Quay lại

Quyết định 2116/2002/QĐ-UB về việc ban hành chương trình phát triển xuất khẩu tỉnh Thanh Hoá giai đoạn 2002 - 2005

UBND TỈNH THANH HÓA
-------

Số: 2116/2002/QĐ-UB

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------------------------

tỉnh Thanh Hóa, ngày 27 tháng 06 năm 2002

QUYẾT ĐỊNH CỦA UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ

Về việc ban hành chương trình phát triển xuất khẩu tỉnh Thanh Hoá

giai đoạn 2002 - 2005.

______________

UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ

Căn cứ Luật tổ chức HĐND và UBND công bố ngày 21 tháng 6 năm 1994.

Căn cứ Nghị quyết số 02 - NQ/TU ngày 24 tháng 01 năm 2002 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh về phát triển xuất khẩu;

Căn cứ Nghị quyết Hội đồng nhân dân tỉnh khoá XI, kỳ họp thứ 6 về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2002.

Xét đề nghị của Sở Thương mại Thanh Hoá, ý kiến tham gia của Thường trực UBND tỉnh và các ngành liên quan tại phiên họp ngày 16/5/2002,

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1: Ban hành kèm theo Quyết định này " Chương trình phát triển xuất khẩu tỉnh Thanh Hoá giai đoạn 2002 - 2005 ".

Điều 2: Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2002.

Điều 3: Sở Thương mại Thanh Hoá chịu trách nhiệm chủ trì phối hợp với các ngành cấp tỉnh, các huyện, thị xã, Thành phố tổ chức triển khai thực hiện chương trình; theo dõi, tổng hợp tình hình thực hiện để báo cáo UBND tỉnh.

Điều 4: Các Ông Chánh Văn phòng UBND tỉnh, Giám đốc Sở Thương mại, Thủ trưởng các Ban, ngành cấp tỉnh, Chủ tịch UBND các huyện, Thị xã, Thành phố và các đơn vị có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.

Nơi nhận: TM /UBND TỈNH THANH HOÁ


- Như điều 4 QĐ. KT/ CHỦ TỊCH


- TT tỉnh uỷ, TT HĐND tỉnh. PHÓ CHỦ TỊCH THƯỜNG TRỰC


- Chủ tịch, các PCT UBND tỉnh.


- Các PVP UBND tỉnh.


- Lưu VP.


(Đã ký)


Nguyễn Văn Lợi


CHƯƠNG TRÌNH


Phát triển xuất khẩu tỉnh Thanh Hoá giai đoạn 2002 - 2005.


( Ban hành kèm theo Quyết định số 2116 /2002/ QĐ - UB ngày 27 tháng 6 năm 2002 của UBND tỉnh Thanh Hoá ).


_________________


PHẦN THỨ NHẤT


THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN


Từ năm 1996 đến nay, trong bối cảnh tự do hoá thương mại và hội nhập quốc tế, thị trường thế giới có những thuận lợi mới, đan xen những thách thức, khó khăn. Quán triệt Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ 14: " Tăng nhanh các mặt hàng xuất khẩu ở tất cả các thành phần kinh tế với khối lượng lớn, ổn định và hiệu quả ", hoạt động xuất nhập khẩu đã từng bước khắc phục khó khăn, đạt được một số kết quả bước đầu. Các mặt hàng xuất khẩu của tỉnh về nông - lâm - thuỷ sản, thủ công mỹ nghệ đang từng bước được mở rộng. Công tác tìm kiếm thị trường, xúc tiến thương mại bước đầu được quan tâm. Có thêm nhiều doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế ra đời đi vào hoạt động, tạo thêm những mặt hàng xuất khẩu mới. Nhờ vậy, những năm gần đây, giá trị kim ngạch xuất khẩu bắt đầu tăng.


Tuy nhiên, so với tiềm năng và yêu cầu phát triển kinh tế của tỉnh, hoạt động xuất khẩu vẫn là một trong các lĩnh vực còn yếu kém; quy mô xuất khẩu quá nhỏ, chưa tạo được những nhóm, mặt hàng chủ lực, có sức cạnh tranh. Xuất khẩu nguyên liệu thô và tài nguyên khoáng sản chiếm tỷ trọng lớn. Thị trường xuất khẩu hạn hẹp và thiếu ổn định. Chủ thể tham gia hoạt động xuất khẩu ít, kiến thức và năng lực còn hạn chế, tinh thần hợp tác để khắc phục nhược điểm, phát huy thế mạnh còn kém.


