kinh tế hiệu lực hiệu quả trong quản lý, sử dụng tài sản vốn, tài chính tài sản công và các mục tiêu cụ thể khác. Trưởng đoàn kiểm toán dự kiến (Tổ trưởng Tổ Khảo sát) từ thông tin thu thập qua khảo sát có trách nhiệm đề xuất xác định rõ mục tiêu cụ thể, như xác nhận tính trung thực, hợp lý của thông tin tài chính, BCTC, báo cáo quyết toán nào của đơn vị; đánh giá việc tuân thủ quy định pháp luật, quy định nội bộ chủ yếu nào gắn với thực tiễn hoạt động của đơn vị; lựa chọn các tiêu chí phù hợp với các mục tiêu đã xác định. Theo đó, đối với loại hình kiểm toán tài chính cần xác định rõ khuôn khổ lập và trình bày BCTC, thông tin tài chính; với loại hình kiểm toán tuân thủ cần định danh được những văn bản hoặc các quy định pháp luật chủ yếu gắn với hoạt động của đơn vị được kiểm toán và đáp ứng mục tiêu kiểm toán để xác định; đối với loại hình KTHĐ cần lựa chọn tiêu chí đánh giá phù hợp với mục tiêu, nội dung kiểm toán. Việc xác định mục tiêu cần xem xét đồng bộ, logic và tổng thể trong mối quan hệ xác định mục tiêu, xem xét xác định nội dung kiểm toán để đạt được mục tiêu và lựa chọn các tiêu chí phù hợp với các mục tiêu, nội dung kiểm toán;


+ Thực hiện các thủ tục đánh giá rủi ro để có cơ sở xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu:


Đối với loại hình kiểm toán tài chính: Trưởng đoàn kiểm toán dự kiến (Tổ trưởng Tổ Khảo sát) phải chú trọng điều hành việc thực hiện thủ tục đánh giá rủi ro để có cơ sở xác định, đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu ở cấp độ BCTC và cấp độ cơ sở dẫn liệu ngay trong quá trình khảo sát thu thập thông tin và phân tích thông tin phục vụ lập KHKT. Theo đó, phải tập trung thu thập thông tin và phân tích đánh giá thông tin về đơn vị được kiểm toán và môi trường hoạt động của đơn vị, bao gồm cả KSNB, nhằm xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận hoặc nhầm lẫn ở cấp độ BCTC hoặc cấp độ cơ sở dẫn liệu. Việc thực hiện các thủ tục đánh giá rủi ro ở cấp độ BCTC cần quan tâm đánh giá những rủi ro có ảnh hưởng lan tỏa đến tổng thể BCTC và có ảnh hưởng tiềm tàng đến nhiều cơ sở dẫn liệu. Việc đánh giá rủi ro ở cấp độ cơ sở dẫn liệu cần quan tâm đến các cơ sở dẫn liệu đối với các nghiệp vụ kinh tế và sự kiện trong kỳ được kiểm toán; cơ sở dẫn liệu đối với số dư tài khoản vào cuối kỳ, cơ sở dẫn liệu đối với các trình bày và thuyết minh.


Trưởng đoàn kiểm toán dự kiến (Tổ trưởng Tổ Khảo sát) cũng cần quan tâm định hướng và thực hiện đánh giá những rủi ro hoạt động của đơn vị nhằm phát hiện các rủi ro phát sinh từ các điều kiện, sự kiện, tình huống, việc thực hiện hay không thực hiện các hành động có thể ảnh hưởng bất lợi tới khả năng đạt được mục tiêu và thực hiện nhiệm vụ của đơn vị được kiểm toán. Từ việc xem xét những rủi ro này để nhận diện ra các rủi ro kiểm toán cần được xem xét để áp dụng các biện pháp xử lý rủi ro kiểm toán thích hợp. Ví dụ: Một doanh nghiệp cổ phần niêm yết trên sàn chứng khoán, nếu lỗ liên tiếp đến năm thứ 3 sẽ bị đưa ra khỏi danh sách niêm yết, vì vậy nếu năm tài chính thứ ba, ngoài việc nỗ lực có lãi một cách thực thụ, đơn vị sẽ tìm cách kể cả có gian lận trong lập hồ sơ chứng từ, hạch toán kế toán để đơn vị có lãi nếu việc có lãi thật là không đạt được. Điều này đòi hỏi phải chỉ đạo nhằm nhận diện để đưa ra kế hoạch thu thập các bằng chứng kiểm toán và thực hiện các thủ tục kiểm toán thích hợp nhằm có kết luận kiểm toán thận trọng, an toàn.


Trường hợp áp dụng kết hợp loại hình KTHĐ, Trưởng đoàn kiểm toán dự kiến (Tổ trưởng Tổ Khảo sát) cần đánh giá rủi ro của hoạt động để làm cơ sở xác định mục tiêu kiểm toán và lựa chọn nội dung kiểm toán. Theo đó, trình tự đánh giá rủi ro gồm các bước nhận diện rủi ro qua việc tìm hiểu các sự kiện có khả năng ảnh hưởng tiêu cực hoặc có tác động không mong muốn đến tình hình hoạt động và việc đạt được các mục tiêu của các chương trình, các hoạt động, các đơn vị hoặc các nguồn công quỹ và các quy định được lựa chọn để kiểm toán. Sau đó, từ các thông tin thu thập được và kết quả nhận diện rủi ro Trưởng đoàn kiểm toán dự kiến (Tổ trưởng Tổ Khảo sát) có trách nhiệm định hướng và thực hiện phân tích rủi ro nhằm đánh giá mức độ rủi ro (cao, trung bình, thấp) trên cơ sở phân tích, xem xét khả năng xảy ra và tác động mang lại của các sự kiện. Đối với các rủi ro được đánh giá ở mức cao hoặc trung bình thì cần nhận diện và đánh giá tính hiệu lực của các hệ thống và thủ tục KSNB mà đơn vị được kiểm toán đã thiết lập để quản lý rủi ro, từ đó xác định mức độ rủi ro còn lại. Để nhận diện và đánh giá hệ thống, thủ tục KSNB, có thể phân tích theo các định hướng như sau: Đơn vị có thiết lập các chính sách, quy trình, thủ tục rõ ràng hay không? Trách nhiệm của các bộ phận, cá nhân liên quan có được quy định cụ thể, rõ ràng hay không? Các thiếu sót, tồn tại hay yếu kém trước đó có được xử lý, khắc phục hay không?... Từ nhận diện và phân tích, xác định rủi ro có sai sót trọng yếu, Trưởng đoàn kiểm toán dự kiến (Tổ trưởng Tổ Khảo sát) xem xét, đưa ra thảo luận trong Tổ Khảo sát để cùng nghiên cứu và đề ra các biện pháp xử lý rủi ro phù hợp.


Trường hợp áp dụng kết hợp loại hình kiểm toán tuân thủ,Trưởng đoàn kiểm toán dự kiến (Tổ trưởng Tổ Khảo sát) khi tiến hành xem xét đánh giá rủi ro cần lưu ý một số nhân tố, như: Đơn vị được kiểm toán liệu có nhận thức và hiểu biết chủ quan trong việc áp dụng luật và các quy định; có những sai sót trong tuân thủ do con người gây ra; hệ thống được thiết kế chưa phù hợp hoặc vận hành không hiệu quả; việc bỏ qua các kiểm soát giám sát cũng như che dấu, bỏ qua các bằng chứng về tuân thủ luật và các quy định hay không. Theo đó, cần tập trung đánh giá khả năng phát sinh việc không tuân thủ và các hậu quả có thể xảy ra nếu việc không tuân thủ phát sinh và lưu ý đánh giá rủi ro liên quan đến gian lận trong chấp hành luật và các quy định để chủ động xây dựng kế hoạch áp dụng thủ tục kiểm toán chặt chẽ, hiệu quả nhằm xử lý các rủi ro không tuân thủ đã nhận diện qua phân tích, đánh giá;


+ Xác định trọng yếu/trọng tâm kiểm toán:


(i) Việc xác định những vấn đề trọng tâm là vô cùng cần thiết, theo đó Trưởng đoàn kiểm toán dự kiến (Tổ trưởng Tổ Khảo sát) cần định hướng, phối hợp xác định trọng tâm kiểm toán trước khi trình dự thảo KHKT cho thủ trưởng đơn vị chủ trì cuộc kiểm toán. Theo đó, những vấn đề nào, nội dung nào cần tập trung kiểm toán để đảm bảo cân đối tối ưu nguồn lực mà có thể kiểm soát, xử lý rủi ro cần được xem xét một cách thận trọng. Trọng tâm thường được khoanh vùng, lựa chọn trong số các nội dung kiểm toán giúp KHKT định hướng cụ thể, rõ nét những vấn đề nổi bật, cần khẳng định nhằm đạt mục tiêu kiểm toán đi theo trọng tâm, trọng điểm để đạt kết quả chất lượng, hiệu quả so với việc kiểm toán dàn trải, thiếu yếu tố chuyên sâu. Giai đoạn khảo sát lập KHKT cần nhận diện cơ bản những nội dung trọng tâm, ở bước thực hiện kiểm toán chỉ đề nghị điều chỉnh trọng tâm trong trường hợp thấy thật sự cần thiết do phát sinh những vấn đề mới hoặc thực tiễn có sai khác với nhận định khi khảo sát lập KHKT.


(ii) Về xác định trọng yếu:


./ Đối với loại hình kiểm toán tài chính: Trọng yếu thường được xem xét dưới cả hai khía cạnh định tính và định lượng. KTNN có chức năng, nhiệm vụ của một cơ quan chuyên môn nằm trong hệ thống các cơ quan thuộc bộ máy nhà nước; đối tượng kiểm toán của KTNN là lĩnh vực công nên có những khác biệt với chức năng của doanh nghiệp kiểm toán độc lập. Thông tin trên BCTC của đơn vị được kiểm toán của KTNN có thể được sử dụng để đưa ra các quyết định khác ngoài quyết định kinh tế, vì vậy khía cạnh định tính của trọng yếu thường đóng vai trò quan trọng hơn so với các đơn vị thuộc lĩnh vực khác (doanh nghiệp hoạt động kinh doanh thông thường, dự án đầu tư với mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận đơn thuần…). Vì vậy, việc xác định trọng yếu (mức trọng yếu) và đánh giá các khía cạnh định tính của trọng yếu trong một cuộc kiểm toán phụ thuộc nhiều vào xét đoán chuyên môn của KTVNN. Để đảm bảo việc xác định mức trọng yếu phù hợp, đáp ứng yêu cầu mục tiêu kiểm toán và nhu cầu của người sử dụng BCKT, khi khảo sát thu thập thông tin và xác định mức trọng yếu, xác định khía cạnh định tính dự kiến (Tổ trưởng Tổ Khảo sát) cần vận dụng khung hướng dẫn xác định mức trong yếu của Ngành hoặc phải đưa ra thảo luận một cách kỹ lưỡng, thận trọng để báo cáo cấp có thẩm quyền phê duyệt và thể hiện bằng hồ sơ, tài liệu việc xác định để thuyết minh kèm kết quả kiểm toán cũng như lưu giữ theo quy định. Trưởng đoàn kiểm toán dự kiến (Tổ trưởng Tổ Khảo sát) cần định hướng, thảo luận để trình bày thông tin tại KHKT sao cho có thể xem xét vận dụng khái niệm trọng yếu trong suốt quá trình kiểm toán nhằm xác định, đánh giá rủi ro, hình thành ý kiến và phát hành BCKT phù hợp với hoàn cảnh cụ thể. Theo đó, việc xem xét trọng yếu cần thực hiện đối với từng giao dịch, khoản mục, nhóm khoản mục và tổng thể BCTC.


./ Đối với loại hình kiểm toán tuân thủ:


Trong hoạt động kiểm toán, về nguyên tắc, một sai sót được coi là trọng yếu khi xét riêng lẻ hoặc tổng hợp lại có thể gây ảnh hưởng tới quyết định của người sử dụng thông tin, báo cáo. Đối với loại hình kiểm toán tuân thủ được áp dụng tại KTNN, trọng yếu thường được xem xét dưới cả hai khía cạnh định tính và định lượng, trong đó khía cạnh định tính của trọng yếu thường đóng vai trò lớn hơn. Khi xét đoán tính trọng yếu của sai sót, Trưởng đoàn kiểm toán dự kiến (Tổ trưởng Tổ Khảo sát) cần định hướng không chỉ dựa vào quy mô của sai sót (khía cạnh định lượng) mà còn phải xem xét bản chất của sai sót trong từng hoàn cảnh cụ thể (khía cạnh định tính) để xác định khi lập KHKT. Theo đó, trọng yếu cần được xem xét trong quá trình lập KHKT là đánh giá ảnh hưởng của trường hợp được báo cáo là tuân thủ hay không tuân thủ (kể cả trường hợp khẳng định chắc chắn không tuân thủ hoặc trường hợp chỉ đưa ra khả năng không tuân thủ) đối với việc ra quyết định của đối tượng sử dụng báo cáo kiểm toán. Các yếu tố cần xem xét trong việc đánh giá trọng yếu là yêu cầu về nhiệm vụ, mối quan tâm hoặc kỳ vọng của các bên có liên quan. Tuy nhiên, trong một số hoàn cảnh cụ thể, sai sót có thể được coi là trọng yếu mặc dù giá trị của sai sót đó thấp hơn mức trọng yếu (chẳng hạn sai sót do gian lận). Việc đánh giá mức trọng yếu phải phù hợp với phạm vi kiểm toán và đòi hỏi phải có những xét đoán chuyên môn một cách đầy đủ, toàn diện ngay từ khâu khảo sát thông tin lập KHKT.


./ Đối với loại hình KTHĐ: Trọng yếu trong KTHĐ được xem là tầm quan trọng và mức độ ảnh hưởng của một vấn đề, nội dung hay hoạt động được kiểm toán đến nội dung kiểm toán (hoạt động cần đánh giá). Trong giai đoạn lập KHKT, Trưởng đoàn kiểm toán dự kiến (Tổ trưởng Tổ Khảo sát) cần định hướng để xác định một vấn đề, nội dung hay hoạt động được coi là trọng yếu nếu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và sự cải thiện vấn đề, nội dung hay hoạt động đó sẽ mang lại tác động đáng kể đến đối tượng kiểm toán. Cần lưu ý là một vấn đề, nội dung hay hoạt động tương đối nhỏ nhưng có thể vẫn được coi là trọng yếu nếu các sai lệch so với tiêu chí liên quan có thể gây ảnh hưởng lớn tới các hoạt động khác của đơn vị được kiểm toán. Trong hoạt động kiểm toán của KTNN, khi tham gia khảo sát thu thập thông tin lập KHKT, Trưởng đoàn kiểm toán dự kiến (Tổ trưởng Tổ Khảo sát) cần quan tâm xem xét cả tầm quan trọng về chính trị hay xã hội, đồng thời luôn ghi nhớ rằng điều này sẽ thay đổi theo thời gian và còn phụ thuộc vào cách nhìn nhận của các đối tượng sử dụng BCKT hoạt động cũng như đối tượng chịu trách nhiệm. Việc xem xét trọng yếu nhằm mục đích xác định chủ đề kiểm toán, các nội dung kiểm toán cần tập trung để đạt được mục tiêu kiểm toán, tổ chức cuộc kiểm toán đảm bảo được tính kinh tế, tính hiệu quả và tính hiệu lực.


+ Xác định nội dung kiểm toán phù hợp với mục tiêu kiểm toán:


Trên cơ sở mục tiêu kiểm toán dự kiến, từ việc phân tích thông tin thu thập được qua khảo sát thông tin lập KHKT, Trưởng đoàn kiểm toán dự kiến (Tổ trưởng Tổ Khảo sát) tham mưu cho Thủ trưởng đơn vị chủ trì cuộc kiểm toán xác định cụ thể nội dung kiểm toán đảm bảo phù hợp với mục tiêu kiểm toán. Nội dung kiểm toán của cuộc kiểm toán phải đảm bảo đầy đủ, logic với mục tiêu và phù hợp với tính chất, đặc điểm của đơn vị được kiểm toán; đảm bảo là cơ sở để xem xét xác định phạm vi kiểm toán thích hợp.


+ Xác định, xây dựng tiêu chí kiểm toán:


Để triển khai thực hiện công tác kiểm toán, việc xác định các tiêu chí kiểm toán rất quan trọng. Theo đó, tiêu chí sử dụng trong hoạt động kiểm toán là những tiêu chuẩn được sử dụng để đánh giá về một hoặc một số nội dung kiểm toán. Một số tiêu chí kiểm toán đã có sẵn, được thực hiện theo các quy định của pháp luật, quy định nội bộ hoặc các thông lệ hợp lý sẽ được lựa chọn, xác định ngay trong quá trình kiểm toán; một số đối tượng kiểm toán có tính chất đặc thù, riêng biệt cần xây dựng tiêu chí cụ thể sao cho đảm bảo các nguyên tắc của tiêu chí, gắn với mục tiêu nội dung kiểm toán và thống nhất với đơn vị được kiểm toán để áp dụng vào thực tiễn công tác kiểm toán (đặc biệt trong loại hình KTHĐ). Trong quá trình khảo sát thu thập thông tin lập KHKT, Trưởng đoàn kiểm toán dự kiến (Tổ trưởng Tổ Khảo sát) cần quan tâm xem xét các nội dung sau khi xác lập tiêu chí kiểm toán:


./ Tiêu chí sử dụng trong kiểm toán tài chính là những tiêu chuẩn được sử dụng để đánh giá về một hoặc một số nội dung kiểm toán tài chính, bao gồm: Luật, chuẩn mực, các quy định, các khuôn khổ quy định về lập, trình bày và công khai BCTC, được ban hành bởi các cơ quan có thẩm quyền. Trường hợp thực hiện kiểm toán BCTC được lập theo khuôn khổ quy định về lập và trình bày báo cáo cho các mục đích chung cũng như các mục đích đặc biệt; kiểm toán các BCTC riêng lẻ, các yếu tố, các tài khoản, các khoản mục, thuyết minh nhất định của BCTC thì cần được xem xét hoàn cảnh cụ thể để áp dụng theo hướng dẫn của Hệ thống chuẩn mực KTNN.


Trưởng đoàn kiểm toán dự kiến (Tổ trưởng Tổ Khảo sát) có trách nhiệm tham mưu, đề xuất lựa chọn các tiêu chí phù hợp cho từng cuộc kiểm toán tài chính mà mình thực hiện. Để xác định sự phù hợp của các tiêu chí kiểm toán trong cuộc kiểm toán tài chính, cần xem xét các tiêu chí đó có liên quan đến nội dung kiểm toán tài chính không, liệu đối tượng sử dụng BCKT có hiểu và thực hiện theo các tiêu chí đó không. Bên cạnh đó, cần xem xét các yếu tố khác của các tiêu chí áp dụng cho mỗi cuộc kiểm toán như: Sự đầy đủ, tin cậy, khách quan, được chấp nhận rộng rãi và có thể so sánh được trong các cuộc kiểm toán tài chính tương tự.


./ Tiêu chí áp dụng trong kiểm toán tuân thủ:


Mục tiêu của kiểm toán tuân thủ là kiểm toán đánh giá và xác nhận việc tuân thủ pháp luật, nội quy, quy chế mà đơn vị được kiểm toán phải thực hiện. Kiểm toán tuân thủ được thực hiện bằng việc đánh giá sự tuân thủ các hoạt động, các giao dịch và thông tin, xét trên các khía cạnh trọng yếu theo các quy định áp dụng đối với đơn vị được kiểm toán. Các quy định đó được xác định là tiêu chí kiểm toán, như: Các luật, các văn bản hướng dẫn luật, các quy định, quy chế, chế độ, chính sách mà đơn vị được kiểm toán phải thực hiện. Khi các luật và quy định không đầy đủ hoặc chưa có văn bản hướng dẫn, kiểm toán tuân thủ có thể kiểm tra sự tuân thủ theo các nguyên tắc chung về quản trị tài chính lành mạnh và ứng xử của công chức, viên chức.


Do tiêu chí kiểm toán là các tiêu chuẩn được sử dụng để đánh giá nội dung kiểm toán một cách nhất quán và hợp lý. Vì vậy, nếu không có các tiêu chí kiểm toán phù hợp thì các kết luận kiểm toán sẽ được giải thích theo cách của mỗi người và có thể dẫn đến hiểu sai. Trưởng đoàn kiểm toán dự kiến (Tổ trưởng Tổ Khảo sát) có trách nhiệm tham mưu, đề xuất lựa chọn các tiêu chí của kiểm toán tuân thủ sao cho đảm bảo tính thích hợp, đáng tin cậy, đầy đủ, khách quan, có thể hiểu được, có thể so sánh được, được chấp nhận và sẵn có cho đối tượng sử dụng báo cáo kiểm toán hiểu được nội dung của cuộc kiểm toán, cơ sở của báo cáo kiểm toán.


