Quay lại

Quyết định 21/2006/QĐ-BTNMT ban hành quy phạm quan trắc hải văn ven bờ do Bộ trưởng Bộ tài nguyên và môi trường ban hành

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ
MÔI TRƯỜNG

------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
------------

Số: 21/2006/QĐ-BTNMT

Hà Nội, ngày 15 tháng 12 năm 2006

QUYẾT ĐỊNH

BAN HÀNH QUY PHẠM QUAN TRẮC HẢI VĂN VEN BỜ

BỘ TRƯỞNG BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

Căn cứ Nghị định số 91/2002/NĐ-CP ngày 11 tháng 11 năm 2002 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức bộ máy của Bộ Tài nguyên và Môi trường;

Căn cứ Nghị định số 141/HĐBT ngày 24 tháng 8 năm 1982 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ban hành Điều lệ công tác tiêu chuẩn hóa;

Theo đề nghị của Vụ trưởng Vụ Khí tượng Thủy văn, Vụ trưởng Vụ Khoa học - Công nghệ và Vụ trưởng Vụ Pháp chế,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Tiêu chuẩn ngành 94 TCN 8 - 2006 "Quy phạm quan trắc hải văn ven bờ".

Điều 2. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2007. Bãi bỏ Quyết định số 178/QĐ-KTTV ngày 21 tháng 8 năm 1991 của Tổng cục trưởng Tổng cục Khí tượng Thủy văn ban hành Quy phạm quan trắc hải văn ven bờ 94 TCN 8 - 91.

Điều 3. Chánh Văn phòng Bộ, Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ, Vụ trưởng Vụ Kế hoạch - Tài chính, Vụ trưởng Vụ Khí tượng Thủy văn, Vụ trưởng Vụ Khoa học - Công nghệ, Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Giám đốc Trung tâm Khí tượng Thủy văn quốc gia và Thủ trưởng các đơn vị có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.

Điều 3. CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TIÊU CHUẨN NGÀNH

QUY PHẠM

QUAN TRẮC HẢI VĂN VEN BỜ

94 TCN8 – 2006

Điều 3. Quyết định ban hành số: 21/2006/QĐ-BTNMT ngày 31 tháng 12 năm 2006

TIÊU CHUẨN NGÀNH

Điều 3. Quy phạm quan trắc hải văn ven bờ được sửa đổi, bổ sung dựa trên cơ sở:

- Pháp lệnh Khai thác và Bảo vệ công trình khí tượng thuỷ văn;

- Nghị định 24/CP ngày 19 tháng 3 năm 1997 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Khai thác và Bảo vệ công trình khí tượng thuỷ văn;

- Quy phạm quan trắc hải văn ven bờ 94 TCN 8-91;

- Quy phạm quan trắc khí tượng bề mặt 94 TCN 6-2001;

- Quyết định số 03/2006/QĐ-BTNMT ngày 17 tháng 3 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Quy chế Thành lập, di chuyển, nâng cấp, hạ cấp, giải thể trạm khí tượng thuỷ văn;

- Tài liệu hướng dẫn sử dụng và bảo quản thiết bị;

- Quy phạm đo độ cao hạng I, II, III, IV do Cục Đo đạc và Bản đồ Nhà nước ban hành năm 1988;

- Một số kinh nghiệm thực tế trong quan trắc, chỉnh lý số liệu, thanh tra kỹ thuật trạm khí tượng hải văn ven bờ trong những năm qua.

QUY PHẠM NÀY THAY THẾ:

Quy phạm quan trắc hải văn ven bờ 94 TCN 8-91.


KT. BỘ TRƯỞNG THỨ TRƯỞNG Nguyễn Công Thành



Cơ quan biên soạn và đề nghị ban hành
Trung tâm Khí tượng Thủy văn quốc gia
Thủ trưởng cơ quan
TS. Bùi Văn Đức, Giám đốc
Chủ trì biên soạn
TS. Trần Quang Tiến
Phó Trưởng phòng
Tham gia biên soạn
KS. Bùi Đình Khước
KS. Trần Tiệp Năng
KS. Bùi Thái Hoành
KS. Nguyễn Văn Tràng
Cơ quan trình duyệt
Vụ Khí tượng Thủy văn
Thủ trưởng cơ quan
Nguyễn Trung Nhân, Vụ trưởng
Cơ quan xét duyệt và ban hành
Bộ Tài nguyên và Môi trường
Thủ trưởng cơ quan
Mai ái Trực, Bộ trưởng


Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
QUY PHẠM QUAN TRẮC
HẢI VĂN VEN BỜ
94 TCN 8 - 2006
Bộ Tài nguyên
và Môi trường
QUY PHẠM QUAN TRẮC
HẢI VĂN VEN BỜ
Có hiệu lực từ
01 - 01 -2007

1. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

1. 1 Đối tượng và phạm vi áp dụng
Quy phạm này áp dụng vào việc quan trắc, chỉnh lý sơ bộ, ghi sổ, lập bảng biểu kết quả quan trắc các yếu tố khí tượng hải văn tại các trạm khí tượng hải văn ven bờ và hải đảo thuộc mạng lưới trạm khí tượng thuỷ văn cơ bản do Bộ Tài nguyên và Môi trường quản lý. Đối với trạm khí tượng hải văn dùng riêng của các ngành khác, căn cứ vào điều kiện tổ chức, quản lý, quy định áp dụng các phần trong Quy phạm này cho thích hợp.

1. 2 Sửa đổi quy phạm
Trong quá trình thực hiện, nếu phát hiện vấn đề cần sửa đổi, bổ sung phải báo cáo cơ quan có thẩm quyền và chỉ cơ quan có thẩm quyền mới được quyết định thay đổi nội dung của Quy phạm này.

1. 3 Triển khai quan trắc tại trạm
Chỉ tiến hành quan trắc các yếu tố khí tượng hải văn tại trạm khí tượng hải văn ven bờ và hải đảo sau khi cơ quan có thẩm quyền xét duyệt số lượng hạng mục quan trắc, vị trí quan trắc, công trình, thiết bị dùng để quan trắc và chế độ quan trắc.

1. 4 Phương pháp và thiết bị quan trắc mới
Chỉ sử dụng phương pháp quan trắc và thiết bị quan trắc mới sau khi cơ quan có thẩm quyền xét duyệt. Khi quan trắc bằng thiết bị mới phải tuân thủ nghiêm ngặt hướng dẫn sử dụng và bảo quản thiết bị.

1. 5 Vị trí quan trắc các yếu tố khí tượng hải văn tại trạm

1. 5.1 Yêu cầu về vị trí quan trắc
Vị trí quan trắc các yếu tố khí tượng hải văn phải cố định và chỉ thay đổi trong trường hợp có quyết định của cơ quan có thẩm quyền.
Vị trí quan trắc các yếu tố khí tượng hải văn tại trạm phải thoả mãn yêu cầu sau:

a) Mục đích, yêu cầu đặt trạm;

b) Tài liệu quan trắc được có tính đại diện và đạt được độ chính xác cần thiết;

c) Sau khi đạt được mục đích yêu cầu trên, cần chọn địa điểm quan trắc ở những vị trí thuận lợi cho quan trắc, cho công tác bảo vệ, bảo dưỡng công trình, thiết bị quan trắc.

1. 5.2 Chọn địa điểm quan trắc
Việc chọn địa điểm quan trắc phải tuân thủ theo Quy chế thành lập, di chuyển, nâng cấp, hạ cấp, giải thể trạm khí tượng thuỷ văn.

1. 5.3 Di chuyển địa điểm quan trắc

a) Di chuyển địa điểm quan trắc trong các trường hợp:
- Các công trình quan trắc bị vi phạm hành lang an toàn kỹ thuật nghiêm trọng hoặc địa điểm quan trắc bị tai biến (sạt lở, nứt lún) không thể tiến hành quan trắc bình thường được;
- Chế độ yếu tố quan trắc tại vị trí quan trắc hiện tại đã thay đổi, không còn tính đại diện;
- Do yêu cầu về xây dựng kinh tế và quốc phòng buộc phải di chuyển.

b) Việc di chuyển địa điểm quan trắc phải được tiến hành thận trọng và tuân thủ Quy chế thành lập, di chuyển, nâng cấp, hạ cấp, giải thể trạm khí tượng thuỷ văn.

1. 6 Các thiết bị đo, công trình quan trắc ở trạm

1. 6.1 Thiết bị đo, công trình quan trắc ở trạm phải bảo đảm các yêu cầu sau:

a) Đạt được yêu cầu về độ chính xác quan trắc trong mọi tình huống;

b) Thiết bị đo phải có xuất xứ, chứng từ kiểm định;

c) Công trình quan trắc phải chắc chắn, an toàn khi quan trắc;

d) Các thiết bị đo, công trình ở trạm phải được bảo quản, bảo dưỡng theo đúng quy trình, quy phạm hiện hành;

đ) Phải có thiết bị đo, vật tư dự trữ.

1. 6.2 Thiết bị đo ở trạm phải được trang bị tương ứng với nhiệm vụ quan trắc được giao cho trạm:

a) Thiết bị đo phục vụ cho quan trắc các yếu tố khí tượng được trang bị theo Quy phạm quan trắc khí tượng bề mặt hiện hành;

b) Thiết bị đo phục vụ cho quan trắc các yếu tố hải văn được trang bị theo Quy phạm này:
- Quan trắc nhiệt độ nước biển tầng mặt: phải có nhiệt kế đo nhiệt độ nước có vỏ bảo vệ bằng kim loại hoặc máy đo nhiệt độ nước biển;
- Quan trắc độ muối nước biển tầng mặt: phải có máy đo độ muối nước biển;
- Quan trắc mực nước bằng thuỷ chí, cọc: phải có thuỷ chí, cọc, thước đo mực nước cầm tay;
- Quan trắc mực nước bằng máy đo mực nước: phải có máy đo mực nước;
- Quan trắc sóng bằng mắt: phải có đồng hồ bấm giây;
- Quan trắc sóng bằng máy đo sóng: phải có máy đo sóng, phao, rùa, xích, đồng hồ bấm giây;
- Quan trắc phụ về gió khi quan trắc sóng (đối với trạm có địa điểm quan trắc sóng cách xa vườn quan trắc khí tượng quá 1,5 - 2 km, hoặc vườn quan trắc khí tượng ở trên đồi cao): phải có máy đo gió.

1. 6.3 Công trình quan trắc, vật tư kỹ thuật ở trạm

a) Công trình quan trắc mực nước
- Hệ thống mốc độ cao: mốc chính, mốc kiểm tra.
- Tuyến cọc, thủy chí, nhà đặt máy đo mực nước, giếng đặt máy đo mực nước.

b) Công trình đo sóng

c) Vật tư kỹ thuật: xô đựng nước, vật tư bảo quản bảo dưỡng máy (dầu, mỡ, khăn lau, bộ dụng cụ đồ nghề cơ khí), vật tư kỹ thuật phục vụ trực tiếp cho thiết bị đo hoạt động (giản đồ, mực ghi giản đồ, pin chuyên dùng), đèn pin, đồng hồ, dầu thắp, cáp, xích, văn phòng phẩm. Ngoài ra trạm phải có vật tư dự trữ.

1. 7 Nhiệm vụ của trạm

1. 7.1 Thực hiện quan trắc các yếu tố khí tượng hải văn đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

1. 7.2 Cập nhật các thông tin mới liên quan đến công tác quan trắc ở trạm vào hồ sơ kỹ thuật trạm. Gửi tài liệu quan trắc (sổ quan trắc, bảng số liệu quan trắc, ...) và báo cáo tháng về Đài Khí tượng Thuỷ văn khu vực đúng thời gian quy định.

1. 7.3 Bảo quản chu đáo thiết bị đo, công trình chuyên môn, kiểm tra đồng hồ, bảo đảm quan trắc đúng giờ quy định.

1. 7.4 Tham gia khảo sát kỹ thuật vị trí địa điểm quan trắc các yếu tố, thông báo tin tức về hiện tượng khí tượng hải văn nguy hiểm và đặc biệt nguy hiểm bằng điện thoại, công văn về cơ quan quản lý cấp trên và chính quyền địa phương.

1. 7.5 Phối hợp với chính quyền địa phương trong việc bảo vệ công trình thiết bị, tài liệu và các cơ sở vật chất khác của trạm. Thực hiện đầy đủ chế độ báo cáo định kỳ 1 tháng 1 lần. Nếu có vấn đề gì xảy ra đột xuất ảnh hưởng đến việc quan trắc, thực hiện nhiệm vụ ở trạm, phải kịp thời báo cáo lên cấp có thẩm quyền.

1. 7.6 Thực hiện các nhiệm vụ khác do cơ quan quản lý cấp trên giao.

1. 8 Nhiệm vụ và trách nhiệm của quan trắc viên

1. 8.1 Trực tiếp thực hiện quan trắc các yếu tố khí tượng hải văn theo đúng quy trình, quy phạm hiện hành.

1. 8.2 Chỉnh lý sơ bộ kết quả quan trắc, ghi sổ quan trắc và lập bảng số liệu quan trắc.

1. 8.3 Chỉ quan trắc và ghi những gì mà tự quan trắc viên thấy được, không suy đoán, không bịa số liệu. Khi quan trắc có hiện tượng gì nghi vấn, phải quan trắc lại và ghi chú vào sổ SHV-

1. 8.4 Không được dùng các thiết bị đo không có chứng từ kiểm định, chứng từ kiểm định hết hạn để quan trắc.

1. 8.5 Trước khi quan trắc phải kiểm tra thiết bị đo, nếu phát hiện thấy hỏng thì phải sửa chữa ngay. Trường hợp thiết bị đo hỏng không chữa được, phải thay thiết bị đo dự trữ.

1. 8.6 Khi gặp sự cố, làm gián đoạn quan trắc (thiết bị đo hỏng không khắc phục được nhưng không có thiết bị đo dự trữ; công trình quan trắc bị thiên tai phá hỏng, ...) phải kịp thời báo cáo lên cấp có thẩm quyền.

1. 8.7 Không được bỏ quan trắc, không nhờ người khác không biết chuyên môn làm quan trắc.

1. 8.8 Thực hiện quan trắc đúng giờ và đúng trình tự.

1. 8.9 Phải sử dụng và bảo quản thiết bị đo cẩn thận, cần che đậy, lau chùi, không để gỉ.

1. 8.10 Nghiêm chỉnh chấp hành nội quy, quy tắc an toàn lao động.

1. 8.11 Thường xuyên học hỏi, trao đổi, trau dồi trình độ chuyên môn nghiệp vụ.

1. 8.12 Thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn khác do trưởng trạm phân công.

1. 9 Giờ quan trắc và trình tự quan trắc
Quan trắc các yếu tố khí tượng hải văn tại trạm được thực hiện theo giờ của Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam và theo trình tự ghi trong Bảng
Đối với những hiện tượng khí tượng hải văn nguy hiểm và đặc biệt nguy hiểm, quan trắc viên phải theo dõi suốt thời gian xảy ra, phải ghi chú, nhận xét và báo cáo những hậu quả của các hiện tượng ấy.
Ngoài ra, theo chỉ thị của cơ quan có thẩm quyền có thể làm thêm các quan trắc phụ. Nội dung quan trắc, thời gian và trình tự quan trắc của quan trắc phụ này thực hiện theo chỉ thị, nhiệm vụ do cơ quan có thẩm quyền giao.
Trường hợp quan trắc không đúng giờ quy định, phải ghi chú rõ vào sổ quan trắc và cho biết giờ thực làm quan trắc. Đồng hồ quan trắc hàng ngày phải hiệu chỉnh theo giờ của Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam. Trạm phải có hai đồng hồ tốt, chính xác đến phút. Nếu đồng hồ nhanh hoặc chậm quá 5 phút trong một ngày phải chỉnh lại cho chính xác.
Bảng 1: Trình tự quan trắc các yếu tố khí tượng hải văn ven bờ


Giờ quan trắc
Yếu tố quan trắc
Thiết bị đo
Thời gian quan trắc
7, 13, 19
Gió và các yếu tố sóng biển
Bằng mắt hoặc
bằng máy
Quan trắc trước giờ tròn 15 phút, riêng kỳ quan trắc 19 giờ có xê dịch theo mùa.
1, 7, 13, 19
Tầm nhìn xa phía biển
Các tiêu điểm
Quan trắc trước giờ tròn 10 phút.
1, 7, 13, 19
Nhiệt độ nước
Nhiệt kế hoặc bằng máy
Quan trắc trước giờ tròn 10 phút.
1, 7, 13, 19
Độ muối
Bằng máy
Quan trắc trước giờ tròn 10 phút.
1, 19
Sáng biển
Bằng mắt
Quan trắc trước giờ tròn 10 phút.
1, 7, 13, 19
Mực nước biển
Thủy chí hay tuyến cọc
Bắt đầu quan trắc trước giờ tròn 2-5 phút, thực hiện quan trắc đúng giờ tròn.
1, 7, 13, 19
Mực nước biển
Máy đo mực nước
Đọc mực nước trên giản đồ và đánh mốc trên giản đồ đúng giờ tròn.
24/24
Các hiện tượng khí tượng hải văn nguy hiểm và diễn biến
Bằng mắt hoặc bằng thiết bị đo
Quan sát, theo dõi diễn biến và ghi chép trong suốt thời gian xảy ra.

1. 10 Ghi và chỉnh lý sơ bộ số liệu quan trắc

1. 10.1 Ghi kết quả quan trắc

a) Sau mỗi kỳ quan trắc, số liệu quan trắc và số đọc trên máy phải ghi vào sổ quan trắc bằng bút chì đen, chữ viết phải rõ ràng, đúng chỗ, đúng quy phạm.

b) Tuyệt đối không được dùng bút chì màu, không được tẩy hoặc xoá. Khi cần chữa những chữ hoặc số đã ghi sai thì dùng bút chì gạch chéo từ góc trên trái sang góc phải, sao cho khi gạch vẫn còn đọc được số liệu và ghi số đúng lên góc phải phía trên chữ hoặc số đã gạch bỏ.

c) Khi tiến hành quan trắc, nhưng vì một lý do nào đó mà không quan trắc được thì ghi dấu "x" và ghi chú nguyên nhân không quan trắc được vào sổ SHV-1 (trừ trường hợp quan trắc sáng biển).

1. 10.2 Chỉnh lý sơ bộ số liệu quan trắc

a) Chỉnh lý sơ bộ số liệu quan trắc phải bảo đảm cơ sở khoa học và phải tuân thủ theo quy trình, quy phạm và tài liệu hướng dẫn chỉnh lý số liệu quan trắc hiện hành. Đối với phương pháp quan trắc mới và thiết bị quan trắc mới không có trong quy phạm hiện hành thì phải tuân thủ theo hướng dẫn sử dụng.

b) Chỉnh lý sơ bộ số liệu quan trắc phải làm các công việc sau:
- Quy hiệu chính cho số đọc trên thiết bị đo;
- Tính các giá trị trung bình;
- Xác định các cực trị;
- Thảo mã điện;
- Chuyển các số liệu đã hiệu chính từ sổ SHV-1 sang bảng BHV-1;
- Kiểm tra, tính toán và chọn cực trị ở bảng BHV-1;
- Chỉnh lý, quy toán giản đồ tự ghi mực nước (đối với trạm có quan trắc mực nước bằng máy tự ghi);
- Chuyển các số liệu từ giản đồ của máy tự ghi sang bảng BHV-2;
- Kiểm tra, tính toán và chọn cực trị ở bảng BHV-2;
- Viết báo cáo về những hiện tượng đặc biệt.

1. 11 Tài liệu kỹ thuật
Để đảm bảo công tác hàng ngày, trạm phải có:

1. 11 Quy phạm quan trắc hải văn ven bờ và Quy phạm quan trắc khí tượng bề mặt;

1. 12 Bảng tra độ ẩm;

1. 13 Mã luật khí tượng bề mặt;

1. 14 Tập Atlat mây;

1. 15 Hướng dẫn sử dụng và bảo quản máy và các công trình hải văn;

1. 16 Hướng dẫn xây dựng các công trình mốc, thủy chí, cọc, thả phao;

1. 17 Các bảng hướng dẫn nghiệp vụ: tính mực nước, sóng;

1. 18 Quy tắc an toàn lao động;

1. 19 Sổ ghi các số hiệu chính máy, số hiệu chính cọc, thủy chí;

1. 110 Hồ sơ kỹ thuật trạm;

1. 111 Hướng dẫn chỉnh lý số liệu quan trắc hải văn ven bờ;

1. 112 Quy phạm đo độ cao hạng I, II, III, IV do Cục Đo đạc và Bản đồ Nhà nước ban hành năm 1988;

1. 113 Hướng dẫn sử dụng và bảo quản thiết bị đo mới (đối với trạm có thiết bị đo mới mà trong quy phạm hiện hành không đề cập đến).

1. 12 Gửi số liệu về Trung tâm Khí tượng Thuỷ văn Biển
Số liệu quan trắc phải được chỉnh lý cẩn thận, kịp thời. Chậm nhất là vào ngày 10 mỗi tháng, tài liệu quan trắc (sổ SHV-1, bảng BHV-1, BHV-2, giản đồ máy tự ghi mực nước) và báo cáo công tác tháng của tháng trước phải gửi về Đài Khí tượng Thuỷ văn khu vực và chậm nhất là vào ngày cuối cùng tháng sau, Đài Khí tượng Thuỷ văn khu vực gửi tài liệu đã kiểm soát về Trung tâm Khí tượng Thuỷ văn Biển.
Trường hợp đặc biệt: đối với các trạm khí tượng hải văn ở đảo xa, phương tiện giao thông đi lại khó khăn, thì thời gian gửi tài liệu quan trắc về Đài Khí tượng Thuỷ văn khu vực, về Trung tâm Khí tượng Thuỷ văn Biển có thể muộn hơn tuỳ theo tình hình thực tế của trạm.

1. 13 Hồ sơ kỹ thuật trạm
Trạm có nhiệm vụ thường xuyên ghi, bổ sung đầy đủ vào hồ sơ kỹ thuật trạm, những thay đổi về công trình, việc thay thế, sửa chữa thiết bị đo, công trình cũng như việc bổ sung hoặc rút bớt thiết bị đo, tình trạng thuyên chuyển cán bộ chuyên môn, ý kiến nhận xét của các đoàn kiểm tra ....

1. 14 Đơn vị đo lường, ký hiệu và các từ viết tắt trong quy phạm
Các đơn vị đo đạc sử dụng trong quan trắc là các đơn vị đo lường hợp pháp của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Một số từ viết tắt được dùng để thuận lợi trong hình thức trình bày. Ý nghĩa của ký hiệu, đơn vị đo lường, từ viết tắt được thể hiện trong Phụ lục A, Quy phạm này.

2. QUAN TRẮC TẦM NHÌN XA PHÍA BIỂN

2. 1 Quan trắc tầm nhìn xa ban ngày
Việc quan trắc tầm nhìn xa ở trạm khí tượng hải văn phải xác định riêng: về phía biển và phía lục địa. Tầm nhìn xa về phía lục địa xác định theo 10 cấp từ 0 đến 9. Quan trắc tầm nhìn xa về phía lục địa phải tuân thủ theo Quy phạm quan trắc khí tượng bề mặt hiện hành.

2. 1.1 Khi xác định tầm nhìn xa về phía biển thì dùng Bảng 2, các tiêu điểm có thể chọn là: mũi đất, các hòn đảo, các phao, đèn pha, cột buồm, ống khói tàu...
Bảng 2: Bảng phân cấp tầm nhìn xa phía biển


Đặc tính
tầm nhìn xa
Khoảng cách
tầm nhìn xa
Cấp
quy ước
Hiện tượng khí quyển
Tầm nhìn xa rất xấu
0 - 50 m
0
Sương mù rất dày
Tầm nhìn xa rất xấu
50 - 200 m
1
Sương mù dày
Tầm nhìn xa rất xấu
200 - 500 m
2
Sương mù vừa phải
Tầm nhìn xa xấu
500 m - 1 km
3
Sương mù nhẹ
Tầm nhìn xa xấu
1 - 2 km
4
Mưa rất to hoặc mù hoặc khói vừa phải
Tầm nhìn xa trung bình
2 - 4 km
5
Mưa to, mù nhẹ (hoặc khói)
Tầm nhìn xa trung bình
4 - 10 km
6
Mưa vừa phải hoặc mù nhẹ (hoặc khói)
Tầm nhìn xa tốt
10 - 20 km
7
Mưa nhỏ hoặc không có giáng thuỷ
Tầm nhìn xa rất tốt
20 - 50 km
8
Không có giáng thủy
Tầm nhìn xa đặc biệt
Trên 50 km
9
Trời hoàn toàn quang đãng (trời trong vắt)

2. 1.2 Trường hợp không có đủ số lượng hoặc thiếu hẳn các tiêu điểm về phía biển thì có thể xác định cấp tầm nhìn xa dựa vào mức độ nhìn rõ nét đường chân trời:

a) Nếu tầm nhìn xa tốt, nghĩa là có thể nhìn thấy hết mặt biển cho tới đường chân trời thì cấp tầm nhìn xa được xác định bằng mức độ nhìn thấy rõ đường chân trời, nhưng phải tùy theo độ cao của mắt quan trắc viên (xem Bảng 3);

b) Nếu tầm nhìn xa quá kém đến mức không nhìn thấy đường chân trời thì phải xác định tầm nhìn xa mặt nước biển ước lượng bằng mắt, bằng máy ngắm sóng hoặc thước ngắm khoảng tầm nhìn xa.
Bảng 3: Phân cấp tầm nhìn xa về phía biển theo độ cao của mắt quan trắc viên

b) Nếu tầm nhìn xa phía biển theo các hướng không giống nhau thì trong sổ quan trắc sẽ ghi tầm nhìn xa tốt nhất và xấu nhất cùng hướng tương ứng.
Khi tầm nhìn xa nhỏ hơn 4 km (nghĩa là từ cấp 5 trở xuống) phải ghi thêm ký hiệu hiện tượng giới hạn tầm nhìn xa (mù, sương mù, mưa ...).