Ngoài những nguyên nhân khách quan; những yếu kém, tồn tại trong hoạt động xuất khẩu là do những nguyên nhân chủ quan sau:


- Quản lý nhà nước về xuất khẩu còn nhiều hạn chế: Công tác quy hoạch, kế hoạch về xuất khẩu còn nhiều bất cập, chưa khẳng định rõ được những lợi thế của địa phương phù hợp với yêu cầu thị trường để tập trung đầu tư thoả đáng cho công tác xuất khẩu. Các dự án đầu tư và phương án tổ chức kinh doanh còn tản mạn. Xác định cơ cấu ngành hàng chủ lực và cơ cấu vùng trọng điểm sản xuất, kinh doanh hàng xuất khẩu còn lúng túng. Giải pháp để thực hiện mục tiêu xuất khẩu đặt ra cho thời kỳ và hàng năm thiếu cụ thể.


- Phối hợp giữa các ngành, các cấp còn thiếu chặt chẽ, trách nhiệm chưa rõ ràng. Môi trường xuất khẩu chậm được cải thiện: Nhận thức của các ngành, các cấp về yêu cầu phát triển xuất khẩu còn hạn chế; vai trò của huyện và cơ sở chưa được phát huy. Chỉ đạo, điều hành của chính quyền đối với công tác xuất khẩu còn nhiều lúng túng. Các ngành quản lý chức năng chưa phối hợp chặt chẽ để tháo gỡ ách tắc cho công tác xuất khẩu.


- Việc tuyên truyền, phổ biến làm cho mọi cấp, mọi ngành, mọi thành phần kinh tế hiểu rõ cơ chế, chính sách khuyến khích xuất khẩu của Nhà nước làm chưa tốt. Phần lớn doanh nghiệp chưa tiếp cận được chính sách của Trung ương. Trong khi đó việc đề xuất và ban hành các chính sách của tỉnh còn chậm, nên chưa khuyến khích mạnh mẽ người sản xuất kinh doanh hàng xuất khẩu hăng hái tham gia chương trình xuất khẩu của tỉnh.


- Hầu hết các ngành, các cấp, các doanh nghiệp đều thiếu những cán bộ hiểu biết về quản lý, kinh doanh xuất nhập khẩu. Kiến thức và năng lực của đội ngũ cán bộ trực tiếp quản lý, kinh doanh xuất nhập khẩu còn nhiều hạn chế. Số người được đào tạo cơ bản, tích luỹ được kinh nghiệm trong kinh doanh không nhiều, trong khi số học sinh tốt nghiệp ngoại thương quay về tỉnh rất ít.


PHẦN THỨ HAI


ĐỊNH HƯỚNG XUẤT KHẨU ĐẾN NĂM 2005


I- BỐI CẢNH QUỐC TẾ VÀ MỤC TIÊU XUẤT KHẨU:


1- Bối cảnh Quốc tế:


Trước những bối cảnh mới, môi trường thương mại quốc tế tới đây sẽ có nhiều chuyển biến khả quan; xuất khẩu sẽ có cơ hội tăng trưởng. Tuy nhiên, trong bối cảnh đó, các lợi thế truyền thống của tỉnh về tài nguyên và lao động rẻ sẽ giảm dần giá trị. Tình trạng hàng hoá manh mún, khối lượng ít, chất lượng thấp, giá thành cao, sẽ là những thách thức lớn. Hoạt động xuất khẩu cần nhanh chóng tạo lập và phát huy các lợi thế của địa phương, nắm bắt những yếu tố mới như công nghệ thông tin, thị trường trí tuệ, môi trường tự nhiên và an toàn xã hội..., để nâng sức cạnh tranh của hàng hoá, dịch vụ.


2- Mục tiêu xuất khẩu đến 2005:


Để góp phần thực hiện các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đã được xác định tại Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ 15, trực tiếp là Nghị quyết 02 NQ/TU của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh; cần phấn đấu thực hiện cho được một số chỉ tiêu chủ yếu sau:


- Giá trị xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ năm đến 2005 đạt 160 triệu USD, bình quân đầu người đạt 42 USD, tương đương 10% GDP bình quân đầu người, tạo đà để tiến tới đạt tỷ trọng 20 - 30% trong giai đoạn 2006 - 2010.


- Tốc độ tăng trưởng giá trị xuất khẩu của các cơ sở hiện có bình quân hàng năm đạt 20% trở lên. Phát triển thêm nhiều cơ sở xuất khẩu mới để có tốc độ tăng trưởng giá trị xuất khẩu bình quân hàng năm chung cho cả tỉnh từ 36% trở lên.