Liên quan đến hoạt động của KTNN khi đánh giá việc tuân thủ các quy định dễ gặp tình huống do nhiều quy định, các quy định có thể có những điều khoản mâu thuẫn với nhau và có thể được hiểu theo các cách khác nhau, hoặc các văn bản hướng dẫn có thể không nhất quán và chưa chặt chẽ, hoặc các quy định chỉ có hiệu lực trong từng giai đoạn và từng hoàn cảnh cụ thể. Do đó, để đánh giá sự tuân thủ các quy định trong lĩnh vực công, Trưởng đoàn kiểm toán dự kiến (Tổ trưởng Tổ Khảo sát) có trách nhiệm điều hành, xử lý và xác định cụ thể về nguồn gốc, căn cứ, kết cấu và nội dung của các quy định (khi cần thiết có thể sử dụng chuyên gia hoặc trưng cầu ý kiến của các cơ quan ban hành văn bản). Điều này đặc biệt quan trọng khi xác định các tiêu chí kiểm toán tuân thủ, bởi vì nội dung của quy định là cơ sở để xây dựng các tiêu chí kiểm toán, cả khi xác định phạm vi kiểm toán và khi trình bày các phát hiện kiểm toán, ý kiến kiểm toán.


./ Tiêu chí áp dụng trong KTHĐ:


Trưởng đoàn kiểm toán dự kiến (Tổ trưởng Tổ Khảo sát) phải điều hành và tham mưu việc xây dựng các tiêu chí KTHĐ cho phù hợp với điều kiện cụ thể của đơn vị được kiểm toán, tương ứng với các nội dung kiểm toán và liên quan đến tính kinh tế, tính hiệu quả, tính hiệu lực.


Tiêu chí KTHĐ được lựa chọn/xây dựng có thể mang tính định tính hoặc định lượng; có thể là tiêu chí chung hoặc tiêu chí cụ thể. Tiêu chí KTHĐ thường chú trọng vào tính phù hợp của các chương trình, các hoạt động, các đơn vị hoặc các nguồn lực, các quy định nội bộ so với nội dung quy định của pháp luật, quy tắc hoặc mục tiêu đặt ra; hoặc các nguyên tắc đúng đắn, đảm bảo tính khoa học trong quản trị và thông lệ thực hành tốt nhất; hoặc khả năng có thể đạt được. Tiêu chí KTHĐ có thể được xác định dựa trên: Các quy định của pháp luật; các tiêu chuẩn do các tổ chức chuyên môn xác lập; các thông lệ thực hành tốt nhất; các quy chế, tiêu chuẩn, biện pháp, chỉ tiêu, kết quả dự kiến, mục tiêu và cam kết do đơn vị được kiểm toán xây dựng; kỳ vọng của xã hội và công chúng; ý kiến của chuyên gia… Ngay trong khâu khảo sát lập KHKT, cần phải phải nêu rõ nguồn đã được sử dụng để xác định tiêu chí KTHĐ phục vụ cho việc thuyết trình khi phê duyệt KHKT, áp dụng thực hiện và cung cấp cho người sử dụng BCKT. Trong trường hợp cuộc KTHĐ sử dụng phương pháp tiếp cận theo vấn đề thì không phải xây dựng tiêu chí KTHĐ mà chỉ xác minh vấn đề và xác định nguyên nhân gây ra vấn đề.


+ Xác định phạm vi kiểm toán phù hợp với mục tiêu, nội dung, tiêu chí kiểm toán:


Trên cơ sở mục tiêu, nội dung, tiêu chí kiểm toán đã xác định, Trưởng đoàn kiểm toán dự kiến (Tổ trưởng Tổ Khảo sát) phải điều hành và tham mưu xác định phạm vi kiểm toán phù hợp. Việc xác định phạm vi kiểm toán cần đươc phân tích, tính toán sao cho sát đúng, đảm bảo việc thực hiện kiểm toán đạt mục tiêu, hạn chế thấp nhất đến việc phải điều chỉnh trong quá trình thực hiện, đồng thời đảm bảo cuộc kiểm toán được thực hiện có hiệu quả nhất cả về sử dụng kinh phí, thời gian, nhân lực.


+ Xác định phương pháp và thủ tục kiểm toán:


Trong quá trình thu thập, phân tích thông tin, xác định mục tiêu, nội dung, tiêu chí kiểm toán Trưởng đoàn kiểm toán dự kiến (Tổ trưởng Tổ Khảo sát) phải điều hành và tham mưu xác định các phương pháp, thủ tục kiểm toán nhằm thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp liên quan đến các rủi ro có sai sót trọng yếu đã được đánh giá, thông qua việc thiết kế và thực hiện các biện pháp xử lý phù hợp đối với các rủi ro này.


Việc xác định và lựa chọn các thủ tục kiểm toán phải thể hiện được mục tiêu của thủ tục đó (ví dụ, thử nghiệm kiểm soát hoặc thử nghiệm cơ bản) và loại thủ tục (kiểm tra, quan sát, phỏng vấn, xác nhận, tính toán lại, thực hiện lại hay thủ tục phân tích). Ở cấp độ BCTC, cần xác định biện pháp xử lý tổng thể đối với các rủi ro có sai sót trọng yếu đã được đánh giá trong BCTC. Nếu môi trường kiểm soát không hiệu lực, cần phải thực hiện thêm các thủ tục kiểm toán, thu thập thêm bằng chứng kiểm toán từ các thử nghiệm cơ bản và mở rộng phạm vi kiểm toán nếu cần thiết. Xử lý đối với rủi ro có sai sót trọng yếu đã được đánh giá ở cấp độ cơ sở dẫn liệu, Trưởng đoàn kiểm toán dự kiến (Tổ trưởng Tổ Khảo sát) phải điều hành và tham mưu xác định phương pháp, thủ tục trên cơ sở xem xét kết quả đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu ở cấp độ cơ sở dẫn liệu. Theo đó, lựa chọn phương pháp tiếp cận kiểm toán thích hợp, như: Chỉ cần thực hiện thử nghiệm kiểm soát cũng có thể đưa ra biện pháp xử lý hiệu quả; chỉ cần thực hiện các thử nghiệm cơ bản là phù hợp và/hoặc kết hợp thử nghiệm kiểm soát và thử nghiệm cơ bản để xử lý các rủi ro đã xác định.


+ Xác định nguồn lực kiểm toán:


Trên cơ sở nội dung, phạm vi và phương pháp thủ tục kiểm toán, việc xác định các nguồn lực để tổ chức thực hiện cuộc kiểm toán là bước tiếp theo cần quan tâm. Đối với một cuộc kiểm toán thông thường, nguồn lực chủ yếu được xác định là các nhân sự và khoản chi phí tiền nghỉ, công tác phí, tiền tàu xe phục vụ công tác kiểm toán. Tuy nhiên, đối với một số cuộc kiểm toán đặc biệt, có thể cần phải tính toán thêm các nguồn lực khác chi phí như thuê chuyên gia, thiết bị máy móc đặc chủng, thuê giám định thẩm định hoặc các khoản chi phí khác…Đối với trường hợp này, Trưởng đoàn kiểm toán dự kiến (Tổ trưởng Tổ Khảo sát) cần quan tâm tổ chức tính toán đầy đủ, chặt chẽ trên nguyên tắc hiệu quả, tối ưu hóa nguồn lực. Theo đó, phải tính toán việc di chuyển, bố trí số lượng cán bộ, địa điểm kiểm toán, thời gian thực hiện kiểm toán và các yếu tố chi phí khác hợp lý, vừa đảm bảo tiết kiệm chi phí, thời gian đồng thời tiết giảm hợp lý các nguồn lực cần thiết phục vụ cho hoạt động kiểm toán. Trường hợp đặc biệt cần thuê khoán chuyên gia hoặc thiết bị, phương tiện bên ngoài cần chủ động dự toán, đề xuất và làm các thủ tục để đảm bảo các nguồn lực này sẵn sàng đáp ứng cho việc triển khai hoạt động kiểm toán đúng kế hoạch, đạt kết quả.


+ Trưởng đoàn kiểm toán dự kiến (Tổ trưởng Tổ Khảo sát) cần tham mưu, đề xuất bố trí thời gian và nhân sự Tổ kiểm toán hợp lý, phù hợp với đối tượng, quy mô và yêu cầu công việc; phù hợp với năng lực, trình độ nghiệp vụ, sở trường của KTVNN. Để thực hiện tốt công việc này, cần phân tích, đánh giá, dự kiến một cách sát thực nội dung công việc, khối lượng công việc và nhu cầu chuyên môn của từng Tổ kiểm toán và phải hiểu rõ khả năng, năng lực của từng nhân sự dự kiến. Trong một số trường hợp, cần xem xét đánh giá để đề xuất bố trí nhân sự trên cả góc độ tinh thần thái độ, tính cách, khả năng phối hợp của các thành viên, tránh tình trạng bố trí không hợp lý dẫn đến phát sinh những sự cố trong quan hệ phối kết hợp giữa các thành viên, giữa các Tổ làm hạn chế hiệu quả, chất lượng kiểm toán thậm chí gây mất đoàn kết nội bộ (ví dụ như bố trí cán bộ đã có những mâu thuẫn trước đó cùng Tổ, Nhóm và/ hoặc phân công công việc có mối quan hệ phối hợp với tính chất dễ xảy ra xung đột).


c) Rà soát, phê duyệt và trình KHKT chi tiết trước khi ban hành Quyết định kiểm toán.


- Trưởng đoàn kiểm toán dự kiến (Tổ trưởng Tổ Khảo sát) cần tham mưu, rà soát, hoàn thiện KHKT tổng quát và báo cáo Thủ trưởng đơn vị chủ trì cuộc kiểm toán trình hội đồng KTNN xét duyệt KHKT theo quy định. Chuẩn bị đầy đủ các thông tin, tài liệu để giải trình khi thực hiện xét duyệt KHKT và chuẩn bị hoàn thiện KHKT ngay sau khi được Lãnh đạo KTNN xét duyệt, kết luận.


- Sau khi chính thức được phân công làm Trưởng đoàn kiểm toán, Trưởng đoàn kiểm toán kịp thời chỉ đạo việc xây dựng và phê duyệt KHKT chi tiết của các Tổ kiểm toán theo đúng mục tiêu, nội dung, phạm vi đã được lãnh đạo Kiểm toán nhà nước phê duyệt tại kế hoạch kiểm toán của Đoàn kiểm toán. Theo Quy trình kiểm toán của KTNN, KHKT chi tiết phải được phê duyệt trước khi ban hành Quyết định kiểm toán, do vậy, việc dự kiến xây dựng các KHKT chi tiết phải được xem xét chuẩn bị kỹ lưỡng, kịp thời ngay từ khâu bắt đầu xây dựng KHKT tổng quát.


Để KHKT chi tiết sát đúng, phù hợp với KHKT tổng quát và gắn với thực tiễn hoạt động của từng đơn vị được kiểm toán, Trưởng đoàn kiểm toán dự kiến (Tổ trưởng Tổ Khảo sát) phải cân đối, bố trí lịch trình, nhân sự và lựa chọn đơn vị để khảo sát chi tiết phù hợp. Trường hợp không thể khảo sát toàn bộ các đơn vị dự kiến kiểm toán chi tiết, cần phân chia khảo sát chi tiết tại các đơn vị đại diện theo nhóm đặc thù (nếu có) để xây dựng KHKT chi tiết mẫu theo Nhóm các đơn vị. Đồng thời với việc khảo sát chi tiết, nắm bắt được mô hình tổ chức và hoạt động của từng Nhóm đơn vị có đặc điểm giống nhau, Tổ khảo sát cần yêu cầu các đơn vị chi tiết cung cấp thông tin theo mẫu để phục vụ cho công tác xây dựng KHKT chi tiết sát đúng, đảm bảo tính đồng bộ, logic và kiểm soát được toàn bộ thông tin của đơn vị được kiểm toán theo hệ thống.


d) Tổ chức phổ biến Quyết định kiểm toán, KHKT của cuộc kiểm toán và cập nhật kiến thức cho các thành viên Đoàn kiểm toán theo quy trình và hướng dẫn của KTNN.


- Sau khi có Quyết định kiểm toán (hoặc đồng thời với quá trình ban hành Quyết định kiểm toán), Trưởng đoàn kiểm toán tổ chức phổ biến Quyết định kiểm toán, KHKT tổng quát của cuộc kiểm toán và cập nhật kiến thức cho các thành viên Đoàn kiểm toán theo quy trình và hướng dẫn của KTNN. Đây là công việc quan trọng và cần thiết - có tính chất trao đổi, chia sẻ, thảo luận và phối hợp để thống nhất giữa các thành viên trong Đoàn kiểm toán về chuyên môn, nghiệp vụ; giúp tất cả thành viên có cách tiếp cận nhất quán về chủ trương định hướng chung của KHKT, thảo luận thống nhất về mục tiêu, nội dung, trọng tâm, phương pháp kiểm toán cụ thể và thống nhất các giải pháp phối hợp thực hiện chuyên môn. Bên cạnh việc phổ biến về nghiệp vụ chuyên môn, cập nhật kiến thức, Trưởng đoàn kiểm toán cần kết hợp để trao đổi về phương thức tổ chức thực hiện, cách thức phối kết hợp và tạo nên mối quan hệ kết nối giữa các thành viên, các Tổ KTNN trong Đoàn. Thực hiện công việc này không chỉ giúp cho việc triển khai công tác kiểm toán thuận lợi mà còn tạo cho việc phối hợp, chia sẻ thông tin nhằm nâng cao chất lượng kiểm toán, hỗ trợ cho công tác kiểm soát nâng cao chất lượng hoạt động kiểm toán. Đặc biệt, những Đoàn kiểm toán có quy mô lớn, đòi hỏi phải kết nối phối hợp để xử lý công tác chuyên môn, chuẩn bị cho công tác tổng hợp, hợp nhất báo cáo thì khâu phổ biến cập nhật kiến thức và hướng dẫn phối hợp giữa các Tổ KTNN, các thành viên thuộc Đoàn kiểm toán là nhiệm vụ quan trọng, cần thiết của Trưởng đoàn kiểm toán.


- Trưởng đoàn kiểm toán thực hiện phân công nhiệm vụ cho Phó Trưởng đoàn kiểm toán, Tổ trưởng Tổ kiểm toán; chỉ đạo, điều hành Đoàn kiểm toán thực hiện nhiệm vụ theo KHKT đã được phê duyệt: Để triển khai thực hiện kiểm toán, ngoài việc yêu cầu thành viên Đoàn kiểm toán tuân thủ các quy định của pháp luật, chấp hành nghiêm túc quy trình, chuẩn mực, các quy định về chuyên môn nghiệp vụ và quản lý của KTNN; Trưởng đoàn kiểm toán phải tiến hành phân công nhiệm vụ cho Phó Trưởng đoàn kiểm toán, Tổ trưởng Tổ kiểm toán cho phù hợp với yêu cầu của công việc, với tổ chức và hoạt động của Đoàn kiểm toán theo Quyết định và tình hình thực tiễn quản lý của đơn vị được kiểm toán cũng như yêu cầu điều hành Đoàn kiểm toán. Nội dung phân công có thể liên quan đến việc phân cấp, ủy quyền thực hiện nhiệm vụ, quản lý thành viên Đoàn kiểm toán, công tác phối hợp với đơn vị được kiểm toán và cụ thể hóa một số công việc, nội dung quản lý cần thiết. Lưu ý việc phân công nhiệm vụ, phân cấp, ủy quyền phải đảm bảo hướng đến mục tiêu nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nhưng đúng chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm, thẩm quyền và đúng quy định của KTNN cũng như quy định của pháp luật.


1.1.1.2. Giai đoạn tổ chức thực hiện kiểm toán:


- Điều chỉnh và phê duyệt lại KHKT chi tiết (nếu có):


Trường hợp đối với các cuộc kiểm toán quy mô lớn, thực hiện trên phạm vi rộng; tại thời điểm khảo sát lập KHKT tổng quát chưa thu thập đầy đủ thông tin, theo đó khi triển khai kiểm toán tại đơn vị, các Tổ kiểm toán sẽ thu thập bổ sung các thông tin còn thiếu để hoàn thiện KHKT chi tiết và trình Trưởng đoàn phê duyệt bổ sung KHKT chi tiết cho phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của đơn vị được kiểm toán và điều kiện nhân lực, nguồn lực của Tổ KTNN. Trưởng đoàn có trách nhiệm căn cứ vào KHKT tổng quát, các thông tin thu thập bổ sung về đơn vị được kiểm toán… để kiểm tra; yêu cầu Tổ trưởng bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện và phê duyệt KHKT chi tiết. Về thủ tục, phải yêu cầu Tổ trưởng gửi tờ trình Trưởng đoàn nêu rõ lý do thay đổi để Trưởng đoàn xem xét phê duyệt (nếu thuộc thẩm quyền phân cấp của Trưởng đoàn theo quy định của KTNN) hoặc để Trưởng đoàn trình xin ý kiến của cấp có thẩm quyền phê duyệt (nếu thuộc thẩm quyền phân cấp của cấp trên theo quy định của KTNN) và thông báo cho Tổ KTNN chỉ được thực hiện khi đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Thời hạn trình, phê duyệt cũng cần phải hoàn thành không được vượt quá thời hạn quy định của KTNN.


Trưởng đoàn kiểm toán cần bám sát KHKT chi tiết để điều hành hoạt động kiểm toán, kiểm tra kiểm soát và điều phối hoạt động kiểm toán chung của toàn Đoàn.


- Điều hành hoạt động của Đoàn kiểm toán thực hiện nhiệm vụ chuyên môn theo quy trình, chuẩn mực nhằm đạt mục tiêu kiểm toán. Trong đó, đảm bảo việc thực hiện các biện pháp chuyên môn nghiệp vụ đầy đủ, toàn diện, thống nhất: Trưởng đoàn kiểm toán thực hiện điều hành nhiệm vụ chuyên môn thông qua nhiều cách thức: Giao việc, hướng dẫn, chỉ đạo, quản lý, kiểm tra kiểm soát, đánh giá và điều chỉnh các hoạt động theo nhiệm vụ, quyền hạn của Trưởng đoàn kiểm toán. Về mặt chuyên môn, Trưởng đoàn kiểm toán có trách nhiệm quản lý, điều hành, kiểm soát để Đoàn kiểm toán nghiêm túc tuân thủ các quy định về chuyên môn nghiệp vụ, theo quy trình, chuẩn mực và các quy định của KTNN. Để đảm bảo việc thực hiện các biện pháp chuyên môn nghiệp vụ đầy đủ, toàn diện, thống nhất, công tác giao việc, kiểm tra giám sát cần được thực hiện thường xuyên, liên tục, có mục tiêu kiểm tra đánh giá rõ ràng theo các tiêu chí phù hợp. Đối với những nội dung, vấn đề có tính đặc thù, cá biệt theo Ngành, lĩnh vực hoặc đơn vị, nhóm đơn vị cụ thể cần có hướng dẫn riêng bằng văn bản, một số tình huống cần tham gia trực tiếp theo hình thức “cầm tay, chỉ việc” nhằm đảm bảo việc thực hiện công tác chuyên môn đảm bảo toàn diện qua đó hạn chế thấp nhất các rủi ro kiểm toán có thể xảy ra đối với thành viên, Tổ, Đoàn kiểm toán.


- Kiểm soát hoạt động nghiệp vụ chuyên môn của Đoàn kiểm toán: Đảm bảo đáp ứng yêu cầu quản lý của KTNN, quy định của pháp luật và nâng cao chất lượng công tác kiểm toán:


Cách thức tổ chức kiểm soát Trưởng đoàn kiểm toán là trực tiếp soát xét, kiểm tra hồ sơ, tài liệu kiểm toán, hồ sơ kiểm soát của Đoàn kiểm toán hoặc kiểm tra, kiểm soát thông qua chế độ thông tin, báo cáo; kiểm tra định kỳ, đột xuất các Tổ kiểm toán, thành viên Tổ kiểm toán; thông qua xét duyệt KHKT chi tiết; phê duyệt dự thảo và BBKT chính thức của Tổ kiểm toán; thông qua trao đổi thông tin với đơn vị được kiểm toán.