Độ cao của mắt QTV trên mặt biển (m)
Cấp tầm nhìn xa ước lượng
Đường chân trời phía biển
Từ 1 đến 7 m
8 và 9
Nét rất thanh, rất rõ.
Từ 1 đến 7 m
7
Rõ, nhìn thấy dễ dàng.
Từ 1 đến 7 m
6
Không rõ (hơi mờ).
Từ 1 đến 7 m
5
Hoàn toàn không nhìn thấy.
Từ 8 đến 27 m
9
Nét rất thanh, rất rõ.
Từ 8 đến 27 m
8
Rõ nhìn thấy dễ dàng.
Từ 8 đến 27 m
7
Không rõ (hơi mờ).
Từ 8 đến 27 m
6
Hoàn toàn không nhìn thấy.
Quá 27 m
-
Hầu như không bao giờ nhìn thấy đường chân trời có nét thanh.
Quá 27 m
9
Rõ, nhìn thấy dễ dàng.
Quá 27 m
8
Không rõ (hơi mờ).
Quá 27 m
7
Hoàn toàn không nhìn thấy.

2. 2 Quan trắc tầm nhìn xa ban đêm
Quan trắc tầm nhìn xa ban đêm về phía biển đều dựa vào bảng phân cấp tầm nhìn xa (xem Bảng 2).

2. 1 Có thể dựa vào những tiêu điểm ban ngày, chúng chỉ được nhận ra dưới ánh sáng trăng sao, chứ không được trực tiếp nhìn nguồn sáng hay ánh sáng đèn chiếu tới. Trường hợp thiếu những tiêu điểm, áp dụng như đối với trường hợp ban ngày.

2. 2 Trường hợp thiếu tiêu điểm sáng mà trời tối quá thì xác định tầm nhìn xa trước lúc mặt trời lặn một, hai giờ. Nếu từ lúc đó đến 01 giờ đêm không có hiện tượng nào làm giảm tầm nhìn xa thì vẫn có thể lấy tầm nhìn xa ban đêm là tầm nhìn xa đã xác định lúc chiều tối.

2. 3 Không làm quan trắc tầm nhìn xa ban đêm ngay khi vừa ra khỏi nơi sáng, quan trắc viên phải đứng nhìn trong tối một lúc cho quen mắt (không dưới 10 phút) rồi hãy bắt đầu quan trắc.

2. 4 Chỉ xác định tầm nhìn xa tới các đèn trông thấy được ban đêm ở biển (kể cả đèn pha, phao đèn, đèn cảng) nếu đã biết khoảng cách từ các đèn đó và cường độ sáng của đèn không thay đổi.

2. 3 Ghi và chỉnh lý sơ bộ số liệu quan trắc

2. 3.1 Ghi kết quả quan trắc tầm nhìn xa phía biển
Sau kỳ quan trắc, số liệu quan trắc tầm nhìn xa phía biển phải được ghi vào sổ SHV-1. Cách ghi kết quả quan trắc vào sổ SHV-1 phải tuân thủ theo quy định ở Điều 1.10.1 và Mục 9.2, Quy phạm này.

2. 3.2 Chỉnh lý sơ bộ số liệu quan trắc tầm nhìn xa phía biển

a) Chỉnh lý sơ bộ số liệu quan trắc phải tuân thủ theo quy định tại Khoản a, Điều 1.10.2, Quy phạm này.

b) Kiểm tra việc quy đổi từ tầm nhìn xa về cấp tương ứng.

c) Kiểm tra cách ghi ký hiệu hiện tượng giới hạn tầm nhìn xa.

d) Kiểm tra tính hợp lý giữa hiện tượng giới hạn tầm nhìn xa và cấp tầm nhìn xa.

3. QUAN TRẮC MỰC NƯỚC BIỂN

3. 1. Thuật ngữ và giải thích
Trong Quy phạm này các thuật ngữ dưới đây được hiểu như sau:

3. 1.1 Mặt mực chuẩn của nước biển
Mặt mực chuẩn của nước biển là mặt nước đại dương thế giới và các biển phụ thuộc ở thế cân bằng dưới tác dụng của tất cả các lực tác dụng lên nó.
Mặt mực nước chuẩn này ở thế thẳng góc với lực tổng hợp của tất cả các lực tác động vào khối nước. Lực chính yếu tác dụng vào các phần tử nước ở đại dương là trọng lực. Vì vậy, nếu quy ước rằng đại dương ở trạng thái yên tĩnh thì mặt nước đó sẽ luôn luôn thẳng góc với hướng của trọng lực hay dây dọi.

3. 1.2 Mực nước biển quan trắc

a) Mực nước biển quan trắc là tổng của 3 thành phần:
- Mực nước biển trung bình (MSL);
- Thuỷ triều (T);
- Dao động dư (MR).
Mực nước biển quan trắc = MSL + T + MR.

b) Mực nước biển trung bình là giá trị trung bình của tất cả các quan trắc mực nước trong một chu kỳ ít nhất là một năm. Mực nước biển trung bình nhiều năm có ý nghĩa rất lớn vì nó được lấy làm mốc để đo độ cao trên đất liền.

c) Thủy triều là dao động tuần hoàn gây ra do lực tạo triều. Lực tạo triều xuất hiện do tác động của các lực vũ trụ - các lực hấp dẫn giữa Trái đất, Mặt trăng và Mặt trời. Những nét cơ bản của hiện tượng thuỷ triều được quyết định chủ yếu bởi vị trí tương hỗ của Mặt trăng và Trái đất. Thành phần thuỷ triều là tính toán được.

d) Dao động dư là thành phần phi triều gây ra do những nhiễu động của thời tiết và nó được xác định sau khi tách thủy triều ra khỏi dao động mực nước tổng cộng. Dao động dư không có quy luật cũng giống như biến động của thời tiết. Nước dâng do bão, do áp thấp là thành phần dao động dư điển hình.

3. 1.3 Một số thuật ngữ và định nghĩa cơ bản về thuỷ triều

a) Độ cao thuỷ triều là độ cao mực nước triều tính từ mực "0" độ sâu.

b) Nước lớn là mực nước cực đại trong một chu kỳ dao động thủy triều.

c) Nước ròng là mực nước cực tiểu trong một chu kỳ dao động thủy triều.

d) Chu kỳ triều là khoảng thời gian giữa hai lần nước lớn, hoặc hai lần nước ròng liên tiếp nhau.

đ) Biên độ thuỷ triều là độ cao của nước lớn hay nước ròng tính từ mực nước triều trung bình.

e) Độ lớn triều là hiệu độ cao của nước lớn và nước ròng kế tiếp.

g) Vùng nhật triều đều là vùng có thuỷ triều với chu kỳ trung bình bằng một ngày mặt trăng (khoảng 24 giờ 50 phút), hàng ngày có một lần nước lớn, có một lần nước ròng.

h) Vùng bán nhật triều đều là vùng có thuỷ triều với chu kỳ trung bình bằng nửa ngày mặt trăng (12 giờ 25 phút), hàng ngày có hai lần nước lớn (nước lớn cao, nước lớn thấp) và hai lần nước ròng (nước ròng cao, nước ròng thấp).

i) Vùng nhật triều không đều là vùng có thuỷ triều với chu kỳ thay đổi từ nửa ngày sang cả ngày, nhưng chu kỳ cả ngày chiếm ưu thế.

k) Vùng bán nhật triều không đều là vùng có thuỷ triều với chu kỳ thay đổi từ nửa ngày sang cả ngày, nhưng chu kỳ nửa ngày chiếm ưu thế.

l) Nước lớn cao (NLC) là nước lớn lớn hơn trong hai nước lớn xảy ra trong một ngày đối với bán nhật triều.

m) Nước lớn thấp (NLT) là nước lớn nhỏ hơn trong hai nước lớn xảy ra trong một ngày đối với bán nhật triều.

n) Nước ròng cao (NRC) là nước ròng lớn hơn trong hai nước ròng xảy ra trong một ngày đối với bán nhật triều.

o) Nước ròng thấp (NRT) là nước ròng nhỏ hơn trong hai nước ròng xảy ra trong một ngày đối với bán nhật triều.

p) Triều dâng (TD) là khoảng thời gian từ nước ròng đến nước lớn liền kề.

q) Triều rút (TR) là khoảng thời gian từ nước lớn đến nước ròng liền kề.

r) Kỳ nước cường: trong một tháng vào thời kỳ sóc vọng tức là khi Mặt trời, Mặt trăng và Trái đất ở vào vị trí thẳng hàng với nhau, triều lên xuống rất mạnh, có biên độ triều lớn nhất trong tháng, triều lên rất cao, đồng thời cũng xuống rất thấp.

s) Kỳ nước kém: vào thời kỳ triều trực thế, tức là khi Mặt trời, Mặt trăng và Trái đất ở vào vị trí vuông góc với nhau, dao động của triều lên xuống rất yếu quanh vị trí mực nước trung bình, mực nước không lên cao và không xuống kiệt, biên độ triều rất nhỏ.

3. 1.4 Mực nước cực trị tần suất hiếm
Mực nước cực trị tần suất hiếm là mực nước cao nhất cực đại và thấp nhất cực tiểu có thể xảy ra một lần trong chu kỳ 5, 10, 25, 50 hay 100 năm. Các giá trị cực trị này có tầm quan trọng rất lớn trong thiết kế các công trình ven biển, chúng được phân tích, tính toán từ các số liệu thực đo.

3. 1.5 Mực nước biển dâng
Khi có gió mùa mạnh, áp thấp nhiệt đới hoặc bão, mực nước biển có thể bị dâng lên cao hơn mực nước trong điều kiện thời tiết bình thường và có thể tràn qua đê biển gây ra ngập lụt.
Mực nước biển dâng do biến đổi khí hậu: do biến đổi khí hậu Trái đất dần nóng lên làm cho các núi băng ở hai đầu Bắc cực và Nam cực tan ra, dẫn đến hậu quả là mực nước biển có xu thế tăng lên với tốc độ trung bình vài mi li mét một năm.

3. 1.6 Các loại số "0"

a) Số "0" trạm là mặt phẳng nằm ngang (quy ước) ứng với mực nào đó lấy làm gốc để đo mực nước và thường được chọn thấp hơn cả mực nước biển thấp nhất có thể xảy ra tại trạm. Độ cao vị trí số "0" trạm được quy định gián tiếp bằng trị số chênh lệch độ cao của mốc trên số "0" trạm. Ví dụ: tại trạm Hòn Dấu, mốc chính là +3,35 m trên số "0" trạm. Như vậy số "0" trạm Hòn Dấu ở thấp dưới mốc chính là 3,35 m.

b) Số "0" độ sâu (hoặc số "0" hải đồ) là mặt phẳng chuẩn quy ước được chọn làm gốc để đo độ sâu của biển, mặt này là một mặt phẳng nằm ngang, được quy định cho từng vùng biển sử dụng số "0" này và thường được chọn là mực nước thấp nhất có thể có theo điều kiện thiên văn (nước ròng thấp nhất) tại vùng này.

c) Số "0" lục địa là mặt phẳng nằm ngang quy ước trùng với mực nước biển trung bình nhiều năm quan trắc tại một trạm cố định, được lấy làm gốc để đo độ cao của đất liền.

d) Số "0" quy ước, số "0" tuyệt đối: Số "0" lục địa, số "0" độ sâu dùng cho một khu vực, một vùng nào đó gọi là số "0" địa phương hay số "0" quy ước. Số "0" lục địa, số "0" độ sâu dùng cho toàn bộ lãnh thổ, lãnh hải của một quốc gia gọi là số "0" Nhà nước hay số "0" tuyệt đối. Ở Việt Nam số "0" lục địa Nhà nước là mặt mực chuẩn trùng với mực nước trung bình nhiều năm tại trạm Hòn Dấu. Số "0" độ sâu Nhà nước là mặt mực chuẩn trùng với mực nước triều thấp nhất lịch sử tại trạm Hòn Dấu. Hệ thống các mốc độ cao trên đất liền có độ cao quy chiếu về số "0" lục địa Nhà nước gọi là hệ độ cao Nhà nước. Hệ thống các độ sâu đáy biển quy chiếu về số "0" độ sâu Nhà nước gọi là hệ hải đồ Nhà nước. Độ cao của tất cả điểm trên đất liền (ghi trên bản đồ địa hình) được tính từ số "0" lục địa trở lên. Độ sâu của tất cả các điểm trên đáy biển (ghi trên bản đồ hàng hải) được tính từ số "0" độ sâu trở xuống. Vì vậy muốn biết độ sâu thực của biển tại một vị trí nào đó vào thời điểm nào đó thì phải cộng thêm độ cao thủy triều tại thời điểm đó vào độ sâu ghi trên bản đồ hàng hải.

đ) Số "0" thủy chí (hoặc thước đo nước cầm tay) là vạch "0" từ đó để khắc các khoảng chia centimet, deximet, mét trên cột đo nước đó.

3. 2 Phương pháp, thiết bị đo mực nước biển

3. 2.1 Phương pháp đo mực nước biển:

a) Đo trực tiếp dao động của mặt biển;

b) Đo sự thay đổi áp lực của cột nước;

c) Đo thời gian chênh lệch giữa sóng âm truyền tới mặt nước và sóng âm phản xạ từ mặt nước;

d) Đo thời gian chênh lệch giữa sóng rađa truyền tới mặt nước và sóng rada phản xạ từ mặt nước;

đ) Viễn thám - đo từ vệ tinh.

3. 2.2 Thiết bị đo mực nước biển
Tuỳ theo các phương pháp đo mực nước khác nhau người ta chế tạo ra những thiết bị đo khác nhau:

a) Thước đo nước (hay thủy chí), dụng cụ đơn giản nhất;

b) Máy đo mực nước kiểu phao, thiết bị phổ biến nhất;

c) Máy đo mực nước kiểu áp lực;

d) Máy đo mực nước kiểu hồi âm;

đ) Máy đo mực nước kiểu ra đa;

e) Thiết bị đo mực nước từ vệ tinh.

3. 3 Địa điểm quan trắc mực nước biển

3. 1 Địa điểm quan trắc mực nước biển phải thỏa mãn các yêu cầu sau:

a) Lưu thông tự do với biển khơi;

b) Khá sâu để có thể đo được mực nước ròng thấp nhất có thể xảy ra tại nơi quan trắc;

c) Được bảo vệ, không để cho thuyền cập bến làm hư hỏng công trình và ảnh hưởng đến độ chính xác của quan trắc;

d) Được che chắn sóng;

đ) Đi lại quan trắc và kiểm tra độ cao của mốc kiểm tra, số "0" thuỷ chí, đầu cọc tương đối dễ dàng thuận lợi;

e) Nền phải ổn định không gây sụt lún đối với các công trình đo mực nước.
Các vị trí đặt tuyến đo mực nước ở cảng, vùng có kè bảo vệ, đập chắn sóng, giếng đặt máy đo mực nước đặt ở trên bờ nối thông với biển bằng ống dẫn hoặc kênh lạch phù hợp với các điều kiện trên.

3. 2 Nếu bờ biển ở khu vực quan trắc hoàn toàn thoáng không có khả năng xây dựng các công trình bảo vệ cho tuyến đo thì cho phép đặt ở cửa sông gần đó, chọn nơi mà tính chất và biên độ dao động mực nước không khác nhiều so với vùng biển gần đấy. Cần quan trắc song song ở vùng biển và vùng cửa sông một thời gian để so sánh.

3. 4. Công trình quan trắc mực nước biển

3. 4.1 Việc thiết kế, xây dựng công trình quan trắc mực nước biển phải bảo đảm các yêu cầu sau:

a) Đạt được yêu cầu về độ chính xác quan trắc trong mọi tình huống;

b) Vững chắc;

c) An toàn và thuận lợi khi quan trắc, bảo quản, bảo dưỡng.

d) Quan trắc được mực nước cao nhất và mực nước thấp nhất có thể xảy ra tại trạm.

đ) Tồn tại lâu dài, ít có khả năng phải di chuyển do quy hoạch, xây dựng, do tai biến, do thay đổi điều kiện đo đạc làm cho số liệu quan trắc được không mang tính đại diện.

3. 4.2 Các mốc độ cao của trạm đo mực nước biển
Mỗi trạm đo mực nước biển phải xây dựng một mốc chính và ít nhất một mốc kiểm tra (hay còn gọi là mốc phụ). Cấu tạo mốc chính, mốc kiểm tra xem Phụ lục B, Quy phạm này.
Mốc chính có ký hiệu là Mc, được xây ở nơi có địa hình vững chắc, ổn định lâu dài, độ cao không bị thay đổi. Mốc chính có tác dụng cố định số "0" trạm, và để kiểm tra độ cao của mốc kiểm tra. Độ cao mốc chính được dẫn từ mốc độ cao Nhà nước (nếu điều kiện cho phép), ở nơi chưa có điều kiện dẫn từ mốc độ cao Nhà nước thì xác định độ cao giả định trên số "0" trạm (tức là độ cao của mốc tính từ số "0" trạm).
Mốc kiểm tra có ký hiệu là Mkt, nếu trạm có từ hai mốc kiểm tra trở lên thì thêm số thứ tự bên cạnh (ví dụ: Mkt1, Mkt2, ...). Mốc kiểm tra phải đặt ngoài khu vực nước ngập, gần tuyến đo mực nước nhằm bảo đảm việc đo đạc số hiệu chính, kiểm tra số "0" thủy chí, các số "0" trạm được thuận tiện, dễ dàng. Độ cao của mốc kiểm tra được dẫn từ độ cao của mốc chính.

3. 4.3 Tuyến thuỷ chí, cọc

a) Việc thiết kế, xây dựng tuyến thuỷ chí, cọc phải tuân thủ quy định tại Điều 3.4.1, Quy phạm này. Cách thiết kế, xây dựng tuyến thuỷ chí, cọc được trình bày chi tiết tại Phụ lục C, Quy phạm này.

b) Ghi số hiệu cọc (thuỷ chí)
- Cọc được ghi ký hiệu là C, thuỷ chí được ghi ký hiệu là P.
- Dùng số nguyên để ghi số hiệu cọc (thuỷ chí) từ trên xuống dưới theo thứ tự tăng dần, số hiệu được ghi bên phải ký hiệu, cọc (thuỷ chí) liền kề có số hiệu chênh nhau một đơn vị (ví dụ: C1, C2, C3, ...; P1, P2, P3, ...).
- Cọc (thuỷ chí) được xây dựng thêm thì ghi thêm ký hiệu là các chữ cái: a, b, c,... vào phía sau số hiệu của cọc (thuỷ chí) đã có ở vị trí cao hơn (ví dụ: xây dựng thêm một cọc giữa C2 và C3 thì ký hiệu của cọc xây dựng thêm này là C2a).
- Cọc (thuỷ chí) được làm lại thì ký hiệu được ghi như cũ nhưng thêm số thứ tự lần xây dựng lại, ngăn cách bằng dấu gạch ngang vào bên phải (ví dụ: cọc C3 được làm lại lần thứ nhất thì ký hiệu được ghi là C3-1, được làm lại lần thứ hai thì ký hiệu được ghi là C3-2).

3. 4.4 Giếng đặt máy đo mực nước

a) Các kiểu giếng đặt máy đo mực nước
- Giếng kiểu bờ có ống dẫn nước nằm ngang (xem Hình 1);
- Giếng kiểu bờ có ống dẫn nước xi phông (xem Hình 2);
- Giếng kiểu lấy nước trực tiếp (xem Hình 3).

b) Cấu tạo giếng đặt máy đo mực nước
Giếng đặt máy đo mực nước có tác dụng giữ nước biển ở trạng thái yên tĩnh và bảo vệ hệ thống phao của máy đo mực nước.
Giếng đặt máy đo mực nước là một ống trụ làm bằng bê tông cốt thép hoặc bằng ống thép, hoặc bằng ống nhựa cao cấp, có đường kính 600-800 mm. Nếu làm bằng bê tông cốt thép, thành giếng dày 100 mm, nếu bằng ống thép thành dày 5 mm. Chiều sâu của giếng phải đủ lớn để đo được mực nước thấp nhất và mực nước cao nhất có thể xảy ra tại trạm. Chiều sâu của giếng phụ thuộc vào độ lớn thủy triều và độ cao của vị trí đặt giếng. Ống giếng được chôn vào lòng đất hoặc cắm trực tiếp vào nước biển theo phương thẳng đứng sao cho phao không bị va chạm vào thành giếng, đáy giếng phải thấp hơn 1 m so với mực nước thấp nhất có thể xảy ra.
Miệng giếng phải cao hơn mực nước thiết kế 1-1,5 m và cao hơn sàn nhà đặt máy đo mực nước 80 cm.
Thành trong của giếng phải cách mép phao 10-15 cm. Trong giếng có thiết kế lắp đặt thang lên xuống để nạo vét bùn cát, tu sửa. Thang có thể làm bằng thép không gỉ, gắn chặt vào thành giếng hoặc làm bằng những bậc bê tông gắn vào thành giếng và có tay vịn bằng thép không gỉ.

c) Cấu tạo ống dẫn nước vào giếng
Ống dẫn nước vào giếng có tác dụng làm cho nước biển ở ngoài giếng lưu thông được và cân bằng với nước trong giếng theo nguyên lý bình thông nhau.
Các kiểu ống dẫn nước vào giếng:
- Ống dẫn nằm ngang (xem Hình 1): là ống kim loại hoặc chất dẻo, có độ bền cao, đường kính 10 - 25 cm, được đặt theo phương nằm ngang ở độ sâu thấp hơn cả mực nước thấp nhất lịch sử. Chiều dài ống tùy thuộc vào khoảng cách giữa giếng và mực nước thấp nhất lịch sử. Một đầu ống lắp vào giếng sao cho cao hơn đáy giếng 30-40 cm, đầu kia của ống có hình thước thợ, đặt quay miệng hướng xuống đáy biển. Miệng ống thước thợ có nắp đậy, trên mặt nắp có khoan các lỗ để nước ra vào và có lưới kim loại ngăn rác. Trường hợp khoảng cách giữa giếng và mực nước thấp nhất nhỏ hơn 15 - 20 m và điều kiện cho phép có thể đặt một ống dẫn mà không cần phải có bể lắng đọng bùn cát. Trường hợp khoảng cách dài hơn và ở khu vực hay có sa bồi thì giữa đoạn ống cần xây bể lắng đọng bùn cát bằng bê tông, hình trụ, đường kính trong 60-70 cm, cao 60-70 cm và có nắp đậy. Bể lắng phải xây kiên cố để tránh sóng làm hư hỏng;
- Ống dẫn kiểu xi phông (xem Hình 2): ống xi phông là dạng bình thông nhau, nhưng khác với ống dẫn nằm ngang là nó có dạng gần giống hình chữ U ngược có 2 nhánh. Nhánh bên ngoài đặt dốc theo đường bờ và đầu ống đặt ở ngoài biển, một nhánh ống cắm vào trong giếng. Cả hai đầu ống đều phải thấp hơn mực nước thấp nhất lịch sử 30-50 cm. Ở đỉnh xi phông, chỗ uốn cong giữa hai nhánh có gắn một hệ thống điều tiết có tác dụng khởi động xi phông và triệt tiêu bọt khí ở bên trong ống xi phông. Hệ thống điều tiết gồm: một bình thủy tinh kín tuyệt đối và chứa gần đầy nước. Bình được đặt úp ngược. Có hai ống thoát khí và cấp nước bằng chất dẻo nối thông bình thủy tinh với xi phông tại đỉnh. Một vòi bơm chân không được nối thông với bình thủy tinh để bơm hút không khí trong bình. Toàn bộ hệ thống điều tiết và ống xi phông phải kín hoàn toàn;

c) Hình 1: Giếng đặt máy đo mực nước dùng ống dẫn nước nằm ngang

c) Hình 2: Giếng đặt máy đo mực dùng ống dẫn nước kiểu xi phông
- Dẫn nước trực tiếp (xem Hình 3): nước ở ngoài biển được dẫn trực tiếp vào giếng qua đáy giếng, loại dẫn nước này được áp dụng cho những nơi có đường bờ rất dốc và sâu. Giếng được đặt trực tiếp trong nước, đáy giếng thấp hơn mực nước thấp nhất, nhưng không tới đáy biển. Đáy giếng có thể là hình phễu có lỗ thông ở giữa, hoặc là hình phẳng có khoan lỗ.

c) Hình 3: Giếng đặt máy đo mực nước kiểu dẫn nước trực tiếp







d) Cách tính tiết diện của lỗ thông nước
Để bảo đảm mực nước trong giếng và ngoài giếng lưu thông tốt, lên xuống như nhau, chênh lệch mực nước trong và ngoài giếng không quá 1cm, phải xác định tiết diện và số lượng các lỗ ở miệng ống dẫn nước một cách thích hợp. Đường kính của các lỗ phụ thuộc vào kích thước của giếng. Tiết diện ngang của mỗi lỗ được tính gần đúng như sau:
Trong đó:
S - diện tích của một lỗ (cm2);
A - diện tích của miệng giếng (cm2);
B - hệ số, đối với thủy triều là 800-1000;
n - số lượng lỗ cần khoan, chọn tùy ý.
Ví dụ: Số lỗ cần khoan là n = 3;
Miệng giếng có đường kính 80 cm, diện tích miệng giếng sẽ là
A = 5,024 cm2; Hệ số B = 1000;
Diện tích của một lỗ khoan sẽ là: 2.
Với cách tính như trên sẽ bảo đảm nước lưu thông bình thường và lọc được sóng không cho lọt vào trong giếng.