- Chuyển đổi mạnh mẽ cơ cấu hàng xuất khẩu theo hướng tăng tỷ trọng hàng nông lâm hải sản chế biến, hàng công nghiệp tiêu dùng và tiểu thủ công nghiệp thu hút nhiều lao động, có hàm lượng trí tuệ cao, giảm dần tỷ trọng xuất khẩu khoáng sản và nguyên liệu thô chưa qua chế biến. Đi đôi với tận thu hàng hoá có khả năng xuất khẩu, phải tập trung nguồn lực tạo ra một số mặt hàng chủ lực có khối lượng lớn, giá trị cao, đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.


II- CƠ CẤU CÁC MẶT HÀNG XUẤT KHẨU CHỦ YẾU ĐẾN NĂM 2005:


Cơ cấu hàng xuất khẩu chủ yếu đến năm 2005 như sau:


1- Nông, lâm sản xuất khẩu:


Mục tiêu xuất khẩu nông, lâm sản đến năm 2005 đạt 38 triệu USD trở lên, chiếm 24% tổng giá trị xuất khẩu.


Cần tập trung cho các mặt hàng chủ yếu sau:


1.1- Lạc, vừng:


Mục tiêu xuất khẩu lạc, vừng đến năm 2005 đạt 10 triệu USD.


Mở rộng diện tích gieo trồng lạc lên 20 - 21 ngàn ha, trong đó có 16.000 ha lạc xuân, 4000 - 5000 ha lạc thu, đông. Phát triển vừng vụ hè thu ở các huyện ven biển. Chú trọng khai thác diện tích mía luân canh để trồng lạc, vừng. Đổi mới mạnh mẽ cơ cấu giống, áp dụng phổ biến các giống có năng suất cao, phù hợp với thị hiếu xuất khẩu. Hỗ trợ nông dân đầu tư sản xuất, ứng dụng giống mới, công nghệ mới, đạt năng xuất bình quân 20 tạ lạc/ha gieo trồng, sản lượng 40.000 - 42.000 tấn lạc vỏ; đến năm 2005 xuất khẩu 20.000 tấn lạc nhân, 2000 tấn vừng.


Chuẩn bị dự án đầu tư chế biến lạc thực phẩm để nâng cao giá trị xuất khẩu.


1.2- Cói, đay:


Mục tiêu xuất khẩu cói, đay nguyên liệu ổn định hàng năm đạt 4 triệu USD.


Chuyển đổi diện tích lúa nhiễm mặn ở các huyện ven biển sang trồng cói, nâng tổng diện tích gieo trồng lên 4.000 - 4.200 ha. Du nhập và phục tráng giống cói có năng suất, chất lượng cao; đẩy mạnh thâm canh, đạt năng suất bình quân 10 tấn/ha, sản lượng 40.000 tấn cói nguyên liệu. Nắm bắt nhu cầu thị trường, tổ chức tốt việc sáng tác mẫu mã và dạy nghề, tăng dần tỷ trọng chế biến tinh.


1.3- Rau, củ, quả:


Mục tiêu giá trị xuất khẩu rau, củ, quả đến năm 2005 đạt 9 triệu USD; gồm các mặt hàng chủ yếu sau:


Dứa khoanh và nước dứa cô đặc: 1 triệu USD.


Dưa chuột, ớt muối: 2 triệu USD.


Tinh bột sắn, tinh bột ngô: 4 triệu USD.


Tơ tằm và sản phẩm rau quả khác: 2 triệu USD.


Quy hoạch vùng nguyên liệu tập trung, đáp ứng nhu cầu cho các nhà máy chế biến rau quả xuất khẩu, gồm: Vùng dứa 3000 ha, sắn 8000 ha tại các huyện Như Xuân, Như Thanh và Bá Thước; vùng dưa chuột, ớt 500 ha tại các huyện Hoằng Hoá, Thiệu Hoá; vùng dâu tằm 2000 ha tại các huyện ven sông; vùng tre trúc lấy măng 1.500 ha tại huyện Ngọc Lặc. Tiếp tục nghiên cứu các dự án cà chua, vải, nhãn... để chế biến xuất khẩu.


Tập trung du nhập, ứng dụng giống mới có năng suất cao; đẩy mạnh thâm canh, tăng năng suất để hạ giá thành, tăng thu nhập cho nông dân.Tạo môi trường hấp dẫn để huy động các nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ sở chế biến.