Trình tự, thủ tục kiểm soát được thực hiện kiểm soát theo tiến độ công việc và theo trình tự phát sinh các tài liệu, giấy tờ làm việc của các Tổ kiểm toán.


Nội dung kiểm soát: Kiểm tra và tổ chức thực hiện lập KHKT tổng quát với nhiệm vụ Tổ trưởng Tổ Khảo sát (nếu có). Kiểm tra, phê duyệt KHKT chi tiết và KHKT chi tiết điều chỉnh (nếu có) của Tổ kiểm toán. Trưởng đoàn kiểm toán cũng phải thực hiện kiểm soát hoạt động nghiệp vụ chuyên môn của KTVNN; việc thực hiện Quy chế tổ chức và hoạt động của Đoàn kiểm toán; quy định về đạo đức nghề nghiệp của KTVNN và các quy định liên quan khác; Kiểm soát việc lập BBKT; chế độ báo cáo định kỳ, báo cáo đột xuất của Tổ trưởng Tổ kiểm toán với Trưởng đoàn kiểm toán; Kiểm soát trình tự, thủ tục điều chỉnh KHKT của cuộc kiểm toán (nếu có); kiểm soát việc tổ chức thực hiện KHKT của cuộc kiểm toán; Trên cơ sở trên tài liệu làm việc của KTVNN và của Tổ kiểm toán, Trưởng đoàn tiến hành kiểm soát việc quản lý, điều hành, kiểm soát của Tổ trưởng Tổ kiểm toán và kiểm soát tính thống nhất, nhất quán trong việc xử lý các phát hiện kiểm toán giữa các Tổ kiểm toán, giữa các đơn vị được kiểm toán.


Trưởng đoàn kiểm toán cũng phải thực hiện kiểm soát dự thảo BCKT; kiểm soát BCKT phát hành và tiến hành kiểm soát việc phân loại, sắp xếp, lập danh mục hồ sơ kiểm toán của Đoàn kiểm toán và việc lưu trữ hồ sơ.


- Kiểm soát thực hiện Quy chế tổ chức và hoạt động của Đoàn kiểm toán; quy định về đạo đức nghề nghiệp của KTVNN và các quy định liên quan khác.


Trưởng đoàn kiểm toán thực hiện kiểm soát việc thực hiện Quy chế tổ chức và hoạt động của Đoàn kiểm toán, theo đó cần tập trung vào việc kiểm soát để không có tình trạng thành viên vi phạm các hành vi bị nghiêm cấm trong quá trình thực hiện nhiệm vụ kiểm toán; xem xét trường hợp không được bố trí làm thành viên Đoàn kiểm toán nếu trong quá trình kiểm toán phát hiện những trường hợp hoặc hành vi có thể ảnh hưởng đến tính độc lập, khách quan trong hoạt động kiểm toán để xử lý. Việc kiểm soát việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của thành viên của Đoàn kiểm toán (Phó Trưởng đoàn, Tổ trưởng, Thành viên Đoàn kiểm toán) được thực hiện cùng việc tổ chức quản lý điều hành và kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán.


Công tác kiểm soát việc chấp hành quy định về đạo đức nghề nghiệp của KTVNN và các quy định liên quan khác cũng được tiến hành cùng việc tổ chức quản lý điều hành hoạt động của Đoàn kiểm toán và kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán. Lưu ý trong kiểm soát việc thực hiện các quy định về đạo đức nghề nghiệp, có những vấn đề phát sinh cần giải quyết có tính xã hội, không thuộc phạm trù quản lý của các quy định pháp lý. Ví dụ như: Việc không hợp tác giữa các thành viên Tổ, Đoàn kiểm toán do có mâu thuẫn cá nhân; hoặc mối quan hệ giữa thành viên Đoàn kiểm toán với đơn vị ở góc độ phi lợi ích vật chất và không có mối quan hệ ruột thịt nhưng vẫn ảnh hưởng (ân nhân, quan hệ tình cảm,…) cũng cần lưu ý khi kiểm soát và giải quyết các vướng mắc nảy sinh (nếu có).


- Thực hiện chế độ báo cáo định kỳ, báo cáo đột xuất theo quy định.


Theo quy định của KTNN, Trưởng đoàn kiểm toán có trách nhiệm báo cáo định kỳ hoặc báo cáo đột xuất về kết quả và tình hình kiểm toán. Tương tự, để quản lý điều hành hoạt động của Đoàn kiểm toán đảm bảo thực hiện đúng quy định, đạt mục tiêu kiểm toán, Trưởng đoàn kiểm toán cũng yêu cầu các Tổ KTNN, thành viên Đoàn kiểm toán thực hiện chế độ báo cáo theo quy định và gắn với đặc thù của từng Đoàn kiểm toán cụ thể. Ngoài việc điều hành, quản lý, đốc thúc thực hiện chế độ báo cáo theo tiến độ, Trưởng đoàn kiểm toán cần tăng cường kiểm soát chất lượng báo cáo, nội dung báo cáo. Theo đó, qua theo dõi thực hiện KHKT, qua kiểm tra trực tiếp và kiểm tra nhật ký kiểm toán để xem xét nội dung, chất lượng báo cáo. Trường hợp cần thiết, Trưởng đoàn yêu cầu các Tổ thực hiện báo cáo kết quả theo nội dung, mẫu biểu được thiết kế phục vụ cho việc điều hành hoặc theo vấn đề, chủ đề để đảm bảo tăng cường công tác kiểm soát cũng như nâng cao chất lượng kiểm toán; đảm bảo có đủ thông tin cụ thể, chất lượng phục vụ cho hoạt động định hướng, chỉ đạo, quản lý của Thủ trưởng đơn vị chủ trì cuộc kiểm toán và Lãnh đạo KTNN.


Cần lưu ý, chế độ báo cáo cần có sự logic - hai chiều, chiều báo cáo được quan tâm cung cấp thông tin đầy đủ, toàn diện từ dưới lên để phục vụ quản lý điều hành của Lãnh đạo, đồng thời truyền tải thông tin định hướng, chỉ đạo của cấp trên xuống cấp dưới để triển khai thực hiện. Chế độ báo cáo phải được Trưởng đoàn tổ chức thực hiện sao cho đảm bảo tính hiệu quả, có giá trị trong việc nâng cao chất lượng hoạt động kiểm toán, giảm thiểu rủi ro trong quản lý, điều hành và hạn chế thủ tục, hình thức dẫn đến gây khó khăn, giảm hiệu quả hoạt động kiểm toán.


1.1.1.3. Giai đoạn lập BCKT:


- Tổ chức tổng hợp dự thảo BCKT trên nguyên tắc tuân thủ quy định về thể thức, trình tự lập và việc ghi chép: Trưởng đoàn kiểm toán phải thực hiện đánh giá, rà soát lại chất lượng, tính đầy đủ, thích hợp của kết quả kiểm toán từ các BBKT hoặc BCKT, Thông báo kết quả kiểm toán để đảm bảo chất lượng và số lượng bằng chứng làm cơ sở lập BCKT. Tổ chức phân công lập Dự thảo BCKT để đáp ứng các yêu cầu sau:


+ Tuân thủ quy định về thể thức, trình tự lập và việc ghi chép;


+ Nội dung dự thảo BCKT phải phù hợp, thống nhất với các nội dung của KHKT của cuộc kiểm toán được phê duyệt và thực tế thực hiện kiểm toán, cụ thể:


./ Phản ánh đúng tình hình thực tế thực hiện kiểm toán;


./ Trình bày kết quả kiểm toán tương ứng với các nội dung kiểm toán được phê duyệt trong KHKT của cuộc kiểm toán;


./ Trình bày kết luận kiểm toán tương ứng với từng mục tiêu kiểm toán được phê duyệt trong KHKT của cuộc kiểm toán.


+ Các nội dung của dự thảo BCKT đảm bảo tính thống nhất:


./ Kết luận kiểm toán thống nhất, phù hợp với kết quả kiểm toán và tuân thủ nội dung, phạm vi kiểm toán;


./ Kết luận kiểm toán thống nhất, phù hợp với các bằng chứng kiểm toán và tình hình thực tế của đơn vị được kiểm toán;


./ Kiến nghị kiểm toán phù hợp với kết quả kiểm toán, kết luận kiểm toán và đảm bảo tính khả thi;


./ Thông tin, số liệu trong BCKT thống nhất, phù hợp với thông tin, số liệu trong các BBKT của Tổ kiểm toán, hồ sơ, tài liệu của cuộc kiểm toán và phụ lục kèm theo BCKT.


+ Bằng chứng kiểm toán đầy đủ, hợp pháp và thích hợp với các kết luận, kiến nghị trong BCKT;


+ Tuân thủ ý kiến chỉ đạo, kết luận của cấp có thẩm quyền trong quá trình lập BCKT;


+ Tuân thủ quy định về kỹ thuật trình bày, sử dụng văn phạm…


- Tổ chức họp Đoàn kiểm toán lấy ý kiến thành viên để hoàn thiện dự thảo BCKT:


Trưởng đoàn kiểm toán tổ chức họp Đoàn kiểm toán để lấy ý kiến thành viên góp ý để hoàn thiện Dự thảo BCKT trước khi trình xét duyệt ở cấp đơn vị chủ trì cuộc kiểm toán. Thông qua việc tổ chức họp Đoàn, Trưởng đoàn cần khai thác ý kiến, trí tuệ tập thể để hoàn thiện Dự thảo BCKT. Đặc biệt, cần khai thác các ý kiến tham gia của các thành viên như một bước kiểm soát lại kết quả và chất lượng kiểm toán, theo đó cần xem xét rà soát tính đầy đủ, thống nhất, tính chính xác và quan trọng để đảm bảo đạt mục tiêu kiểm toán một cách chất lượng, hiệu quả nhất. Đặc biệt, thông qua họp Đoàn kiểm toán sẽ có sự kiểm tra đối chiếu chéo để phát hiện và xử lý các mối quan hệ phối hợp (nếu có).


Trưởng đoàn kiểm toán cũng cần kết hợp cuộc họp Đoàn kiểm toán để giải quyết những công việc cần xử lý có tính chất chung để đảm bảo sử dụng tối ưu thời gian, hạn chế việc tổ chức thêm các cuộc họp khác. Ví dụ: Tổng kết việc thực hiện nhiệm vụ của Đoàn kiểm toán; kiểm điểm rút kinh nghiệm; bỏ phiếu đánh giá mức độ thực hiện nhiệm vụ; họp tổng kết công tác của Chi bộ đảng tạm thời sinh hoạt theo Đoàn kiểm toán…


- Hoàn thiện Dự thảo BCKT theo quy trình của KTNN và gửi Dự thảo lấy ý kiến của đơn vị được kiểm toán:


Quá trình hoàn thiện Dự thảo BCKT và gửi Dự thảo BCKT cần được thực hiện kịp thời. Đặc biệt, trong điều kiện thời gian phát hành BCKT theo quy định của Luật KTNN có giới hạn, thời gian gửi lấy ý kiến của đơn vị 10 ngày, Trưởng đoàn kiểm toán cần tính toán xác định thời gian hoàn thiện, gửi Dự thảo BCKT phù hợp để không bị ảnh hưởng tổng thời gian phát hành trong giai đoạn này. Trường hợp có thể trao đổi với đơn vị được kiểm toán tham gia ý kiến trước thời gian 10 ngày theo quy định của Luật KTNN, Trưởng đoàn cần lưu ý để phối hợp, đốc thúc nhận ý kiến sớm phục vụ cho việc đẩy sớm ngày thông báo kết quả kiểm toán và thời gian phát hành BCKT. Việc bố trí thực hiện công việc hòa thiện Dự thảo BCKT phải thật sự khoa học, quyết liệt; việc kết nối phối hợp với đơn vị được kiểm toán phải thật chặt chẽ, chủ động để sao cho giai đoạn này được rút ngắn nhất trong điều kiện có thể, góp phần giảm thời gian phát hành BCKT.


- Thông báo kết quả kiểm toán, hoàn thiện và phát hành BCKT:


Trưởng đoàn kiểm toán phải thực hiện rà soát lại các yêu cầu của BCKT; rà soát nội dung giải trình, tiếp thu, chỉnh sửa BCKT theo ý kiến kết luận của Lãnh đạo KTNN khi xét duyệt BCKT và giải trình của đơn vị được kiểm toán; tuân thủ kết luận của Lãnh đạo KTNN khi thông báo kết quả kiểm toán với đơn vị. Trưởng đoàn kiểm toán chỉ đạo, thực hiện nghiêm túc các thủ tục chỉnh sửa, hoàn thiện BCKT; có trách nhiệm lập và lưu giữ đầy đủ các bằng chứng kiểm toán liên quan đến việc chỉnh sửa kết quả, kết luận và kiến nghị kiểm toán; các tài liệu phát hành BCKT. Việc phát hành BCKT phải được soát xét, kiểm tra để BCKT phát hành không tồn tại những hạn chế, sai sót và những vấn đề phải khắc phục sau khi đã phát hành do lỗi chủ quan khâu hoàn thiện BCKT. Giai đoạn này đòi hỏi phải thật thận trọng trong khâu rà soát lại lần cuối cả về nội dung, chất lượng cũng như thể thức, ngữ pháp…của BCKT trước khi phát hành.


1.1.2. Kinh nghiệm về việc vận dụng những kỹ năng cơ bản trong t ổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm toán của Đoàn kiểm toán


- Kinh nghiệm về quản lý nhân sự:


Theo quy định tại Đoạn 06, Chuẩn mực KTNN số 30 - Bộ Quy tắc đạo đức nghề nghiệp có quy định “KTVNN phải tự giác xây dựng và thúc đẩy mối quan hệ cộng tác, hợp tác tốt với đồng nghiệp. Những hỗ trợ chuyên môn và sự hợp tác đồng nghiệp là những yếu tố quan trọng, đặc trưng của nghề nghiệp kiểm toán”. Từ đặc trưng này cho thấy, ngoài kỹ năng quản lý, sử dụng nguồn nhân lực trong hoạt động quản lý thông thường, Trưởng đoàn kiểm toán cần quan tâm đến việc kết nối, tạo môi trường cho mối quan hệ cộng tác, hợp tác tốt giữa các đồng nghiệp.


Trong quản lý nhân sự, để khai thác tối ưu nguồn nhân lực đã có, Trưởng đoàn kiểm toán khi tham gia xác định, bố trí nhân sự cho mỗi Tổ kiểm toán cần quan tâm bố trí nhân sự sao cho đáp ứng các yêu cầu của từng vị trí công việc, trong từng trường hợp cụ thể phải bố trí nhân sự xen kẽ, vừa cân đối về kỹ năng - kinh nghiệm vừa có sự sáng tạo và sử dụng thành thạo công nghệ và các tiến bộ khoa học, phần mềm máy tính để có sự chia sẻ, hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau. Khi xem xét bố trí nhân sự và tổ chức các mối quan hệ phối hợp trong hoạt động của Đoàn kiểm toán cần tập trung đánh giá năng lực chuyên môn của từng thành viên; phân công phù hợp với vị trí công việc; thiết lập các mối quan hệ phối hợp và tổ chức tập huấn nghiệp vụ, trao đổi nguyên tắc và trách nhiệm phối hợp giữa các thành viên, các tổ để có sự chủ động hợp tác, phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ. Trưởng đoàn kiểm toán cũng cần tạo môi trường kết nối đoàn kết, thống nhất, gương mẫu và tạo động lực; sử dụng các kỹ năng quản lý nguồn nhân lực và sẵn sàng giải quyết những vướng mắc nhằm lôi cuốn thành viên trong Đoàn nỗ lực thực hiện công việc một cách trách nhiệm và hiệu quả.


- Kinh nghiệm về đào tạo, hướng dẫn nghiệp vụ cho KTVNN:


Cơ bản, thành viên tham gia Đoàn kiểm toán đều được đào tạo chuyên sâu về nghiệp vụ chuyên môn kiểm toán. Họ đã được nghiên cứu, học tập và thực hiện kiểm toán theo quy trình, chuẩn mực và các quy định của KTNN.


Tuy nhiên, để đảm bảo cho việc thực hiện một cuộc kiểm toán có hiệu quả, đi sâu giải quyết vấn đề theo cách thức tiếp cận trọng yếu, rủi ro thì cần thiết phải có chương trình đào tạo, tập huấn, hướng dẫn nghiệp vụ cho thành viên Đoàn kiểm toán. Phương thức đào tạo, hướng dẫn có nhiều, tuy nhiên cơ bản cần lưu ý một số nội dung sau:


+ Tập huấn về KHKT tổng quát để thống nhất về mục tiêu, nội dung, trọng tâm, phạm vi, phương pháp kiểm toán và các vấn đề cần lưu ý; thống nhất về tiêu chí kiểm toán theo các loại hình kiểm toán đã xác định, phê duyệt.


+ Tập huấn về chuyên môn nghiệp vụ chuyên sâu hoặc tìm hiểu về các mô hình hoạt động có tính chất đặc thù đối với một số cuộc kiểm toán.


+ Trưởng đoàn xây dựng đề cương hướng dẫn kiểm toán chi tiết; xây dựng hồ sơ mẫu biểu đối với những nội dung cần đi sâu làm rõ, nội dung cần thông tin, số liệu thống nhất hoặc vấn đề mà hệ thống mẫu biểu của KTNN chưa có nhằm phục vụ cho mục tiêu, yêu cầu của cuộc kiểm toán. Đề cương, mẫu biểu cần được thảo luận rộng rãi, lấy ý kiến góp ý đa chiều và thống nhất thực hiện.


+ Đối với một số nội dung trọng tâm, vấn đề có tính chất cá biệt, Trưởng đoàn kiểm toán có thể xây dựng khung hướng dẫn kiểm toán phù hợp, sau đó tiến hành thảo luận lấy ý kiến trong nội bộ Đoàn kiểm toán, tổng hợp ý kiến để hoàn thiện và soạn thảo văn bản hướng dẫn, định hướng nhằm thống nhất thực hiện trong toàn Đoàn. Giai đoạn lấy ý kiến tham gia và ban hành hướng dẫn cũng là thực hành tốt của công tác đào tạo, hướng dẫn.


+ Việc định hướng, hướng dẫn nghiệp vụ có thể thực hiện qua hình thức phê duyệt KHKT chi tiết. Theo đó, những nội dung trọng tâm, vấn đề cần lưu ý hoặc các thủ tục, phương pháp kiểm toán cụ thể được Trưởng đoàn kiểm toán hướng dẫn, phê duyệt. Đây là hình thức đào tạo, hướng dẫn thích hợp, sát với bối cảnh và thông tin chi tiết, cụ thể của từng Tổ KTNN, từng đơn vị được kiểm toán cụ thể.


- Kinh nghiệm về vận dụng các kỹ năng cụ thể khác: Trưởng đoàn kiểm toán cần cân nhắc để lựa chọn vận dụng một số kỹ năng như truyền cảm hứng và động viên nhân viên; cần thể hiện sự chính trực và ngay thẳng; biết cách phân tích và giải quyết vấn đề thấu đáo, đúng quy định; luôn có ý thức xây dựng mối quan hệ hợp tác và xây dựng tinh thần đồng đội; gương mẫu và tạo phong cách chuyên nghiệp trong thực hiện các kỹ năng chuyên môn; luôn tiếp thu ý kiến và cải tiến công việc; và chú trọng đến kết quả cuối cùng.


1.2. Chỉ đạo việc xây dựng và phê duyệt Kế hoạch kiểm toán chi tiết


1.2.1. Những nhiệm vụ cơ bản.


- Tổ chức khai thác, sử dụng thông tin khâu khảo sát lập KHKT.


- Triển khai việc chi tiết hóa mục tiêu, nội dung kiểm toán.


- Rà soát để đảm bảo tính chính xác, đầy đủ, hợp lý của các nội dung; tính thống nhất, phù hợp giữa các nội dung của KHKT chi tiết.


- Các nội dung của KHKT chi tiết thống nhất, phù hợp với KHKT của cuộc kiểm toán; chi tiết, cụ thể các mục tiêu, nội dung kiểm toán của cuộc kiểm toán; phù hợp với tính chất, đặc điểm của đơn vị được kiểm toán.