đ) Các sai số đo mực nước do giếng và cách khắc phục
Nguyên nhân gây ra sai số đo mực nước do giếng:
- Bùn cát lấp miệng ngoài của ống dẫn nước;
- Bùn cát lắng đọng nhiều trong đáy giếng;
- Con hà bám phủ các lỗ thông nước;
- Mật độ nước ở trong giếng và ngoài giếng không giống nhau do sự phân tầng lớp nước. Mật độ lớp nước mặt thấp hơn mật độ lớp nước dưới. Hiện tượng này thường gặp ở các cửa sông nhất là mùa mưa lũ;
- Khi có dòng chảy mạnh làm giảm áp lực xung quanh miệng ống dẫn nước và làm cho mực nước trong giếng bị tụt;
- Thành giếng bị nứt, hở gây rò rỉ và thẩm thấu nước từ các mạch ngầm;
- Giếng bị nghiêng lún, sụt.
Biện pháp khắc phục các sai số:
- Không xây dựng giếng đặt máy đo mực nước ở những nơi hay có bồi tụ, xói lở, gần cửa sông hay những nơi có dòng chảy xiết;
- Định kỳ ít nhất 3 tháng 1 lần kiểm tra miệng ngoài của ống dẫn nước, nếu có hà và rác bám vào thì phải tẩy rửa. Kiểm tra đáy giếng, nếu có bùn cát bồi lắng thì phải nạo vét.

e) Kiểm tra độ chính xác và mức độ lưu thông của giếng
Giếng có độ lưu thông tốt và độ chính xác cao khi mực nước trong giếng và ngoài giếng chênh nhau không quá 1cm. Để xác định mức chênh lệch này ta tiến hành quan trắc song song mực nước trong giếng và ngoài giếng. Chọn thời điểm quan trắc vào những ngày thời tiết tốt, không có gió, không có sóng, mặt nước tương đối phẳng lặng. Mực nước bên ngoài quan trắc bằng thủy chí (cọc), bên trong bằng máy đo mực nước. Khoảng thời gian quan trắc là trọn một chu kỳ triều và quan trắc từng giờ một. Chênh lệch mực nước có giá trị dương nếu số đọc trên thủy chí lớn hơn số đọc trên máy và có dấu âm trong trường hợp ngược lại. Tính mức chênh lệch trung bình bằng cách cộng tất cả các giá trị chênh lệch và chia cho số lần quan trắc. Nếu mức chênh lệch trung bình có giá trị không quá 1 cm là giếng đặt máy đo mực nước rất tốt. Nếu mức chênh lệch trung bình quá 5 cm là giếng không bảo đảm yêu cầu kỹ thuật, cần tìm ra các nguyên nhân gây ra sai số và có biện pháp khắc phục.

3. 5 Nội dung và giờ quan trắc mực nước biển

3. 5.1 Quan trắc mực nước biển bằng thủy chí hoặc tuyến cọc

a) Quan trắc mực nước bằng thủy chí
- Hàng ngày quan trắc mực nước 4 lần bằng thủy chí vào 01, 07, 13, 19 giờ.
- Đọc với độ chính xác tới 1 cm, tức là khi các khoảng chia thuỷ chí 2 cm thì độ chính xác tới nửa khoảng chia.
- Muốn đọc mực nước ở thủy chí, quan trắc viên phải nhìn thẳng vào thủy chí đọc vạch chia ở sát mặt nước. Khi không có sóng (xem Hình 4a, 4b), mực nước nằm tại vạch khắc nào, lấy trị số của vạch khắc đó làm số đọc.

a) Hình 4: Số đọc mực nước ở thuỷ chí Hình 5: Đọc mực nước khi có sóng
Nếu mực nước ở giữa hai vạch của thủy chí thì quy tròn đến 1 cm (xem Hình 4c), cách quy tròn như sau:
+ Số lẻ < 0,5 độ chính xác thì bỏ phần lẻ, giữ nguyên trị số hàng đơn vị (ví dụ: mực nước nằm ở vị trí 23,4 cm, lấy số đọc 23 cm);
+ Số lẻ 0,5 độ chính xác thì bỏ phần lẻ, tăng thêm 1 vào hàng đơn vị (ví dụ: mực nước nằm ở vị trí 23,6 cm , lấy số đọc 24 cm).
Khi có sóng, mực nước phải được đọc vào các thời điểm đỉnh sóng và chân sóng liền kề đi qua. Phải quan trắc 3 cặp (đỉnh sóng, chân sóng), giá trị trung bình của 6 lần đọc là số đọc mực nước tại kỳ quan trắc này (xem Hình 5).



b) Quan trắc mực nước bằng cọc
- Muốn đo mực nước ở cọc (xem Hình 6), đúng giờ quy định, quan trắc viên phải đặt thước đo nước cầm tay cho thẳng đứng trên đầu cọc gần nhất bị ngập nước từ 10 cm trở lên, mặt rộng của thước dọc theo luồng nước, mã vạch số hướng về người quan trắc. Nếu không trông thấy cọc thì phải dò cho đúng đầu cọc và gõ cho biết chắc chắn là đã chạm đầu cọc và đặt thước thẳng đứng xuống đúng đầu cọc. Cách đọc như cách đọc mực nước trên thuỷ chí.

b) Hình 6: Tuyến cọc đo mực nước biển
Khi có sóng, cách đọc mực nước như cách đọc mực nước trên thuỷ chí khi có sóng.
- Khi cọc làm lại, chưa ổn định, hoặc tuyến cọc bị tàu thuyền đâm, va, nghi có biểu hiện lún, nghiêng thì phải đọc mực nước kiểm tra giữa hai cọc kề nhau, phải cùng một lúc đọc được số đọc ở cọc đang quan trắc và cọc sắp quan trắc. Nếu mực nước quan trắc ở hai cọc không khớp nhau, phải tìm nguyên nhân, đọc lại hoặc dẫn lại độ cao đầu cọc.
- Khi đọc mực nước trên đầu cọc thấp hơn 10 cm thì phải chuyển đo ở cọc dưới.



3. 5.2 Quan trắc mực nước bằng máy tự ghi mực nước CYM

a) Đánh mốc trên giản đồ vào đúng giờ tròn 1, 7, 13, 19 giờ. Đánh mốc trên giản đồ bằng cách gạt nhẹ cần bút hay quay bánh xe phao một chút để ngòi bút vạch thành một vạch thẳng đứng 2-3 mm về hai phía, xong nhấc bút để tạo một sự ngắt quãng trên đường tự ghi trong thời điểm kiểm tra, đồng thời ghi vào sổ quan trắc trị số chênh lệch mực nước giữa thủy chí và máy tự ghi.
Thời gian đánh mốc phải đúng giờ tròn theo đồng hồ quan trắc viên. Số đọc trên thủy chí kiểm tra và ngòi bút ghi trên giản đồ cùng với số đọc trên vòng chia độ của máy tự ghi, số đọc trên thước thẳng đứng có chia độ phải phù hợp với nhau.

b) Thay giản đồ một lần trong ngày vào lúc 7 giờ sáng. Thời gian thay giản đồ không được lâu quá 5 phút. Nếu quá thì đọc thủy chí thêm một lần nữa và đánh mốc thêm. Trên giản đồ của ngày trước phải ghi tên người thay giản đồ, thời gian (giờ, phút) tháo giản đồ và đọc mực nước trên thủy chí, ứng với lúc nhắc ngòi bút ra khỏi giản đồ. Trên giản đồ mới phải ghi tên trạm, ngày, tháng, năm, tên người lắp giản đồ, thời gian lắp giản đồ (giờ, phút). Sau đó quấn giản đồ vào ống trụ và kẹp giản đồ cẩn thận, xoay ống sao cho ngòi bút chỉ đúng vị trí tương ứng với số đọc mực nước trên thủy chí theo giờ của quan trắc viên. Khi lắp giản đồ, phải tránh để xô lệch, nhăn nheo.

c) Lên giây cót đồng hồ 2 lần vào hai ngày nhất định trong tuần.
Hướng dẫn sử dụng và bảo quản máy tự ghi mực nước CYM xem Phụ lục Đ, Quy phạm này.

3. 5.3 Quan trắc mực nước bằng máy tự ghi mực nước Stevens A71

a) Đánh mốc trên giản đồ vào đúng giờ tròn 1, 7, 13, 19 giờ, đồng thời kiểm tra hoạt động của máy. Đánh mốc trên giản đồ thực hiện như máy CYM.

b) Theo định kỳ hàng tháng tiến hành cắt giản đồ đã ghi của các ngày qua đem về trạm để chỉnh lý, quy toán giản đồ:
- Đúng 8 giờ ngày 11 cắt giản đồ lần 1;
- Đúng 8 giờ ngày 21 cắt giản đồ lần 2;
- Đúng 8 giờ ngày 01 tháng tiếp theo cắt giản đồ lần 3.
Cách tháo, cắt giản đồ xem Phụ lục E, Quy phạm này.

c) Thay giản đồ mới khi giản đồ đang sử dụng sắp hết (xem Phụ lục E).
Thực hiện thay giản đồ mới khi giản đồ đang sử dụng sắp hết. Thời gian thay giản đồ không được lâu quá 5 phút. Nếu quá thì đọc thủy chí thêm một lần nữa và đánh mốc thêm.

d) Lên giây cót đồng hồ 3 tháng 1 lần (xem Phụ lục E).
Hướng dẫn sử dụng và bảo quản máy tự ghi mực nước Stevens A71 xem Phụ lục E, Quy phạm này.

3. 5.4 Ghi, chỉnh lý sơ bộ số liệu quan trắc mực nước

a) Đối với quan trắc mực nước bằng thủy chí hay tuyến cọc:
- Quan trắc viên phải chỉnh lý sơ bộ số liệu mực nước đo được sau khi quan trắc, việc chỉnh lý sơ bộ số liệu quan trắc phải tuân thủ theo quy định ở Khoản a, Điều 1.10.2, Quy phạm này;
- Ghi vào sổ SHV-1 khuynh hướng thuỷ triều, số hiệu thuỷ chí (cọc), giờ làm, số đọc theo thuỷ chí (cọc) của các lần đọc;
- Tính giá trị mực nước trung bình từ ba lần đo;
- Xác định hiệu chính của thủy chí (cọc);
- Quy số đọc mực nước về "0" trạm bằng cách cộng thêm (nếu số hiệu chính là dương) hoặc trừ đi (nếu số hiệu chính là âm) số hiệu chính đó vào số đo mực nước;
- Kiểm tra tính đúng và hợp lý của số liệu: Căn cứ vào kết quả quan trắc của các kỳ quan trắc trước liền kề và tốc độ, xu thế lên xuống của mực nước (cường suất triều) để kiểm tra tính đúng và hợp lý. Kiểm tra xem mỗi kỳ quan trắc đã quan trắc đủ 3 lần chưa (mỗi lần một đỉnh sóng và một chân sóng liên tiếp), mỗi một lần đo thì trị số đọc của đỉnh sóng bao giờ cũng phải lớn hơn hoặc bằng trị số đọc của chân sóng.
Cách ghi kết quả quan trắc vào sổ SHV-1 phải tuân thủ theo quy định ở Điều 1.10.1 và Mục 9.1, 9.2, Quy phạm này.

b) Đối với trạm có quan trắc mực nước bằng máy tự ghi:
Tiến hành chỉnh lý, quy toán giản đồ:
- Chỉnh lý, quy toán giản đồ CYM (xem Phụ lục Đ);
- Chỉnh lý, quy toán giản đồ Stevens A71 (xem Phụ lục E).
Sau khi chỉnh lý, quy toán giản đồ, số liệu mực nước trên giản đồ được ghi vào bảng BHV-2. Cách ghi số liệu quan trắc vào bảng BHV-2 phải tuân thủ theo quy định ở Mục 9.1, 9.3, Quy phạm này.

3. 5.5 Bảo quản các công trình đo mực nước biển

a) Bảo quản hệ thống mốc độ cao
Công tác bảo quản mốc xem Phụ lục B, Quy phạm này.

b) Bảo quản tuyến thủy chí, tuyến cọc:
- Thủy chí thường bị cáu bẩn và có hà, rong rêu bám những chỗ tiếp xúc mực nước, gây khó khăn cho việc đọc số. Vì vậy, trạm phải thường xuyên rửa thủy chí bằng nước ngọt (không dùng xà phòng vì khi gặp nước mặn xà phòng càng dễ làm bẩn mặt thủy chí);
- Do tác dụng phụ của nước biển, vạch kẻ có màu sơn của thủy chí gỗ dần dần mờ đi. Vì vậy, phải chờ lúc nước xuống, sơn lại hoặc thay hẳn thủy chí mới;
- Thước đo cầm tay phải giữ gìn sạch sẽ, luôn luôn rửa bằng nước ngọt và xà phòng. Khi vạch kẻ sơn bị mờ thì phải sơn lại;
- Khi thủy chí (cọc) bị lung lay, nghiêng ngả hoặc bị hư hỏng thì phải tiến hành sửa chữa ngay, sau khi thay các thủy chí, cọc phải đo dẫn về mốc độ cao để xác định số hiệu chính thủy chí, cọc;
- Các kết quả đo dẫn độ cao trước và sau khi sửa phải ghi vào sổ, bảng và hồ sơ kỹ thuật của trạm. Tên, ký hiệu thủy chí, cọc sửa lại được ghi theo quy định tại Khoản b, Điều 3.4.3, Quy phạm này.

c) Bảo quản nhà và giếng đặt máy đo mực nước:
- Phải thường xuyên kiểm tra và giữ cho nhà đặt máy đo mực nước, sàn giếng sạch sẽ, nhà không bị thấm, dột;
- Công tác bảo quản giếng đặt máy đo mực nước xem Phụ lục G, Quy phạm này;
- Khi có những hiện tượng khí tượng thuỷ văn nguy hiểm như bão lớn, sóng to, xói lở mạnh... thì phải bám sát theo dõi khả năng chịu đựng của công trình, nếu thấy có khả năng làm hỏng, sập nhà hoặc ngập giếng thì phải tháo dỡ di chuyển máy.

3. 6 Công tác đo dẫn độ cao mốc, thủy chí, cọc ở trạm

3. 6.1 Xác định độ cao của vị trí "0" thuỷ chí (đầu các cọc) quy về "0" trạm. Các số hiệu chính thủy chí, cọc quy về "0" trạm phải đo đạc chính xác ngay từ khi xây dựng, sửa chữa.

3. 6.2 Đo nối các mốc của trạm với mốc độ cao của Nhà nước để xác định độ cao các mốc theo hệ độ cao Nhà nước (tức độ cao tuyệt đối).

3. 6.3 Kiểm tra thường xuyên sự ổn định chênh cao thủy chí, cọc, mốc kiểm tra so với mốc chính, đối với trạm mới thành lập, 6 tháng kiểm tra một lần, đối với trạm đã thành lập lâu từ 5 năm trở lên, mỗi năm kiểm tra một lần. Kết quả kiểm tra báo cáo về Trung tâm KTTV Biển theo mẫu quy định.
Công tác đo dẫn độ cao thực hiện theo Quy phạm đo độ cao hạng I, II, III, IV do Cục Đo đạc và Bản đồ Nhà nước ban hành năm 1988 (Hướng dẫn đo dẫn độ cao bằng phương pháp thuỷ chuẩn chính xác xem Phụ lục D, Quy phạm này).

4. QUAN TRẮC NHIỆT ĐỘ NƯỚC BIỂN

4. 1 Địa điểm quan trắc nhiệt độ nước biển tầng mặt

4. 1.1 Địa điểm quan trắc nhiệt độ nước biển tầng mặt phải thoả mãn điều kiện:

a) Có độ sâu từ 0,5 m trở lên;

b) Nước biển phải lưu thông với bên ngoài;

c) Không bị ảnh hưởng của các nguồn nước ngầm, nước sông, nước bẩn, nước nóng của nhà máy chảy ra;

d) Không được gần công trình bê tông, đá tảng (trong mùa hè công trình bê tông, đá tảng hấp thụ nhiệt lượng rất lớn khi trời nắng, nhiệt lượng được hấp thụ này sẽ toả ra vùng nước xung quanh và ảnh hưởng đáng kể đến nhiệt độ nước ở đây);

đ) Thuận lợi, an toàn khi quan trắc.

4. 1.2 Địa điểm quan trắc nhiệt độ nước biển thường nằm trong tuyến quan trắc mực nước biển, nhưng phải thoả mãn các điều kiện ở trên.

4. 2 Thiết bị đo nhiệt độ nước biển

4. 2.1 Nhiệt kế đo nhiệt độ nước biển tầng mặt
Nhiệt độ nước biển tầng mặt được đo bằng nhiệt kế thủy ngân có vỏ bằng kim loại (xem Hình 7), vỏ kim loại này có tác dụng bảo vệ nhiệt kế và chứa một lượng nước cần cho việc xác định nhiệt độ.

4. 2.2 Máy đo nhiệt độ, độ muối nước biển YSI-30
YSI-30 là loại máy cầm tay, tiện lợi, dễ sử dụng. Máy YSI-30 được sản xuất tại Mỹ, dùng để đo độ muối, độ dẫn điện và nhiệt độ nước biển. Máy hoạt động dựa trên nguyên tắc cảm ứng của đầu đo (sensor). Cấu tạo, đặc tính kỹ thuật và nguyên lý hoạt động được trình bày trong Phụ lục H, Quy phạm này.

4. 3 Quan trắc nhiệt độ nước biển tầng mặt bằng nhiệt kế

4. 3.1 Cách đo trực tiếp
Khi trạng thái mặt biển và điều kiện quan trắc thuận tiện, dùng dây thả nhiệt kế vào nước sao cho đầu trên của vỏ nhiệt kế ngập cách mặt nước khoảng 5-10 cm. Sau đó kéo nhanh nhiệt kế lên, đổ nước ở bầu hình trụ đi và lại thả nhiệt kế xuống độ sâu cũ. Sau 3 phút phải kéo nhiệt kế lên thật nhanh, đứng quay lưng về phía mặt trời để che nhiệt kế khỏi nắng và tiến hành đọc chỉ số trên nhiệt kế theo trình tự sau:
Xoay ống ngoài để có thể nhìn thấy thang chia độ, đưa nhiệt kế lên ngang mắt, đọc phần mười độ trước, số nguyên đọc sau. Số đọc nhiệt độ, số hiệu chính và trị số nhiệt độ sau khi đã hiệu chính được ghi vào sổ quan trắc. Cần đọc chỉ số trên nhiệt kế nhanh sao cho từ lúc kéo nhiệt kế lên đến lúc đọc không quá 30 giây. Nếu quan trắc vào ban đêm thì có thể chiếu đèn pin từ phía sau nhiệt kế mà đọc. Sau khi ghi số đọc nhiệt kế vào sổ, mới được đổ nước trong bầu ra.

4. 3.2 Cách đo gián tiếp
Cách đo gián tiếp được được dùng khi sóng biển lớn có thể làm hỏng nhiệt kế hoặc do một nguyên nhân nào đó mà không thể ứng dụng cách đo thứ nhất. Sử dụng xô tráng kỹ bằng nước ở nơi quan trắc, sau đó lấy nước vào xô (chú ý không cho xô xuống sâu quá nửa mét). Đặt xô nước vào bóng râm hoặc lấy bóng che, nhúng nhiệt kế vào nước và khuấy hai hoặc ba lần. Nhấc nhiệt kế ra, đổ nước trong bầu hình trụ đi và lại nhúng nhanh nhiệt kế vào nước. Tiến hành đọc chỉ số trên nhiệt kế liên tục mà không nhắc nhiệt kế ra khỏi xô nước. Khi thấy hai số đọc liền nhau có cùng một giá trị (thường là hai đến ba phút kể từ lúc tiến hành đọc) thì ghi giá trị này vào sổ. Nên nhớ rằng, giá trị này sẽ tồn tại không lâu vì nước trong xô có thể bị lạnh đi hoặc nóng lên dưới tác dụng của nhiệt độ không khí. Do đó không nên để nhiệt kế nằm trong xô quá lâu. Để tránh đọc sai, cần đặt nhiệt kế nằm vuông góc với tia nhìn của mắt quan trắc viên (xem Hình 8).

4. Tráng bầu của vỏ nhiệt kế trước lúc đo để làm mất ảnh hưởng của bầu đến số đọc trên nhiệt kế.
Dùng xô kim loại tráng kẽm hoặc tráng men để lấy nước đo nhiệt độ.
Về mùa đông, quan trắc nhiệt độ cần tiến hành thận trọng vì chênh lệch giữa nhiệt độ không khí và nhiệt độ nước rất lớn. Sự chênh lệch đó dẫn đến sự giảm sút nhanh nhiệt độ khối nước nằm trong bầu hình trụ và xô.
Quan trắc xong phải tráng vỏ nhiệt kế vào xô nước ngọt. Treo nhiệt kế vào tường, úp xô đựng nước vào chỗ khô ráo. Không sử dụng xô lấy nước vào việc khác.



4. 3.3 Hiệu chính số đọc trên nhiệt kế
Chỉnh lý quan trắc nhiệt độ nước là quá trình hiệu chính số đọc trên nhiệt kế dựa vào số hiệu chính ghi trong chứng từ kiểm định. Số đọc trên nhiệt kế được cộng đại số với số hiệu chính theo quy tắc sau:
Mỗi nhiệt kế đều có sai số nhất định. Sai số này có thể là số âm (-) hoặc dương (+) và thường tương ứng với một khoảng nhiệt độ nào đó thường là 50C hoặc 100C. Trước khi xuất xưởng nhà sản xuất phải tiến hành kiểm định để xác định sai số (hiệu chính) của nhiệt kế và ghi kết quả kiểm định vào chứng từ kiểm định. Mỗi nhiệt kế bắt buộc phải có chứng từ kiểm định kèm theo, số của nhiệt kế ghi trên chứng từ kiểm định và ghi trên nhiệt kế phải là một;
Nhiệt độ đọc được trên nhiệt kế chưa phải là nhiệt độ thực vì bản thân nó còn mang sai số của chính nhiệt kế gây ra. Để có nhiệt độ thực cần tìm sai số (hiệu chính) tương ứng với trị số đọc được trên nhiệt kế bằng cách nội suy dựa vào sai số trong chứng từ kiểm định rồi lấy trị số nhiệt độ đọc được trên nhiệt kế cộng hay trừ đi trị số hiệu chính tìm được (tuỳ theo dấu của hiệu chính ) ta nhận được nhiệt độ thực.
Ví dụ: số đọc nhiệt độ trên nhiệt kế số 38156 là +22,40C, xác định nhiệt độ thực:
Căn cứ vào chứng từ kiểm định của nhiệt kế trên, hiệu chính cho nhiệt độ +200C là + 0,160C, cho 300C là + 0,250C. Để tìm hiệu chính cho +22,4 0C cần làm phép nội suy để tìm mỗi 10C trong khoảng từ 200C - 300C có sai số là bao nhiêu:
;
Sai số làm tròn đến 0,010C (hai số lẻ sau dấu phẩy). Cứ mỗi độ trong khoảng 200C - 300C có sai số là +0,020C. Vậy 2,40C (22,40C - 200C = 2,40C) có sai số là: +0,02 x 2,4 = 0,048, làm tròn là 0,05. Hiệu chính cho số đọc sẽ là:
(+ 0,16) + (+0,05) = + 0,210C;
Cuối cùng nhiệt độ thực là: 22,40C + 0,210C = 22,610C, làm tròn là 22,60 C.