1.4- Cà phê:


n định diện tích 3.400 ha cà phê chè hiện có, đi đôi với giải quyết nước tưới đẩy mạnh thâm canh, để năm 2005 có sản lượng 3000 tấn cà phê nhân xuất khẩu, đạt 3 triệu USD. Nghiên cứu khả năng đầu tư nhà máy chế biến cà phê cho nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu ở giai đoạn sau.


1.5- Cao su:


Từ nay đến 2005 ổn định diện tích 7.700 ha cao su hiện có. Hỗ trợ đầu tư chăm sóc để đến 2005 khai thác 1.700 tấn mủ khô cho xuất khẩu, đạt giá trị 1 triệu USD.


1.6- Lâm Sản:


Nhu cầu thị trường thế giới khá lớn. Cần đẩy mạnh việc tìm kiếm bạn hàng, thu hút đầu tư để phục hồi và phát triển các mặt hàng có thế mạnh của tỉnh, gồm:


- Sản xuất bột giấy 6 vạn tấn, xuất khẩu đạt 5 triệu USD.


- Sản phẩm từ quế, tinh dầu, dược liệu đạt 1 triệu USD.


1.7- Gia súc, gia cầm:


Mục tiêu xuất khẩu gia súc, gia cầm đến 2005 đạt 5 triệu USD.


Phát triển mạnh phương thức chăn nuôi gia súc, gia cầm theo mô hình trang trại quy mô lớn, giống phù hợp, công nghệ hiện đại, năng suất cao, giá thành hạ. Tập trung phát triển đàn lợn hướng nạc và đàn bò lai, nâng tổng đàn lợn lên 1,5 triệu con, đàn trâu bò lên 0,5 triệu con. Mở rộng và đầu tư nhà máy chế biến đông lạnh gia súc, gia cầm, đạt sản lượng 4 ngàn tấn/năm. Chuẩn bị điều kiện xây dựng cơ sở sản xuất thức ăn gia súc và cơ sở chế biến sản phẩm chăn nuôi để tăng nhanh giá trị súc sản xuất khẩu trong giai đoạn sau.


2- Thuỷ sản:


Mục tiêu xuất khẩu thuỷ sản đến năm 2005 đạt 42 triệu USD trở lên.


Quy hoạch chi tiết diện tích nuôi trồng thuỷ sản ở từng huyện. Nhà nước đầu tư xây dựng đê bao, hệ thống kênh chính; khuyến khích nhân dân kiến thiết đồng ruộng, ao đầm. Triển khai các dự án nuôi tôm công nghiệp. Tổ chức vùng nuôi tập trung đi đôi với mở rộng diện tích ở các vùng. Chuyển diện tích lúa năng suất thấp sang nuôi thuỷ sản, đạt tổng diện tích 16.500 ha, trong đó có 7.000 ha nước lợ, 4.800 ha nuôi tôm sú. Tập trung nghiên cứu sản xuất một số giống thuỷ sản có giá trị cao và du nhập, thuần hoá những giống không thể sản xuất được. Cải tạo môi trường nước. Tổ chức sản xuất thức ăn đảm bảo chất lượng cho nuôi tôm và các loài thuỷ đặc sản.


Nâng cao hiệu quả khai thác xa bờ và tận thu hàng hoá cho xuất khẩu. Xây dựng đồng bộ các cơ sở dịch vụ hậu cần nghề cá. Khẩn trương đầu tư mới xí nghiệp thuỷ sản đông lạnh Lạch Hới, Tĩnh Gia; nâng cấp các cơ sở chế biến đông lạnh hiện có, đạt tổng công suất 6.000 tấn/năm. Mở rộng mạng lưới xuất khẩu thuỷ sản tươi sống và chế biến.


3- Công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp:


Là nhóm hàng thế giới có nhu cầu lớn, phù hợp với tiềm năng lao động dồi dào và tinh xảo của tỉnh ta. Cần coi là nhóm đột phá để nâng cao giá trị xuất khẩu, đạt cho được 55 triệu USD vào năm 2005; gồm các mặt hàng chủ yếu sau:


3.1- Hàng dệt may, da giầy:


Mục tiêu xuất khẩu đến năm 2005 đạt 25 triệu USD hàng dệt may, 15 triệu USD giầy dép.