1.2.2. Kinh nghiệm về việc vận dụng kỹ năng trong c hỉ đạo việc xây dựng và phê duyệt Kế hoạch kiểm toán chi tiết


- Kinh nghiệm về việc định hướng chi tiết công việc: Công việc xây dựng KHKT chi tiết cần được định hướng thực hiện ngay trong quá trình khảo sát thu thập thông tin lập KHKT tổng quát. Ngay từ khi bắt đầu lập đề cương khảo sát, Trưởng đoàn kiểm toán dự kiến (Tổ trưởng Tổ Khảo sát) đã phải chủ động dự kiến khảo sát đơn vị chi tiết, nội dung chi tiết phục vụ lập KHKT chi tiết. Khi đã định hình công việc, trình xét duyệt KHKT tổng quát cũng đã phải chuẩn bị các phương án xây dựng KHKT chi tiết sao cho phù hợp với KHKT tổng quát, gắn với từng đơn vị chi tiết dự kiến kiểm toán. Trong chỉ đạo lập KHKT chi tiết, Trưởng đoàn kiểm toán cần định hướng chi tiết công việc cho các Tổ theo các yêu cầu sau: (i) Bám sát mục tiêu, nội dung, phạm vi, phương pháp, tiêu chí tại KHKT tổng quát, phân tích thông tin chi tiết của đơn vị dự kiến kiểm toán để xây dựng KHKT chi tiết. (ii) Xác định mục tiêu, yêu cầu công việc cụ thể cho Tổ và từng thành viên. (iii) Xác định nội dung công việc gắn với mục tiêu yêu cầu và ai làm, khi nào, ở đâu. (iv) Xác định cách thức thực hiện như thế nào. (v) Xác định cách thức kiểm soát giám sát để đảm bảo thực hiện công việc có chất lượng, đảm bảo tiến độ.


- Kinh nghiệm về tổ chức, phối hợp công việc:


Trong tổ chức phối hợp công việc đòi hỏi thái độ nghiêm túc trách nhiệm của các thành viên Đoàn kiểm toán, trong đó coi trọng vai trò của Tổ trưởng Tổ KTNN. Việc tổ chức phối hợp công việc của Đoàn kiểm toán phụ thuộc vào chất lượng của KHKT tổng quát, vào chất lượng phê duyệt KHKT chi tiết và điều hành của Trưởng đoàn kiểm toán. Đối với hoạt động của các Tổ KTNN, Trưởng đoàn kiểm toán cần định hướng và hỗ trợ các Tổ xem xét để tổ chức và phối hợp công việc một cách khoa học chuyên nghiệp, xem xét giải quyết vấn đề trong mối quan hệ tổng thể và hiệu quả; thường xuyên rà soát, đánh giá và điều chỉnh cũng như cần huy động trí tuệ tập thể để tiếp thu ý kiến hoàn thiện những hạn chế, khiếm khuyết trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ.


- Kinh nghiệm vận dụng các kỹ năng cụ thể khác.


Trưởng đoàn kiểm toán cần định hướng cho các Tổ KTNN trong việc xác định các nội dung trọng tâm; trong việc thảo luận tập thể để nhận diện và chỉ rõ mục tiêu lớn, chẻ nhỏ thành các mục tiêu cụ thể và cách thức thực hiện đạt kết quả. Trưởng đoàn kiểm toán cũng cần định hướng cho các Tổ KTNN quan tâm và thực hiện phân tích trên nguyên tắc tiếp cận tổng thể, toàn diện và xác định rủi ro tổng thể sau đó mới đi sâu vào chi tiết. Để thực hiện những công việc này, kinh nghiệm cho thấy cần sử dụng kỹ năng phân tích, tư duy logic, sử dụng kinh nghiệm và khả năng xét đoán để có thể có những đánh giá, nhận định đúng và đưa ra các giải pháp thực hiện phù hợp, có hiệu quả.


1.3. C hỉ đạo, điều hành Đoàn kiểm toán thực hiện kiểm toán theo Kế hoạch kiểm toán


1.3.1. Những nhiệm vụ cơ bản


Phân công nhiệm vụ cho Phó Trưởng đoàn kiểm toán, Tổ trưởng Tổ kiểm toán; chỉ đạo, điều hành Đoàn kiểm toán thực hiện kiểm toán theo KHKT đã được phê duyệt;


Tổ chức, kiểm tra việc thực hiện Quy chế tổ chức và hoạt động của Đoàn kiểm toán, chuẩn mực kiểm toán, quy trình, phương pháp chuyên môn, nghiệp vụ kiểm toán, ghi chép và lưu trữ, bảo quản hồ sơ kiểm toán và thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, soát xét của lãnh đạo Đoàn kiểm toán theo quy định của Quy chế Kiểm soát chất lượng kiểm toán của Tổng KTNN;


1.3.2. Kinh nghiệm về việc vận dụng kỹ năng trong chỉ đạo, điều hành Đoàn kiểm toán thực hiện kiểm toán theo Kế hoạch kiểm toán


- Kinh nghiệm về xử lý chuyên môn:


Công việc chuyên môn kiểm toán đòi hỏi Đoàn kiểm toán phải tuân thủ nghiêm túc các quy định về quy trình, chuẩn mực nghề nghiệp. Có như vậy, kết quả kiểm toán mới đảm bảo đạt mục tiêu, chất lượng, hiệu quả và có giá trị đối với người sử dụng BCKT. Đặc biệt, việc thực hiện nghiêm túc, đầy đủ các quy định về quy trình, chuẩn mực nghề nghiệp sẽ giúp cho KTVNN giải trình được trách nhiệm trước những rủi ro khách quan ngoài tầm kiểm soát của mình trong trường hợp phát sinh những rủi ro kiểm toán.


Kinh nghiệm xử lý chuyên môn của Trưởng đoàn kiểm toán cần quan tâm đến việc lập kế hoạch, phân công giao việc, điều hành hoạt động của Đoàn kiểm toán, kiểm tra giám sát và điều chỉnh các quyết định chỉ đạo điều hành của mình sao cho hoạt động của các thành viên Đoàn kiểm toán, các Tổ KTNN và Đoàn kiểm toán tuân thủ nghiêm tức các quy định của quy trình, chuẩn mực và các biện pháp chuyên môn kiểm toán. Việc quan tâm đến nghiêm túc chấp hành quy định về chuyên môn phải được quan tâm ngay từ khâu khảo sát thu thập thông tin lập kế hoạch cho đến khâu phát hành BCKT. Việc điều hành, triển khai theo tiến trình, kiểm soát chặt chẽ theo cả quá trình, có kiểm soát và điều chỉnh thích hợp sẽ giúp cho việc thực hiện công việc chuyên môn đầy đủ, chất lượng, hiệu quả.


Đối với những trường hợp xử lý các tình huống vướng mắc, khó khăn khi triển khai thực hiện nhiệm vụ chuyên môn: Tùy thuộc từng hoàn cảnh, điều kiện cụ thể mà Trưởng đoàn kiểm toán có những ứng xử cụ thể. Tuy nhiên, để giải quyết những vướng mắc về chuyên môn cần nghiên cứu để thực hiện theo nguyên tắc Trưởng đoàn nghiên cứu kỹ, đầy đủ, toàn diện dưới góc độ người đứng đầu, có điều kiện tiếp cận nhiều nguồn thông tin, nhiều quan hệ quản lý và với trách nhiệm giải quyết công việc với vai trò lãnh đạo quản lý. Nếu chưa thể giải quyết dứt điểm cần trao đổi thảo luận nhóm, thảo luận rộng rãi trong toàn Đoàn kiểm toán, lấy ý kiến chuyên gia, xin ý kiến Hội đồng và cần thiết phải báo cáo để xin ý kiến của các cơ quan chuyên môn, cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành nhằm giải quyết những vướng mắc về chuyên môn. Trường hợp vẫn chưa giải quyết thấu đáo, Trưởng đoàn kiểm toán cần có phương án đề xuất, kiến nghị giải quyết ở góc độ tiếp tục hoàn thiện, khắc phục đồng thời có trách nhiệm theo dõi, nắm bắt việc thực hiện khắc phục, xử lý tồn tại (kiến nghị đơn vị được kiểm toán báo cáo kết quả thực hiện, đề nghị bộ phận kiểm tra thực hiện kiến nghị kiểm tra, đánh giá).


Trưởng đoàn kiểm toán cần lưu ý đến việc phát hiện và xử lý những vướng mắc trong thực hiện điều hành công tác chuyên môn kịp thời ngay trong quá trình thực hiện kiểm toán. Cần sớm đánh giá những vướng mắc và mức độ giải quyết để kịp thời giải quyết dứt điểm những vướng mắc. Nếu chậm đánh giá mức độ mà không kịp thời giải quyết có thể ảnh hưởng đến tiến độ hoàn thiện và phát hành BCKT do chưa xử lý dứt điểm những vướng mắc, tồn tại về chuyên môn.


- Kinh nghiệm chỉ đạo làm việc nhóm


Trong hoạt động kiểm toán, quan hệ cộng tác, hợp tác, hỗ trợ chuyên môn là những yếu tố quan trọng, đặc trưng giúp cho công tác kiểm toán chất lượng, hiệu quả. Vì vậy, việc chỉ đạo, tổ chức, dẫn dắt và tạo môi trường làm việc nhóm là trách nhiệm quan trọng của Trưởng đoàn kiểm toán. Theo đó, Trưởng đoàn kiểm toán ngoài việc yêu cầu cộng tác, hợp tác, hỗ trợ chuyên môn trong tổ chức điều hành công tác kiểm toán chung của Đoàn kiểm toán, trong tổ chức thảo luận lấy ý kiến, trong đặt hàng phối hợp thực hiện các công việc cụ thể cho Đoàn kiểm toán còn tham gia vào việc bố trí sắp xếp nhân sự thực hiện công việc khi xét duyệt KHKT chi tiết. Việc tham gia vào công tác phân công phân nhiệm, trong điều phối hoạt động của Tổ, của Đoàn kiểm toán sẽ giúp cho việc tạo lập và vận hành các mối quan hệ Nhóm, các mối liên kết có tính kết nối, phối hợp khoa học, hợp lý, hiệu quả và toàn diện trên phương diện tổng thể cũng như cụ thể.


- Kinh nghiệm vận dụng một số kỹ năng khác


Trong điều hành hoạt động kiểm toán, ngoài việc điều hành hiệu quả hoạt động kiểm toán dưới góc độ chuyên môn trong nội bộ Đoàn kiểm toán, Trưởng đoàn kiểm toán cần quan tâm để thực hiện tốt mối quan hệ ứng xử, phối hợp với đơn vị được kiểm toán và các bên có liên quan. Việc thường xuyên trao đổi, phối hợp để giải quyết công việc chuyên môn cũng như các công việc khác rất quan trọng. Theo đó, Trưởng đoàn kiểm toán phải xác định những người có trách nhiệm hoặc có liên quan để trao đổi thông tin về phạm vi, thời gian thực hiện kiểm toán và các phát hiện kiểm toán quan trọng; phối hợp để trao đổi với lãnh đạo đơn vị được kiểm toán nhằm thu thập thông tin có liên quan đến cuộc kiểm toán, đồng thời cung cấp kịp thời cho lãnh đạo đơn vị những vấn đề quan trọng nhằm giúp việc phối hợp thực hiện Quyết định kiểm toán hiệu quả hơn. Việc trao đổi thông tin có thể được thực hiện bằng nhiều cách thức và có thể trao đổi với nhiều bên liên quan (không nhất thiết chỉ trong phạm vi đơn vị được kiểm toán); trao đổi bằng thảo luận, phối hợp và bằng văn bản khi cảm thấy việc trao đổi bằng văn bản là cần thiết.


1.4. Duyệt Biên bản kiểm toán của các Tổ kiểm toán; Lập Báo cáo kiểm toán của Đoàn kiểm toán


1.4.1. Những nhiệm vụ cơ bản


- Duyệt nội dung BBKT xem đáp ứng mục tiêu, nội dung hay chưa. Nội dung dự thảo BCKT phải phù hợp, thống nhất với các nội dung của KHKT của cuộc kiểm toán được phê duyệt và thực tế thực hiện kiểm toán;


- Phê duyệt nội dung BBKT gắn với các yêu cầu đảm bảo tính thống nhất về nội dung, kết luận kiểm toán, các kết luận phải đảm bảo đủ cơ sở pháp lý, gắn với kết quả kiểm toán, kết luận kiểm toán và đảm bảo tính khả thi; phê duyệt và kiểm tra giám sát việc thu thập và lập bằng chứng kiểm toán đầy đủ và thích hợp.


- Rà soát việc chấp hành quy định về thể thức, trình tự lập và việc ghi chép; rà soát đối chiếu việc tuân thủ ý kiến chỉ đạo, kết luận của cấp có thẩm quyền trong quá trình lập BBKT, BCKT và một số nội dung khác.


1.4.2. Kinh nghiệm về việc vận dụng kỹ năng trong duyệt Biên bản kiểm toán của các Tổ kiểm toán; Lập Báo cáo kiểm toán của Đoàn kiểm toán


- Kinh nghiệm xem xét sự phù hợp giữa BBKT với KHKT chi tiết; giữa BCKT với nội dung kiểm toán.


Trong quá trình triển khai nhiệm vụ kiểm toán, Trưởng đoàn kiểm toán có trách nhiệm phê duyệt KHKT chi tiết, điều hành thực hiện KHKT chi tiết và tiến hành điều chỉnh kế hoạch trong một số trường hợp cần thiết. Như vậy, cơ bản mục tiêu, nội dung, phạm vi kiểm toán đã được xác định và thực hiện ngay trong thực hiện kiểm toán, đã được kiểm tra, giám sát theo cả quá trình thông qua các hoạt động kiểm soát của Trưởng đoàn trong đó việc kiểm soát việc thực hiện thông qua thông tin, kết quả kiểm toán trên nhật ký kiểm toán và báo cáo của các Tổ. Tuy nhiên, khi phê duyệt BBKT, Thông báo kết quả kiểm toán, Trưởng đoàn kiểm toán vẫn phải tiến hành rà soát lại kết quả kiểm toán được trình bày trên BBKT xem có đảm bảo đầy đủ, chất lượng và đúng theo KHKT đã phê duyệt hay không. Trường hợp BBKT không đầy đủ thông tin kết quả hoặc chưa đản bảo đủ thuyết phục, thiếu căn cứ, cơ sở hoặc thiếu bằng chứng kiểm toán, Trưởng đoàn kiểm toán cần yêu cầu Tổ KTNN tiến hành thực hiện các thủ tục kiểm toán tiếp theo để hoàn tất công việc kiểm toán. Một số trường hợp, khi tiến hành tham dự thông qua kết quả với đơn vị được kiểm toán, Trưởng đoàn kiểm toán có thể giao cho Tổ KTNN, đề nghị đơn vị được kiểm toán phối hợp cùng Tổ KTNN giải quyết các nội dung còn thiếu, chưa rõ, chưa phù hợp để hoàn thiện BBKT làm cơ sở, bằng chứng để ban hànhThông báo kết quả kiểm toán và lập BCKT của Đoàn kiểm toán.


Tương tự, việc điều hành công tác kiểm toán của Đoàn cũng phải bám sát mục tiêu, nội dung kiểm toán theo cả quá trình. Giai đoạn lập BCKT, Trưởng đoàn kiểm toán phải tiến hành rà soát nhằm đảm bảo BCKT phản ánh đầy đủ kết quả kiểm toán theo nội dung kiểm toán đã xác định. Trường hợp chưa đầy đủ, chưa đảm bảo chất lượng theo quy định phải cùng Tổ tổng hợp lập BCKT và/hoặc cùng các Tổ KTNN thực hiện các thủ tục kiểm toán tiếp theo để tiến hành bổ sung, hoàn thiện nội dung kết quả kiểm toán cho phù hợp.


- Kinh nghiệm trong việc tổ chức chỉ đạo công tác tổng hợp, lập BCKT.


Tổng hợp lập BCKT là một trong những bước quan trọng của quy trình kiểm toán, là kết quả của hoạt động kiểm toán. Nếu khâu chuẩn bị kiểm toán, thực hiện kiểm toán đã làm rất tốt nhưng việc lập BCKT kém chất lượng thì cuộc kiểm toán cũng không đạt mục tiêu hiệu quả. Hơn nữa, từ khâu lập BCKT cũng có thể đánh giá lại các bước công việc trước đó đã hoàn thiện, có chất lượng và đáp ứng mục tiêu, yêu cầu kiểm toán hay chưa nhằm có giải pháp khắc phục.


Trưởng đoàn kiểm toán cần lưu ý khi lập BCKT ngoài việc tuân thủ mẫu biểu do KTNN ban hành (hoặc mẫu biểu đặc thù đã được phê duyệt) có thể xây dựng đề cương khung của BCKT. Theo đó, trên cơ sở mục tiêu, trọng tâm đã xác định và kết quả kiểm toán đã phát hiện, Trưởng đoàn kiểm toán xây dựng khung BCKT các vấn đề chính nhằm trả lời cho mục tiêu, trọng tâm cụ thể. Từ khung nội dung này, việc phát triển thông tin kết quả chi tiết sẽ tập trung, xoay quanh những vấn đề chính, vừa làm nổi bật kết quả kiểm toán, vừa đảm bảo sát đúng, đáp ứng mục tiêu, yêu cầu kiểm toán, vừa tránh bỏ sót những nội dung, kết quả kiểm toán quan trọng. Trưởng đoàn kiểm toán cũng cần quan tâm đến việc phân công, phối hợp giữa các thành viên tham gia lập dự thảo BCKT, hướng dẫn thống nhất cách thức trình bày các ý kiến đánh giá (bảo đảm ngắn gọn, súc tích), cách dẫn chứng văn bản, số liệu…


- Kinh nghiệm trong việc đưa ra các kết luận, kiến nghị kiểm toán.


Theo quy định của Luật KTNN, KTNN có chức năng đánh giá, xác nhận, kết luận và kiến nghị đối với việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công. Theo đó, tùy thuộc vào loại hình kiểm toán và kết quả kiểm toán, Trưởng đoàn kiểm toán trên cơ sở những đánh giá, xác nhận đưa ra kết luận kiểm toán.


Đối với loại hình kiểm toán BCTC, Trưởng đoàn kiểm toán cần yêu cầu làm rõ để có ý kiến về việc liệu BCTC, các thông tin tài chính được kiểm toán có được lập và trình bày trung thực, hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu, phù hợp với các quy định về lập và trình bày BCTC được áp dụng hay không. Những sai lệch so với quy định cần được xác định và kết luận rõ ràng về nội dung, giá trị, nguyên nhân, địa chỉ cụ thể để có kiến nghị điều chỉnh nhằm đảm bảo BCTC, thông tin tài chính được lập và trình bày phù hợp với khuôn khổ quy định hiện hành về lập và trình bày BCTC được áp dụng. Liên quan đến việc thực hiện quy định của Luật NSNN các Luật Thuế và các quy định khác, qua kiểm toán tài chính và tuân thủ quy định của Luật, đồng thời với việc kiến nghị điều chỉnh sổ kế toán, BCTC, thông tin tài chính Trưởng đoàn kiểm toán cũng cần chỉ đạo, điều hành việc xác định cụ thể số liệu để kiến nghị tăng thu nộp NSNN, giảm chi NSNN hoặc các nghĩa vụ khác liên quan đến quản lý, sử dụng nguồn lực công đã được kiểm toán.


Đối với loại hình kiểm toán tuân thủ nhằm đánh giá, xác nhận việc tuân thủ pháp luật, nội quy, quy chế mà đơn vị được kiểm toán phải thực hiện. Từ kết quả kiểm toán, Trưởng đoàn kiểm toán chỉ đạo, thực hiện việc đánh giá, xác nhận và kết luận việc tuân thủ các tiêu chí kiểm toán của đơn vị được kiểm toán, như: việc tuân thủ các luật, các văn bản hướng dẫn luật, các quy định, quy chế, chế độ, chính sách mà đơn vị được kiểm toán phải thực hiện. Theo đó đưa ra các kiến nghị thích hợp, phù hợp với phát hiện kiểm toán, kiến nghị đúng đối tượng, đúng địa chỉ, đúng trách nhiệm để các kiến nghị có giá trị khả thi. Cần lưu ý, khi các luật và quy định không đầy đủ hoặc chưa có văn bản hướng dẫn, Trưởng đoàn kiểm toán có thể chỉ đạo việc kiểm tra sự tuân thủ theo các nguyên tắc chung về quản trị tài chính lành mạnh và ứng xử của công chức, viên chức. Bên cạnh đó, cần kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét giải quyết những tồn tại, vướng mắc của các quy định hoặc tình trạng chưa có quy định: Hướng dẫn cách thức giải quyết những vướng mắc, bất cập; sửa đổi bổ sung hoặc ban hành văn bản quản lý,…


Đối với loại hình KTHĐ là loại hình kiểm toán nhằm kiểm tra, đánh giá tính kinh tế, tính hiệu quả, tính hiệu lực của các chương trình, các hoạt động, các đơn vị hoặc các nguồn công quỹ và các thể chế. Từ kết quả KTHĐ, Trưởng đoàn kiểm toán chỉ đạo và thực hiện việc đưa ra kiến nghị để cải thiện các chương trình, hoạt động, đơn vị được kiểm toán sao cho phù hợp với các phát hiện kiểm toán.