4. 4 Quan trắc nhiệt độ nước biển tầng mặt bằng máy YSI-30

4. 1 Cách đo nhiệt độ nước biển trực tiếp
Cách này được dùng trong trường hợp trạng thái mặt biển êm, sóng nhỏ, gió nhẹ thời tiết thuận lợi, thực hiện dễ dàng, trình tự đo đạc được tiến hành theo các bước sau:
Mang máy đo YSI-30 ra vị trí quan trắc, dùng tay lấy máy khỏi hộp, cầm dây dẫn thả đầu đo trực tiếp xuống nước sao cho đầu đo ngập nước hoàn toàn, không được thả sâu quá (chỉ thả đầu đo ngập nước từ 10 đến 30 cm). Tay cầm dây lắc nhẹ đầu đo từ 2 đến 3 lần. Nhấn phím (ON/OFF) và giữ yên cho đầu đo cảm ứng làm việc trong khoảng 1 phút, tiến hành bật MODE để chuyển về chế độ đo độ muối, khi đó hộp hiển thị sẽ nhảy số liên tục và chậm dần tới khi ổn định (số đọc ít thay đổi). Tiến hành đọc kết quả trên máy (trị số nhiệt độ hiện lên ở góc phải phía dưới của màn hình hiển thị), thời gian đọc phải nhanh trong vòng từ 5 đến 10 giây. Cách đọc số phải tuân thủ theo trình tự như sau: phần thập phân đọc trước, số nguyên đọc sau và ghi kết quả vào sổ quan trắc, xong việc mới được ấn phím (ON/OFF) tắt máy và kéo đầu đo lên.

4. 2 Cách đo nhiệt độ nước biển gián tiếp
Cách này được dùng trong trường hợp sóng to, gió mạnh, trạng thái mặt biển phức tạp, thực hiện đo theo cách thứ nhất khó khăn. Trình tự đo đạc thực hiện theo các bước sau:
Dùng xô hoặc thùng lấy nước, nhưng phải tráng kỹ bằng nước biển ở nơi quan trắc, tráng kỹ từ 2 đến 3 lần, sau đó lấy nước mẫu đầy xô (chú ý không cho xô hoặc thùng xuống sâu quá 0,5 m) và mang xô nước đặt vào chỗ râm hoặc lấy bóng người che phía ánh nắng mặt trời khi trời nắng, hoặc dùng ô che khi trời mưa. Sau dùng tay lấy máy cầm dây thả đầu đo vào trong xô nước sao cho đầu đo chìm hoàn toàn trong nước (nhưng không để đầu đo chạm thành hoặc đáy xô), tay lắc nhẹ dây từ 2 đến 3 lần. Nhấn phím (ON/OFF) và giữ yên cho đầu đo cảm ứng làm việc trong khoảng 1 phút tiến hành bật MODE để chuyển về chế độ đo độ muối, khi đó hộp hiển thị sẽ nhảy số liên tục và chậm dần tới khi ổn định (số đọc ít thay đổi). Tiến hành đọc kết quả trên máy (trị số nhiệt độ hiện lên ở góc phải phía dưới của màn hình hiển thị), thời gian đọc phải nhanh trong vòng từ 5 đến 10 giây. Cách đọc số phải tuân thủ theo trình tự như sau: phần thập phân đọc trước, số nguyên đọc sau và ghi kết quả vào sổ quan trắc, xong việc mới được nhấn phím (ON/OFF) tắt máy và kéo đầu đo ra khỏi xô.
Hướng dẫn sử dụng và bảo quản máy YSI-30 xem Phụ lục H, Quy phạm này .

4. 5 Ghi, chỉnh lý sơ bộ số liệu quan trắc nhiệt độ nước biển

4. 5.1 Ghi số liệu quan trắc
Sau khi quan trắc, kết quả quan trắc nhiệt độ nước biển phải ghi vào các dòng tương ứng ở sổ SHV-1. Cách ghi kết quả quan trắc phải tuân thủ theo quy định tại Điều 1.10.1 và Mục 9.1, 9.2, Quy phạm này.

4. 5.2 Chỉnh lý sơ bộ số liệu quan trắc nhiệt độ nước biển

a) Chỉnh lý sơ bộ số liệu quan trắc phải tuân thủ theo quy định tại Khoản a, Điều 1.10.2, Quy phạm này;

b) Kiểm tra cách ghi số liệu quan trắc vào sổ SHV-1;

c) Kiểm tra tính hợp lý của nhiệt độ nước quan trắc được. Dựa theo quy luật biến trình ngày, mùa, dựa theo mối quan hệ với thời tiết, so sánh với nhiệt độ nước ở các kỳ quan trắc trước và các giá trị thống kê lịch sử ở trạm để phát hiện sai số thô.

5. QUAN TRẮC ĐỘ MUỐI NƯỚC BIỂN

5. 1 Thuật ngữ và giải thích
Trong Quy phạm này các thuật ngữ dưới đây được hiểu như sau:

5. 1.1 Tổng lượng muối (tính ra gam) chứa trong 1 kg nước biển gọi là độ muối của nước biển, đơn vị độ muối tính bằng phần nghìn (0/00).
Nước biển có thể coi như một dung dịch hoà tan nhiều muối khác nhau.
Cùng với nhiệt độ, độ muối nước biển là một đặc trưng chính của khối nước. Do đó, xác định chính xác độ muối là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong công tác điều tra cơ bản về hải văn.

5. 1.2 Trọng lượng riêng của nước biển là tỷ số giữa trọng lượng (hoặc khối lượng) một đơn vị thể tích nước biển ở nhiệt độ xác định và trọng lượng riêng một đơn vị thể tích nước nguyên chất ở cùng nhiệt độ ấy hoặc nhiệt độ khác.
Trọng lượng riêng của nước biển được xác định như sau:

a) Tỷ số giữa khối lượng một đơn vị thể tích nước biển ở 17,50C với khối lượng một đơn vị thể tích nước cất ở cùng nhiệt độ ấy. Trị số này được ký hiệu bằng:

b) Tỷ số giữa khối lượng một đơn vị thể tích nước biển ở 00C với khối lượng một đơn vị thể tích nước cất ở 40C. Trị số này gọi là trọng lượng riêng hay mật độ nước biển ở nhiệt độ 00C và ký hiệu bằng:

c) Tỷ số giữa mật độ nước biển ở nhiệt độ quan trắc với mật độ nước cất ở nhiệt độ 4oC. Trị số này được gọi là mật độ nước biển và ký hiệu bằng:
Giá trị mật độ và trọng lượng riêng nước biển hầu như lớn hơn đơn vị, nên để đơn giản việc ghi chép và tính toán, thường bỏ bớt con số đơn vị và dịch dấu phấy về phía phải, sau số thứ ba của dãy số thập phân.
Số viết theo cách đó gọi là trọng lượng riêng quy ước và ký hiệu bằng: 17,5 - ở tường hợp a), 0 - ở trường hợp b) và t - ở trường hợp .
Ví dụ: Khi 17,5 = 26,91
Khi 0=27,01
Khi t=25,71
Muốn tính ra độ muối suy từ trọng lượng riêng nước biển người ta dùng các bảng tính sẵn (Bảng hải dương Zubốp).

5. 2 Phương pháp xác định độ muối

5. 2.1 Phương pháp hoá học
Phương pháp xác định độ Clo chứa trong mẫu nước biển, từ đó tính tổng lượng muối chứa trong mẫu nước (Quy phạm tiêu chuẩn đo lường Việt Nam TCVN 21.79).

5. 2.2 Phương pháp điện hoá
Phương pháp dựa trên kết quả xác định độ dẫn điện tương đối của nước biển và suy ra độ muối chứa trong đó.

5. 2.3 Phương pháp vật lý (dùng phù kế)
Phương pháp xác định độ muối nước biển sau khi đã xác định trọng lượng riêng của mẫu nước. Phương pháp này không chính xác bằng phương pháp trên nhưng trang bị đơn giản hơn.

5. 3 Địa điểm quan trắc độ muối nước biển
Quan trắc độ muối nước biển tầng mặt tại địa điểm quan trắc nhiệt độ nước biển tầng mặt.

5. 4 Thiết bị quan trắc độ muối nước biển
Máy đo độ muối YSI-30 (xem Phụ lục H) được sản xuất tại Mỹ dùng để đo độ muối, nhiệt độ, độ dẫn điện của nước biển dựa trên nguyên lý cảm ứng đầu đo (sensor).
Đo độ muối nước biển tầng mặt bằng máy YSI-30 được thực hiện theo một trong 2 cách: đo trực tiếp hoặc đo gián tiếp.

5. 5 Quan trắc độ muối nước biển bằng máy YSI-30

5. 1 Cách đo trực tiếp
Thao tác giống như thao tác ở Điều 4.4.1, nhưng khác cách đọc kết quả trên máy. Khi bật MODE để chuyển về chế độ đo độ muối, máy sẽ tự động tính ra độ muối từ hai thông số là nhiệt độ nước biển và độ dẫn điện nước biển, hộp hiển thị sẽ nhảy số liên tục và chậm dần tới khi ổn định (số đọc ít thay đổi). Tiến hành đọc kết quả trên máy (trị số độ muối hiện thị ở trên màn hình cùng với đơn vị đo ppt), thời gian đọc phải nhanh trong vòng từ 5 đến 10 giây. Cách đọc số phải tuân thủ theo trình tự như sau: phần thập phân đọc trước, số nguyên đọc sau và ghi kết quả vào sổ quan trắc, xong việc mới được ấn phím (ON/OFF) tắt máy và kéo đầu đo lên.

5. 2 Cách đo gián tiếp
Cách này dùng trong trường hợp sóng to, gió lớn, trạng thái mặt biển phức tạp thực hiện đo theo cách trên khó khăn. Các thao tác giống như các thao tác ở Điều 4.4.2. Khi bật MODE để chuyển về chế độ đo độ muối, máy sẽ tự động tính ra độ muối từ hai thông số là nhiệt độ nước biển và độ dẫn điện nước biển, hộp hiển thị sẽ nhảy số liên tục và chậm dần tới khi ổn định (số đọc ít thay đổi). Tiến hành đọc kết quả trên máy (trị số độ muối hiện thị ở trên màn hình cùng với đơn vị đo ppt), cách đọc và ghi kết quả vào sổ như trình bày tại Điều 1, xong việc mới được ấn phím (ON/OFF) tắt máy và kéo đầu đo ra khỏi xô.

5. 6 Ghi, chỉnh lý sơ bộ số liệu quan trắc độ muối nước biển

5. 6.1 Ghi số liệu quan trắc
Sau khi quan trắc, kết quả quan trắc độ muối nước biển phải ghi vào các dòng tương ứng ở sổ SHV-1. Cách ghi kết quả quan trắc phải tuân thủ theo quy định tại Điều 1.10.1, Mục 9.1, 9.2, Quy phạm này.

5. 6.2 Chỉnh lý sơ bộ số liệu quan trắc độ muối nước biển

a) Chỉnh lý sơ bộ số liệu quan trắc phải tuân thủ theo quy định ở Khoản a, Điều 1.10.2, Quy phạm này;

b) Kiểm tra cách ghi số liệu quan trắc vào sổ SHV-1;

c) Kiểm tra tính hợp lý của độ muối quan trắc được. Dựa theo quy luật biến trình ngày, mùa, dựa theo mối quan hệ với thời tiết, so sánh với độ muối ở các kỳ quan trắc trước và các giá trị thống kê lịch sử ở trạm để phát hiện sai số thô.

6. QUAN TRẮC SÓNG BIỂN

6. 1 Thuật ngữ và giải thích
Trong Quy phạm này các thuật ngữ dưới đây được hiểu như sau:

6. 1.1 Các loại sóng biển

a) Sóng gió là sóng xuất hiện dưới tác dụng của gió. Sóng gió truyền trên mặt biển có dạng nhấp nhô như những trái núi, truyền liên tiếp hết đợt này đến đợt khác. Thông thường sóng gió có bước sóng ngắn, chu kỳ nhỏ, sườn sóng dốc. Sóng gió thường có dạng không đều.

b) Sóng lừng là sóng do gió sinh ra nhưng vào lúc quan trắc không còn chịu sự tác động của gió nữa. Dao động sóng lúc này chỉ diễn ra dưới tác dụng của trọng lực và đang tắt dần. Nhìn bên ngoài, sóng lừng truyền thành từng đợt liên tiếp nhau có dạng hình luống cày, đầu sóng tròn, sườn sóng thoải. Thông thường sóng lừng có dạng đều. Bước sóng và chu kỳ đều lớn hơn so với sóng gió cùng cấp. Sóng lừng coi như kiểu sóng truyền trong giai đoạn sóng tắt dần. Sóng lừng truyền qua khi lặng gió gọi là sóng lừng chết (sóng lừng thuần).

c) Sóng nước nông là sóng truyền vào vùng biển nông có độ sâu bằng hoặc nhỏ hơn nửa độ dài sóng. Những sóng này sẽ giữ nguyên kiểu cũ, nhưng thường dốc hơn, độ dài cũng kém hơn. Có thể coi độ sâu bằng nửa độ dài sóng là giới hạn gần đúng chuyển tiếp từ sóng nước sâu sang thành sóng nước nông.

d) Sóng lăn tăn là dạng sóng lúc mới hình thành do tác động của gió. Các đầu sóng hơi nhấp nhô tựa như những vẩy cá. Sóng lăn tăn có độ dài và độ cao rất nhỏ, chạy thành những hàng song song cách nhau vài cm, độ cao < 25 cm. Dao động của sóng lăn tăn không xâm nhập được vào lớp nước dưới mặt biển và sẽ tắt ngay sau khi gió ngừng thổi.

đ) Sóng xô bờ là sóng có lưỡi dài phủ bọt trắng xoá khi sóng truyền vào bờ nông, thoải. Do ma sát đáy mà phần dưới của sóng bị giữ lại, phần trên vươn về phía trước có tốc độ lớn nên tạo thành những đỉnh sóng dài phủ bọt trắng đập mạnh vào bờ hoặc vỡ đổ tạo thành tiếng động ầm vang, có thể nghe được.

e) Sóng đập: khi sóng xô bờ đập vào vách đá dựng đứng hay bờ dốc, nước và bọt vọt cao gọi là sóng đập (sóng vọt).

g) Sóng gợn: khi sóng truyền qua bãi cát, đá ngầm ở xa bờ, thấy có gợn bọt, gọi là sóng gợn.

h) Sóng nhào (sóng vỡ): khi truyền vào vùng bãi biển dốc, sóng xô bờ bị vỡ và đổ vào bờ, được gọi là sóng nhào (sóng vỡ).

i) Sóng thần: sóng thần theo tiếng Nhật gọi là Tsunami, do động đất, núi lửa sinh ra ở ngoài khơi. Khi tạo thành sóng thần, tại thời điểm xuất hiện sụt lở ở đáy đại dương, nước được dồn đến trung tâm vực sâu vừa mới tạo thành, làm tràn đầy nó, sau đó dưới tác động của lực quán tính lại làm đầy thêm nữa, tạo nên đồi nước không cao nhưng thể tích khổng lồ trên mặt đại dương. Dưới tác dụng của trọng lực khối nước bắt đầu dao động quanh mực nước đại dương yên tĩnh, tạo thành sóng thần. Ở nơi phát sinh sóng thần do động đất gây ra là sóng ngang với độ cao không lớn, tốc độ truyền sóng khá lớn, bước sóng dài đến hàng trăm kilômét. Khi ra khỏi vùng phát sinh, độ cao sóng thần giảm đi, bước sóng tăng lên. Tuy nhiên, khi tiến vào bờ, độ cao tăng lên đột ngột, có thể đạt tới hàng chục mét. Sóng thần thường gây ra tai hoạ khủng khiếp cho cư dân ven biển khi nó tràn vào bờ.

6. 1.2 Các yếu tố sóng biển

a) Độ cao sóng (h) là khoảng cách đo bằng mét theo chiều thẳng đứng từ chân sóng đến đỉnh sóng (xem Hình 9).

a) Hình 9: Các yếu tố sóng biển



b) Biên độ sóng (a) là khoảng cách đo bằng mét bằng 1/2 độ cao sóng theo chiều thẳng đứng từ chân sóng đến đỉnh sóng.

c) Độ dài sóng () là khoảng cách đo bằng mét theo chiều ngang giữa hai đầu sóng hoặc hai chân sóng liên tiếp.

d) Độ dốc sóng () là góc nghiêng tạo bởi đường thẳng nằm ngang và đường thẳng nối đỉnh sóng với điểm thấp nhất của chân sóng về phía khuất gió. Độ dốc được biểu thị bằng độ và có thể đặc trưng bằng tỷ số giữa độ cao và độ dài sóng = h/.

đ) Chu kỳ sóng () là khoảng thời gian tính bằng giây giữa hai đỉnh đầu sóng liên tiếp qua một điểm nhất định nào đó trên mặt biển.

e) Tốc độ truyền sóng (C) là khoảng cách mà một đỉnh sóng chuyển dịch trong một giây theo hướng truyền sóng (m/s).

g) Tần số sóng (f) là số lượng đỉnh sóng truyền qua một điểm cố định trên mặt biển trong thời gian 1 giây.

h) Hướng sóng: hướng sóng được xác định là hướng mà sóng từ đâu truyền tới, hướng sóng được xác định theo 8 hướng chính la bàn.

i) Sai số các yếu tố sóng quan trắc bằng máy: độ cao sóng chính xác đến 0,01 m, độ dài sóng chính xác đến 1,0 m, tốc độ truyền sóng chính xác đến 0,1 m/s, chu kỳ sóng chính xác đến 0,1 s.

6. 1.3 Kiểu sóng
Có hai kiểu sóng chủ yếu: kiểu sóng gió và kiểu sóng lừng. Đặc trưng của hai kiểu sóng này được mô tả trong Bảng 4.
Bảng 4: Dấu hiệu để xác định kiểu sóng


Sóng gió
Sóng lừng
- Vào lúc quan trắc, gió vẫn tác động trực tiếp lên sóng do nó gây ra.
- Hướng sóng gió và hướng gió ở vùng nước sâu trùng nhau hoặc chênh lệch nhau không quá 450.
- Sườn sóng ở phía khuất gió dốc hơn ở phía đón gió.
- Đầu sóng thường đổ xuống, tạo thành bọt hoặc bị gió mạnh cuốn tung lên, mặt biển hỗn độn.
- Khi truyền vào vùng nước nông và vào gần bờ, hướng gió và hướng sóng có thể lệch quá 450.
- Tồn tại sau khi gió gây ra đã lặng hoặc yếu đi vào lúc quan trắc, hay đã đổi hướng nhiều ở vùng biển sâu, hướng sóng và hướng gió có thể lệch nhau quá 450.
- Sóng lừng thường là do gió gây ra từ nơi xa vị trí quan trắc.
- Sóng lừng có dạng đều thoai thoải và dài, nhìn mặt biển tựa như những luống cày.

6. 1.4 Dạng sóng
Có hai dạng sóng chủ yếu: đều và không đều. Đặc điểm của sóng đều và không đều mô tả trong Bảng 5.
Bảng 5: Dấu hiệu để xác định dạng sóng


Sóng đều
Sóng không đều
- Dấu hiệu điển hình của sóng đều hai chiều là sự xuất hiện rõ ràng các đầu sóng dài, lưỡi sóng song song nhau. Nhìn mặt biển tựa như những luống cày.
Khoảng cách giữa hai đầu sóng liên tiếp nhỏ hơn độ dài của những đầu sóng liên tiếp theo tuyến chuyển động của chúng.
Sóng lừng là dạng sóng đều.
Sóng gió ở giai đoạn phát triển mạnh và ổn định có dạng đều.
- Đầu sóng không đều (ba chiều) không thành lưỡi dài như trường hợp sóng đều. Đầu sóng vỡ ở từng đoạn của chiều cao hay chiều dài không đều nhau theo tuyến chuyển động. Đầu và chân sóng xen kẽ nhau, trông tựa như những ô bàn cờ.
- Khoảng cách giữa hai đầu sóng liên tiếp lớn hơn độ dài của những đầu sóng liên tiếp theo tuyến chuyển động của chúng.
Những thí dụ điển hình về sóng không đều là:
a) Sóng gió vào giai đoạn bắt đầu phát triển, sóng lăn tăn bắt đầu bị phá vỡ.
b) Sóng giao thoa là sự kết hợp của nhiều hệ sóng khác nhau hoặc nhiều kiểu sóng có các hướng khác nhau.
- Một trong những dạng phát triển của sóng không đều là sóng hỗn tạp, đầu sóng rất ngắn, hình nón và thấy sóng không có vẻ lan truyền. Sóng này còn gọi là sóng đứng.

6. 1.5 Cấp sóng và trạng thái mặt biển
Cấp sóng được phân chia theo 10 cấp từ 0 đến IX (xem Bảng 6).
Bảng 6: Phân cấp sóng theo độ cao sóng

6. Trạng thái mặt biển được phân thành 10 cấp từ cấp 0 đến cấp 9. Dấu hiệu để xác định cấp trạng thái mặt biển ghi trong Bảng 7.
Bảng 7: Dấu hiệu xác định cấp trạng thái mặt biển

6. Chú ý:


Cấp sóng
Độ cao sóng h (m)
Tóm tắt đặc điểm của sóng
0
0
Lặng sóng
I
Sóng yếu
II
Sóng vừa
III
Sóng lớn
IV
nt
V
Sóng mạnh
VI
nt
VII
Sóng rất mạnh
VIII
nt
IX
Sóng mạnh khác thường


Cấp trạng thái mặt biển
Dấu hiệu để xác định trạng thái mặt biển
(đại dương, hồ, hồ chứa nước)
0
Mặt nước phẳng lặng như gương.
1
Mặt nước gợn sóng lăn tăn, có những ngọn sóng nhỏ.
2
Những ngọn sóng nhỏ, bắt đầu đổ xuống có bọt trong (như thuỷ tinh) chứ không trắng.
3
Thấy rõ những sóng nhỏ, một số sóng có bọt đổ xuống tạo thành bọt trắng ở một đôi chổ (sóng bạc đầu).
4
Hình dạng sóng biểu hiện rõ rệt, chỗ nào cũng thấy bạc đầu.
5
Xuất hiện những ngọn sóng cao, các đỉnh sóng có bọt trắng choán những khoảng rộng, gió bắt đầu thổi tung bọt từ các ngọn sóng.
6
Ngọn sóng vạch thành những lưỡi sóng dài, dạng sóng gió, gió thổi vào ngọn sóng làm tung bọt, toả thành dải trắng trườn theo sườn sóng.
7
Những dải bọt dài bị gió thổi tung bao phủ sườn sóng và ở một số nơi bọt trắng tràn cả xuống chân sóng.
8
Bọt trắng phủ các sườn sóng đổ xuống thành những dải rộng, làm cho mặt biển trở thành trắng xoá, chỉ một số nơi (ở vùng chân sóng) là có thể nhìn thấy những khoảng không phủ bọt.
9
Toàn bộ mặt biển bị phủ kín bởi một lớp bọt trắng dày. Không khí chứa đầy bụi nước và bọt nước, tầm nhìn xa bị giảm nhiều.

a) Trạng thái mặt biển được biểu thị bằng cấp từ 0 đến 9 và ký hiệu bằng chữ số Ả Rập;

b) Cấp trạng thái mặt biển chỉ xác định theo các dấu hiệu đã nêu trong Bảng 7:

c) Tiêu chuẩn để xác định cấp trạng thái mặt biển là hình dạng mặt biển dưới tác dụng của gió tới mặt biển và tiêu chuẩn để xác định cấp sóng là độ cao của những sóng lớn, dễ nhìn thấy của sóng gió, sóng lừng;

d) Cấp trạng thái mặt biển phụ thuộc vào cường độ gió thổi còn với cấp sóng thì ngoài cường độ gió ra, còn phụ thuộc kích thước diện mặt nước, đà gió, thời gian gió thổi và độ sâu của biển;

đ) Cấp sóng và cấp trạng thái mặt biển là hai khái niệm khác nhau. Cấp sóng có thể nhỏ hơn, bằng hay đôi khi lớn hơn cấp trạng thái mặt biển. Ví dụ: trong lúc có sóng lừng lớn cấp III, có gió thổi yếu, nhưng trạng thái mặt biển chỉ cấp 2.