Cần tạo môi trường thuận lợi để thu hút các dự án đầu tư mới theo chương trình của Chính phủ và các dự án đầu tư nước ngoài, nâng công suất may xuất khẩu thêm 2000 máy tại cơ sở Đình Hương. Nâng cấp, tăng công suất và khả năng tiếp cận thị trường của các cơ sở may hiện có. Củng cố 2 nhà máy giầy thể thao, đạt công suất 2 triệu đôi. Đổi mới công nghệ dệt may, da giầy bằng thiết bị hiện đại để sản xuất sản phẩm có chất lượng cao. Chú trọng tạo lập thương hiệu và mở rộng mạng lưới tiêu thụ ở nước ngoài, từng bước thay thế cho phương thức gia công và xuất FOB.


3.2- Đường và sản phẩm sau đường:


Khả năng cung cấp đường giai đoạn 2001-2005 thiếu hụt khoảng 2 triệu tấn so với nhu cầu thế giới. Tỉnh ta cần tập trung đổi mới công nghệ, hạ giá thành sản xuất, mở rộng các sản phẩm sau đường. Phấn đấu đến năm 2005, xuất khẩu đường và các sản phẩm sau đường đạt 10 triệu USD.


3.3- Hàng thủ công mỹ nghệ:


Mục tiêu xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ đến năm 2005 đạt 5 triệu USD.


Đẩy mạnh hoạt động tìm kiếm thị trường, thiết kế mẫu mã và dạy nghề thủ công. Có chính sách hỗ trợ để phát triển mạnh mẽ các mặt hàng cói đay, mây tre đan; khôi phục và phát triển các ngành nghề truyền thống như thêu ren, chạm khảm, sơn mài, đúc đồng, khắc đá... Triển khai dự án chế biến đũa xuất khẩu tại Ngọc Lặc. Mở rộng và nâng cấp cơ sở cót ép, luồng ép Điện Biên, Triệu Sơn.


Chuẩn bị điều kiện để sản xuất và xuất khẩu sản phẩm điện tử, tin học vào năm 2006.


4- Hàng công nghiệp nặng và khoáng sản:


Mục tiêu xuất khẩu đạt 15 triệu USD; gồm:


4.1- Đá ốp lát:


Phấn đấu duy trì giá trị xuất khẩu đá ốp lát hàng năm khoảng 5 triệu USD .


Thị trường thế giới có nhu cầu ổn định. Đá Thanh Hoá có tiềm năng lớn và được nhiều nước ưa chuộng. Cần quy hoạch và quản lý chặt chẽ việc khai thác đá Marb, đảm bảo tiết kiệm và bảo vệ cảnh quan, môi trường. Kêu gọi đầu tư khai thác và chế biến đá Granite. Quản lý chặt chẽ để hạn chế cạnh tranh thiếu lành mạnh, gây tổn hại chung.


4.2- Quặng các loại:


n định sản lượng quặng Crômite xuất khẩu hàng năm khoảng 7 vạn tấn. Cùng với một số loại khoáng sản kim loại khác, đạt giá trị xuất khẩu hàng năm 3 đến 5 triệu USD.


4.3- Phấn đấu hạ giá thành và nâng cao chất lượng sản phẩm để xuất khẩu xi măng và các loại vật liệu xây dựng khác, đạt 5 triệu USD vào năm 2005.


5- Xuất khẩu dịch vụ:


5.1- Xuất khẩu lao động và chuyên gia:


Đây là thế mạnh của tỉnh, cả về lao động phổ thông và chuyên gia có trình độ cao. Thế giới có nhu cầu lớn.


Cần mở rộng quan hệ hợp tác để đưa lao động và chuyên gia trong tỉnh đi làm việc ở nước ngoài. Phấn đấu hàng năm đưa từ 3 - 4 trăm người đi lao động sản xuất để có lưu lượng làm việc ở nước ngoài khoảng 1.500 người, để có nguồn thu ngoại tệ khoảng 5 triệu USD.


5.2- Xúc tiến mạnh mẽ các dịch vụ thu ngoại tệ từ khách nước ngoài trên địa bàn như du lịch, cảng biển, vận tải, giao nhận hàng hoá, bưu chính viễn thông... , đạt doanh thu ngoại tệ 5 triệu USD vào năm 2005.