- Kinh nghiệm vận dụng các kỹ năng cụ thể khác


Trưởng đoàn kiểm toán cần lưu ý vận dụng kỹ năng phân tích, đánh giá thông tin kết quả kiểm toán, đối chiếu với các tiêu chí kiểm toán (cả 3 loại hình) để đưa ra các kết luận, kiến nghị xác đáng, có giá trị, có tính khả thi. Đặc biệt lưu ý, cần phân tích vấn đề đặt trong nhiều bối cảnh: Trong ngắn hạn - dài hạn; trong góc nhìn tổng thể - cụ thể; trong bối cảnh kinh tế - chính trị - xã hội phù hợp; xem xét xu thế phát triển; xem xét mối quan hệ lợi ích; xem xét mục tiêu chính - mục tiêu liên quan; xem xét dự báo tác động và những nhân tố ảnh hưởng,… Có thực hiện tốt những kỹ năng này thì việc đưa ra các kết luận, kiến nghị mới thật sự khách quan, có giá trị và thực thi có hiệu lực, hiệu quả và bền vững.


1.5. Báo cáo định kỳ hoặc đột xuất về tiến độ thực hiện Kế hoạch kiểm toán , tình hình và kết quả hoạt động kiểm toán


1.5.1. Những nhiệm vụ cơ bản


Theo quy định của KTNN, Trưởng đoàn kiểm toán có trách nhiệm báo cáo định kỳ hoặc đột xuất về tiến độ thực hiện KHKT, tình hình và kết quả hoạt động kiểm toán. Nhiệm vụ này đòi hỏi Trưởng đoàn kiểm toán phải bám sát mọi hoạt động của Đoàn kiểm toán để nắm bắt đầy đủ, toàn diện các diễn biến, tình hình và kết quả kiểm toán cũng như những thuận lợi, khó khăn trong quá trình tổ chức thực hiện nhiệm vụ của Đoàn. Việc nắm bắt đầy đủ, toàn diện, kịp thời giúp cho công tác quản lý, điều hành hoạt động của Đoàn kiểm toán hiệu quả, chất lượng và cũng là nguồn thông tin quan trọng phục vụ cho việc lập các báo cáo định kỳ hoặc đột xuất. Cụ thể:


- Tổng hợp, đánh giá tiến độ và báo cáo tình hình định kỳ: Định kỳ, Trưởng đoàn kiểm toán tổng hợp lập báo cáo định kỳ gửi thủ trưởng đơn vị (Kiểm toán trưởng): Theo quy định hiện tại của KTNN, Trưởng đoàn kiểm toán báo cáo định kỳ 7 ngày cho Kiểm toán trưởng, Kiểm toán trưởng tổng hợp báo cáo Lãnh đạo KTNN định kỳ 10 ngày. Trong trường hợp đặc biệt, tùy thuộc vào tính chất, đặc điểm của cuộc kiểm toán, Lãnh đạo có thể yêu cầu số ngày định kỳ báo cáo ít hơn số này nêu trên. Báo cáo định kỳ về tiến độ thực hiện KHKT, tình hình và kết quả hoạt động kiểm toán phải được phản ánh đầy đủ, kịp thời thông tin phục vụ yêu cầu quản lý; Trưởng đoàn kiểm toán có thể nêu cụ thể những khó khăn, vướng mắc, đề xuất giải pháp và đưa ra các kiến nghị để lãnh đạo xem xét, giải quyết theo chức trách, thẩm quyền.


- Tổng hợp, đánh giá tiến độ và báo cáo những nội dung đột xuất


Trong một số trường hợp, khi thực hiện nhiệm vụ kiểm toán có thể phát sinh những nội dung, vấn đề cấp bách, đặc thù liên quan đến công tác chuyên môn nghiệp vụ, công tác quản lý điều hành Đoàn kiểm toán hoặc trong phối hợp thực hiện nhiệm vụ kiểm toán với đơn vị được kiểm toán và các bên có liên quan… Do chưa đến kỳ báo cáo, trong khi đó yêu cầu giải quyết công việc là cấp bách, cần thiết thì Trưởng đoàn kiểm toán phải tổng hợp lập báo cáo đột xuất về nội dung, vấn đề mới phát sinh. Báo cáo cũng phải được phản ánh đầy đủ, chi tiết thông tin liên quan đến vấn đề cần giải quyết; cần nêu cụ thể những khó khăn, vướng mắc, đề xuất giải pháp và đưa ra các kiến nghị để lãnh đạo xem xét, giải quyết kịp thời.


1.5.2. Kinh nghiệm về việc vận dụng kỹ năng trong việc b áo cáo định kỳ hoặc đột xuất về tiến độ thực hiện Kế hoạch kiểm toán , tình hình và kết quả hoạt động kiểm toán


- Kinh nghiệm về việc lập báo cáo định kỳ phản ánh tình hình công việc


Báo cáo định kỳ là tài liệu chủ yếu phục vụ cho công tác quản lý, điều hành của các cấp lãnh đạo. Đối với Đoàn kiểm toán, Báo cáo định kỳ phục vụ cho công tác quản lý của Thủ trưởng đơn vị chủ trì cuộc kiểm toán và Lãnh đạo KTNN. Tuy không có mẫu biểu hướng dẫn chi tiết cho một báo cáo định kỳ cụ thể, nhưng xuất phát từ mục tiêu quản lý, Báo cáo định kỳ thường phản ánh tình hình hoạt động kiểm toán, thường bao gồm: Tình hình thực hiện nhiệm vụ kiểm toán; tiến độ kiểm toán; kết quả kiểm toán đến thời điểm báo cáo; kế hoạch thực hiện công việc dự kiến; những vướng mắc tồn tại và đề xuất (nếu có)… Lưu ý khi lập báo cáo định kỳ, ngoài những thông tin mang tính cập nhật, phổ biến nêu trên, tùy thuộc vào yêu cầu của lãnh đạo hoặc nhu cầu xin ý kiến chỉ đạo, điều hành của Đoàn kiểm toán mà việc bổ sung thông tin, nội dung, đề xuất trong báo cáo định kỳ có thể điều chỉnh cho thích hợp.


- Kinh nghiệm báo cáo việc xử lý các tình huống đột xuất.


Thông thường, việc báo cáo các tình huống đột xuất chỉ thực hiện khi có những tình huống đặc biệt, cấp bách vì thông thường việc báo cáo định kỳ đã được thực hiện trong phạm vi 7 ngày (có cuộc được áp dụng thời gian báo cáo là 3 ngày chưa kể việc ghi nhật ký hàng ngày của thành viên Đoàn kiểm toán). Vì vậy, để xử lý những công việc đột xuất đảm bảo tính kịp thời, Trưởng đoàn kiểm toán có thể sử dụng điện thoại, công nghệ thông tin (sử dụng hộp thư điện tử của KTNN để đảm bảo bảo mật) để kịp thời báo cáo Lãnh đạo, sau đó thực hiện các thủ tục tiếp theo theo quy định để đảm bảo lưu giữ các bằng chứng kiểm toán và chứng minh việc thực hiện theo trình tự, thủ tục phù hợp quy trình, chuẩn mực của KTNN. Các hình thức báo cáo sau có thể đưa vào báo cáo định kỳ, lập báo cáo riêng hoặc trình theo mẫu Tờ trình xin ý kiến chỉ đạo tại Mẫu số 09/HSKT- KTNN của quy định về hồ sơ của KTNN. Theo đó, Tờ trình xin ý kiến về hoạt động kiểm toán được sử dụng để báo cáo tình hình, kết quả kiểm toán và xin ý kiến chỉ đạo hoạt động kiểm toán của lãnh đạo cấp trên (trực tiếp) trong các trường hợp có những vấn đề phát sinh cần thiết phải có ý kiến chỉ đạo trực tiếp của lãnh đạo cấp trên bằng văn bản (điều chỉnh KHKT; điều chỉnh Tổ kiểm toán, KTVNN; các vấn đề vướng mắc về nghiệp vụ hoặc các vấn đề phức tạp khác phát sinh trong khi thực hiện kiểm toán...).


1.6. T ổ chức thông báo kết quả kiểm toán với đơn vị được kiểm toán


1.6.1. Những nhiệm vụ cơ bản


Theo quy định, Trưởng đoàn kiểm toán có trách nhiệm tổ chức thông báo kết quả kiểm toán đã được Tổng KTNN xét duyệt với đơn vị được kiểm toán. Để phục vụ cho việc tổ chức thông báo kết quả kiểm toán, Trưởng đoàn kiểm toán phải quan tâm thực hiện một số công việc sau:


- Xây dựng kế hoạch thông báo kết quả kiểm toán: Trên cơ sở KHKT, kế hoạch thông báo kết quả kiểm toán với đơn vị được kiểm toán, Trưởng đoàn kiểm toán trao đổi xin ý kiến phê duyệt của Lãnh đạo, phối hợp với đơn vị được kiểm toán và các bên có liên quan xây dựng kế hoạch thông báo kết quả kiểm toán. Kế hoạch thông báo kết quả kiểm toán phải xác định rõ thời gian, địa điểm, thành phần, nội dung chương trình và các điều kiện cần thiết để thực hiện đúng quy định, nghiêm túc, tiết kiệm và hiệu quả.


- Chuẩn bị nội dung, điều kiện thông báo kết quả kiểm toán: Trưởng đoàn kiểm toán làm thủ tục gửi Dự thảo BCKT hoàn thiện sau xét duyệt lấy ý kiến đơn vị được kiểm toán theo quy định của Luật KTNN. Sau khi nhận được ý kiến của đơn vị được kiểm toán, Trưởng đoàn kiểm toán BCKT trưởng đề xuất ý kiến xử lý trình Lãnh đạo KTNN xem xét, quyết định. Để tổ chức thực hiện thông báo kết quả kiểm toán đạt chất lượng, đảm bảo tiến độ và giải quyết toàn diện những vấn đề liên quan đến nội dung kết quả kiểm toán dự kiến thông báo, công tác chuẩn bị phải được thực hiện thật sự chu đáo cả về nội dung và điều kiện, hành phần tham dự kể cả việc đề nghị mời các bên có liên quan tham dự nếu thấy cần thiết. Đặc biệt, những ý kiến của đơn vị được kiểm toán cần được xem xét kỹ lưỡng, có hướng giải quyết rõ ràng để có thể tham mưu cho Lãnh đạo KTNN có kết luận chặt chẽ, dứt điểm, đúng quy định của pháp luật.


- Tổ chức thông báo kết quả kiểm toán theo quy định của Luật và theo yêu cầu quản lý thực tiễn.


Trưởng đoàn kiểm toán kết nối để tổ chức thông báo kết quả theo quy định. Phân công thành viên Đoàn kiểm toán tham dự cuộc họp thông báo kết quả kiểm toán làm thư ký để ghi chép, phản ánh nội dung cuộc họp vào biên bản họp thông báo kết quả kiểm toán theo mẫu quy định của Tổng KTNN.


Trên cơ sở ý kiến kết luận của Tổng KTNN hoặc người được Tổng KTNN ủy quyền tại hội nghị thông báo kết quả kiểm toán với đơn vị được kiểm toán, Trưởng đoàn kiểm toán tiến hành hoàn thiện dự thảo BCKT; lập thông báo kết quả kiểm toán: Trình bày tóm tắt những kết quả kiểm toán chủ yếu và những kiến nghị được trình bày trong BCKT (đã được hoàn thiện theo kết luận của Tổng KTNN) đối với đơn vị được kiểm toán và đối với đơn vị khác có liên quan.


1.6.2. Kinh nghiệm về việc vận dụng kỹ năng trong t ổ chức thông báo kết quả kiểm toán với đơn vị được kiểm toán


Trong quá trình thông báo kết quả kiểm toán có thể phát sinh những vấn đề ngoài dự kiến hoặc ngoài kế hoạch thông báo kết quả kiểm toán. Để đối phó với những tình huống này, Trưởng đoàn kiểm toán cần có sự chuẩn bị chu đáo về nội dung, điều kiện thông báo kết quả kiểm toán để tránh xảy ra các sự cố phát sinh từ lý do chủ quan từ công tác chuẩn bị, từ nội dung và điều kiện từ phái Đoàn kiểm toán. Tiếp sau đó, Trưởng đoàn kiểm toán cần chủ động nắm bắt định hướng, chỉ đạo của Lãnh đạo KTNN đối với ý kiến của đơn vị được kiểm toán về Dự thảo BCKT; trao đổi với đơn vị được kiểm toán để hiểu biết về những dự kiến đơn vị sẽ đề xuất, có ý kiến hoặc khiếu nại về những vấn đề về nội dung, kết quả kiểm toán và các vấn đề có liên quan để chuẩn bị phương án ứng xử phù hợp. Liên quan đến nội dung thông báo kết quả kiểm toán, cần chuẩn bị chu đáo hồ sơ, tài liệu, bằng chứng và chuẩn bị sẵn các lập luận nhằm bảo vệ kết quả kiểm toán cũng như quan điểm xử lý của Đoàn kiểm toán. Trường hợp gặp những phản hồi hoặc những phát sinh ngoài dự kiến, Trưởng đoàn kiểm toán cần bình tĩnh để ứng xử phù hợp trên nguyên tắc đúng mực, tuân thủ quy định và sẵn sàng tiếp thu với mục tiêu kết quả kiểm toán khi thông được phát hành chính thức đảm bảo đã được thực hiện theo đúng quy trình, chuẩn mực, áp dụng phù hợp quy định của pháp luật, hướng tới mục tiêu xây dựng và phát triển chung.


1.7. Kiểm soát chất lượng kiểm toán của Đoàn kiểm toán


1.7.1. Những nhiệm vụ cơ bản


KSCLKT của Đoàn kiểm toán nhằm đảm bảo việc tổ chức thực hiện KHKT của cuộc kiểm toán và các tác nghiệp kiểm toán tuân thủ pháp luật, tuân thủ các chính sách, chế độ kiểm toán, các quy định về KSCLKT; phát hiện và xử lý kịp thời những vi phạm, hạn chế tồn tại trong hoạt động tác nghiệp kiểm toán; đảm bảo chất lượng kiểm toán và chất lượng BCKT.


Theo quy định, KSCLKT của Đoàn kiểm toán là các hoạt động tác nghiệp của Đoàn kiểm toán trong giai đoạn thực hiện kiểm toán và giai đoạn lập và gửi BCKT. Đối tượng KSCLKT của Đoàn kiểm toán là hoạt động tổ chức, thực hiện tác nghiệp kiểm toán của Đoàn kiểm toán, Tổ kiểm toán và các thành viên của Đoàn kiểm toán. Cụ thể:


- Kiểm soát theo quá trình: Kiểm soát trong giai đoạn thực hiện kiểm toán và giai đoạn lập và gửi BCKT:


KSCLKT của Trưởng đoàn kiểm toán nhằm đảm bảo thành viên Đoàn kiểm toán tuân thủ Luật KTNN, các chuẩn mực kiểm toán, quy trình kiểm toán, Quy chế Tổ chức và hoạt động Đoàn kiểm toán và các quy định có liên quan đến hoạt động kiểm toán và KSCLKT; đảm bảo chất lượng của biên bản kiểm toán, BCKT và chất lượng của cuộc kiểm toán. Theo đó: Trưởng đoàn kiểm toán thực hiện kiểm tra, phê duyệt KHKT chi tiết và KHKT chi tiết điều chỉnh (nếu có) của Tổ kiểm toán; Thực hiện kiểm soát các nội dung theo quy định tại Quy chế KSCLKT trong giai đoạn thực hiện kiểm toán; Thực hiện kiểm tra, xét duyệt các biên bản kiểm toán của Tổ kiểm toán; Kiểm tra, soát xét việc lập và gửi BCKT đối với những nội dung liên quan đến trách nhiệm của Trưởng đoàn kiểm toán trong lập và gửi BCKT theo quy định của Luật KTNN và của KTNN.


- Kiểm soát chất lượng thông qua đánh giá, phân loại kết quả kiểm toán: Trưởng đoàn kiểm toán căn cứ tiêu chí, thang điểm đánh giá và tiêu chuẩn xếp loại chất lượng thành viên Đoàn kiểm toán, Tổ KTNN và Đoàn kiểm toán để chấm điểm, đánh giá, xếp loại chất lượng kiểm toán của Thành viên Đoàn kiểm toán, các Tổ KTNN và đề ra các giải pháp quản lý, điều hành nhằm nâng cao chất lượng công tác kiểm toán. Trường hợp thông qua đánh giá, xếp loại phát hiện những tấm gương điển hình về kết quả kiểm toán đã phát hiện có thể xem xét đề xuất khen thưởng. Ngược lại, đối với những trường hợp cho thấy do năng lực, trình độ hoặc các lý do khác của thành viên Đoàn kiểm toán, Tổ KTNN làm giảm hoặc không đạt chất lượng kiểm toán, Trưởng đoàn kiểm toán có trách nhiệm sử dụng các giải pháp phù hợp để cải thiện tình hình hoặc có thể thay thế thành viên Đoàn kiểm toán theo quy định của pháp luật và của KTNN.


- Kiểm soát thông qua các biện pháp, giải pháp khác: Trưởng đoàn kiểm toán có thể sử dụng một số biện pháp, giải pháp khác để kiểm soát hoạt động của Đoàn kiểm toán. Điển hình như tổ chức kiểm tra, kiểm soát chéo; đặt hàng giải quyết các công việc cụ thể; yêu cầu báo cáo giải trình…Trưởng đoàn kiểm toán cũng có thể phối hợp với đơn vị được kiểm toán có cơ chế kiểm soát, giám sát những hành vi tiêu cực song trùng và minh bạch hóa thông tin để nâng cao chất lượng hoạt động kiểm soát cũng như chất lượng công tác kiểm toán.


1.7.2. Kinh nghiệm về việc vận dụng kỹ năng trong kiểm soát chất lượng kiểm toán của Đoàn kiểm toán


- Kinh nghiệm về việc xử lý theo thẩm quyền ngay khi phát hiện các sai sót, hạn chế trong hoạt động kiểm toán


Khi phát hiện các sai sót, hạn chế trong hoạt động kiểm toán; Trưởng đoàn kiểm toán phải kịp thời tìm mọi biện pháp để khắc phục sao cho việc giải quyết kịp thời, chất lượng và hiệu quả. Tùy thuộc vào tính chất, quy mô, mức độ, nguyên nhân của các sai sót, hạn chế trong hoạt động kiểm toán mà Trưởng đoàn kiểm toán quyết định lựa chọn giải pháp xử lý tối ưu nhất. Việc giải quyết cần xem xét toàn diện, trong trường hợp cần thiết có thể đưa ra thảo luận trong nội bộ để phát huy trí tuệ tập thể, qua đó có giải pháp giải quyết hiệu quả, hợp tình hợp lý những sai sót, hạn chế đã xác định.


- Kinh nghiệm về việc chỉ đạo thu thập, quản lý bằng chứng kiểm toán


Bằng chứng kiểm toán: Là tài liệu, thông tin do kiểm toán viên nhà nước thu thập được liên quan đến cuộc kiểm toán làm cơ sở cho việc đánh giá, xác nhận, kết luận và kiến nghị kiểm toán. Bằng chứng kiểm toán bao gồm những tài liệu, thông tin chứa đựng trong các tài liệu, sổ kế toán, kể cả BCTC và những tài liệu, thông tin khác.


Trưởng đoàn kiểm toán có trách nhiệm xác định và chỉ đạo thực hiện các thủ tục kiểm toán phù hợp với từng hoàn cảnh của cuộc kiểm toán nhằm thu thập đầy đủ bằng chứng thích hợp để đưa ra các kết luận hợp lý làm cơ sở hình thành ý kiến kiểm toán, theo đó phải xem xét tính phù hợp và độ tin cậy của thông tin được sử dụng làm bằng chứng kiểm toán. Độ tin cậy của bằng chứng kiểm toán phụ thuộc vào nguồn gốc, nội dung của bằng chứng kiểm toán và hoàn cảnh cụ thể mà KTVNN thu thập được bằng chứng.