6. 2 Phương pháp, thiết bị quan trắc sóng

6. 2.1 Các phương pháp quan trắc sóng

a) Phương pháp quan trắc sóng từ phía dưới bề mặt biển;

b) Phương pháp quan trắc sóng ngay từ bề mặt biển;

c) Phương pháp quan trắc sóng từ phía trên bề mặt biển.

6. 2.2 Thiết bị quan trắc sóng
Tuỳ từng vị trí quan trắc mà lựa chọn những thiết bị phù hợp với từng phương pháp quan trắc. Ví dụ đối với phương pháp a), chọn các máy đo theo nguyên lý áp lực. Đối với phương pháp b), lựa chọn các máy theo nguyên lý biến đổi điện trở, hoặc các phao đo sóng. Đối với phương pháp c), lựa chọn các máy theo nguyên lý rađa, hoặc vệ tinh viễn thám.

6. 3 Địa điểm quan trắc sóng

6. 3.1 Địa điểm quan trắc sóng cần thoả mãn các điều kiện:

a) Khu vực ven bờ về phía biển phải thoáng đối với các hướng gió chính, thịnh hành;

b) Độ sâu của biển ở khu vực quan trắc sóng phải sâu nhất trong vùng ven bờ, dù ở trường hợp nào, độ sâu cũng phải lớn gấp 3 lần độ cao của sóng lớn nhất có thể xảy ra và theo lý thuyết phải không bé hơn nửa độ dài của các sóng lớn để cho sóng không bị biến dạng do ảnh hưởng nước nông. Đồng thời, phải tránh nơi bờ quá dốc và lõm sâu, là nơi có thể xảy ra hiện tượng phản hồi, tạo nên sóng đứng. Sóng đứng này có thể phá hủy hình dạng và kích thước của sóng truyền từ ngoài khơi vào. Đường bờ ở nơi quan trắc không quá khúc khuỷu vì có thể gây ra những biến đổi địa phương về hướng sóng và hình dạng sóng;

c) Không bị đảo, bãi cát nổi, bãi đá ngầm hay các vật chướng ngại khác làm giới hạn hay làm biến dạng sóng từ ngoài khơi truyền vào;

d) Để tính gần đúng độ cao của điểm quan trắc sóng so với mực nước biển, dùng công thức: H = 0,05 0,06 L; trong đó: H là độ cao địa điểm quan trắc sóng tính bằng mét (là độ cao của mắt quan trắc viên hay của máy ngắm sóng); L là khoảng cách bằng mét tính từ điểm quan trắc sóng đến chỗ đặt thước đo sóng, tiêu hoặc phao đo sóng ở phía ngoài biển.
Ví dụ: L = 100 m H = 56 m.
Khi quan trắc bằng mắt thường thì khoảng cách L không vượt quá 100-150 m. Khi quan trắc bằng ống nhòm hay bằng máy đo sóng thì khoảng cách có thể lớn hơn 1 km;

đ) Nếu bờ quá thấp và không thể đặt địa điểm quan trắc sóng đúng độ cao cần thiết thì phải dựng chòi quan trắc sóng;

e) Nơi quan trắc sóng phải không cách xa trạm và phải cho phép quan trắc trong mọi điều kiện thời tiết;

g) Vào ban đêm phải dùng đèn pha để quan trắc sóng;

h) Vị trí quan trắc sóng phải tuân thủ theo quy định liên quan tại Mục 1.5, Quy phạm này.

6. 3.2 Địa điểm quan trắc sóng phải được ghi chép vào hồ sơ kỹ thuật trạm, sổ và bảng:
Các điều kiện quan trắc sóng phải mô tả một cách tỉ mỉ trong hồ sơ kỹ thuật của trạm và ghi vắn tắt vào sổ SHV-1 và bảng BHV-1. Trong hồ sơ kỹ thuật, nhất thiết phải có bản đồ độ sâu vùng quan trắc sóng và sơ đồ địa điểm nhà đo sóng, vị trí đặt phao đo sóng hay tiêu đo sóng.

6. 4 Công trình quan trắc sóng

6. 4.1 Công trình quan trắc sóng phải thoả mãn yêu cầu tại Điều 1.1, Quy phạm này.

6. 4.2 Nhà đo sóng
Nhà đo sóng để bảo vệ máy, chống mưa nắng, được xây kiên cố, có kích thước 1,5 x 1,5 x 2,0 m, có 3 cửa hướng ra biển. Trong nhà có một trụ vững chắc bằng gỗ, gạch xây hay bê tông để đặt máy, đế máy được gắn chặt vào trụ bằng bu-long.

6. 4.3 Phao đo sóng
Quy cách phao, xích, rùa và cách thả phao xem Phụ lục I, Quy phạm này.

6. 4.4 Công trình quan trắc sóng cho thiết bị đo mới
Đối với trạm có thiết bị đo sóng mới không có trong Quy phạm này thì công trình quan trắc (nếu có) đi liền với thiết bị mới được xây dựng theo thiết kế, hướng dẫn lắp đặt, sử dụng của thiết bị.

6. 5 Nội dung và giờ trắc quan trắc sóng

6. 5.1 Giờ quan trắc
Hàng ngày quan trắc sóng 3 lần vào 7, 13, 19 giờ. Riêng kỳ quan trắc 19 giờ có thể xê dịch theo mùa, tuỳ theo tình hình thực tế tại trạm, nếu vào kỳ quan trắc 19 giờ mà trời tối, nhìn không rõ, khó có thể quan trắc được chính xác thì có thể tiến hành quan trắc sớm hơn, nhưng thời gian lùi lại không quá 2 giờ và phải ghi giờ thực quan trắc vào sổ.

6. 5.2 Trình tự quan trắc sóng:

a) Xác định kiểu sóng, dạng sóng;

b) Xác định trạng thái mặt biển và hướng truyền sóng;

c) Xác định độ cao, độ dài, chu kỳ và tốc độ truyền sóng (trạm có máy đo sóng);

d) Xác định độ cao, hướng sóng và chu kỳ bằng mắt.

6. 5.3 Quan trắc gió
Trong mọi trường hợp, đồng thời với việc quan trắc sóng phải quan trắc gió. Nếu quan trắc sóng thực hiện ở nơi cách xa vườn quan trắc khí tượng quá 1,5 - 2 km, hoặc vườn khí tượng ở trên đồi cao mà gió quan trắc tại vườn khí tượng không thể đặc trưng cho gió trên biển, phải quan trắc phụ về gió tại nơi quan trắc sóng. Khi quan trắc phụ về gió tại nơi quan trắc sóng phải tuân thủ theo Quy phạm quan trắc khí tượng bề mặt hiện hành.

6. 5.4 Xác định kiểu sóng, dạng sóng

a) Sóng biển diễn biến phức tạp, bởi vậy muốn xác định đúng kiểu và dạng sóng, phải quan sát kỹ mặt biển.

b) Kiểu sóng được xác định theo dấu hiệu trình bày ở Bảng 4.

c) Dạng sóng được xác định theo dấu hiệu trình bày ở Bảng 5.

d) Khi quan trắc sóng từ bờ, phải xác định sóng ở vùng xa bờ, ít chịu ảnh hưởng của bờ và đáy. Như vậy, sóng ấy có kiểu và kích thước gần với sóng ngoài khơi hơn hoặc đặc trưng hơn cho cả vùng biển ven bờ.

đ) Khi quan trắc thấy hai loại sóng thì ghi chúng ở dạng phân số: kiểu sóng trội nhất (chủ yếu) ghi ở tử số, còn sóng khác (sóng phụ) ghi ở mẫu số.
Ví dụ: sóng gió chiếm ưu thế còn sóng lừng là sóng thứ yếu thì ghi G/L.
Kiểu sóng được ghi theo quy ước trong Bảng 8.
Bảng 8: Quy định kiểu sóng theo mã số


Kiểu sóng
Mã số
Sóng gió (G)
Sóng lừng (L)
Sóng gió / sóng lừng (G/L)
Sóng lừng từ hai hướng khác nhau (L/L)
Sóng lừng / sóng gió (L/G)
Sóng xô dồn (SXD)
Lặng sóng
1
2
4
5
7
8
0

6. 5.5 Xác định trạng thái mặt biển

a) Ước lượng trạng thái mặt biển phải theo đúng dấu hiệu trình bày ở Bảng 7 và chú ý bề ngoài của đầu sóng. Ước lượng trạng thái mặt biển tính từ ngoài vùng có sóng xô bờ trở ra biển khơi.

c) Khi xác định trạng thái mặt biển cần lưu ý một số dấu hiệu sau:
- Mặt nước lay động, gợn những sóng lăn tăn rất dày đó là dấu hiệu trạng thái mặt biển cấp 1;
- Đầu sóng khi đổ xuống chỉ có bọt trong như thuỷ tinh là trạng thái mặt biển cấp 2;
- Sóng bạc đầu xuất hiện ở một vài nơi trên mặt biển là dấu hiệu trạng thái mặt biển cấp 3;
- Khi đầu sóng đổ xuống có bọt trắng, bọt trắng tràn xuống cả sườn sóng và thấy xuất hiện ở khắp nơi trên mặt biển đó là dấu hiệu của trạng thái mặt biển cấp 4;
- Khi đầu sóng đổ xuống có bọt trắng, bọt tràn cả xuống sườn sóng, chân sóng tạo thành những mảng bọt lớn bắn tung cả lên trên mặt biển và thấy có ở khắp nơi đó là dấu hiệu của trạng thái mặt biển cấp 5;
- Khi bọt trắng phủ kín cả hai sườn sóng, tạo thành mảng trắng lớn bắn tung lên trên mặt biển, lưỡi sóng dài thấy ở khắp nơi đó là dấu hiệu của trạng thái mặt biển cấp 6 (tương ứng khi gió mùa mạnh hoặc áp thấp nhiệt đới);
- Trạng thái mặt biển cấp 7 là tương ứng với khi có bão, sóng bạc đầu phủ gần như kín mặt biển, bọt nước bắn tung lên cao;
- Ở cấp 8 thì toàn mặt biển đều phủ bọt trắng, gió thổi tung từng phần đỉnh sóng, trong không khí có bụi nước và những giọt nước bay theo gió, tương ứng khi có bão lớn;
- Ở cấp 9, khắp mặt biển đều phủ bọt trắng xoá, trong không khí đầy bụi nước và giọt nước, tầm nhìn xa giảm đi rất nhiều, bão rất lớn.

6. 5.6 Xác định hướng truyền sóng
Hướng truyền sóng được xác định theo hướng từ đâu truyền tới và theo 8 hướng chính la bàn (xem Bảng 9). Trạm có thể dùng la bàn, máy ngắm sóng hoặc dùng cọc định hướng trên mặt đất để xác định hướng sóng. Nếu gặp trường hợp dạng sóng không đều, hướng truyền sóng khác nhau thì khi đó phải xác định hướng truyền sóng của từng hệ một. Nếu hai hệ sóng thuộc hai kiểu sóng khác nhau thì các hướng sóng gió và sóng lừng quan trắc được sẽ ghi dưới dạng phân số. Hướng truyền sóng cũng như kiểu sóng phải xác định ở bên ngoài ranh giới hình thành sóng xô bờ.
Bảng 9: Hướng truyền sóng (hướng la bàn)


Sóng truyền từ hướng
Ký hiệu
Mã số
Sóng truyền
từ hướng
Ký hiệu
Mã số
Đông Bắc
Đông
Đông Nam
Nam
Tây Nam
NE
E
SE
S
SW
1
2
3
4
5
Tây
Tây Bắc
Bắc
Không xác định
Lặng sóng
W
NW
N
Sóng xô dồn
-
6
7
8
9
0

6. 5.7 Xác định độ cao sóng bằng mắt và chu kỳ trung bình của sóng
Để xác định độ cao sóng, người ta tiến hành quan trắc tại vị trí đo sóng đã chọn của trạm.

a) Trong vòng 5 phút xác định bằng mắt thường (hoặc dùng ống nhòm) độ cao (mét) của những sóng lớn thấy rõ nhất (sóng gió hoặc sóng lừng) và ghi liên tục vào một tờ giấy nháp.

b) Từ những độ cao quan trắc được, chọn lấy 5 sóng cao nhất ghi vào sổ quan trắc. Độ cao sóng quan trắc bằng mắt được quy tròn:
- đến 0,25 m khi độ cao sóng đến 1,5 m;
- đến 0,5 m khi độ cao sóng từ 1,5 m đến 4 m;
- đến 1 m khi độ cao sóng 4 m và lớn hơn.
Nghĩa là độ cao sóng quan trắc bằng mắt chỉ ghi những số sau:
<0,25; 0,25; 0,5; 0,75; 1,0; 1,25; 1,5; 2,0; 2,5; 3,0; 3,5; 4; 5; 6; ....
Ví dụ: trong 5 phút, quan trắc viên ghi vào giấy nháp những sóng lớn có độ cao như sau:
0,5; 0,75; 0,5; 1,0; 0,75; 1,25; 1,0; 0,5; 0,75 (chín sóng lớn). Loại bỏ các sóng bé ( 0,5; 0,5; 0,5; 0,75), ghi vào sổ độ cao 5 sóng lớn (1,25; 1,0; 1,0; 0,75; 0,75) và tính trị số trung bình của 5 sóng đó. Chọn trong 5 sóng đó sóng lớn nhất có độ cao là 1,25 m tương ứng với cấp IV và ghi vào sổ.

c) Xác định chu kỳ của sóng bằng mắt: trên mặt biển, người ta chú ý các vật nổi bất kỳ (chim đậu trên mặt nước, bọt biển, mảnh gỗ, đoạn cây) sau đó dùng đồng hồ bấm giây xác định thời gian 11 đầu sóng liên tục đi qua (ứng với 10 sóng đi qua) vật nổi đó. Chu kỳ sóng sẽ bằng thời gian ấy chia cho 10. Xác định chu kỳ sóng 3 lần như vậy sau tính chu kỳ trung bình từ 3 lần đó.
Ví dụ: qua một điểm trên mặt biển, ta xác định thời gian 11 đầu sóng ba lần là 48, 54 và 42 giây. Do đó chu kỳ sóng sẽ là 4,8; 5,4; và 4,2 giây. Chu kỳ trung bình của sóng là:
( 4,8 + 5,4 + 4,2 ) : 3 = 4,8 (s)
Việc xác định độ cao, chu kỳ sóng bằng mắt chỉ tiến hành khi trạm không có máy đo sóng.

6. 5.8 Xác định các yếu tố sóng bằng máy đo sóng phối cảnh Ivanốp
Máy đo sóng phối cảnh Ivanốp do Liên Xô sản xuất, công tác thả phao đo sóng và lắp đặt máy phải hoàn thành trước khi đưa máy vào sử dụng. Cấu tạo và cách thả phao đo sóng xem Phụ lục I, cách lắp đặt và chỉnh máy xem Phụ lục K, Quy phạm này.

a) Đo độ cao sóng
Xoay ống ngắm sao cho phao đo sóng trùng với thang độ cao. Tiếp theo, xác định số khoảng chia từ vị trí thấp đến vị trí cao của đỉnh phao. Phần lẻ của khoảng chia được xác định bằng cách ước lượng. Biết số khoảng chia và giá trị mỗi khoảng chia ta sẽ xác định được độ cao sóng: h = H x i x k (m), trong đó H là số khoảng chia trên thang độ cao, i - giá trị của mỗi khoảng chia, k - hệ số k của máy. Chẳng hạn, biên độ dao động của phao ở vị trí thấp trên chân sóng đến vị trí cao trên đỉnh sóng chiếm 3 khoảng chia, giá trị mỗi khoảng chia tương ứng 0,5 m (máy H10), hệ số k = 0,9, độ cao sóng sẽ là: h = 3 x 0,5 x 0,9 = 1,35 (m). Phải xác định trong vòng 5 phút và chọn những sóng lớn nhìn thấy rõ nhất. Từ những sóng lớn nhìn thấy rõ nhất quan trắc được, chọn ra 5 sóng lớn nhất rồi ghi vào sổ SHV-1 ở phần tương ứng.
Để xác định cấp sóng, ta chọn trị số lớn nhất trong số 5 sóng đã ghi vào sổ và quy đổi ra cấp sóng theo quy định trong Bảng 6.
Chỉ dùng máy ngắm sóng quan trắc khi nào sóng lớn từ cấp II trở lên. Độ cao sóng nhỏ hơn 0,25 m không dùng máy, chỉ ghi sổ < 0,25 m.

b) Xác định chu kỳ sóng
Hướng ống kính sao cho sóng truyền về phía mình, các đầu sóng trùng với hệ những đường thẳng nằm ngang của lưới phối cảnh.
Quan trắc qua ống ngắm đỉnh sóng đầu tiên truyền qua một đường ngang nào đó của thang độ, đồng thời bấm đồng hồ bấm giây. Theo dõi 10 đầu sóng liên tiếp nữa đi qua bấm đồng hồ dừng lại.
Ví dụ: thời gian 11 đầu sóng liên tiếp truyền qua đường nằm ngang nào đó của lưới phối cảnh là 66 giây, chu kỳ = 66 : 10 = 6,6 (s). Kết quả tính chu kỳ sóng không cần phải nhân với hệ số k. Quan trắc chu kỳ sóng lặp lại 3 lần, tính giá trị trung bình:
(s)

c) Xác định độ dài sóng và tốc độ truyền sóng
Dùng máy đo sóng để xác định độ dài và tốc độ truyền sóng. Hướng ống ngắm y như khi xác định chu kỳ sóng, nghĩa là hướng sao cho sóng truyền thẳng về phía quan trắc viên. Dựa vào thang độ dài để tính xem khoảng cách giữa hai đầu sóng liên tiếp chiếm bao nhiêu khoảng chia. Nếu khoảng chia là n, mỗi khoảng chia dài d mét thì độ dài thực của sóng sẽ tính như sau:
= d x n x k (m)
Khi xác định tốc độ truyền sóng, cũng hướng ống ngắm của máy y như trường hợp xác định độ dài và chu kỳ sóng. Dùng đồng hồ bấm giây xác định thời gian t mà một đầu sóng truyền qua một hay nhiều khoảng chia của thang đo độ dài. Biết giá trị của mỗi khoảng chia xác định được khoảng cách l mà đầu sóng truyền qua trong thời gian t, tốc độ truyền sóng thực sẽ là:
x k (m/s)
Thông thường lấy l cố định là 100 mét cho dễ đo đạc. Độ dài và tốc độ sóng sẽ xác định cho 5 sóng lớn nhìn thấy rõ nhất, sau đó tính giá trị trung bình số học của chúng.

d) Xác định hướng truyền sóng bằng máy đo sóng phối cảnh
Hướng ống ngắm của máy theo hướng song song với phương truyền sóng. Hướng truyền sóng xác định theo đĩa định hướng có chia độ và lấy tròn theo 8 hướng chính. Nếu sóng truyền về phía quan trắc viên thì ghi số đo trực tiếp trên đĩa định hướng, trong trường hợp ngược lại số đọc cộng thêm 1800.

6. 5.9 Cách đơn giản phát hiện ra sóng thần
Sóng thần là loại sóng rất nguy hiểm, có sức tàn phá rất khủng khiếp. Đặc điểm của sóng thần là: bước sóng rất dài, tốc độ lan truyền ở biển sâu rất lớn, độ cao sóng gần bờ rất cao (có thể đạt hàng chục mét).
Trước khi sóng thần truyền vào bờ, mực nước biển đột nhiên rút xuống rất mạnh, mặc dù trời yên lặng. Tiếp theo có thể lại có một lần hạ thấp mực nước thứ hai, sau đó một thời gian, tuỳ theo khoảng cách từ bờ đến nơi sinh ra sóng thần, sóng thần ầm ầm tràn vào bờ. Do vậy khi thấy mực nước biển đột nhiên rút xuống rất mạnh cần phải cảnh giác có sóng thần.

6. 6 Ghi, chỉnh lý sơ bộ số liệu quan trắc sóng

6. 1 Ghi số liệu quan trắc sóng
Số liệu quan trắc được ghi vào các hàng tương ứng trong sổ SHV-1. Ghi số liệu quan trắc sóng vào sổ SHV-1 phải tuân thủ theo quy định tại Điều 1.10.1, Mục 9.1, 9.2, Quy phạm này.

6. 2 Chỉnh lý sơ bộ số liệu quan trắc sóng

a) Chỉnh lý sơ bộ số liệu quan trắc sóng phải tuân thủ theo quy định ở Khoản a Điều 1.10.2, Quy phạm này.

b) Kiểm tra ghi số liệu quan trắc.

c) Kiểm ra tính hợp lý giữa sóng và gió, giữa kiểu sóng và dạng sóng, giữa trạng thái mặt biển và cấp sóng.

d) Kiểm tra lại các kết quả tính toán.

7. QUAN TRẮC SÁNG BIỂN

7. 1 Thuật ngữ và giải thích
Trong Quy phạm này các thuật ngữ dưới đây được hiểu như sau:

7. 1.1 Sáng biển
Sáng biển là hiện tượng phát sáng của các vi sinh vật, đặc biệt là các sinh vật biển ở lớp nước tầng mặt, có thể nhìn thấy vào ban đêm. Độ dày của lớp nước sáng có thể từ vài chục centimét tới vài mét và nó phụ thuộc vào sự phân bố sinh vật theo chiều thẳng đứng. Sự phân bố của các chất lơ lửng ảnh hưởng tới độ trong suốt và sự khuếch tán ánh sáng do các sinh vật phát ra. Sự phát sáng trên mặt biển về ban đêm thay đổi rất nhiều và phụ thuộc vào các điều kiện khí tượng (lượng mây, sương mù, mù, mưa) và các nguyên nhân thiên văn (tuần trăng, độ cao của trăng, thời gian mặt trời lặn).

7. 1.2 Các kiểu sáng biển

a) Kiểu "sáng tia": bình thường khó nhìn thấy được, nhưng khi có một tác động cơ học vào nước (tàu bè qua lại, cá quẫy, khua gậy, chân vào nước...) nhìn thấy những tia sáng hình kim phát ra. Loại sáng biển kiểu tia ở vùng biển nào cũng có. Khi có ánh đèn điện hoặc sáng trăng rất khó phát hiện loại sáng này.

b) Kiểu "sáng sữa": ánh sáng có màu sữa chiếm một khoảng lớn của mặt biển, đôi khi đạt độ sáng lớn nhưng thường không kéo dài. Phát sáng loại này không tăng cường độ sáng dưới tác động cơ học lên mặt biển.

c) Kiểu "sáng đám sinh vật lớn": phát sáng từ cơ thể của từng sinh vật lớn như bạch tuộc, sứa, cá, động vật khác....

7. 2 Phân cấp cường độ sáng biển
Cường độ sáng biển được chia thành 5 cấp từ 0 đến 4 và được mô tả trong Bảng 10.
Bảng 10: Phân cấp cường độ sáng biển


Cấp
Kiểu sáng biển (ký hiệu)
Kiểu sáng biển (ký hiệu)
Kiểu sáng biển (ký hiệu)
Sáng tia (T)
Sáng sữa (S)
Sáng đám sinh vật lớn ( SVL)
0
Đã quan trắc nhưng không nhìn thấy, kể cả khi có tác động cơ học
Đã quan trắc nhưng không nhìn thấy, kể cả khi có tác động cơ học
Đã quan trắc nhưng không nhìn thấy, kể cả khi có tác động cơ học
1
Rất khó thấy hoặc chỉ thấy rõ khi có tác động cơ học vào nước biển.
Rất khó thấy sáng biển, không sáng rõ hơn dù có tác động cơ học.
Trên một mét vuông mặt biển thấy lác đác những sinh vật sáng kích thước nhỏ hơn 10 cm.
2
Thoạt trông đã thấy rõ ngay sáng biển nhưng chỉ thấy sáng ở mép nước và trên đầu sóng gió hoặc sóng lừng.
Sáng yếu nhưng cũng thấy ngay, tuy nhiên, không sáng rõ hơn dù có tác động cơ học.
Trên một mét vuông mặt biển có hàng trăm sinh vật sáng, kích thước nhỏ hơn 10 cm hoặc có lác đác sinh vật sáng, kích thước lớn hơn 10 cm.
3
Thấy rất rõ sáng biển trên các lưỡi sóng gió và sóng lừng, vào những đêm tối trời, nó vẽ thành những viền sáng quanh các vật như mỏm đá, tàu, thuyền ...
Sáng vừa khi có tác động cơ học cũng không sáng rõ thêm.
Trên một mét vuông mặt biển có hàng trăm sinh vật sáng, kích thước nhỏ hơn 10 cm hoặc hàng chục sinh vật sáng, kích thước lớn hơn 10 cm.
4
Sáng biển rõ đặc biệt (khác thường) không những thấy trong trường hợp sóng lớn mà cả khi sóng rất nhỏ.
Sáng rất rõ nhưng không sáng rõ thêm khi có tác động cơ học.
Sáng khắp một vùng (thường thấy từng đám hay từng dải sáng, có những đám sinh vật kích thước lớn 10-30 cm hay hơn.