PHẦN THỨ BA


GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH


I. MỘT SỐ GIẢI PHÁP, CHÍNH SÁCH CHỦ YẾU:


1. Xây dựng và triển khai đề án các nhóm hàng xuất khẩu chủ lực:


Để đạt giá trị xuất khẩu 160 triệu vào năm 2005, cần phải ra sức tận dụng và phát huy công suất các cơ sở sản xuất, kinh doanh hàng xuất khẩu hiện có, đồng thời khẩn trương xây dựng và triển khai các dự án mới, tạo ra các nhóm hàng xuất khẩu chủ lực của tỉnh. Giao cho các ngành chủ trì rà soát bổ sung, xây dựng và chỉ đạo thực hiện có kết quả các đề án xuất khẩu chủ lực sau:


1.1- Đề án xuất khẩu thuỷ sản đạt 42 triệu USD trở lên, do Sở Thuỷ sản chủ trì.


1.2- Đề án xuất khẩu hàng dệt may, giầy dép đạt 40 triệu USD, do Sở Công nghiệp chủ trì.


1.3- Đề án sản xuất, xuất khẩu lạc, vừng, đạt giá trị 10 triệu USD, do Sở Thương mại chủ trì.


1.4- Đề án xuất khẩu rau, củ, quả đạt 9 - 10 triệu USD, do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì.


1.5- Đề án xuất khẩu gia súc, gia cầm đạt 5 triệu USD, do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì.


1.6- Đề án xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ đạt 5 triệu USD, do Sở Thương mại chủ trì.


1.7- Đề án xuất khẩu đá ốp lát và vật liệu xây dựng, do Sở Xây dựng chủ trì.


Trên cơ sở Đề án được duyệt, làm cơ sở huy động nguồn lực để xây dựng và triển khai các dự án sản xuất, kinh doanh hàng xuất khẩu cụ thể để đạt được mục tiêu chung. Xúc tiến việc đầu tư xây dựng các khu công nghiệp của tỉnh và " Tiểu khu " ở các huyện cho các mặt hàng, cung đoạn cần sản xuất tập trung; áp dụng chính sách ưu đãi ở mức cao nhất so với các địa phương để thu hút đầu tư sản xuất kinh doanh hàng xuất khẩu.


2. Đổi mới tổ chức bộ máy và công tác cán bộ.


Khuyến khích tất cả các thành phần kinh tế tham gia hoạt động xuất nhập khẩu. Lựa chọn một số doanh nghiệp thương mại Nhà nước, các công ty thương mại lớn hoạt động có hiệu quả, liên kết với các Tổng công ty của Trung ương, hỗ trợ đầu tư để tạo ra những chủ thể mạnh, làm nòng cốt hợp tác, lôi kéo các cơ sở sản xuất kinh doanh tham gia hoạt động xuất khẩu, trong các mô hình tổ chức thích hợp; Cụ thể là:


Nhóm nông, lâm sản, thủ công mỹ nghệ xuất khẩu: Giao cho Công ty Xuất nhập khẩu Thanh Hoá làm nòng cốt, liên kết với các doanh nghiệp, các hợp tác xã, các hộ trang trại để hợp đồng hỗ trợ đầu tư, chuyển giao công nghệ, bao tiêu sản phẩm, chế biến và xuất khẩu hàng hoá.


Nhóm thuỷ sản: Công ty XNK thuỷ sản Thanh Hoá làm nòng cốt, liên kết với các cơ sở nuôi trồng, khai thác và chế biến hải sản, thông qua Hiệp hội Thuỷ sản Thanh Hoá để hỗ trợ đầu tư, chuyển giao công nghệ, hợp đồng bao tiêu nguyên liệu, chế biến và xuất khẩu thuỷ hải sản.


Nhóm dệt may, da giày: Sở Công nghiệp phối hợp chặt chẽ với các Tổng công ty Dệt may, Da giầy, đưa Thanh Hoá vào quy hoạch vùng trọng điểm của cả nước; thu hút các nguồn vốn đầu tư mở rộng, nâng cấp các cơ sở hiện có, xây dựng thêm các cơ sở mới có công nghệ cao, nâng cao uy tín cho sản phẩm dệt may, da giầy của Thanh Hoá.


Nhóm đường và sản phẩm sau đường: Lấy Công ty cổ phần mía đường Lam Sơn làm nòng cốt, mở rộng Hiệp hội Mía đường Lam Sơn, liên kết với Công ty Đường Nông Cống , Việt Đài để sản xuất cồn, bánh kẹo, vươn lên mở rộng xuất khẩu đường và sản phẩm sau đường.


Nghiên cứu thành lập các Hiệp hội khai thác, chế biến, xuất khẩu quặng các loại, đá ốp lát, vật liệu xây dựng... để phát huy năng lực của các thành viên, hạn chế tình trạng cạnh tranh tự phát, gây tổn hại đến lợi ích kinh tế và tài nguyên, môi trường.