Trong quá trình thu thập bằng chứng kiểm toán, Trưởng đoàn kiểm toán luôn chỉ đạo, điều hành và thực hiện thu thập bằng chứng kiểm toán để đảm bảo tính đầy đủ và thích hợp. Tính đầy đủ là tiêu chuẩn đánh giá về số lượng của bằng chứng kiểm toán, còn tính thích hợp là tiêu chuẩn đánh giá về chất lượng của các bằng chứng kiểm toán. Theo đó: Tính đầy đủ và thích hợp của bằng chứng kiểm toán có mối liên hệ tương quan. Số lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập chịu ảnh hưởng bởi đánh giá của thành viên Đoàn kiểm toán đối với rủi ro có sai sót trọng yếu của BCTC và chất lượng của mỗi bằng chứng kiểm toán. Rủi ro được đánh giá ở mức độ càng cao thì thường cần nhiều bằng chứng kiểm toán, chất lượng của mỗi bằng chứng kiểm toán càng cao thì có thể cần ít bằng chứng kiểm toán hơn. Tuy nhiên, nhiều bằng chứng kiểm toán được thu thập không có nghĩa là chất lượng bằng chứng kiểm toán được đảm bảo.


Khi đã thấm nhuần sâu sắc những nguyên tắc trên, việc thu thập bằng chứng kiểm toán sẽ đảm bảo chất lượng, hiệu quả, trợ giúp cho việc bảo vệ kết quả kiểm toán, phục vụ giải quyết tranh chấp (nếu có) và bảo vệ quyền lợi hợp pháp về nghề nghiệp cho KTVNN, thành viên của Đoàn kiểm toán.


- Kinh nghiệm về việc kiểm soát sự tuân thủ các quy định về đạo đức nghề nghiệp của các thành viên Đoàn kiểm toán.


Sự độc lập, quyền hạn và trách nhiệm của KTNN đặt ra yêu cầu cao về đạo đức đối với KTNN, KTVNN và các nhân sự khác tham gia vào hoạt động kiểm toán của KTNN. Những quy định về đạo đức nghề nghiệp được xây dựng phù hợp với những quy định, yêu cầu chung về đạo đức của công chức nhà nước và đặc thù nghề nghiệp kiểm toán. Trong hoàn cảnh cụ thể, Trưởng đoàn kiểm toán có trách nhiệm giữ gìn tính độc lập bằng cách xem xét hoàn cảnh thực tế của các nguy cơ ảnh hưởng đến tính độc lập và áp dụng các biện pháp bảo vệ để loại bỏ hoặc làm giảm các nguy cơ xuống mức có thể chấp nhận được. Có thể sử dụng 2 biện pháp bảo vệ: (i) Sử dụng các biện pháp bảo vệ do pháp luật và chuẩn mực nghề nghiệp quy định; (ii) Tạo ra môi trường làm việc và các biện pháp, kỹ thuật cụ thể nhằm loại bỏ các nguy cơ ảnh hưởng đến tính độc lập của KTVNN trong quá trình thực hiện kiểm toán.


- Kinh nghiệm vận dụng các kỹ năng cụ thể khác.


Trong điều hành và kiểm soát hoạt động của Đoàn kiểm toán, Trưởng đoàn kiểm toán có trách nhiệm lựa chọn một hoặc một số phương pháp kiểm soát, điển hình như: Phương pháp giám sát; phương pháp soát xét, thẩm định tài liệu; phương pháp xác nhận, đối chiếu; phương pháp kiểm toán lại; phương pháp chuyên gia (phương pháp chuyên gia sử dụng trong các trường hợp công việc kiểm soát liên quan đến chuyên môn sâu vượt quá tầm hiểu biết của công chức làm nhiệm vụ kiểm soát). Lưu ý, trường hợp xét đoán cho rằng dấu hiệu: (i) Có nhiều nghi vấn về tính đúng đắn, trung thực, khách quan của kết quả kiểm toán; (ii) Bằng chứng kiểm toán chưa rõ ràng, thiếu sức thuyết phục; (iii) Có nhiều ý kiến khác nhau hoặc có tranh chấp về các kết luận, kiến nghị kiểm toán cần xem xét cải tiến một nội dung hoặc cảm thấy thiếu tin tưởng vào số nội dung, vấn đề...Trưởng đoàn kiểm toán có thể áp dụng phương pháp kiểm toán lại. Theo đó, phương pháp kiểm toán lại là việc áp dụng các phương pháp, thủ tục kiểm toán phù hợp trong quá trình KSCLKT để kiểm tra, đánh giá lại kết quả, kết luận, kiến nghị kiểm toán của KTVNN, của Tổ kiểm toán và của Đoàn kiểm toán. Phương pháp kiểm toán lại áp dụng trong KSCLKT không phải là thực hiện kiểm toán lại cuộc kiểm toán với quyết định kiểm toán mới và Đoàn kiểm toán, Tổ kiểm toán mới. Tùy theo tính chất sự việc có thể áp dụng phương pháp kiểm toán lại đối với một phần hoặc toàn bộ nội dung kiểm toán đã thực hiện.


1.8. Giải quyết khiếu nại


1.8.1. Những nhiệm vụ cơ bản


Trường hợp có khiếu nại phải giải quyết, Trưởng đoàn kiểm toán cần xác định những khiếu nại này có thuộc trách nhiệm phải giải quyết của KTNN và của Đoàn kiểm toán hay không trước khi thực hiện giải quyết khiếu nại. Nếu thuộc về khiếu nại kiểm toán, để giải quyết vấn đề khiếu nại, Trưởng đoàn kiểm toán cần:


- Đưa ra chứng cứ để chứng minh về kết quả thực hiện của Đoàn kiểm toán về nội dung khiếu nại.


- Cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung khiếu nại: Trưởng đoàn kiểm toán phải cung cấp đầy đủ hồ sơ, tài liệu, bằng chứng có liên quan để chuẩn bị giải trình, tham mưu giải quyết vấn đề bị khiếu nại.


- Giải trình về tính hợp pháp, đúng đắn của các đánh giá, xác nhận, kết luận, kiến nghị: Trưởng đoàn kiểm toán có trách nhiệm chỉ đạo, phối hợp với các thành viên, bộ phận thuộc Đoàn kiểm toán có liên quan chuẩn bị nội dung phản biện về vấn đề bị khiếu nại. Theo đó, tập trung giải trình về tính hợp pháp, đúng đắn của các đánh giá, xác nhận, kết luận, kiến nghị. Những tài liệu, hồ sơ, bằng chứng đã có trước đó và tài liệu bằng chứng trong quá trình giải trình phải được lưu trữ làm cơ sở giải quyết khiếu nại cũng như xác định trách nhiệm của tập thể, cá nhân liên quan (nếu có).


- Dự kiến phương án sửa đổi hoặc hủy bỏ đánh giá, xác nhận, kết luận, kiến nghị nếu việc kiểm tra, rà soát, xác định cho thấy vấn đề khiếu nại là đúng đắn mà Đoàn kiểm toán có trách nhiệm sửa đổi, hủy bỏ những kết luận, kiến nghị đã nêu.


- Tổ chức kiểm điểm trách nhiệm và có những giải pháp khắc phục tồn tại trên nguyên tắc hiệu quả, hiệu lực và đảm bảo hạnh chế tối đa những hậu quả của vấn đề dẫn đến khiếu nại.


1.8.2. Kinh nghiệm về việc vận dụng kỹ năng trong giải quyết khiếu nại


- Kinh nghiệm về việc lưu trữ hồ sơ, tài liệu. Trưởng đoàn kiểm toán có trách nhiệm chỉ đạo, điều hành việc lập tài liệu, hồ sơ kiểm toán một cách đầy đủ, kịp thời theo quy định ngay khi công việc kiểm toán được thực hiện. Việc lập các tài liệu kiểm toán kịp thời, đầy đủ, thích hợp giúp nâng cao chất lượng của cuộc kiểm toán, tạo điều kiện thuận lợi cho việc soát xét một cách hiệu quả và việc đánh giá các bằng chứng kiểm toán đã thu thập để đưa ra kết luận trước khi hoàn thành công việc kiểm toán và lập BCKT. Về yêu cầu lập hồ sơ, tài liệu cần chú trọng lập đầy đủ tài liệu kiểm toán sao cho KTVNN có kinh nghiệm không tham gia cuộc kiểm toán dựa vào hồ sơ kiểm toán có thể hiểu được: (1) Nội dung, lịch trình và phạm vi các thủ tục kiểm toán đã thực hiện và đã tuân thủ các chuẩn mực KTNN, yêu cầu của pháp luật và các quy định có liên quan; (2) Kết quả của các thủ tục kiểm toán đã thực hiện và bằng chứng kiểm toán đã thu thập; (3) Các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm toán, các xét đoán chuyên môn quan trọng được thực hiện, quá trình hình thành các ý kiến, kết luận và kiến nghị kiểm toán.


Với hồ sơ, tài liệu được thu thập, quản lý, lưu trữ đầy đủ sẽ phục vụ tốt cho công tác giải quyết khiếu nại (nếu có). Do việc lưu trữ hồ sơ được thực hiện theo các bước của quy trình kiểm toán và thể hiện đầy đủ theo các nội dung trên nên việc xác định tồn tại, vướng mắc liên quan đến khiếu nại cần giải quyết cũng rất thuận lợi, nhanh chóng.


- Kinh nghiệm về việc soạn thảo văn bản. Kinh nghiệm soạn thảo văn bản: Do phần lớn các văn bản do Đoàn kiểm toán phát hành hoặc tham mưu để KTNN phát hành; các BBKT, BCKT đều có giá trị hiệu lực hành chính, thậm chí là có hiệu lực pháp luật cá biệt… Vì vậy, ngoài việc chú trọng vào nội dung văn bản, Trưởng đoàn kiểm toán phải thực hiện hoặc chỉ đạo, chỉnh sửa, phê duyệt văn bản đáp ứng các yêu cầu sau: Nội dung phải sáng rõ, không đa nghĩa, văn phạm phải soạn thảo theo thể thức văn phong hành chính…theo quy định về thể thức, trình bày văn bản hành chính, văn bản quy định của Chính phủ và cá văn bản hướng dẫn thực hiện.


Đối với văn bản liên quan đến giải quyết khiếu nại, tùy nội dung khiếu nại mà Trưởng đoàn kiểm toán thực hiện hoặc chỉ đạo, chỉnh sửa, phê duyệt văn bản giải quyết khiếu nại phù hợp. Quan trọng là phải tập trung để trả lời vấn đề khiếu nại và đưa ra lập luận, cơ sở để làm rõ, trả lời khiếu nại. Trường hợp không đủ cơ sở, bằng chứng kiểm toán để giải quyết khiếu nại mà cần bổ sung thêm hồ sơ tài liệu từ thành viên Đoàn kiểm toán, Tổ kiểm toán hoặc từ đơn vị được kiểm toán, cơ quan chủ quản, cơ quan quản lý nhà nước hoặc tổ chức, cá nhân có liên quan… Trưởng đoàn kiểm toán căn cứ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền để thực hiện yêu cầu hoặc trình cấp có thẩm quyền yêu cầu/đề nghị các bên có liên quan cung cấp thông tin, bằng chứng, hồ sơ tài liệu bổ sung để giải quyết khiếu nại kịp thời, đúng quy định.


- Kinh nghiệm trong giải quyết khiếu nại. Trưởng đoàn kiểm toán cần chủ động kiểm soát kết quả kiểm toán ngay từ khâu lập KHKT, thực hiện kiểm toán, thu thập bằng chứng, lập BCKT và thông báo kết quả kiểm toán với đơn vị để đảm bảo kết quả kiểm toán đảm bảo chất lượng, có tính khả thi cao, hạn chế tối thiểu những sai sót, tồn tại có thể xảy ra. Đối với những kết quả kiểm toán ở các nội dung còn có ý kiến khác nhau; nội dung chưa nhận được sự đồng thuận cao của đơn vị được kiểm toán hoặc còn có những vướng mắc, vấn đề cần lưu ý,…Trưởng đoàn kiểm toán cần chỉ đạo thu thập thêm thông tin, hồ sơ, tài liệu, bằng chứng để giải quyết khiếu nại ngay trong quá trình kiểm toán (nếu có). Đặc biệt, việc thu thập bằng chứng bổ sung để lưu trữ dự phòng cho những vấn đề phát sinh sau khi kết thúc cuộc kiểm toán rất quan trọng. Khi chủ động thu thập, lưu giữ đầy đủ và có thêm dự phòng bằng chứng kiểm toán sẽ giúp cho việc giải quyết những khiếu nại cả trong và sau quá trình kiểm toán thuận lợi, hiệu quả và hạn chế những rủi ro cho Đoàn, Tổ kiểm toán và thành viên Đoàn kiểm toán.


2. KINH NGHIỆM VỀ VẬN DỤNG CÁC KỸ NĂNG MỀM TRONG THỰC TIỄN XỬ LÝ CÔNG VIỆC CỦA TRƯỞNG ĐOÀN KIỂM TOÁN GẮN VỚI CÁC MỐI QUAN HỆ


2.1. Khái quát về mối quan hệ công việc của Trưởng đoàn kiểm toán


2.1.1. Mối quan hệ công công việc của Trưởng đoàn kiểm toán với Lãnh đạo Kiểm toán nhà nước


Theo quy định hiện hành, Tổng KTNN chỉ định Trưởng đoàn kiểm toán theo đề nghị của Thủ trưởng đơn vị chủ trì cuộc kiểm toán. Trường hợp cần thiết, Tổng KTNN tự quyết định Trưởng đoàn kiểm toán. Trưởng đoàn kiểm toán chủ trì khảo sát, xây dựng, trình Thủ trưởng đơn vị chủ trì cuộc kiểm toán để trình Tổng KTNN phê duyệt KHKT của cuộc kiểm toán và BCKT. Trưởng đoàn kiểm toán sẽ có mối liên hệ về chỉ đạo trực tiếp hoặc gián tiếp từ lãnh đạo KTNN thông qua thủ trưởng đơn vị chủ trì cuộc kiểm toán.


Trưởng đoàn kiểm toán phải chịu trách nhiệm trước Tổng KTNN về hoạt động của Đoàn kiểm toán, ý kiến bảo lưu của mình và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính đúng đắn, trung thực, khách quan của các ý kiến nhận xét, đánh giá, xác nhận, kết luận và kiến nghị trong BCKT.


Trong hoạt động kiểm toán, Trưởng đoàn kiểm toán phải giữ mối quan hệ thường xuyên với lãnh đạo KTNN phụ trách qua đơn vị chủ trì cuộc kiểm toán, đặc biệt là chế độ thông tin, báo cáo; cùng với thủ trưởng đơn vị được kiểm toán báo cáo thường xuyên, định kỳ, đột xuất kịp thời về hoạt động của Đoàn kiểm toán với lãnh đạo KTNN; giải trình, tiếp thu các ý kiến kết luận của Tổng KTNN (hoặc người được ủy quyền) về KHKT, BCKT tại các cuộc họp xét duyệt KHKT, BCKT. Trong thực tế có trường hợp lãnh đạo KTNN chỉ đạo trực tiếp Trưởng đoàn kiểm toán, khi xảy ra trường hợp này, Trưởng đoàn kiểm toán sẽ báo cáo lại thông tin cho thủ trưởng đơn vị được kiểm toán để biết và chỉ đạo kịp thời. Trong trường hợp phát hiện dấu hiệu sai phạm lớn, các sai phạm có dấu hiệu hình sự, Trưởng đoàn, Kiểm toán trưởng phải báo cáo kịp thời với Tổng KTNN để chỉ đạo làm rõ, xử lý; thực hiện báo cáo tóm tắt cho Tổng KTNN trước khi xét duyệt BCKT.


Trong quá trình xét duyệt BCKT, Tổng KTNN có quyền yêu cầu Trưởng đoàn kiểm toán báo cáo, giải trình, làm rõ những vấn đề cần thiết liên quan đến cuộc kiểm toán.


Ngoài ra, Trưởng đoàn kiểm toán được đề nghị Thủ trưởng đơn vị chủ trì cuộc kiểm toán kiến nghị Tổng KTNN quyết định kiểm tra tài khoản của đơn vị được kiểm toán hoặc cá nhân có liên quan tại tổ chức tín dụng hoặc Kho bạc nhà nước theo quy định của pháp luật; niêm phong tài liệu của đơn vị được kiểm toán khi có hành vi vi phạm pháp luật hoặc có hành vi sửa đổi, chuyển dời, cất giấu, tiêu hủy tài liệu có liên quan đến nội dung kiểm toán; báo cáo Thủ trưởng đơn vị chủ trì cuộc kiểm toán đề nghị Tổng KTNN kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý đối với hành vi vi phạm pháp luật của đơn vị được kiểm toán.


2.1.2. Mối quan hệ công việc của Trưởng đoàn kiểm toán với các đơn vị tham mưu.


Trưởng đoàn kiểm toán giữ mối quan hệ phối hợp chặt chẽ, thường xuyên về hướng dẫn, tư vấn, giải trình các ý kiến của các vụ tham mưu trong công tác tham mưu cho lãnh đạo KTNN xét duyệt KHKT, hoàn thiện KHKT, xét duyệt dự thảo BCKT, hoàn thiện dự thảo BCKT và phát hành BCKT, cụ thể: Giải trình, tiếp thu hoàn thiện KHKT, BCKT theo nội dung thông báo kết luận của Tổng KTNN tại cuộc họp xét duyệt KHKT, BCKT của Tổng KTNN (Ý kiến của lãnh đạo KTNN; Báo cáo kết quả thẩm định KHKT của Vụ Tổng hợp; Vụ CĐ&KSCLKT Vụ Pháp chế)… Trưởng đoàn tổ chức báo cáo kết quả định kỳ, đột xuất; gửi KHKT chi tiết sau khi duyệt trước khi ban hành quyết định kiểm toán; gửi KHKT chính thức, BCKT cho các vụ tham mưu theo quy định.


2.1.3. Mối quan hệ của Trưởng đoàn kiểm toán với Thủ trưởng đơn vị chủ trì cuộc kiểm toán


Trưởng đoàn kiểm toán chịu sự chỉ đạo, quản lý trực tiếp của thủ trưởng đơn vị chủ trì cuộc kiểm toán và chịu trách nhiệm trước Thủ trưởng đơn vị chủ trì cuộc kiểm toán về hoạt động của Đoàn kiểm toán. Đồng thời Trưởng đoàn kiểm toán chịu trách nhiệm trước thủ trưởng đơn vị trong việc tổ chức lập KHKT trình Thủ trưởng đơn vị thẩm định, xét duyệt; chịu trách nhiệm về tính đúng đắn, trung thực của thông tin, số liệu trong KHKT và tính hợp pháp của hồ sơ, tài liệu kèm theo KHKT.


Trưởng đoàn kiểm toán phải thực hiện bổ sung, chỉnh sửa, hoàn thiện KHKT theo nội dung kết luận của thủ trưởng đơn vị hoặc người được thủ trưởng đơn vị ủy quyền tại cuộc họp xét duyệt KHKT của thủ trưởng đơn vị và lập hồ sơ trình Tổng KTNN xét duyệt KHKT.


Trưởng đoàn kiểm toán tuân thủ sự chỉ đạo của Thủ trưởng đơn vị chủ trì cuộc kiểm toán trong việc thực hiện bổ sung, chỉnh sửa, hoàn thiện KHKT theo nội dung kết luận của thủ trưởng đơn vị hoặc người được thủ trưởng đơn vị ủy quyền tại cuộc họp xét duyệt KHKT, BCKT của thủ trưởng đơn vị; phối hợp thực hiện giải trình, tiếp thu các ý kiến kết luận của Tổng KTNN (hoặc người được ủy quyền), các ý kiến tham gia của các Vụ tham mưu về KHKT (của Vụ Tổng hợp, Vụ CĐ&KSCLKT), BCKT (của Vụ Tổng hợp, Vụ CĐ&KSCLKT, Vụ Pháp chế) tại các cuộc họp xét duyệt KHKT, BCKT.