7. 3 Địa điểm quan trắc sáng biển

7. 3.1 Địa điểm quan trắc sáng biển phải thoả mãn các điều kiện sau:

a) Quan trắc sáng biển chọn nơi tốt nhất ở ven bờ, tránh ảnh hưởng của ánh sáng từ bờ và tàu hắt tới;

b) Không thực hiện ở những nơi thường xuyên có độ muối thấp và có pha nước ngọt, vì ở đó không bao giờ xuất hiện sáng biển.

7. 3.2 Có thể chọn địa điểm quan trắc sáng biển tại nơi quan trắc nhiệt độ và độ muối nước biển, nếu nơi này thoả mãn điều kiện trên.

7. 4 Quan trắc sáng biển, ghi sổ, chỉnh lý sơ bộ số liệu quan trắc sáng biển

7. 4.1 Quan trắc sáng biển
Hàng ngày quan trắc sáng biển vào 1, 19 giờ. Căn cứ vào bảng phân cấp cường độ phát sáng của biển mà quan trắc viên xác định:

a) Kiểu "sáng tia": khi thấy kiểu sáng này, ghi chữ T trong sổ quan trắc và ghi kèm cấp sáng biển tương ứng. Ví dụ: T2 là kiểu sáng tia, có cường độ cấp 2;

b) Kiểu "sáng sữa": khi quan trắc thấy sáng sữa, ghi vào sổ ký hiệu S và cấp tương ứng. Ví dụ: S3 là kiểu sáng sữa, cường độ cấp 3;

c) Kiểu "sáng đám sinh vật lớn": khi quan trắc thấy có sáng sinh vật, ghi vào sổ ký hiệu SVL và cấp tương ứng.

7. 4.2 Ghi số liệu quan trắc sáng biển

a) Ghi số liệu quan trắc sáng biển vào sổ SHV-1 phải tuân thủ theo quy định tại Điều 1.10.1, Mục 9.1, 9.2, Quy phạm này.

b) Thông thường vào những ngày có trăng sáng không thể quan trắc được sáng biển. Tuy nhiên vào lúc quan trắc, trăng lại khuất vào mây ta vẫn có thể quan trắc được sáng biển, trong trường hợp này phải ghi chú thêm ký hiệu (TR) vào bên phải kiểu sáng biển (ví dụ T2 (TR)). Trường hợp vì sáng trăng mà không quan trắc được sáng biển thì ghi ký hiệu "ost" vào sổ.

c) Khi quan trắc mà hoàn toàn không thấy sáng biển thì ghi "0" vào sổ quan trắc.

7. 4.3 Chỉnh lý sơ bộ số liệu quan trắc sáng biển

a) Chỉnh lý sơ bộ số liệu quan trắc sáng biển phải tuân thủ theo quy định ở Khoản a, Điều 1.10.2, Quy phạm này.

b) Kiểm tra cách ghi số liệu quan trắc.

c) Kiểm tra tính hợp lý giữa những ngày trăng sáng (trước ngày rằm, ngày rằm, sau ngày rằm) với số liệu quan trắc sáng biển của những ngày đó.

8. QUAN TRẮC NHỮNG HIỆN TƯỢNG KHÍ TƯỢNG HẢI VĂN NGUY HIỂM VÀ ĐẶC BIỆT NGUY HIỂM Ở VÙNG VEN BIỂN

8. 1 Hiện tượng khí tượng hải văn đặc biệt nguy hiểm (HTKTHVĐBNH) và hiện tượng khí tượng hải văn nguy hiểm (HTKTHVNH)

8. 1.1 HTKTHVĐBNH và HTKTHVNH trong dải ven bờ biển gồm có:

a) Mực nước biển lên quá lớn khi có nước dâng;

b) Các cửa sông bị tắc do lũ lụt và hạ mức nước quá thấp;

c) Sóng thần;

d) Sóng biển quá lớn;

đ) Sóng xô bờ, vỗ bờ quá lớn;

e) Sóng tràn;

g) Gió mạnh trên biển;

h) Sự xâm nhập nước mặn quá sâu vào vùng cửa sông;

i) Dòng chảy ven bờ quá mạnh;

k) Sóng co kéo (sóng cộng hưởng trong cảng);

l) Các biến thiên lớn của nhiệt độ nước biển ở vùng ven bờ;

m) Tăng đột ngột hàm lượng các chất ô nhiễm;

n) Sự giảm mạnh ô xy hoà tan trong nước.

o) Trong tự nhiên còn gặp các hiện tượng ít xảy ra như cá, chim bị chết hàng loạt do nhiều nguyên nhân khác nhau (ô nhiễm dầu, phát sáng mạnh mẽ bất bình thường của biển, tích luỹ rong rêu quá nhiều). Các hiện tượng này phải quan trắc, ghi lại và thông báo dưới dạng như HTKTHVNH và các hiện tượng khí tượng hải văn ít gặp (HTKTHVIG).

8. 1.2 Đặc trưng của các HTKTHVĐBNH, HTKTHVNH và hiện tượng khí tượng hải văn ít gặp
Các đặc trưng định lượng của những HTKTHVĐBNH, HTKTHVNH và HTKTHVIG không giống nhau đối với các vùng biển khác nhau. Cơ quan có thẩm quyền sẽ quy định cụ thể các đặc trưng định lượng của những hiện tượng này cho từng trạm xuất phát từ đặc điểm của chế độ thuỷ văn, điều kiện địa lý tự nhiên khu vực trạm và các đặc điểm hoạt động sản xuất của các tổ chức kinh tế, xã hội cần được phục vụ.

a) Mực nước biển: mực nước dâng và hạ xuống quá các mực nước cực trị được coi là HTHVĐBNH khi nó làm ngập các vùng dân cư, các công trình ven biển, gây thiệt hại cho tàu thuyền và các đối tượng kinh tế khác cũng như làm gián đoạn giao thông ven biển. Tại mỗi trạm mực nước cực trị (cực đại và cực tiểu) do cơ quan có thẩm quyền quy định.

b) Sóng thần: sóng thần là các sóng xuất hiện đột ngột trên biển và đại dương do hiện tượng động đất, núi lửa ngầm gây nên, lan truyền với tốc độ lớn và tăng đột ngột về chiều cao khi tiến vào bờ. Độ cao của sóng thần có thể đạt tới hàng chục mét, chu kỳ từ vài phút tới 60 phút. Sóng thần được coi là HTHVĐBNH khi mực nước biển dâng cao bất thường.

c) Sóng biển: sóng biển được coi là đặc biệt nguy hiểm khi độ cao của chúng ở ngoài khơi đạt tới 8 m hoặc lớn hơn. Trong các khu vực ven bờ khác nhau, độ cao của các sóng lớn nhất được coi là nguy hiểm có thể thấp hơn 8 m. Đối với vùng ven biển ở từng trạm hải văn, đã thiết lập các trị số cực trị của độ cao sóng để làm căn cứ xác định sóng biển được coi là đặc biệt nguy hiểm hay không.
Nếu bắt đầu từ một độ cao xác định mà sóng gây nguy hiểm và độ cao đó nhỏ hơn giá trị trung bình nhiều năm của giá trị cực đại thì độ cao đó cũng được coi là độ cao cực trị, và bắt đầu từ trị số đó, sóng được coi là HTHVĐBNH. Độ cao của sóng leo, độ dài của nó và độ cao sóng vọt cũng được xác định bằng phương pháp đó.

d) Gió mạnh trên biển: gió mạnh xảy ra trên biển (bão, áp thấp nhiệt đới, vòi rồng) với tốc độ 30-35 m/s thuộc loại HTKTHVĐBNH.
Vòi rồng bắt đầu với sự tạo thành xoáy mạnh, được hạ thấp xuống mặt biển, lôi kéo và hút nước lên cùng các vật từ biển. Vòi rồng có thể cao tới 100-150 m, chiều rộng khoảng 100 m, các phần tử nước và không khí trong vòi rồng quay quanh một trục thẳng đứng với tốc độ rất lớn.
Vòi rồng di chuyển cùng với mây dông và gió mạnh, tốc độ gió có thể đạt tới 50-70 m/s, vòi rồng có sức phá hoại lớn, trên đường di chuyển của vòi rồng kéo theo bụi cát, mái nhà và các vật nặng hơn. Vòi rồng thường xuất hiện vào mùa hè và thời gian ban ngày. Vòi rồng có thể kéo dài từ vài phút cho tới vài ba giờ. Khi quan trắc vòi rồng, xác định kích thước, hình dạng, hướng chuyển động, địa điểm xuất hiện và những phá hoại kèm theo.

đ) Sự xâm nhập mặn vào sâu lục địa vùng cửa sông: sự xâm nhập nước mặn vào sâu trong các cửa sông do các trạm ở các cửa sông ghi nhận. Nước có độ muối bằng hoặc lớn hơn 1 0/00 được coi là nước biển. Sự xâm nhập của nước biển được coi là rất nguy hiểm đối với công nghiệp (kết tủa muối trong các ống), đối với các trung tâm cấp nước (cặn, cáu) làm giảm chất lượng của nước uống .... Khi độ muối đạt tới 1 0/00 hay lớn hơn, tại các trạm, tiến hành quan trắc dày hơn và thông báo cho các tổ chức kinh tế xã hội quan tâm.

e) Dòng chảy biển rất mạnh: tại tất cả các trạm, dòng chảy ven bờ nếu có tốc độ đạt tới 1 m/s hoặc lớn hơn thì được coi là hiện tượng hải văn nguy hiểm. Ngoài các trạm ra, tại nơi thường xuyên quan trắc được tốc độ dòng chảy như vậy thì hiện tượng này cũng được coi là hiện tượng hải văn nguy hiểm, ví dụ như dòng triều trong các eo, vũng, vịnh.
Tại các trạm trong vùng có dòng chảy mạnh, dòng chảy được coi là HTHVĐBNH khi tốc độ bằng 3 m/s hoặc lớn hơn. Thông báo về dòng chảy mạnh hiếm thấy ở vùng ven bờ được xác nhận khi tốc độ của dòng chảy được đo bằng máy hoặc được xác định theo các vật trôi.

g) Sóng co kéo là hiện tượng gây ra các chuyển động tuần hoàn của tàu đỗ ở trong cảng, tàu chuyển động ra và vào, đập vào thành cầu cảng. Khi sóng co kéo lớn, biên độ chuyển động của tàu lớn, có thể gây ra đứt dây neo. Các chuyển động tuần hoàn mạnh, làm tàu đỗ trong cảng gặp khó khăn và ngăn cản việc bốc dỡ hàng, đôi khi buộc tàu phải rời cảng. Khi có sóng co kéo xuất hiện trong cảng thì xác định đó là HTHVNH hoặc HTHVĐBNH.

h) Các dao động lớn của nhiệt độ nước biển vùng ven bờ được coi là HTHVNH khi nhiệt độ nước từ quan trắc này sang quan trắc khác (trong 6 giờ) tăng hoặc giảm lớn hơn 50 C.

i) Sự tăng hàm lượng các chất gây ô nhiễm trong dải ven bờ biển từ 10-100 lần hàm lượng giới hạn cho phép được coi là HTHVNH. Đối với các sản phẩm dầu hoả, phenol, các hợp chất của đồng, sự tăng hàm lượng từ 30-100 lần hàm lượng giới hạn cho phép được coi là HTHVNH.
Sự tăng hàm lượng các chất gây ô nhiễm lớn hơn 100 lần hàm lượng giới hạn cho phép thì được coi là HTHVĐBNH. Dầu hoả hoặc váng dầu bao phủ hơn 1/3 diện tích dải ven bờ, gây cho cá, chim, thực vật chết hàng loạt và nước bốc mùi hôi, tạo nên tính chất không bình thường của nước vùng đó là HTHVĐBNH.
Trình tự quan trắc HTHVĐBNH (hoặc HTHVNH) về các chất gây ô nhiễm và quy tắc báo cáo đối với mỗi trạm do cơ quan có thẩm quyền quy định.

k) Giảm hàm lượng ô xy trong nước biển: hàm lượng oxy trong nước biển giảm tới 2 mg/l được coi là HTHVNH và dưới 2 mg/l được coi là HTHVĐBNH.

8. 2 Nội dung quan trắc HTKTHVĐBNH, HTKTHVNH

8. 2.1 Quan trắc HTKTHVĐBNH, HTKTHVNH
Quan trắc HTKTHVĐBNH, HTKTHVNH và HTKTHVIG không được chậm chễ, phải bắt đầu khi chúng xuất hiện hoặc khi xuất hiện tình huống khí tượng thuỷ văn có thể gây ra chúng. Ví dụ: khi gió bão liên tục, không chỉ gây ra sóng lớn mà còn gây ra dao động mực nước dâng, rút, các biến đổi nhiệt độ bất thường của nước do lớp nước mặt ấm được mang đi và nước lạnh dưới sâu trồi lên, sự xâm nhập nước mặn vào trong sông...
Khi các hiện tượng khí tượng hải văn đạt tới các giới hạn nguy hiểm thì các trạm phải tiến hành quan trắc liên tục, nếu cần thiết phải tổ chức thêm các điểm quan trắc tạm thời. Tiến hành chụp ảnh (nếu trạm được trang bị máy ảnh) các hiện tượng, xác định và mô tả, ghi các giá trị định lượng, thời gian kéo dài, ranh giới lan truyền và tác động của chúng tới các công trình. Trình tự tiến hành quan trắc và thông tin ở các trạm được cơ quan có thẩm quyền giao nhiệm vụ. Các quan trắc viên có kinh nghiệm của các trạm tiến hành quan trắc HTKTHVĐBNH (hoặc HTKTHVNH) phải bảo đảm chính xác số liệu thu được của hiện tượng KTHV: mực nước cao nhất hoặc thấp nhất, ranh giới vùng ngập hoặc bị khô hạn, mức độ thiệt hại của các ngành kinh tế xã hội, nhà ở....
Căn cứ vào số liệu quan trắc, xác định mức độ thiệt hại do các HTKTHVĐBNH hay HTKTHVNH gây ra.
Quan trắc HTKTHVĐBNH hoặc HTKTHVNH phải đặc biệt chú ý các thời điểm xuất hiện và kết thúc hiện tượng.

8. 2.2 Mô tả HTKTHVĐBNH và HTKTHVNH
Mô tả HTKTHVĐBNH hoặc HTKTHVNH được trình bày không theo mẫu nhất định, phải rõ địa điểm và thời gian xuất hiện. Trong những điều kiện nào, những gì đã xảy ra trước khi có hiện tượng, hiện tượng đã xảy ra như thế nào? những biểu hiện riêng biệt của nó, các đặc tính và hậu quả. Ghi HTKTHVĐBNH, HTKTHVNH vào trang dành riêng ở sổ SHV-1. Nếu không đủ chỗ thì ghi vào những trang giấy khác đính kèm.

8. 2.3 Báo cáo về HTKTHVĐBNH, HTKTHVNH
Báo cáo HTKTHVĐBNH, HTKTHVNH gửi về Trung tâm Khí tượng Thuỷ văn Biển không chậm quá 5 ngày sau khi hiện tượng kết thúc, ở sổ SHV-1 phải ghi chú ngày xảy ra hiện tượng này.
Những báo cáo về HTKTHVĐBNH, HTKTHVNH đang đe doạ hoặc gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho nền kinh tế quốc dân và dân cư, được gửi về Trung tâm Khí tượng Thuỷ văn quốc gia, Đài Khí tượng Thuỷ văn khu vực bằng điện báo (hoặc vô tuyến điện), hoặc trực tiếp bằng điện thoại. Sau đó, báo cáo chi tiết bằng công văn về HTKTHVĐBNH, HTKTHVNH cho Trung tâm Khí tượng Thuỷ văn Biển, Đài Khí tượng Thuỷ văn khu vực không chậm quá 10 ngày sau khi hiện tượng kết thúc. Đồng thời, các báo cáo này chuyển gấp cho cơ quan chính quyền, các tổ chức liên quan tại khu vực trạm.
Trường hợp HTKTHVĐBNH, HTKTHVNH không gây thiệt hại (như phát quang mạnh, dao động nhiệt lớn ...), gửi báo cáo về Trung tâm Khí tượng Thuỷ văn Biển bằng đường công văn.
Trong báo cáo ghi rõ loại hiện tượng, thời gian và nơi xuất hiện, thời gian và nơi kết thúc, kích thước, cường độ, phạm vi lan rộng, thời gian tồn tại.

9. GHI SỔ QUAN TRẮC VÀ BẢNG SỐ LIỆU QUAN TRẮC

9. 1 Chỉ dẫn chung

9. 1.1 Ghi sổ quan trắc và bảng số liệu quan trắc phải tuân thủ quy định sau:

a) Kết quả quan trắc phải được ghi chép vào các sổ quan trắc sau khi quan trắc. Quan trắc viên ghi chép trung thực, cẩn thận, rõ ràng và không tẩy xoá. Ngay sau khi kết thúc kỳ quan trắc, các kết quả phải được tiến hành chỉnh lý sơ bộ. Việc chỉnh lý sơ bộ phải tuân thủ theo quy định tại Khoản a, Điều 1.10.2, Quy phạm này, bao gồm: đưa các hiệu chính cần thiết vào các số đo, thực hiện những phép tính cần thiết, phát hiện và loại bỏ những sai số thô, chọn các giá trị đặc trưng của các yếu tố đó.

b) Sau kỳ quan trắc cuối cùng trong ngày, quan trắc viên phải chép các kết quả từ sổ quan trắc sang bảng. Ngày cuối tháng sổ quan trắc phải được ghi hoàn chỉnh. Sang tháng, ngày đầu tháng các bảng số liệu của tháng trước phải được chép hoàn chỉnh. Tuần đầu của tháng này, quan trắc viên tập trung chỉnh biên số liệu của cả tháng trước. Sau khi hoàn thành toàn bộ nội dung chỉnh biên, số liệu được đóng gói gửi về Đài Khí tượng Thuỷ văn khu vực trước ngày 10 tháng này và Đài Khí tượng Thuỷ văn khu vực gửi tài liệu quan trắc đã kiểm soát về Trung tâm KTTV Biển trước ngày cuối cùng của tháng sau. Số liệu quan trắc được ghi vào sổ bằng bút chì đen. Riêng trang bìa, các trang ghi thuyết minh về địa điểm và phương tiện quan trắc và trang bìa cuối của sổ quan trắc được ghi bằng mực đen. Các bảng được ghi bằng mực đen hoặc mực cửu long xanh đen. Việc ghi chép phải rõ ràng, sạch sẽ. Sổ và báo biểu không được nhăn rách. Tuyệt đối không được ghi bằng bút bi.

9. 1.2 Ghi trị số quan trắc của các yếu tố vào sổ

a) Sáng biển: ghi kiểu sáng biển bằng ký hiệu, cường độ sáng biển (ghi bằng số nguyên) ghi vào chỉ số dưới bên phải ký hiệu kiểu sáng biển.

b) Nhiệt độ không khí, nhiệt độ nước, độ muối: ghi bằng số nguyên, lấy trị số thực (chính xác đến 0,10 C và 0,1 o/oo ) nhân với 10 rồi ghi vào sổ, có nghĩa là trị số thực bằng trị số ghi trong sổ chia cho 10 (ví dụ: trị số nhiệt độ quan trắc là 25,70C ghi vào sổ là 257; 25,00 C ghi vào sổ là 250; độ muối 32,4 o/oo ghi vào sổ là 324; 9,0 o/oo thì ghi vào sổ là 90; 0,8 0/00 ghi vào sổ là 8).

c) Mực nước: ghi bằng số nguyên, lấy đến đơn vị 1 cm.

d) Độ cao sóng: trị số thực (độ chính xác đến 0,01 m) bỏ dấu thập phân rồi ghi cả chuỗi các chữ số đã có vào sổ (ví dụ: độ cao sóng quan trắc là 0,52 m, trị số thực là 0,52 bỏ dấu thập phân thành 052, ghi cả chuỗi chữ số đó (là 052) vào sổ; độ cao sóng quan trắc là 1,25 m, ghi vào sổ là 125)

đ) Độ dài sóng: ghi bằng số nguyên lấy chính xác đến mét.

e) Tốc độ truyền sóng: ghi bằng số nguyên, lấy giá trị thực (chính xác đến 0,1 m/s) nhân với 10 rồi ghi vào sổ.

g) Chu kỳ sóng: ghi bằng số nguyên, lấy giá trị thực (chính xác đến 0,1 s) nhân với 10 rồi ghi vào sổ.

h) Tầm nhìn xa phía biển: ghi dưới dạng phân số, tử số là tầm nhìn xa (ghi bằng số nguyên) có ghi thêm đơn vị đo vào chỉ số trên bên phải, mẫu số (ghi bằng số nguyên) là cấp tương ứng.

9. 1.3 Ghi trị số quan trắc của các yếu tố vào bảng

a) Đối với bảng BHV-1: trị số quan trắc của các yếu tố ghi vào sổ như thế nào thì khi chuyển sang bảng cũng được ghi như thế. Riêng tầm nhìn xa phía biển, khi chuyển sang bảng chỉ ghi cấp tầm nhìn xa phía biển (bằng số nguyên) và ký hiệu hiện tượng giới hạn tầm nhìn xa (nếu có) vào bên phải.

b) Đối với bảng BHV-2: trị số mực nước từng giờ, thời gian xuất hiện và độ cao nước lớn (NL), nước ròng (NR), thời gian triều dâng, triều rút được ghi vào bảng như cách ghi trên giản đồ.

9. 1.4 Tính toán thống kê

a) Khi tính giá trị trung bình phải áp dụng quy tắc làm tròn số đang dùng trong mạng lưới trạm khí tượng thuỷ văn. Quy tắc làm tròn số được trình bày trong Phụ lục O, Quy phạm này.

b) Nếu chuỗi số liệu (chuỗi số liệu ngày, chuỗi số liệu tháng tại từng kỳ quan trắc, chuỗi số liệu cả tháng) bị mất 1/3 số liệu trở lên thì không tính giá trị trung bình của chuỗi đó.

c) Nếu chuỗi số liệu cả tháng bị mất 1/3 số liệu trở lên thì không tiến hành chọn các đặc trưng thống kê và không tính cộng 10 ngày đầu, cộng 10 ngày giữa, cộng 10 ngày cuối, cộng cả tháng ở các bảng BHV-1, BHV-2.