Đặc biệt quan tâm thu hút, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, ngoại ngữ cho đội ngũ cán bộ quản lý và kinh doanh xuất nhập khẩu; bố trí sử dụng hợp lý để phát huy năng lực, sở trường của mỗi người; lựa chọn một số cán bộ trẻ, có năng lực, gửi đi đào tạo cơ bản để trở về đảm trách nhiệm vụ quản lý, kinh doanh xuất nhập khẩu tại địa phương. Khuyến khích mạnh mẽ các chủ thể kinh doanh xuất nhập khẩu tiếp cận và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, đổi mới phương thức kinh doanh, hội nhập với bối cảnh quốc tế mới, như phát triển thương mại điện tử, mở rộng thị trường trí tuệ, kinh doanh thương mại gắn với bảo vệ môi trường...


3- Áp dụng chính sách khuyến khích và hỗ trợ xuất khẩu địa phương.


Để các cơ sở sản xuất, kinh doanh hàng xuất khẩu trên địa bàn có điều kiện vượt qua những khó khăn ban đầu, ngoài các chính sách chung của cả nước, cần vận dụng ban hành và tổ chức thực hiện một số chính sách của tỉnh như sau:


3.1- Chính sách thưởng tăng trưởng xuất khẩu cao: Áp dụng cho đơn vị có mức tăng trưởng cao hơn năm trước trên 20%.


3.2- Chính sách hỗ trợ hoạt động xúc tiến thương mại, thưởng cho kết quả xuất khẩu mặt hàng mới, thị trường mới của tỉnh.


3.3- Chính sách hỗ trợ vốn cho sản xuất, kinh doanh các mặt hàng xuất khẩu có thế mạnh nhưng còn gặp nhiều khó khăn ( như nông lâm sản, súc sản, hải sản hàng thủ công mỹ nghệ...); hỗ trợ xây dựng dự án và kêu gọi vốn đầu tư triển khai dự án sản xuất, kinh doanh hàng xuất khẩu; hỗ trợ thành lập quỹ bảo hiểm xuất khẩu cho một số ngành hàng cần thiết.


3.4- Chính sách hỗ trợ huấn luyện, đào tạo nghiệp vụ ngoại thương, khôi phục làng nghề, thu hút nghệ nhân....


4- Cải tiến công tác quản lý Nhà nước về Thương mại và xuất nhập khẩu:


4.1- Cải tiến công tác kế hoạch hoá:


Nhiệm vụ xuất khẩu phải được cụ thể hoá thành kế hoạch dài hạn và hàng năm của tất cả các cấp, các ngành, các đơn vị. Sở Thương mại phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư trình UBND tỉnh phê duyệt kế hoạch chung và chỉ tiêu hướng dẫn cho mỗi địa phương, đơn vị. Theo dõi, đôn đốc và đề xuất ý kiến giải quyết kịp thời những vấn đề nẩy sinh trong quá trình tổ chức thực hiện kế hoạch; đề xuất và áp dụng chính sách khen thưởng của tỉnh đối với đơn vị hoàn thành vượt mức chỉ tiêu kế hoạch được giao.


4.2- Mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động xúc tiến thương mại:


Sở Thương mại chủ trì, phối hợp với các cơ quan chức năng tổ chức tốt việc phổ biến văn bản pháp luật về thương mại, cung cấp thường xuyên các thông tin về thị trường xuất nhập khẩu; thiết lập quan hệ chặt chẽ với các tổ chức xúc tiến thương mại, các cơ quan thương vụ trong và ngoài nước để khai thác và kết nối quan hệ giữa đối tác nước ngoài với doanh nghiệp địa phương; đề xuất cơ chế, chính sách hỗ trợ hoạt động quảng cáo, tiếp thị, hội chợ, triển lãm hàng xuất khẩu ở trong và ngoài nước, đặc biệt là cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Nghiên cứu xây dựng cơ quan đại diện, chi nhánh của tỉnh và các công ty lớn ở một số thị trường trọng điểm.


4.3- Tăng cường hoạt động quản lý thị trường nhằm tạo ra môi trường thông thoáng, bình đẳng để khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia hoat động xuất khẩu. Rỡ bỏ những cản trở do thủ tục hành chính lạc hậu, phiền hà. Tạo điều kiện thuận lợi nhất trong các hoạt động vận tải, kiểm hoá, kiểm dịch, lưu thông hàng xuất khẩu trên địa bàn tỉnh.