Trong hoạt động kiểm toán, Trưởng đoàn kiểm toán phải tuân thủ sự chỉ đạo, kiểm tra, giám sát, thực hiện chế độ thông tin, báo cáo theo yêu cầu của Thủ trưởng đơn vị chủ trì cuộc kiểm toán; phối hợp cùng với thủ trưởng đơn vị chủ trì cuộc kiểm toán báo cáo trực tiếp với lãnh đạo KTNN các vấn đề đột xuất hoặc theo yêu cầu của lãnh đạo KTNN. Trưởng đoàn báo cáo kịp thời thủ trưởng đơn vị chủ trì cuộc kiểm toán các nội dung Đoàn kiểm toán còn có ý kiến khác nhau; chưa thống nhất; lập kế hoạch đối chiếu với bên thứ 3, đối chiếu thuế.


Khi cần thay đổi nội dung ghi trong quyết định kiểm toán, KHKT của cuộc kiểm toán, Trưởng đoàn kiểm toán báo cáo Thủ trưởng đơn vị chủ trì cuộc kiểm toán bằng văn bản để trình Tổng KTNN xem xét, quyết định.


Hiện nay theo quy định hiện hành, Tổng KTNN phân cấp, ủy quyền cho Thủ trưởng đơn vị được giao nhiệm vụ chủ trì cuộc kiểm toán, Trưởng đoàn kiểm toán trong trường hợp cần thiết được điều chỉnh thời gian kiểm toán tại các đơn vị được kiểm toán do Tổ kiểm toán thực hiện mà không làm tăng, giảm thời gian kiểm toán của cuộc kiểm toán hoặc điều chuyển nhân sự giữa các Tổ kiểm toán trong Đoàn kiểm toán và chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Sau khi quyết định điều chỉnh thời gian hoặc nhân sự Tổ kiểm toán, Thủ trưởng đơn vị được giao nhiệm vụ chủ trì cuộc kiểm toán có trách nhiệm báo cáo Lãnh đạo KTNN phụ trách và thông báo tới Vụ Tổng hợp, Vụ CĐ&KSCLKT biết để kiểm soát.


Trưởng đoàn kiểm toán phải kịp thời báo cáo thủ trưởng đơn vị các vấn đề phát sinh trước, trong và sau hoạt động kiểm toán, cụ thể: Báo cáo kịp thời và đầy đủ khi có trường hợp quy định tại Điều 7, Điều 8 Quy chế tổ chức và hoạt động của Đoàn kiểm toán ban hành theo Quyết định số 01/2016/QĐ-KTNN ngày 20/6/2016 và các tình huống khác ảnh hưởng đến tính độc lập của KTVNN; trường hợp thành viên Đoàn kiểm toán có vi phạm hoặc không thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm được giao để có biện pháp xử lý phù hợp; việc thực hiện kiểm toán đối với trường hợp ở nước ngoài hoặc không tổ chức kiểm toán tại nước ngoài nhưng cần xác minh nội dung kiểm toán; Trưởng đoàn trình thủ trưởng đơn vị chủ trì cuộc kiểm toán xem xét quyết định điều chỉnh KHKT theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Quy chế tổ chức và hoạt động của Đoàn kiểm toán ban hành theo Quyết định số 01/2016/QĐ-KTNN ngày 20/6/2016 hoặc đề nghị thủ trưởng đơn vị chủ trì cuộc kiểm toán trình Tổng KTNN quyết định điều chỉnh KHKT theo quy định tại khoản 1 Điều 4 Quy chế tổ chức và hoạt động của Đoàn kiểm toán ban hành theo Quyết định số 01/2016/QĐ-KTNN ngày 20/6/2016; trường hợp cần xác minh, điều tra, đối chiếu ngoài phạm vi của KHKT; kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý đối với hành vi vi phạm pháp luật của đơn vị được kiểm toán; cung cấp kịp thời, đầy đủ tài liệu, bằng chứng liên quan đến nội dung kiến nghị và phương án trả lời về Vụ Tổng hợp, Vụ Chế độ và KSCLKT và Vụ Pháp chế khi có đề nghị theo sự chỉ đạo của Thủ trưởng đơn vị chủ trì cuộc kiểm toán.


2.1.4. Mối quan hệ công việc của Trưởng đoàn kiểm toán với Tổ tưởng Tổ kiểm toán, Kiểm toán viên nhà nước và các đối tượng khác có liên quan.


Trưởng đoàn kiểm toán thực hiện quản lý, chỉ đạo, điều hành, giám sát toàn diện về tất cả mọi mặt đối với tất cả thành viên Đoàn kiểm toán trong thời gian thực hiện nhiệm vụ kiểm toán. Đồng thời phải chịu trách nhiệm liên đới về hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động kiểm toán của Tổ trưởng Tổ kiểm toán, KTVNN và các đối tượng khác có liên quan.


Quá trình tổ chức, điều hành thực hiện KHKT của Trưởng đoàn kiểm được thực hiện thông qua một số nội dung sau: Phổ biến Quyết định kiểm toán, KHKT đã được ban hành, Quy chế tổ chức và hoạt động của Đoàn kiểm toán để các thành viên Đoàn kiểm toán nắm vững và hiểu thống nhất về mục tiêu, yêu cầu, nội dung, phạm vi và thời hạn tiến hành cuộc kiểm toán; chỉ đạo, phân công nhiệm vụ cho Tổ trưởng Tổ kiểm toán, KTVNN, các đối tượng khác có liên quan thuộc Đoàn kiểm toán tham gia lập Dự thảo BCKT hoàn thiện Dự thảo BCKT; chỉ đạo, điều hành Đoàn kiểm toán thực hiện kiểm toán theo KHKT đã được phê duyệt; quy định, thống nhất trong Đoàn kiểm toán về yêu cầu Tổ trưởng Tổ kiểm toán và các thành viên Đoàn kiểm toán (Báo cáo định kỳ hoặc đột xuất) báo cáo kết quả kiểm toán (về tiến độ thực hiện KHKT, tình hình và kết quả kiểm toán); yêu cầu Tổ trưởng Tổ kiểm toán, thành viên Đoàn kiểm toán giải trình các vấn đề có liên quan đến công tác của Tổ kiểm toán; chỉ đạo các thành viên Đoàn kiểm toán phối hợp với các bộ phận có liên quan tại đơn vị trong việc chuẩn bị các điều kiện vật chất cần thiết cho cuộc kiểm toán; phê duyệt KHKT chi tiết; ban hành các văn bản chỉ đạo, phân công; giải quyết các nội dung thành viên Tổ kiểm toán chưa thống nhất trong xử lý kết quả kiểm toán.


Trưởng đoàn kiểm toán phải thực hiện kiểm tra, giám sát việc thực hiện Quy chế tổ chức và hoạt động của Đoàn kiểm toán, chuẩn mực kiểm toán, quy trình, phương pháp chuyên môn, nghiệp vụ kiểm toán, ghi chép và lưu trữ, bảo quản hồ sơ kiểm toán và thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, soát xét của lãnh đạo Đoàn kiểm toán theo quy định của Quy chế Kiểm soát chất lượng kiểm toán của Tổng KTNN đối với các Tổ kiểm toán và các thành viên Đoàn kiểm tra; xem xét giải quyết ý kiến bảo lưu của Tổ trưởng Tổ kiểm toán, KTVNN.


2.1.5. Mối quan hệ công việc của Trưởng đoàn kiểm toán với đơn vị được kiểm toán


Trong hoạt động kiểm toán Trưởng đoàn kiểm toán cần có sự phối hợp với đơn vị được kiểm toán trong việc tổ chức hoạt động kiểm toán, cụ thể:


- Phối hợp tổ chức hội nghị để công bố quyết định kiểm toán, hội nghị thông báo kết quả kiểm toán (theo thời gian, địa điểm, thành phần, trình tự và nội dung);


- Yêu cầu (đề nghị) đơn vị được kiểm toán cung cấp thông tin, tài liệu cần thiết và giải trình các vấn đề có liên quan đến nội dung kiểm toán; yêu cầu kiểm kê tài sản, đối chiếu công nợ của đơn vị được kiểm toán liên quan đến nội dung kiểm toán;


- Tổ chức hoạt động kiểm toán phải đảm bảo không cản trở, can thiệp trái pháp luật vào hoạt động bình thường của đơn vị được kiểm toán;


- Đảm bảo bí mật về thông tin, kết quả kiểm toán khi chưa được công bố chính thức;


- Phúc đáp các ý kiến của đơn vị được kiểm toán và đơn vị có liên quan về KHKT, về các vấn đề giải trình, bổ sung đối với nội dung trong dự thảo BCKT.


Bên cạnh đó trong quá trình thực hiện nhiệm vụ Trưởng đoàn kiểm toán phải có thái độ ứng xử văn hoá, lắng nghe, tôn trọng, lịch thiệp, thiện chí; ngôn ngữ giao tiếp phải rõ ràng, mạch lạc với đơn vị được kiểm toán. Đặc biệt không được lợi dụng danh nghĩa Trưởng đoàn kiểm toán của KTNN để thực hiện hành vi trái pháp luật như: Nhận tiền, tài sản, lợi ích vật chất hoặc lợi ích tinh thần nhằm vụ lợi; không sách nhiễu, gây khó khăn, phiền hà cho đơn vị được kiểm toán; không dùng phương tiện, tài sản của đơn vị được kiểm toán vì nhu cầu cá nhân; không gợi ý, đề nghị được ưu đãi hoặc thiên vị cho những người quen thân trong quan hệ với đơn vị được kiểm toán và quan hệ khác.


2.2. Những tình huống thực tiễn kiểm toán và kinh nghiệm xử lý


2.2.1. Khái quát về vị trí, vai trò của Trưởng đoàn kiểm toán và các kỹ năng mềm vận dụng trong hoạt động kiểm toán


2.2.1.1. Khái niệm về kỹ năng mềm trong quản lý


Mỗi nhà quản lý đều cần vận dụng thành thạo các kỹ năng trong hoạt động của mình, bao gồm: “Kỹ năng cứng” (technical skill) - kỹ năng chuyên môn và “kỹ năng mềm” (interpersonal skill) - kỹ năng kết nối con người. Kỹ năng chuyên môn và hiểu biết về nghề nghiệp là một cơ sở quan trọng cho hoạt động quản lý, song, sẽ rất hạn chế giá trị nếu nhà quản lý không thành thạo các kỹ năng kết nối con người - kỹ năng mềm.


Trong môi trường làm việc, kỹ năng mềm thuộc về hành vi ứng xử của mỗi con người, cách thức tương tác với đồng nghiệp, đối tác, cách làm việc nhóm, tập thể. Kỹ năng này thể hiện cách sống, cách tích lũy kinh nghiệm từ cuộc sống.


Kỹ năng mềm được hiểu là tổng thể những định hướng, cách thức và hành vi của chủ thể trong ứng xử, tương tác với con người hoặc tập thể những con người trong một hoạt động nhất định.


Kỹ năng mềm của nhà quản lý được thực hiện phù hợp với vị trí, vai trò của mình để thực hiện mục tiêu của hoạt động. Kỹ năng mềm vừa mang tính kỹ thuật, vừa mang tính nghệ thuật.


2.2.1.2. Vị trí, va i trò quản lý của Trưởng đoàn kiểm toán


Theo mô hình tổ chức Đoàn kiểm toán hiện tại của KTNN, Trưởng đoàn kiểm toán có vị trí và vai trò sau:


(1) Trưởng đoàn kiểm toán là cấp quản lý trung gian trong hoạt động quản lý Đoàn kiểm toán; Trưởng đoàn không trực tiếp quản lý và thực hiện hoạt động kiểm toán; đồng thời, Trưởng đoàn là chủ thể chịu sự quản lý của cơ quan KTNN cấp cơ sở (người đứng đầu là Kiểm toán trưởng) trong hệ thống quản lý của KTNN. Vị trí trung gian trong quản lý kiểm toán của Trưởng đoàn kiểm toán sẽ tác động đến việc ứng xử đối với các cấp và cơ quan quản lý kiểm toán.


(2) Trưởng đoàn kiểm toán đại diện cho Đoàn kiểm toán, trực tiếp chịu sự quản lý, chỉ đạo trong hoạt động kiểm toán của KTNN. Trong vai trò này, Trưởng đoàn đại diện cho tổ chức chịu sự quản lý, sự tác động của các hành động quản lý của các cấp quản lý thuộc hệ thống KTNN.


(3) Trưởng đoàn kiểm toán tổ chức hoạt động của cuộc kiểm toán. Trong vai trò này, Trưởng đoàn đại diện cho KTNN thực hiện sự quản lý, tác động đến các thành viên của Đoàn kiểm toán; đồng thời, có sự tương tác thích hợp với đơn vị được kiểm toán và các bên liên quan để thực hiện được mục tiêu của cuộc kiểm toán.


2.2.1.3. Các kỹ năng mềm chủ yếu vận dụng trong quản lý hoạt động kiểm toán


Có rất nhiều cách nhận diện, xác định các kỹ năng mềm trong quản lý cũng như trong hoạt động kiểm toán. Sau đây là những kỹ năng chủ yếu mà Trưởng đoàn kiểm toán cần vận dụng trong hoạt động quản lý của mình:


(1) Kỹ năng thuyết trình


Thuyết trình là quá trình truyền đạt thông tin nhằm đạt được các mục tiêu cụ thể của người thuyết trình; thuyết trình là kỹ năng mềm cơ bản nhất của người quản lý.


Mục tiêu của thuyết trình thường nhằm thuyết phục, định hướng. giải thích, hướng dẫn... trong các hoạt động quản lý.


Yêu cầu cơ bản trong thực hiện kỹ năng thuyết trình là: phải xác định rõ mục tiêu; đánh giá đúng đối tượng người nghe; hình thành mạch nội dung trình bày chặt chẽ. Tùy từng đặc điểm của cuộc thuyết trình, song, nhìn chung cần đảm bảo sự tự tin, linh hoạt, rõ ràng, tập trung vào những vấn đề trọng tâm...


(2) Kỹ năng duy trì sự chuyên nghiệp


Duy trì sự chuyên nghiệp trong ứng sử, tương tác với cá nhân và tập thể là một yêu cầu bắt buộc đối với nhà quản lý; việc duy trì sự chuyên nghiệp thể hiện trong mọi hoạt động giao tiếp và tương tác với mọi người, dù trong điều kiện áp dụng các phương thức nào cũng phải ứng xử nhằm hướng đến hoàn thành mục tiêu công việc đã xác định.


Mục tiêu của việc duy trì sự chuyên nghiệp trong ứng sử, tương tác với mọi người là nhằm đạt được mục tiêu của hoạt động một cách hiệu quả nhất theo các chuẩn mực nghề nghiệp.


Yêu cầu cơ bản trong thực hiện kỹ năng duy trì sự chuyên nghiệp là phải kiên định các mục tiêu dự định; kết hợp sự mềm dẻo và tính nguyên tắc; xác định rõ ranh giới giữa cá nhân và công việc; tự tin, quyết đoán...


(3) Kỹ năng lắng nghe


Lắng nghe vừa thể hiện sự tôn trọng người nói, vừa thể hiện sự chủ động kiểm soát diễn biến tình hình của cuộc trao đổi, tranh luận...; lắng nghe là tiền đề để hiểu ý kiến, suy nghĩ của người khác để chủ động, tỉnh táo xử lý tình huống phù hợp.


Mục tiêu của việc áp dụng kỹ năng lắng nghe là chủ động nắm vững vững tình hình, kiểm soát và xử lý tình hình một cách phù hợp.


Yêu cầu cơ bản trong thực hiện kỹ năng lắng nghe là sự tập trung cao độ, phân tích, đánh giá đúng ý kiến của người khác; biết tiếp thu, kiềm chế sự mâu thuẫn về quan điểm với người khác và chủ động dự định những phương án giải quyết sự việc thích hợp.


(4) Kỹ năng đàm phán


Đàm phán là hoạt động trao đổi thông tin (chủ yếu thông qua ngôn ngữ nói) để nhà quản lý thuyết phục, thỏa thuận với đối tác để đạt được mục tiêu của mình.


Mục tiêu của thực hiện kỹ năng đàm phán là nhằm đạt được đến sự thỏa thuận, đồng ý về những vấn đề mà các bên cùng quan tâm theo định hướng “mọi người cùng thắng”.


Yêu cầu cơ bản trong thực hiện kỹ năng đàm phán là nhà quản lý cần chuẩn bị đầy đủ các các phương án xử lý; hiểu rõ vị trí của mình và hiểu rõ đối tác; lắng nghe một cách thận trọng, kiên trì; thích ứng, thỏa hiệp một cách hợp lý mà các bên cùng có lợi...


(5) Kỹ năng ủy quyền


Ủy quyền là việc một nhà quản lý giao cho một người cộng sự thuộc quyền quản lý các thẩm quyền để hành động và ra quyết định thay cho nhà quản lý mà nhà quản lý vẫn chịu trách nhiệm về kết quả công việc đó. Như vậy, ủy quyền là việc “thực hiện công việc thông qua người khác” của nhà quản lý.


Mục tiêu của việc áp dụng kỹ năng ủy quyền là hoàn thành đầy đủ nhiệm vụ của nhà quản lý một cách tốt nhất thông qua phát huy, động viên được khả năng của tổ chức, của các cộng sự thuộc quyền quản lý.


Yêu cầu cơ bản trong thực hiện kỹ năng ủy quyền là: xác định đúng nhiệm vụ có thể ủy quyền; đánh giá đúng năng lực, tạo sự tin tưởng đối với người được ủy quyền; giao nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm phải rõ ràng và tương ứng; cần kiểm tra, hướng dẫn đầy đủ, rõ ràng; động viên và hỗ trợ khi cần thiết...


(6) Kỹ năng quản trị sự thay đổi


Sự thay đổi trong hoạt động kiểm toán luôn có khả năng xảy ra ở các cấp độ khác nhau. Nhà quản lý phải luôn chủ động và ứng phó với yêu cầu điều chỉnh, thay đổi trong hoạt động. Kỹ năng quản trị sự thay trong hoạt động thực hiện kiểm toán là sự điều chỉnh thích hợp các biện pháp quản trị nhằm thích ứng với những điều chỉnh trong hoạt động kiểm toán.


Mục tiêu của việc áp dụng kỹ năng quản trị sự thay đổi là nhằm xác định yêu cầu và tổ chức các biện pháp quản trị một cách chủ động và thích hợp để hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ trong điều kiện có sự điều chỉnh chưa dự liệu trước trong kế hoạch.


Yêu cầu cơ bản trong thực hiện kỹ năng quản trị sự thay đổi là: phân tích cập nhật những biến động trong hoạt động và dự đoán yêu cầu cần có sự thay đổi; xác định mục tiêu, nội dung hoạt động cần bổ sung hoặc thay đổi; xác định các biện pháp xử lý các hoạt động khi có sự thay đổi; đánh giá kết quả của sự thay đổi…


(7) Kỹ năng động viên và đưa ra những lời phê bình


Trong thực hiện nhiệm vụ luôn tồn tại những khó khăn, những kết quả tích cực hoặc hạn chế, thậm trí có những sai lầm trong công việc của những đồng sự. Động viên và đưa ra những lời phê bình là hoạt động mà nhà quản lý đưa ra những ý kiến đánh giá, điều chỉnh hoặc khích lệ các đồng sự để phát huy những mặt tích cực, hạn chế khó khăn, sai lầm để hoàn thành nhiệm vụ.


Mục tiêu của việc áp dụng kỹ năng động viên và đưa ra những lời phê bình là nhằm kịp thời điều chỉnh, duy trì tinh thần làm việc cho tất cả các thành viên của tổ chức, đặc biệt trong những điều kiện có khó khăn hoặc bất lợi để tập trung được sức mạnh, sự đoàn kết hoàn thành nhiệm vụ.


Yêu cầu cơ bản trong thực hiện kỹ năng kỹ năng động viên và đưa ra những lời phê bình của nhà quản lý là phải giám sát thường xuyên đối với công việc; trao đổi, thảo luận bình đẳng và thỏa đáng về công việc với đồng sự; đưa ra những đánh giá, động viên hoặc phê bình một các thận trọng cùng với sự hướng dẫn... để tạo sự nhận thức thống nhất, đồng thuận để có sự điều chỉnh hoạt động phù hợp. Tuy nhiên, trong trường hợp có nhân viên để xảy ra sai phạm, thiếu kỷ luật gây ra những hậu quả lớn thì nhà quản lý cũng cần xử lý kiên quyết để không tác động xấu đến hoạt động của tổ chức.