9. 2 Cách ghi sổ SHV - 1
SHV-1 là sổ ghi các kết quả quan trắc ở các trạm khí tượng hải văn ven bờ và hải đảo. Mẫu sổ SHV-1 trình bày trong Phụ lục L, Quy phạm này.
Việc ghi sổ quan trắc SHV-1 phải tuân thủ theo các quy định liên quan ở Mục 1, Quy phạm này.
Trên trang thứ nhất của bìa ghi tháng, năm quan trắc (ghi bằng chữ số Ả Rập): tên trạm, hạng trạm, vĩ độ, kinh độ của trạm; tên tỉnh; họ và tên trưởng trạm; họ và tên quan trắc viên. Ở phần dưới bên phải, trưởng trạm ký tên và đóng dấu.
Trên trang hai của bìa ghi thuyết minh tóm tắt về địa điểm và phương tiện quan trắc.
Hàng trên cùng "Quan trắc tính theo giờ" ghi là Đài tiếng nói Việt Nam.
Mục quan trắc nhiệt độ và độ muối ghi: địa điểm, thiết bị quan trắc, số hiệu thiết bị và số hiệu chính của thiết bị đo.
Mục quan trắc mực nước biển ghi: địa điểm, số hiệu và độ cao các mốc chính, mốc kiểm tra, kích thước và chất liệu các mốc; số "0" trạm; độ cao của "0" trạm; độ chênh cao giữa "0" thuỷ chí và mốc kiểm tra; ngày, tháng, năm đo dẫn độ cao; họ tên người đo dẫn độ cao; số hiệu và hiệu chính thuỷ chí, cọc quy về "0" trạm; máy đo mực nước, thời gian máy bắt đầu hoạt động tại trạm.
Độ cao các mốc ghi chính xác đến mm; hiệu chính thủy chí, cọc ghi chính xác đến cm.
Trên trang 3 của sổ, mục "Quan trắc sóng" ghi địa điểm, phương pháp quan trắc, diện quan trắc. Nếu quan trắc sóng bằng máy thì ghi thêm máy đo sóng, hệ số K của máy; mô tả phao đo sóng (kích thước, chất liệu, vị trí thả phao đo sóng, độ sâu nơi thả phao, độ dài xích, kích thước và trọng lượng của rùa neo phao).
Mục "Quan trắc tầm nhìn xa phía biển", ghi phương pháp quan trắc. Nếu có các tiêu điểm quan trắc thì mô tả về các tiêu điểm quan trắc (ghi rõ đặc điểm khoảng cách và hướng của các tiêu điểm).
Mục "Quan trắc gió" ghi địa điểm, thiết bị đo, nước sản xuất.
Mục "Quan trắc sáng biển" ghi địa điểm quan trắc sáng biển.
Phần cuối trang "Tình hình và thời gian thay đổi địa điểm, phương tiện quan trắc (công trình, máy, các số hiệu chính)" ghi tất cả những thay đổi (cả thời điểm thay đổi) có liên quan đến công việc quan trắc.
Bắt đầu từ trang 4 ghi các kết quả quan trắc hàng ngày. Mỗi ngày ghi hai trang, trang sau ghi các kết quả quan trắc sóng, trang trước ghi kết quả quan trắc các yếu tố còn lại. Ở trang trước, dòng trên cùng ghi ngày (2 chữ số) - tháng (2 chữ số) - năm (4 chữ số). Ví dụ: quan trắc ngày 2 tháng 3 năm 2006 thì ghi là 02 - 03 - 2006.
Phần đóng khung ghi số liệu quan trắc tại các kỳ quan trắc hàng ngày.
Dòng đầu tiên "Giờ quan trắc" đã ghi giờ quan trắc chính: 1, 7, 13, 19 giờ.
Dòng "Tầm nhìn xa (km/cấp)" ghi tầm nhìn xa và cấp tương ứng dưới dạng phân số, tử số là tầm nhìn xa có ghi đơn vị đo bên cạnh, mẫu số là cấp tương ứng. Ví dụ: tầm nhìn xa phía biển quan trắc được là 15 km (ứng với cấp 7) thì ghi là 15km/7.
Dòng "Hiện tượng giới hạn tầm nhìn xa" ghi bằng ký hiệu các hiện tượng làm giảm tầm nhìn xa (các ký hiệu này được ghi theo quy định của Quy phạm quan trắc khí tượng bề mặt hiện hành).
Phần "Gió" hàng trên ghi hướng, hàng dưới ghi tốc độ. Hướng ghi bằng ký hiệu quốc tế theo la bàn 16 hướng. Tốc độ ghi chính xác đến 1m/s. Khi lặng gió, ở phần hướng ghi dấu (-), tốc độ ghi 0.
Dòng "Nhiệt độ không khí" ghi nhiệt độ không khí đã hiệu chính, chính xác đến 0,10C.
Dòng "Nhiệt độ nước" ghi số đọc trên nhiệt kế đo nhiệt độ nước vào hàng thứ nhất, hàng thứ hai ghi hiệu chính của nhiệt kế, hàng thứ ba ghi trị số nhiệt độ nước đã hiệu chính. Nếu đo nhiệt độ nước bằng máy YSI-30 thì ghi số đọc trên máy vào hàng thứ 3.
Phần "Mực nước biển (cm)" dòng "Khuynh hướng thuỷ triều" ghi khuynh hướng thuỷ triều, nếu vào giờ quan trắc thấy triều lên thì ghi chữ "Lên", nếu xuống thì ghi chữ "Xuống", nếu thấy dừng thì ghi chữ "Dừng". Dòng "Số hiệu thuỷ chí (cọc)" ghi số hiệu thủy chí hoặc cọc. Dòng "Giờ làm" ghi giờ thực lúc quan trắc chính xác đến phút. Từ dòng thứ tư đến dòng thứ 9 ghi số đọc trên thủy chí (cọc) của 3 lần đo, mỗi lần đo gồm trị số đọc theo đầu sóng và chân sóng liên tiếp. Dòng thứ 10 ghi tổng cộng của 6 số đọc trên thủy chí (cọc). Chia tổng đấy cho 6, thương số làm tròn đến cm, ghi kết quả vào dòng "trung bình". Dòng "hiệu chính quy về "0" trạm" ghi hiệu chính của thủy chí hoặc cọc đã dùng đọc mực nước lúc quan trắc. Hiệu chính này có thể dương hoặc âm. Cộng đại số hiệu chính này vào giá trị trung bình và ghi kết quả vào dòng "Mực nước quy về "0" trạm".
Nếu có máy tự ghi mực nước thì ghi thời điểm (giờ, phút) đánh mốc trên giản đồ vào dòng "Giờ đánh mốc trên giản đồ". Chênh lệch mực nước đã quy về "0" trạm giữa thuỷ chí và máy đo được ghi vào dòng "Chênh lệch giữa thủy chí và máy đo mực nước". Chênh lệch mang dấu dương (+) nếu mực nước trên thủy chí lớn hơn mực nước trên máy đo, mang dấu âm (-) trong trường hợp ngược lại.
Dòng "Độ muối (0/00)": nếu đo độ muối nước biển bằng máy YSI-30 thì ghi số đọc độ muối trên máy vào dòng này, ghi chính xác đến 0,1 0/00.
Dòng "Sáng biển" ghi kiểu sáng biển (bằng ký hiệu) và ghi cường độ sáng biển (bằng số nguyên) vào chỉ số dưới bên phải ký hiệu kiểu sáng biển (ví dụ: sáng biển quan trắc được là kiểu sáng tia, cường độ cấp 2 thì ghi vào sổ là T2). Khi trời sáng trăng nếu không quan trắc được thì ghi ký hiệu "ost", quan trắc được thì ghi thêm vào bên phải kiểu và cường độ sáng biển ký hiệu "(TR)". Ví dụ: kết quả quan trắc sáng biển lúc trời sáng trăng là T2 thì ghi là T2(TR).
Dòng cuối cùng "Họ và tên quan trắc viên" ghi họ và tên quan trắc viên thực hiện các quan trắc trong ngày.
Trang thứ hai dùng để ghi các quan trắc về sóng, mã điện và các đặc trưng khí tượng quan trọng. Nếu địa điểm quan trắc sóng ở trong vịnh thì ghi các kết quả quan trắc sóng vào cột "Trong vịnh". Nếu địa điểm ở vùng biển thoáng thì ghi vào cột "Biển thoáng".
Dòng "Giờ quan trắc" đã ghi giờ quan trắc chính 7, 13, 19 giờ. Nếu làm quan trắc không đúng giờ quy định thì phải ghi giờ thực làm quan trắc và phải ghi kèm các kết quả quan trắc gió vào lúc quan trắc sóng vào các dòng chú thích ở cuối trang.
Dòng "Kiểu sóng" ghi chữ G nếu là sóng gió, chữ L nếu là sóng lừng. Nếu cùng một lúc quan trắc được cả sóng gió và sóng lừng thì ghi kiểu sóng dưới dạng phân số G/L nếu sóng gió chiếm ưu thế và L/G nếu sóng lừng chiếm ưu thế. Trường hợp cùng lúc có hai hệ sóng thì hướng sóng cũng ghi dưới dạng phân số như đối với kiểu sóng.
Dòng "Dạng sóng" ghi chữ Đ nếu là sóng đều và chữ KĐ nếu là sóng không đều.
Dòng "Trạng thái mặt biển" ghi theo cấp bằng chữ số Ả Rập.
Dòng "Hướng sóng" ghi bằng ký hiệu quốc tế theo la bàn 8 hướng.
Dòng "Sóng lớn nhất (độ cao/cấp)" ghi độ cao sóng lớn nhất và cấp tương ứng dưới dạng phân số, sóng này được chọn từ 5 sóng cao nhất đã quan trắc được.
Dòng "Hệ số K của máy ngắm sóng": nếu quan trắc sóng bằng máy Ivanốp thì ghi hệ số K vào dòng này với độ chính xác đến 0,1 (cách ghi tương tự như ghi độ cao sóng).
Phần "Độ cao của 5 sóng lớn nhìn rõ nhất" được ghi như sau:

a) Trường hợp quan trắc sóng bằng mắt
Tại mỗi kỳ quan trắc, phần ghi độ cao sóng gồm 2 cột, 6 dòng. Trong trường hợp quan trắc bằng mắt, cột thứ nhất bỏ trống, ghi vào 5 dòng đầu của cột thứ hai độ cao của 5 sóng lớn nhìn rõ nhất quan trắc được trong vòng 5 phút (chú ý: độ cao sóng phải được làm tròn theo quy tắc làm tròn cho trường hợp quan trắc sóng bằng mắt). Tính độ cao trung bình từ 5 sóng đó và ghi vào dòng "Trung bình" với độ chính xác 0,01m.

b) Trường hợp quan trắc sóng bằng máy đo sóng Ivanốp
Tại mỗi kỳ quan trắc, cột thứ nhất, 5 dòng đầu ghi số độ chia trên thang đo độ cao của 5 sóng lớn nhìn rõ nhất với độ chính xác đến 0,1 độ chia. Cứ mỗi sóng lớn nhìn rõ nhất, lấy số độ chia nhân với 0,5 m nếu là máy H10, hoặc nhân với 1 m nếu là máy H40. Sau đó nhân với hệ số K của máy ngắm sóng. Kết quả tìm được chính là độ cao sóng và ghi vào cột thứ hai ở hàng tương ứng với độ chính xác đến 0,01 m. Tính độ cao trung bình từ 5 độ cao đó và ghi kết quả vào dòng "Trung bình" với độ chính xác đến 0,01 m.
Ví dụ: Trạm Hòn Dấu, 7 giờ ngày 5 tháng 10 năm 2005, dùng máy H40 quan trắc. Hệ số K bằng 0,9, ghi "09" vào dòng "Hệ số K của máy ngắm sóng". Lần thứ nhất quan trắc được 0,5 độ chia, ghi "05" vào dòng thứ nhất của cột thứ nhất rồi thực hiện phép tính sau: 0,5 x 1 x 0,9 = 0,45. Độ cao sóng quan trắc được là 0,45 m, ghi "045" vào dòng thứ nhất của cột thứ hai (xem Phụ lục L, Quy phạm này). Làm tương tự như vậy đối với 4 lần quan trắc còn lại. Lấy tổng của 5 độ cao sóng chia cho 5 được giá trị trung bình, quy tròn đến hai số thập phân sau dấu phẩy và ghi kết quả vào dòng "Trung bình". Từ 5 độ cao sóng ở trên, chọn lấy độ cao lớn nhất và cấp tương ứng rồi ghi vào dòng "Sóng lớn nhất (độ cao/cấp)".
Phần "Độ dài của 5 sóng lớn nhìn rõ nhất" ghi như sau:
- Nếu quan trắc sóng bằng mắt thì phần ghi độ dài bỏ trống;
- Trường hợp quan trắc sóng bằng máy Ivanốp: tương tự như ghi độ cao sóng, tại mỗi kỳ quan trắc, mỗi một sóng lớn nhìn rõ nhất được ghi vào 2 cột, ở cột thứ nhất ghi số độ chia đọc được trên thang độ dài với độ chính xác đến 0,1 độ chia. Nhân trị số độ chia đó với giá trị của mỗi khoảng chia rồi nhân tiếp với hệ số K. Kết quả quy tròn đến mét và ghi vào cột thứ hai (xem Phụ lục L, Quy phạm này).
Ví dụ: Trạm Hòn Dấu, 7 giờ ngày 5 tháng 10 năm 2005, quan trắc lần thứ nhất được 0,8 độ chia, ghi "08" vào cột thứ nhất ở hàng tương ứng. Giá trị của mỗi khoảng chia là 20 m, K = 0,9. Thực hiện phép tính: 0,8 x 20 x 0,9 = 14,4 14 m, ghi "14" vào cột thứ 2 ở hàng tương ứng.
Tương tự như vậy, tính cho 4 lần quan trắc còn lại. Lấy tổng của 5 độ dài sóng chia cho 5 được giá trị trung bình, quy tròn đến m và ghi kết quả vào dòng "Trung bình".
Phần " Tốc độ của 5 sóng lớn nhìn rõ nhất" ghi như sau:
- Nếu quan trắc sóng bằng mắt, phần ghi tốc độ sóng bỏ trống;
- Khi quan trắc bằng máy, phần ghi tốc độ sóng có 5 dòng ghi kết quả của 5 lần quan trắc liên tục vào 3 cột, cột thứ nhất ghi khoảng cách trên thang đo độ dài thường được cố định là 100 m. Cột thứ hai ghi thời gian (bằng giây) mà một đầu sóng chạy hết quãng đường 100 m. Cột thứ ba ghi tốc độ truyền sóng. Tốc độ truyền sóng được tính như sau: lấy 100 m chia cho thời gian ghi ở cột thứ hai, nhân kết quả với hệ số K rồi quy tròn đến một chữ số sau dấu thập phân và ghi kết quả cuối cùng vào cột thứ ba.
Ví dụ: Trạm Hòn Dấu, 7 giờ ngày 5 tháng 10 năm 2005 lần thứ nhất đo được thời gian một đầu sóng chạy hết quãng đường 100 m là 31 giây. Tốc độ sóng được tính như sau (với K = 0,9).
(100:31) x 0,9 = 2,9 (m/s)
Ghi số 100 vào dòng thứ nhất cột thứ nhất, số 31 vào dòng thứ nhất cột thứ hai và số 29 vào dòng thứ nhất cột thứ ba. Các lần quan trắc khác cũng ghi tương tự như vậy.
Tốc độ sóng trung bình được tính bằng cách lấy tổng của 5 tốc độ sóng ghi ở cột thứ ba chia cho 5, lấy kết quả chính xác đến một số thập phân sau dấu phẩy rồi ghi vào dòng "Trung bình".
Để rút ngắn việc tính toán các yếu tố sóng (độ cao, độ dài, tốc độ), dùng bảng tra (đã lập sẵn) ứng với các hệ số K khác nhau. Muốn tính độ cao sóng chỉ việc tra từ số độ chia đo được trên thang độ cao, muốn tính độ dài chỉ việc tra theo số độ chia đo được trên thang độ dài, muốn tính tốc độ chỉ việc tra theo thời gian đầu sóng chạy hết quãng đường 100 m.
Phần chu kỳ sóng ghi như sau: ghi thời gian truyền qua một điểm cố định của 11 đầu sóng liên tiếp (11 đầu sóng liên tiếp tương ứng với 10 sóng) vào cột thứ nhất, thời gian truyền của 11 đầu sóng liên tiếp đo lần thứ hai vào cột thứ hai và thời gian của 11 đầu sóng liên tiếp đo lần thứ ba vào cột thứ ba. Cộng ba trị số đó lại, đem chia cho 30, lấy tròn thương số đến số thập phân thứ nhất sau dấu phẩy và ghi kết quả vào dòng "chu kỳ sóng trung bình".
Phần mã điện dùng để ghi mã điện ngày cho từng kỳ quan trắc theo mã luật khí tượng bề mặt hiện hành. Mã điện được thảo ngay sau khi kết thúc quan trắc và gửi về Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Trung ương.
Phần chú thích ghi những điều cần làm sáng tỏ thêm những kết quả quan trắc trong ngày.
Ở góc phải cuối cùng của trang ghi các đặc trưng khí tượng trong ngày. Dòng "Lượng mưa ... mm" ghi tổng lượng mưa từ 19 giờ hôm trước đến 19 giờ hôm sau (24 giờ). Dòng "Tmax0C kk ...." ghi nhiệt độ không khí cao nhất trong ngày. Dòng "Tmin0C kk ..." ghi nhiệt độ không khí thấp nhất trong ngày. Dòng "Hướng và tốc độ gió mạnh nhất ..." ghi hướng và tốc độ gió mạnh nhất trong ngày. Nếu có máy gió tự ghi thì lấy theo giản đồ hoặc BKT - 2 phần gió, nếu không có máy gió tự ghi thì chọn ở tất cả các kỳ quan trắc trong ngày, kể cả quan trắc phụ.
Trang 4 của bìa phần trên ghi các hiện tượng khí tượng hải văn nguy hiểm và đặc biệt nguy hiểm. Phần giữa ghi nhận xét của Trung tâm Khí tượng Thủy văn Biển. Dòng tiếp theo, ở góc trái là "Họ tên người kiểm soát" ghi họ tên người kiểm soát ở Đài Khí tượng Thủy văn khu vực ở ngay phía dưới , ở giữa là "Họ và tên người phúc thẩm" ghi họ tên người phúc thẩm ở Trung tâm Khí tượng Thủy văn Biển ngay phía dưới tương ứng, ở góc phải là "Họ và tên người duyệt" ghi họ và tên người duyệt ở Trung tâm Khí tượng Thủy văn Biển ngay phía dưới tương ứng.
Mẫu sổ SHV-1 được trình bày trong Phụ lục L, Quy phạm này.