4.4- Kiện toàn tổ chức, nâng cao trình độ cán bộ quản lý Nhà nước về thương mại ở cấp tỉnh và cấp huyện: Mỗi ngành hữu quan và UBND các huyện phải bố trí cán bộ chuyên trách về công tác xuất khẩu, đáp ứng yêu cầu tham mưu cho cấp uỷ và chính quyền để thực hiện thắng lợi mục tiêu nhiệm vụ xuất khẩu đã được đề ra. Cải cách mạnh mẽ các thủ tục hành chính, xoá bỏ những thủ tục phiền hà, tạo môi trường thuận lợi nhất cho các nhà đầu tư xây dựng, triển khai thực hiện các Dự án sản xuất, kinh doanh hàng xuất khẩu.


II. TỔ CHỨC THỰC HIỆN


1- Trên cơ sở chương trình xuất khẩu giai đoạn 2002 - 2005 của tỉnh, các sở, UBND các huyện, thị xã, Thành phố xây dựng chương trình của ngành, cấp mình và tổ chức chỉ đạo các cơ sở sản xuất - kinh doanh thực hiện một cách có hiệu quả. Sở Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Sở Thương mại chỉ đạo, giúp đỡ các ngành, các huyện xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch xuất khẩu; nắm và tập hợp tình hình chung của toàn tỉnh. UBND các huyện, thị xã, thành phố cần chấn chỉnh lại công tác quản lý nhà nước về xuất khẩu, coi trọng tuyên truyền, phổ biến rộng rãi chủ trương, chính sách của Nhà nước, chỉ đạo và tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ sở sản xuất và đội ngũ thương nhân tham gia chương trình xuất khẩu.


2- Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các ngành chức năng đề xuất cơ chế khuyến khích xây dựng dự án sản xuất, kinh doanh hàng xuất khẩu, đặc biệt là các nhóm hàng xuất khẩu chủ lực; giải pháp huy động vốn đầu tư sản xuất - kinh doanh hàng xuất khẩu trình UBND tỉnh phê duyệt.


3- Ban Tổ chức chính quyền phối hợp với các ngành hữu quan xây dựng đề án tổ chức bộ máy cán bộ đảm bảo thực hiện tốt chức năng quản lý Nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu.


4- Sở Thương mại chủ trì, phối hợp với Sở Tài chính - Vật giá và các ngành chức năng xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích, hỗ trợ xuất khẩu, trình UBND tỉnh quyết định. Thường xuyên nắm yêu cầu thực tế để tham mưu cho tỉnh tổ chức thực hiện các chính sách đem lại hiệu quả cao. Sở Thương mại chịu trách nhiệm chính về dự báo và tổ chức tìm kiếm thị trường xuất khẩu cho sản phẩm có lợi thế của tỉnh.


5- Sở Thương mại chủ trì, phối hợp với các ngành chức năng đề xuất phương án kiện toàn tổ chức, nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ ngoại thương, tăng cường quản lý Nhà nước về thương mại và xuất nhập khẩu để thực hiện mục tiêu của tỉnh; theo dõi, đôn đốc thực hiện, tập hợp tình hình, báo cáo UBND tỉnh giải quyết những vấn đề nảy sinh trong quá trình triển khai Đề án.


6- Ban chỉ đạo chiến lược xuất khẩu đến 2010 của tỉnh có trách nhiệm kiểm tra, đôn đốc các ngành, các huyện, thị xã Thành phố thực hiện tốt nội dung đề án này; đồng thời kiến nghị UBND tỉnh bổ sung, sữa đổi kịp thời những nội dung không còn phù hợp của đề án; kiến nghị những biện pháp bảo đảm triển khai thực hiện đề án có hiệu quả./.


Tổng quan văn bản

Số ký hiệu2116/2002/QĐ-UB
Ngày ban hành27/06/2002
Loại văn bảnQuyết định
Ngày có hiệu lực01/01/2002
Nguồn thu thậpCơ sở dữ liệu
Ngày đăng công báo---
Cơ quan ban hành / Người kýUBND tỉnh Thanh Hóa / Nguyễn Văn Lợi
Phạm viThanh Hóa
Trích yếuVề việc ban hành chương trình phát triển xuất khẩu tỉnh Thanh Hoá giai đoạn 2002 - 2005
Tình trạng hiệu lựcHết hiệu lực toàn bộ

Chưa có thông tin lược đồ

Văn bản này hiện chưa được cập nhật dữ liệu về lược đồ liên quan.