(8) Kỹ năng giao tiếp hiệu quả


Khả năng giao tiếp tốt cần thiết cho việc hình thành và duy trì các mối quan hệ trong công việc. Giao tiếp hiệu quả là phương thức truyền tải thông điệp nhẹ nhàng, cô đọng để hầu hết số đông đều hiểu và nắm bắt được thông tin nhanh chóng, chính xác, dễ tiếp thu.


Mục tiêu của việc áp dụng kỹ năng giao tiếp một các hiệu quả là nhằm tạo nên sự gần gũi, hiểu biết lẫn nhau trong công việc để xử lý các mối quan hệ trong công việc một cách thuận lợi, không phát sinh các căng thẳng, bất đồng ...; tạo môi trường làm việc hiệu quả.


Yêu cầu cơ bản trong áp dụng kỹ năng giao tiếp là phải có thái độ tích cực, tự tin, trung thực, nhiệt tình, quyết đoán… để tạo sự tin tưởng của các đối tượng giao tiếp.


2.2.2. Xử lý những tình huống chủ yếu


2.2.2.1. Những định hướng chung


Nội dung của phần này là tổng hợp những tình huống có tính phổ biến xảy ra trong hoạt động quản lý Đoàn kiểm toán; trên cơ sở đó, định hướng có tính nguyên tắc trong ứng xử. Học viên sẽ tham gia cụ thể vào việc trình bày, thảo luận về các phương thức và hành động ứng xử cụ thể.


Các tình huống trong quản lý Đoàn kiểm toán tuy rất đa dạng, song, cần tuân theo những định hướng cơ bản trong xử lý sau:


(1) Xác định rõ mục tiêu của công việc. Đây là yêu cầu cao nhất cho việc ứng xử trong bất kỳ tình huống nào vì dù có áp dụng các kỹ năng nào thì hoạt động đó cũng phải hướng đến hoàn thành nhiệm vụ mà cụ thể là mục tiêu của các công việc đang cần xử lý;


(2) Đánh giá đúng đắn đối tượng làm việc. Đây là yêu cầu quan trọng để có thể đưa ra cách phương thức xử lý thích hợp vì mỗi đối tượng (đối tác) trong công việc đều có nhiệm vụ, quyền và trách nhiệm xác định; vì vậy, mỗi bộ phận hay đối tượng đó cũng có mục tiêu cụ thể trong công việc cần xử lý. Việc biết rõ về đối tượng làm việc cũng có nghĩa là biết rõ về mục tiêu công việc của họ sẽ là cơ sở cho việc xử lý thích hợp, đáp ứng được yêu cầu của các bên liên quan;


(3) Đánh giá đúng bối cảnh và thực chất tình huống cần xử lý. Việc xử lý tình huống một cách hợp lý phải dựa trên hiểu biết rõ về các hoạt động phát sinh và nguyên nhân phát sinh hoạt động đó. Chính dựa trên cơ sở đó mới có thể xử lý tình huống một cách thấu đáo và hợp lý;


(4) Tuân thủ tính nguyên tắc trong xử lý tình huống. Dù việc xử lý tình huống cần vận dụng linh hoạt các kỹ năng, phù hợp với các hoàn cảnh cụ thể, song, vẫn phải tuân thủ các định hướng có tính nguyên tắc, trong đó gồm 2 định hướng cơ bản là: i) Tính mục tiêu, tức phải hoàn thành các mục tiêu của công việc; ii) Tính chuyên nghiệp, tức phải đảm bảo tuân thủ các chuẩn mực nghề nghiệp;


(5) Vận dụng linh hoạt các kỹ năng mềm để xử lý tình huống. Đây được coi là một yêu cầu, song, thực chất là một vấn đề có tính nguyên tắc, phải được áp dụng trong xử lý hầu hết các tình huống nhằm đạt được mục tiêu công việc một cách tốt nhất.


2.2.2.2. Tình huống trong xét duyệt KHKT và BCKT của Đoàn kiểm toán


Những điều kiện của tình huống:


- Mục tiêu của công việc: Thuyết trình, bảo vệ, tiếp thu để hoàn chỉnh dự thảo kế hoạch hoặc dự thảo BCKT của Đoàn kiểm toán;


- Người hoặc đơn vị chủ trì: Lãnh đạo KTNN (cùng các vụ tham mưu - quản lý);


-Vai trò của Trưởng đoàn kiểm toán: Đại diện Đoàn kiểm toán chịu trách nhiệm chính về kế hoạch và BCKT của Đoàn kiểm toán.


(1) Trình bày văn bản kế hoạch và BCKT:


- Khái quát đặc điểm cuộc kiểm toán, tổng hợp và tiếp thu những ý kiến của các vụ tham mưu về các góp ý xác minh số liệu, những nội dung cần chuẩn xác lại, những nội dung cần bổ sung...;


- Trình bày những nội dung trọng tâm (Trong KHKT: Phương thức tổ chức kiểm toán, đơn vị được kiểm toán, những nhiệm vụ trọng tâm; trong BCKT: những kết quả kiểm toán chủ yếu, mức độ thực hiện những nhiệm vụ trọng tâm...).


Việc trình bày cần có cách tiếp cận phù hợp, trình bày ngắn gọn, mạch lạc, tập trung vào những vấn đề trọng tâm, chuyên nghiệp; chủ động xử lý các tình huống và điều chỉnh thời gian trình bày phù hợp.


(2) Giải trình và trao đổi về các ý kiến khác nhau:


- Trình bày rõ nội dung và quan điểm về những vấn đề cần giải trình;


- Phân tích, trình bày rõ quan điểm về những nội dung có ý kiến khác nhau (đặc biệt chú ý đến những kết luận và kiến nghị trong BCKT).


Cần trình bày với tâm thế chủ động, tự tin, lập luận chặt chẽ, chuyên nghiệp, bảo vệ những vấn đề đúng đắn, hợp lý; đồng thời, khiêm tốn, lắng nghe, tiếp thu hợp lý.


(3) Tiếp thu ý kiến kết luận của người chủ trì hội nghị:


- Cần ghi chép và tiếp thu đầy đủ các kết luận của người chủ trì;


- Làm rõ những nội dung và quan điểm xử lý những nội dung có “vấn đề” hoặc ý kiến còn khác nhau.


Cần thể hiện sự chấp hành các kết luận; chủ động làm rõ nội dung và dự kiến cách thức xử lý những vấn đề theo kết luận của người chủ trì với thái độ chuyên nghiệp.


2.2.2.3. Tình huống trong kiểm tra, thanh tra, kiểm soát chất lượng kiểm toán đối với Đoàn kiểm toán


Những điều kiện của tình huống:


- Mục tiêu của công việc: Phối hợp tốt nhất với Đoàn kiểm tra, thanh tra, KSCLKT (trực tiếp tại Đoàn) để các bên đều hoàn thành nhiệm vụ theo kế hoạch;


- Người hoặc đơn vị chủ trì: Trưởng đoàn kiểm tra, thanh tra KSCLKT;


- Vai trò của Trưởng đoàn kiểm toán: Đại diện Đoàn kiểm toán, chịu sự kiểm tra, thanh tra, KSCLKT.


(1) Phối hợp triển khai thanh tra, KSCLKT:


- Thỏa thuận, thống nhất chương trình làm việc của thanh tra, KSCLKT;


- Chỉ đạo điều chỉnh chương trình kiểm toán phù hợp;


- Thống nhất các biện pháp phối hợp hợp lý.


Tinh thần chỉ đạo các hoạt động trên là linh hoạt để điều chỉnh hoạt động của các bên hợp lý trên cơ sở ưu tiên hoàn thành nhiệm vụ kiểm toán; đồng thời, chủ động, tôn trọng các bên liên quan và giữ nguyên tắc trong hoạt động kiểm toán.


(2) Tổ chức phối hợp đối với đoàn thanh tra, KSCLKT:


- Xử lý các bất cập phát sinh (nếu có) về chương trình và thời gian làm việc của các bên;


- Xử lý các bất đồng ý kiến (nếu có) về những phát hiện sai phạm về chuẩn mực nghề nghiệp.


- Phối hợp chỉ đạo các bộ phận cung cấp hồ sơ, tài liệu và phối hợp giải trình các nội dung liên quan đến KSCLKT.


Thái độ và quan điểm trong xử lý các tình huống phát sinh trong thực hiện thanh tra và KSCLKT là cần ưu tiên mục tiêu, nhiệm vụ chung, khách quan; ứng sử có tính chuyên nghiệp và hiểu biết lẫn nhau.


(3) Thông qua dự thảo biên bản thanh tra, KSCLKT:


- Tiếp thu và chỉ đạo sửa chữa những hạn chế sai sót so với chuẩn mực nghề nghiệp;


- Thảo luận về những ý kiến có sự bất đồng.


- Trường hợp còn có ý kiến khác nhau không thống nhất: báo cáo kịp thời cho lãnh đạo các đơn vị để xử lý và báo cáo lãnh đạo KTNN để xin ý kiến chỉ đạo.


Thái độ và quan điểm trong xử lý các vấn đề trong việc thông qua dự thảo biên bản thanh tra, KSCLKT là tính chuyên nghiệp, tính nguyên tắc, trung thực, khách quan và tính xây dựng.


2.2.2.4. Tình huống trong điều hành và kiểm soát hoạt động của các Tổ kiểm toán


Những điều kiện của tình huống:


- Mục tiêu của công việc: Thực hiện tốt các chức năng của quản lý để đảm bảo Đoàn kiểm toán hoàn thành nhiệm vụ;


- Người hoặc đơn vị chủ trì: Trưởng đoàn kiểm toán;


- Vai trò của Trưởng đoàn kiểm toán: Quyết định công tác điều hành và kiểm tra hoạt động của Đoàn kiểm toán.


(1) Kiểm soát tiến độ, tuân thủ kế hoạch, các chuẩn mực thực hành nghề nghiệp kiểm toán:


- Phát sinh sự biến động về tiến độ kiểm toán;


- Những sai lệch về áp dụng quy trình, chuẩn mực, phương pháp kiểm toán.


Thái độ và quan điểm trong xử lý các vấn đề trong điều hành kiểm toán là bình tĩnh, lắng nghe KTVNN, Tổ kiểm toán báo cáo để hiểu rõ sự việc và nguyên nhân; từ đó, đưa ra các quyết định, hướng dẫn cụ thể. Trường hợp đặc biêt, xảy ra sai phạm nghiêm trọng, cần có biện pháp xử lý nghiêm khắc, cương quyết và điều chỉnh thích hợp để hoàn thành nhiệm vụ.


(2) Kiểm soát và chỉ đạo thực hiện những nội dung trọng tâm kiểm toán (mới, phức tạp, KTHĐ...):


- Phát hiện những sai lệch về cách tiếp cận (định hướng) kiểm toán;


- Phát hiện sự không thích hợp về việc áp dụng các phương pháp kiểm toán.


Trong những trường hợp này, Trưởng đoàn kiểm toán cần lắng nghe, tìm hiểu rõ những hạn chế, nguyên nhân; từ đó, hướng dẫn tận tình, cụ thể và động viên, khích lệ KTVNN quyết tâm, tự tin, phối hợp trong làm việc nhóm để hoàn thành tốt nhiệm vụ.


(3) Kiểm tra, giám sát hoạt động KSNB của Tổ trưởng Tổ kiểm toán và KTVNN:


- Phát hiện những sai lệch về cung cấp thông tin và báo cáo về hoạt động kiểm toán;


- Phát hiện những sai lệch trong KSNB (tự kiểm soát: ghi chép tài liệu kiểm toán, rà soát chương trình, phương pháp, kết quả kiểm toán...);


- Phát hiện những hạn chế của Tổ trưởng Tổ kiểm toán trong kiểm tra, giám sát về nghiệp vụ, tiến độ… kiểm toán.


Thái độ ứng xử trong các phát hiện kiểm tra, kiểm soát là phải bình tĩnh, lắng nghe để hiểu rõ thực chất và nguyên nhân phát sinh các vấn đề; đồng thời, cần kiên quyết yêu cầu điều chỉnh, sửa chữa những thiếu sót, sai phạm, đặc biệt là nhấn mạnh đến vai trò của Tổ trưởng trong KSNB.


(4) Kiểm soát việc thực hiện quy tắc ứng xử của KTVNN:


- Nhận được những thông tin về những vi phạm, ứng xử không phù hợp của KTVNN;


- Phát hiện hoặc được Tổ trưởng Tổ kiểm toán báo cáo về những dấu hiệu vi phạm các quy định và quy tắc ứng xử của KTVNN.


Xử lý các tình huống này cần rất thận trọng; cần lắng nghe, phân tích rõ thực chất, nguyên nhân của các hiện tượng; trên cơ sở đó góp ý, yêu cầu sửa chữa, điều chỉnh cách ứng xử mang tính tích cực, xây dựng để giáo dục KTVNN. Trường hợp xảy ra những vi phạm nghiêm trọng thì phải cương quyết xử lý theo quy định và kịp thời.


2.2.2.5. Tình huống trong xét duyệt kế hoạch kiểm toán chi tiết và biên bản kiểm toán của Tổ kiểm toán


Những điều kiện của tình huống:


- Mục tiêu của công việc: Đảm bảo chất lượng của KHKT chi tiết và biên bản kiểm toán của Tổ kiểm toán;


- Người hoặc đơn vị chủ trì: Trưởng đoàn kiểm toán;


- Vai trò của Trưởng đoàn kiểm toán: Quyết định những nội dung của KHKT chi tiết và biên bản kiểm toán của Tổ kiểm toán.


- Xem xét, phát hiện những nội dung chưa phù hợp, cần làm rõ… (nội dung “có vấn đề”);


- Tổ chức thảo luận những nội dung “có vấn đề” để sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện.


- Kết luận những vấn đề thảo luận hoặc có ý kiến khác nhau.


Đây là trường hợp xảy ra khá phổ biến. Hướng giải quyết vấn đề này là cần tổ chức làm việc nhóm, tích cực, chuyên nghiệp để đảm bảo sự nhận thức thống nhất, đảm bảo chất lượng của KHKT chi tiết hoặc biên bản kiểm toán.


2.2.2.6. Tình huống trong quan hệ với đơn vị được kiểm toán


Những điều kiện của tình huống:


- Mục tiêu của công việc: Tổ chức triển khai và giải quyết các vấn đề phát sinh trong hoạt động kiểm toán liên quan đến đơn vị được kiểm toán;


- Người hoặc đơn vị chủ trì: Trưởng đoàn kiểm toán;


- Vai trò của Trưởng đoàn kiểm toán: Đại diện cho Đoàn kiểm toán chủ động triển khai và giải quyết các vấn đề phát sinh trong hoạt động kiểm toán liên quan đến đơn vị được kiểm toán.


(1) Triển khai kiểm toán:


- Phát sinh những đề nghị của đơn vị về thời gian và tổ chức phối hợp trong kiểm toán;


- Phát sinh những đề nghị của đơn vị về nội dung, phạm vi kiểm toán.


Khi phát sinh các tình huống này, Trưởng đoàn kiểm toán cần định hướng linh hoạt về thời gian kiểm toán; giải thích rõ cho đơn vị được kiểm toán về nội dung, phạm vi kiểm toán trên cơ sở đảm bảo tiến độ, mục tiêu và nội dung kiểm toán.


(2) Tổ chức thực hiện kiểm toán:


- Phát sinh những tình hình tác động đến tiến độ thực hiện kiểm toán;


- Phát sinh những “bất đồng” ý kiến về những đánh giá, giải trình... trong thực hiện kiểm toán.


Khi phát sinh những tình huống không đảm bảo tiến độ kiểm toán, Trưởng đoàn cần chỉ đạo các biện pháp cương quyết để giảm thiểu mức chênh lệch so với kế hoạch (động viên làm ngoài giờ...); đồng thời, chỉ đạo tìm hiểu rõ những bất đồng để giải thích, thuyết phục trên cơ sở đảm bảo tính nguyên tắc trong kết luận, kiến nghị kiểm toán.


(3) Thông qua dự thảo biên bản kiểm toán tại đơn vị được kiểm toán:


- Phát sinh các đề nghị, kiến nghị của đơn vị được kiểm toán về kết luận, kiến nghị kiểm toán;


- Phát sinh các ý kiến bất đồng về kết luận, kiến nghị kiểm toán.


Việc phát sinh những kiến nghị, có ý kiến bất đồng là tương đối phổ biến; việc xử lý cần đảm bảo tính chuyên nghiệp, tính nguyên tắc; đồng thời, cần phù hợp với điều kiện thực tiễn, cần giải thích thấu đáo, chi tiết để thuyết phục đơn vị được kiểm toán.


2.2.2.7. Tình huống trong công tác kiểm tra, đối chiếu thuế đối với doanh nghiệp (tổ chức, cá nhân liên quan)


Những điều kiện của tình huống:


- Mục tiêu của công việc: Thực hiện các phương pháp xử lý thích hợp, kịp thời trong tổ chức công việc hoặc có vấn đề phát sinh khi Đoàn thực hiện công tác kiểm tra, đối chiếu thuế đối với doanh nghiệp;


- Người hoặc đơn vị chủ trì: Trưởng đoàn kiểm toán;


- Vai trò của Trưởng đoàn kiểm toán: Đại diện cho Đoàn kiểm toán, chủ động phối hợp với các đơn vị có liên quan, xử lý các tình huống phát sinh trong công tác kiểm tra, đối chiếu thuế đối với doanh nghiệp.


Những vấn đề chính cần xử lý gồm:


- Phối hợp với UBND và cơ quan thuế các cấp trong kiểm tra, đối chiếu thuế;


- Các đơn vị thể hiện sự bất hợp tác trong thực hiện kiểm tra, đối chiếu thuế đối với doanh nghiệp.


Đây là những tình huống khá phức tạp; việc xử lý cần dựa trên tính nguyên tắc, tính chuyên nghiệp; lấy chỗ dựa cơ bản là sự phối hợp với chính quyền địa phương và cơ quan thuế (phối hợp trước, trong và cả sau khi kiểm tra, đối chiếu), do vậy, cần tạo sự hiểu biết, hỗ trợ, phối hợp tốt, hài hòa để hoàn thành nhiệm vụ.


Trong thực tế, khi phải xử lý các tình huống phát sinh trong hoạt động kiểm toán thì không có “công thức” duy nhất trong ứng xử mà phải “tùy cơ ứng biến”, do vậy, Trưởng đoàn kiểm toán cần xác định: Lấy mục tiêu hoàn thành nhiệm vụ làm cơ sở; tuân thủ tính nguyên tắc, tính chuyên nghiệp và vận dụng các kỹ năng mềm thích hợp, tôn trọng các đối tác, để ứng xử một cách phù hợp trong từng tình huống và với từng đối tượng./.


CÂU HỎI THẢO LUẬN


Câu 1. Hãy phân tích những ưu, nhược điểm của 2 mô hình cơ bản về tổ chức Đoàn kiểm toán (có cấp quản lý trung gian và không có cấp quản lý trung gian) và xác định những điều kiện phù hợp với việc áp dụng mỡi mô hình.


Câu 2. Hãy phân tích, đánh giá về những quy định hiện hành của Luật KTNN và của KTNN tác động đến tổ chức nhân sự Đoàn kiểm toán của KTNN.


Câu 3. Hãy phân tích, đánh giá về quy định của KTNN về đánh giá và phân loại công chức áp dụng trong đánh giá và phân loại KTVNN.


Câu 4. Hãy phân biệt 2 khái niệm: KSCLKT đối với Đoàn kiểm toán và KSNB của Đoàn kiểm toán.


Câu 5. Hãy phân tích sự khác nhau giữa mục tiêu, đối tượng, nội dung hoạt động KSNB với hoạt động giám sát của Trưởng đoàn kiểm toán.


Câu 6. Hãy xác định phạm vi và mối quan hệ giữa KSNB của Trưởng đoàn kiểm toán với KSNB của Tổ trưởng Tổ kiểm toán.

Tổng quan văn bản

Số ký hiệu2006/QĐ-KTNN
Ngày ban hành03/10/2018
Loại văn bảnQuyết định
Ngày có hiệu lực03/10/2018
Nguồn thu thậpCơ sở dữ liệu
Ngày đăng công báo---
Cơ quan ban hành / Người kýKiểm toán Nhà nước / Đoàn Xuân Tiên
Phạm viTrung ương, Kiểm toán Nhà nước
Trích yếu2018 Tài liệu bồi dưỡng lãnh đạo quản lý cấp Trưởng đoàn kiểm toán
Tình trạng hiệu lựcCòn hiệu lực

Chưa có thông tin lược đồ

Văn bản này hiện chưa được cập nhật dữ liệu về lược đồ liên quan.