9. 3 Cách ghi bảng BHV-1
BHV-1 có tiêu đề là "Báo cáo quan trắc hải văn ven bờ", là bảng ghi kết quả quan trắc các yếu tố trong tháng sau khi đã được chỉnh lý sơ bộ. BHV-1 là tài liệu cơ bản được lưu trữ lâu dài và phục vụ rộng rãi, do đó cần phải được lập một cách đầy đủ, chính xác và rõ ràng sạch sẽ. Dùng mực cửu long hay loại mực xanh đen để viết. BHV-1 gồm 4 trang (mẫu bảng BHV-1 được trình bày ở Phụ lục M, Quy phạm này).
Cách ghi bảng BHV-1 phải tuân thủ theo các quy định liên quan tại Mục 1, Quy phạm này.
Trang 1 ghi các số liệu và thông tin về trạm gồm; tháng, năm, tên trạm và thuyết minh về địa điểm quan trắc và máy. Ghi tóm tắt: Vị trí quan trắc các yếu tố, ảnh hưởng của các điều kiện tự nhiên, thiết bị đo, số hiệu, hiệu chính của chúng. Vị trí, cấu tạo và độ cao của các mốc, độ cao của số "0" trạm và "0" thuỷ chí, cọc. Hiệu chính thủy chí, cọc, hệ số K sử dụng. Tình hình thay đổi về địa điểm, công trình, thiết bị đo hỏng, thay thiết bị diễn ra trong tháng. Ngày, tháng, năm đo dẫn độ cao, độ cao của mốc và tuyến thủy chí, cọc. Các hiện tượng khí tượng thủy văn khác thường xảy ra trong tháng. Phía dưới dòng "Họ và tên người lập bảng...Họ và tên người kiểm soát...Trưởng trạm" ghi họ và tên người lập bảng (ở trạm), họ và tên người kiểm soát (ở Đài Khí tượng Thủy văn khu vực), họ và tên trưởng trạm (có đóng dấu của trạm) vào vị trí tương ứng. Phần "Nhận xét của Đài" ghi nhận xét của Đài Khí tượng Thủy văn khu vực (có ký tên và đóng dấu). Phần "Nhận xét của Trung tâm KTTV Biển" ghi nhận xét của Trung tâm Khí tượng Thủy văn Biển. Dưới dòng "Họ và tên người phúc thẩm... Họ và tên người duyệt" ghi họ và tên người phúc thẩm (ở Trung tâm Khí tượng Thủy văn Biển), họ và tên người duyệt (ở Trung tâm Khí tượng Thủy văn Biển).
Trang 2, 3 và 4 ghi các kết quả quan trắc chuyển từ sổ SHV-1 sang và tính toán các đặc trưng thống kê cơ bản.
Dòng đầu tiên của trang 2 "Trạm khí tượng - hải văn.....tháng.....năm...." ghi tên trạm và tháng, năm (của số liệu quan trắc).
Phía dưới gồm hai phần: phần ghi gió trong ngày và phần ghi sóng quan trắc lúc 7 giờ.
Cột thứ nhất ghi ngày trong tháng (đã ghi sẵn). Từ cột thứ 2 đến cột thứ 12 ghi gió. Gió ở mỗi kỳ quan trắc được ghi vào 2 cột: cột hướng và cột tốc độ. Cột thứ 2 và 3 ghi gió quan trắc lúc 1 giờ, cột thứ 4 và 5 ghi gió lúc 7 giờ, cột 6 và 7 ghi gió lúc 13 giờ, cột thứ 8 và 9 ghi gió lúc 19 giờ. Cột 10 ghi tốc độ gió trung bình ngày. Cột 11 và 12 ghi tốc độ gió lớn nhất trong ngày và hướng kèm theo, giá trị này được lấy từ ô nhỏ các đặc trưng trong ngày ở sổ SHV-1.
Ví dụ: Vào kỳ quan trắc 1 giờ ngày 5 tháng 10 năm 2005 của Trạm Hòn Dấu, trong sổ SHV-1 ở phần gió ghi hướng SE, tốc độ 3 m/s khi chuyển sang BHV-1 ghi SE vào cột thứ 2 và 3 vào cột thứ 3 của ngày mồng 5. Tương tự như vậy chuyển gió ở các quan trắc khác của những ngày còn lại trong tháng sang BHV-1. Khi lặng gió ghi dấu (-) vào cột hướng, cột tốc độ ghi 0. Cứ 10 ngày một, cộng tốc độ gió lại và ghi vào các dòng "Cộng 10 ngày đầu", "Cộng 10 ngày giữa", "Cộng 10 ngày cuối". Trường hợp tháng 31 ngày thì 10 ngày cuối được coi là 11 ngày. Sau khi cộng hết từng 10 ngày một, tiến hành cộng cho cả tháng và kết quả ghi vào dòng "Cộng cả tháng". Lấy tổng cả tháng chia cho số lần có tốc độ trong tháng kể cả lần lặng gió, quy tròn thương số đến một số thập phân sau dấy phẩy và ghi kết quả vào dòng "Trung bình tháng". Tốc độ gió trung bình tháng được quy tròn đến 0,1 m/s và ghi vào bảng BHV-1 có cả dấu thập phân.
Ví dụ: Vào kỳ quan trắc 1 giờ của tháng 10 năm 2005 tại Trạm Hòn Dấu. Cộng tốc độ gió 10 ngày đầu được 43, 10 ngày giữa được 62, 10 ngày cuối được 57. Cộng cả tháng là 162. Chia 162 cho 31 được 5,22, quy tròn là 5,2, ghi 5,2 vào dòng "Trung bình tháng". Trường hợp có tiến hành quan trắc nhưng không quan trắc được (ghi ký hiệu X) thì khi làm phép chia không chia cho những lần có dấu X.
Tương tự như vậy ghi và tính toán cho các kỳ quan trắc còn lại.
Ở phía dưới góc trái của trang 2 là bảng ghi các đặc trưng tháng về gió. Cột đầu ghi tốc độ gió trung bình tháng. Tốc độ gió trung bình tháng tính bằng cách cộng tốc độ gió của cả tháng, đem chia cho số lần có tốc độ gió trong tháng. Kết quả lấy tròn đến một số thập phân, ghi vào cột "Tốc độ gió trung bình", có ghi cả dấu thập phân và đơn vị đo (m/s). Cột thứ hai ghi tốc độ gió mạnh nhất trong tháng chọn từ cột 11 và hướng tương ứng từ cột 12.
Từ cột thứ 13 đến cột thứ 22 của trang 2 BHV-1, ghi các kết quả quan trắc sóng lúc 7 giờ. Cột thứ 13 ghi kiểu sóng, cột 14 ghi dạng sóng, cột 15 ghi trạng thái mặt biển, cột 16 ghi hướng sóng, cột 17 ghi độ cao sóng lớn nhất, cột 18 ghi cấp sóng (các giá trị này được chuyển từ sổ SHV-1 sang). Từ cột 19 đến cột 22 ghi giá trị trung bình các yếu tố sóng (các giá trị trung bình độ cao, độ dài, tốc độ và chu kỳ lấy từ các dòng "Trung bình" trong sổ SHV-1). Đối với trạng thái mặt biển (cột 15) và cấp sóng (cột 18) cũng tính tổng cho 10 ngày một, cho cả tháng rồi ghi vào dòng tương ứng. Lấy tổng cả tháng chia cho số lần có số liệu, kết quả ghi vào dòng "Trung bình tháng". Giá trị trung bình tháng của trạng thái mặt biển (quy tròn đến một chữ số sau dấu thập phân) được ghi bằng chữ số Ả Rập có ghi cả dấu thập phân. Giá trị trung bình tháng của cấp sóng (quy tròn đến số nguyên) được ghi bằng chữ số La Mã, nhưng giá trị cộng cấp sóng 10 ngày một và cả tháng thì ghi bằng chữ số Ả Rập.
Trang 3 của BHV-1 ghi kết quả quan trắc sóng vào lúc 13 và 19 giờ, cách ghi tương tự như cách ghi ở kỳ quan trắc sóng 7 giờ. Riêng kỳ quan trắc 19 giờ, nếu làm quan trắc không đúng giờ quy định thì phải gạch số 19 ở hàng thứ 2 trên xuống và ghi giờ quan trắc thực chính xác đến phút vào bên cạnh.
Bảng "Số ngày có các loại cấp sóng" ở cuối trang 2 ghi như sau:
Dòng "Sóng cấp 0 và cấp I trong tất cả các giờ quan trắc" ghi số lượng ngày trong tháng ở cả ba kỳ quan trắc (7, 13, 19 giờ) có sóng cấp 0 hoặc cấp I. Dòng "Tối thiểu có một lần sóng cấp IV trong giờ quan trắc" ghi số lượng ngày trong tháng có sóng cấp IV xuất hiện ít nhất ở một trong ba kỳ quan trắc (7, 13, 19 giờ). Ví dụ: Trong ngày có sóng cấp 0 ở kỳ quan trắc 7 giờ, cấp 1 ở kỳ quan trắc 13 giờ và sóng cấp IV ở kỳ quan trắc 19 giờ thì ngày đó được tính là ngày có sóng cấp IV. Nhưng nếu trong ngày vừa có sóng cấp IV, vừa có sóng cấp V dù chỉ xuất hiện một lần thì ngày đó không được tính là ngày có sóng cấp IV.
Dòng "Tối thiểu có một lần sóng cấp V trong giờ quan trắc" ghi số lượng ngày có sóng cấp V xuất hiện ít nhất một lần trong các kỳ quan trắc.
Khi chọn số ngày có cấp sóng dựa vào các cột 18, 28, 38 ở trang 2 và 3 để chọn.
Dòng "Tối thiểu có một lần sóng lừng trong giờ quan trắc" ghi số lượng ngày có sóng lừng xuất hiện ít nhất một lần trong các kỳ quan trắc, chọn ở các cột 13, 23, 33. Nếu có ký hiệu L hoặc L/G hoặc G/L ở cột kiểu sóng thì ngày đó tính là ngày có sóng lừng.
Bảng "Trị số cực đại của các yếu tố sóng biển" ở cuối trang 3 của BHV- 1 ghi như sau:
Ở cột "Trạng thái mặt biển (cấp)", dòng "trị số" ghi trạng thái mặt biển lớn nhất (chọn ở các cột 15, 25, 35), dòng "Hướng" ghi hướng gió ứng với trạng thái mặt biển lớn nhất (ví dụ: trạng thái mặt biển lớn nhất xuất hiện vào kỳ quan trắc 13 giờ ngày 17 thì sẽ lấy hướng gió ở kỳ quan trắc 13 giờ cùng ngày), dòng "Ngày" ghi ngày xuất hiện trạng thái mặt biển lớn nhất.
Ở cột "Độ cao sóng (m-cấp)", dòng "Trị số" ghi độ cao sóng lớn nhất và cấp tương ứng (chọn ở các cột 17, 27, 37 và 18, 28, 38), dòng "Hướng" ghi hướng sóng tương ứng với sóng lớn nhất (chọn ở các cột 16, 26, 36), dòng "Ngày" ghi ngày xuất hiện sóng cao nhất.
Các cột "Độ dài", "Tốc độ" ghi tương tự như cột "Độ cao", chỉ khác các yếu tố cực đại này chọn trong tất cả các lần quan trắc của các kỳ quan trắc ghi trong sổ SHV-1.
Ở cột "Chu kỳ", dòng "Trị số" ghi chu kỳ sóng trung bình lớn nhất (chọn ở các cột 22, 32, 42), dòng "Hướng" ghi hướng sóng có chu kỳ trung bình lớn nhất, dòng "Ngày" ghi ngày xuất hiện sóng có chu kỳ lớn nhất.
Khi các trị số cực đại xuất hiện ở nhiều hướng và nhiều ngày thì ghi như sau: nếu từ ba hướng và ba ngày trở xuống thì dòng "Hướng" và "Ngày" ghi đầy đủ cụ thể từng hướng, từng ngày. Nếu nhiều hơn ba hướng và ba ngày thì ở các dòng đó ghi "Nhiều hướng", "Nhiều ngày".
Trang 4 của BHV-1 ghi kết quả quan trắc các yếu tố mực nước, nhiệt độ nước, độ muối, tầm nhìn xa phía biển, sáng biển. Các yếu tố này được chuyển từ sổ SHV-1 sang. Cột thứ 44 ghi ngày trong tháng. Từ cột 45 đến cột 48 ghi số liệu mực nước ở các kỳ quan trắc 1, 7, 13, 19 giờ (chuyển từ sổ SHV-1 sang). Cột 49 ghi tổng mực nước của 4 kỳ quan trắc trong ngày. Cột 50 ghi mực nước trung bình ngày tính bằng cách lấy tổng mực nước ngày ở cột 49 chia cho số lần có số liệu trong ngày, lấy tròn đến số nguyên (đến cm).
Ở từng cột, từ cột 45 đến cột 49, cứ 10 ngày một tính tổng các giá trị ghi trong cột, ghi vào các dòng "Cộng 10 ngày đầu", "Cộng 10 ngày giữa", "Cộng 10 ngày cuối". Nếu tháng có 31 ngày thì tổng của 11 ngày cuối cũng ghi vào dòng "Cộng 10 ngày cuối". Sau khi cộng hết từng 10 ngày một, tiến hành cộng cho cả tháng bằng cách lấy tổng các trị số ghi ở các dòng "Cộng 10 ngày đầu", "Cộng 10 ngày giữa", "Cộng 10 ngày cuối", kết quả ghi vào dòng "Cộng cả tháng". Lấy tổng cả tháng chia cho số lần có số liệu trong tháng, quy tròn thương số đến số nguyên, ghi kết quả vào dòng "Trung bình tháng".
Ở cột 50, các dòng "Cộng 10 ngày đầu", "Cộng 10 ngày giữa", "Cộng 10 ngày cuối", "Cộng cả tháng", "Trung bình tháng", ghi như sau: Lấy từng trị số ghi ở dòng "Cộng 10 ngày đầu", "Cộng 10 ngày giữa", "Cộng 10 ngày cuối", "Cộng cả tháng" của cột 49 chia cho 4, các kết quả ghi vào dòng tương ứng ở cột 50. Lấy trị số ở dòng "Cộng cả tháng" của cột 49 chia cho tổng số số liệu trong tháng ở tất cả các kỳ quan trắc, kết quả làm tròn đến số nguyên (đến cm), ghi vào dòng "Trung bình tháng" của cột 50.
Tương tự như đối với mực nước, ghi và tính tổng số, giá trị trung bình ngày, 10 ngày, tháng, cho nhiệt độ nước (Từ cột 51 đến 56) và độ muối (Từ cột 57 đến cột 62).
Chú ý: giá trị trung bình của mực nước lấy chính xác đến cm, giá trị trung bình của nhiệt độ nước lấy chính xác đến 0,10C, giá trị trung bình của độ muối lấy chính xác đến 0,1 0/00.
Từ cột 63 đến cột 66 ghi tầm nhìn xa và hiện tượng giới hạn tầm nhìn xa. Cột 63 ghi tầm nhìn xa của kỳ quan trắc 1 giờ. Tầm nhìn xa ghi bằng cấp, phía phải bên cạnh cấp ghi ký hiệu hiện tượng làm giảm tầm nhìn (nếu có). Cột 64, 65, 66 ghi cho các kỳ quan trắc 7, 13 và 19 giờ. Đối với tầm nhìn xa không cần tính tổng và trung bình.
Cột 67 ghi sáng biển. Chọn từ sổ SHV-1 loại sáng biển có cường độ mạnh nhất trong ngày ghi vào cột này. Ví dụ: ngày 16, trong sổ SHV-1 sáng biển có cường độ mạnh nhất trong ngày là T2, ghi T2 vào dòng của ngày 16 cột 67.
Đối với sáng biển cũng tính tổng cường độ của 10 ngày một, tổng tháng và trung bình tháng (cường độ sáng biển là trị số được ghi ở chỉ số dưới cạnh bên phải ký hiệu kiểu sáng biển). Cường độ trung bình tháng lấy đến một chữ số sau dấu thập phân. Khi tính trung bình tháng của sáng biển, những ngày có "ost" trong bảng BHV-1 là những ngày không có số liệu nên không được tính vào khi chia.
Phía dưới trang 4 của BHV-1 (dưới dòng "Các trị số đặc biệt trong tháng") là các bảng ghi các trị số đặc trưng trong tháng:
- Bảng 1 ghi các trị số đặc biệt của mực nước, nhiệt độ nước và độ muối. Dòng "Trung bình ngày cực đại" ghi giá trị trung bình ngày lớn nhất của mực nước, nhiệt độ nước và độ muối (chọn ở các cột 50, 56 và 62) vào cột "Trị số" và ngày xảy ra các giá trị đó vào cột "Ngày" tương ứng với từng yếu tố. Dòng "Trung bình ngày cực tiểu" ghi giá trị trung bình ngày nhỏ nhất của mực nước, nhiệt độ nước, độ muối (chọn ở các cột 50, 56, 62) vào cột "Trị số" và ngày xảy ra vào cột "Ngày" tương ứng cho từng yếu tố. Dòng "Cực đại theo 4 quan trắc chính" ghi trị số lớn nhất trong tất cả các kỳ quan trắc chính (chọn từ các cột 45, 46, 47, 48 đối với mực nước, 51, 52, 53, 54 đối với nhiệt độ, 57, 58, 59, 60 đối với độ muối) vào cột "Trị số" và ngày xảy ra vào cột "Ngày" tương ứng với từng yếu tố. Trường hợp số ngày xảy ra nhiều hơn 3 ngày thì ghi "Nhiều ngày", nếu 3 ngày trở xuống thì ghi cụ thể từng ngày một.
- Bảng 2 ghi số ngày có tầm nhìn xa cấp 5 và sương mù. Chọn ở cột 63 số ngày có tầm nhìn xa cấp 5, ghi vào cột "1" (tại kỳ quan trắc 1 giờ). Tương tự, chọn ở các cột 64, 65, 66 rồi ghi vào các cột "7", "13", "19" (tại kỳ quan trắc 7, 13, 19 giờ). Chọn ở các cột 63, 64, 65, 66 những ngày có sương mù. Nếu trong ngày có ít nhất một kỳ quan trắc có sương mù thì ngày đó được tính là ngày có sương mù, ghi số ngày có sương mù trong tháng vào cột "Số ngày" ở phần sương mù. Cột bên cạnh ghi tỉ lệ số ngày có sương mù trong tháng bằng phần trăm, tính bằng cách chia số ngày có sương mù trong tháng cho số ngày trong tháng, nhân với 100%, làm tròn đến một số thập phân sau dấu phẩy và ghi kết quả vào cột "Tỷ lệ %".
- Bảng 3 ghi sáng biển. Cột thứ nhất ghi số ngày có sáng biển trong tháng, chọn ở cột 67. Nếu sáng biển có cường độ từ cấp 1 trở lên thì được coi là ngày có sáng biển. Cột thứ 2 ghi cấp sáng biển thịnh hành. Chọn trong cột 67, nếu cấp nào chiếm nhiều ngày hơn thì đó là cấp thịnh hành. Nếu có hai hoặc nhiều cấp chiếm số ngày nhiều như nhau thì cấp nào lớn nhất được chọn là cấp thịnh hành. Khi ghi cấp thịnh hành, cần ghi cả kiểu sáng biển (bằng ký hiệu) tương ứng kèm theo cấp (cường độ) thịnh hành. Nếu có hai hoặc ba kiểu sáng biển cùng cấp thịnh hành, cùng chiếm nhiều ngày như nhau thì cấp thịnh hành được chọn là kiểu sáng biển thường thấy ở khu vực biển quan trắc.
- Bảng 4 ghi các đặc trưng của kỳ nước cường, ghi độ cao nước lớn, nước ròng, ngày giờ xảy ra: bảng này dành cho trạm có máy tự ghi mực nước hoặc có quan trắc nước lớn, nước ròng. Nếu có máy tự ghi mực nước thì trích ở bảng BHV- 2 sang.
- Bảng 5 ghi số ngày có độ muối nước biển ở các cấp khác nhau. Cột "Trung bình" chọn ở cột 62 những ngày có độ muối trung bình 10,0 0/00, ghi số ngày này vào cột " 10,0". Tương tự, chọn ở cột 62 số ngày có độ muối từ 10,1 đến 15,0, 15,1 đến 20,0, từ 20,1 đến 25,0 và > 25,0 rồi ghi vào các cột tương ứng. Cột "Cực trị" chọn ở các cột 57, 58, 59, 60. Chọn số ngày có độ muối < 5,0 0/00, ghi vào cột "< 5,0" (nếu trong ngày có ít nhất một kỳ quan trắc có độ muối < 5,0 0/00 thì ngày đó được tính là ngày có độ muối < 5,0 0/00); chọn số ngày có độ muối < 10,0 0/00, ghi vào cột "< 10,0" (nếu trong ngày có ít nhất một kỳ quan trắc có độ muối < 10,0 0/00 thì ngày đó được tính là ngày có độ muối < 10,0 0/00, kể cả ngày có độ muối < 5,0 0/00); chọn số ngày có độ muối > 32,0 0/00, ghi vào cột "> 32,0" (nếu trong ngày có ít nhất một kỳ quan trắc có độ muối > 32,0 0/00 thì ngày đó được tính là ngày có độ muối > 32,0 0/00).
Khi chuỗi số liệu mất từ 1/3 trở lên thì không tiến hành chọn các đặc trưng.
Mẫu bảng BHV- 1 được trình bày trong Phụ lục M. Những ô có gạch chéo trong bảng BHV- 1 là ô bỏ trống, không cần phải ghi gì.

9. 4 Cách ghi bảng BHV-2
BHV-2 có tiêu đề "Bảng kê mực nước biển", ghi số liệu tháng về độ cao mực nước từng giờ, nước lớn, nước ròng, thời gian triều dâng, triều rút. Các số liệu quan trắc ghi vào bảng BHV-2 được chuyển từ giản đồ của máy tự ghi mực nước sang.
Việc ghi bảng BHV-2 phải tuân thủ theo các quy định liên quan tại Mục 1, Quy phạm này.
BHV- 2 gồm 4 trang, cách ghi cụ thể như sau:
- Trang 1 ghi tháng, năm, tên trạm, hạng trạm, vị trí trạm, họ tên trưởng trạm, quan trắc viên, chú thích, họ tên người lập bảng (ở trạm), họ và tên người kiểm soát (ở Đài Khí tượng Thuỷ văn khu vực), trưởng trạm (ký tên, đóng dấu), nhận xét của Đài Khí tượng Thuỷ văn khu vực, nhận xét của Trung tâm Khí tượng Thủy văn Biển. Phía dưới trang 1 ghi họ và tên người phúc thẩm (ở Trung tâm Khí tượng Thủy văn Biển), họ và tên người duyệt (ở Trung tâm Khí tượng Thủy văn Biển);
- Trang 2 và 3 ghi mực nước từng giờ đã quy về "0" trạm và các giá trị trung bình. Phía trên cùng, góc trái, dòng "Trạm khí tượng hải văn" ghi tên trạm, góc phải, dòng "Tháng.......năm......" ghi tháng, năm. Cột thứ nhất ghi ngày trong tháng (đã ghi sẵn). Từ cột thứ 2 (cột "0") đến cột thứ 25 (cột "23") ghi mực nước từng giờ, bắt đầu từ 0 giờ đến 23 giờ. Mực nước từng giờ của mỗi ngày được chuyển từ giản đồ sang. Tại từng cột, từ cột "0" đến cột "23" cứ 10 ngày một tính tổng mực nước và ghi vào các dòng "Cộng 10 ngày đầu", "Cộng 10 ngày giữa", "Cộng 10 ngày cuối". Sau đó tính tổng mực nước trong cả tháng và ghi vào dòng "Cộng cả tháng". Dòng "Trung bình tháng" ghi mực nước trung bình tháng tại từng giờ, tính bằng cách lấy tổng mực nước cả tháng tại từng giờ chia cho số lần có số liệu trong giờ đó, làm tròn kết quả đến cm. Cột "Tổng cộng" (cột thứ 26) ghi tổng mực nước từng giờ trong ngày, tính bằng cách cộng mực nước từng giờ từ 0 đến 23 giờ. Cột này cũng tính tổng 10 ngày một, tổng cả tháng và trung bình tháng như các cột giờ. Cột "Trung bình hàng ngày" (cột thứ 27) ghi mực nước trung bình ngày, tính bằng cách lấy tổng mực nước từng giờ trong ngày ở cột "Tổng cộng" chia cho số lần có số liệu trong ngày (số lần có số liệu trong ngày bằng 24 nếu số liệu đầy đủ). Ô cuối cùng của cột này ghi mực nước trung bình tháng tính bằng cách lấy tổng mực nước của cả tháng ở hàng "Cộng cả tháng" của cột "Tổng cộng" chia cho số lần có số liệu trong tháng. Cột "Trung bình 4 quan trắc" (cột thứ 28) ghi mực nước trung bình ngày tính từ 4 quan trắc (lấy từ cột 50 của BHV-1). Ở cột này cũng tính tổng 10 ngày một, tổng cả tháng và trung bình tháng như các cột giờ. Cột cuối cùng "Hiệu số" ghi chênh lệch giữa mực nước trung bình ngày tính theo 24 giờ và trung bình ngày tính theo 4 kỳ quan trắc. Nếu mực nước trung bình tính theo 4 kỳ quan trắc lớn hơn tính theo 24 giờ thì hiệu số mang dấu (+), trường hợp ngược lại mang dấu (-);
- Trang 4 gồm 2 bảng: bảng bên trái có tiêu đề "Giờ và độ cao nước lớn và nước ròng", ghi giờ và độ cao nước lớn, nước ròng. Bảng bên phải có tiêu đề "Thời gian triều dâng, triều rút", ghi thời gian triều dâng, triều rút. Số liệu ghi vào hai bảng này được chuyển từ giản đồ của máy tự ghi mực nước sang.
Bảng bên trái, cột đầu tiên ghi ngày trong tháng (đã ghi sẵn). Cột thứ hai (cột "Thời gian"), cột thứ 3 (cột "Độ cao") để ghi thời gian xuất hiện và độ cao của nước lớn cao. Cột thứ 4, cột thứ 5 (tương tự như cột thứ 2, cột thứ 3) ghi thời gian xuất hiện và độ cao của nước lớn thấp. Cột thứ 6, cột thứ 7 ("Thời gian", "Độ cao") ghi thời gian xuất hiện và độ cao của nước ròng cao. Cột thứ 8, cột thứ 9 ("Thời gian", "Độ cao") ghi thời gian xuất hiện và độ cao của nước ròng thấp.
Đối với trạm có nhật triều đều (mỗi ngày chỉ có một nước lớn, một nước ròng) thì ghi nước lớn vào cột nước lớn cao và nước ròng vào cột nước ròng thấp. Các cột còn lại bỏ trống.
Trường hợp bán nhật triều đều, mỗi ngày có hai lần nước lớn (cao, thấp), hai lần nước ròng (cao, thấp) thì nước lớn cao ghi vào 2 cột của phần nước lớn cao, nước lớn thấp ghi vào 2 cột của phần nước lớn thấp. Nước ròng cao, nước ròng thấp cũng ghi vào các cột tương ứng của phần nước ròng.
Khi chuyển nước lớn, nước ròng từ giản đồ sang, phải căn cứ vào trình tự cao thấp của nước lớn (nước ròng) trong ngày. Nước lớn cao và nước ròng cao phải ghi đúng vào cột "Cao". Nước lớn thấp và ròng thấp phải ghi đúng vào cột "Thấp".
Trong thực tế thường gặp các trường hợp:

a) Có 1 nước lớn, 2 nước ròng (cao, thấp) trong 1 ngày: trong trường hợp này phải xác định nước lớn trong ngày thuộc về nước lớn cao hay nước lớn thấp bằng cách:
- So sánh thời gian xuất hiện của nước lớn này với thời gian xuất hiện của nước lớn cao (hoặc nước lớn thấp) tại các ngày trước và sau, nếu thời gian xuất hiện của nước lớn này phù hợp với quy luật biến đổi thời gian xuất hiện của nước lớn cao (hoặc nước lớn thấp) thì nước lớn này thuộc về nước lớn cao (hoặc nước lớn thấp);
- So sánh độ cao của nước lớn này với độ cao của nước lớn cao (hoặc nước lớn thấp) của các ngày trước và sau, nếu độ cao của nước lớn này phù hợp với quy luật biến đổi độ cao của nước lớn cao (hoặc nước lớn thấp) thì nước lớn này thuộc về nước lớn cao (hoặc nước lớn thấp).
- Khi cả hai phương pháp trên không phân loại được nước lớn cao hay nước lớn thấp thì so sánh độ cao nước lớn này với độ cao trung bình tháng của nước lớn (kể cả cao, thấp). Nếu độ cao nước lớn này cao hơn hoặc bằng độ cao trung bình tháng của nước lớn thì nước lớn này thuộc về nước lớn cao, trường hợp ngược lại thuộc về nước lớn thấp.

b) Có 1 nước ròng, 2 nước lớn (cao, thấp): Trường hợp này tiến hành tương tự như trường hợp trên, chỉ khác từ "nước lớn" thay bằng "nước ròng".
Những ngày triều chỉ có một đỉnh hai chân hoặc hai đỉnh một chân phải chú ý ghi nước lớn, nước ròng vào đúng các cột của nó. Để tránh nhầm lẫn cần chú ý thời gian xuất hiện các nước lớn, nước ròng. Đối với bán nhật triều, thông thường thời gian xuất hiện nước lớn (nước ròng) của những ngày liền kề không chênh nhau quá 6 giờ; và nước ròng thấp trong tháng không lớn hơn mực nước trung bình tháng.
Dòng "Tổng cộng" ghi tổng độ cao nước lớn (nước ròng) trong tháng ở từng cột "Cao", "Thấp".
Dòng "Trung bình" ghi nước lớn (ròng) trung bình trong tháng ở từng cột "Cao", "Thấp", tính bằng cách lấy tổng cả tháng chia cho số lần có số liệu và làm tròn thương số đến cm.
Bảng bên phải ghi thời gian triều dâng, triều rút gồm 6 cột. Hai cột đầu ghi thời gian triều dâng, triều rút cho trường hợp nhật triều. Thời gian triều dâng ghi vào cột thứ nhất, triều rút ghi vào cột thứ hai. Bốn cột còn lại dành để ghi thời gian triều dâng (rút) cho trường hợp bán nhật triều. Thời gian triều dâng lần thứ nhất ghi vào cột thứ ba "TD", lần thứ hai ghi vào cột thứ năm "TD’". Thời gian triều rút, lần thứ nhất ghi vào cột thứ tư "TR", lần hai ghi vào cột thứ 6 "TR’".
Thời gian triều dâng (rút) trích từ giản đồ sang theo trình tự thời gian và ghi bằng giờ phút.
Ở dòng thứ hai tính từ dưới lên ghi tổng thời gian triều dâng (rút) trong tháng tính bằng cách cộng thời gian triều dâng (rút) của tất cả các ngày trong tháng. Phải cộng giờ riêng, phút riêng, sau đó quy phút sang giờ bằng cách chia tổng số phút cho 60, thương số là (giờ) cộng sang phần giờ, số dư là phút giữ nguyên và ghi vào phần phút.
Dòng cuối cùng ghi thời gian triều dâng (rút) trung bình trong tháng. Tính bằng cách lấy tổng số thời gian triều dâng (rút) chia cho số lần có số liệu trong tháng. Chia riêng phần giờ cho số lần có số liệu. Số dư của phép chia đổi thành phút bằng cách nhân số dư đó với 60 phút, sau đó cộng với phần phút, đem chia cho số lần có số liệu. Lấy tròn thương số đến phút, ghi vào phần phút của giá trị trung bình.
Phía dưới trang 4 là bảng ghi các trị số đặc biệt trong tháng. Dòng "Mực nước trung bình" ghi mực nước trung bình tháng lấy ở ô tương ứng với dòng "Trung bình" tháng và cột "Trung bình hàng ngày" ở trang 3. Dòng "Mực nước cao nhất" ghi mực nước cao nhất trong tháng và thời gian (giờ, phút, ngày) xảy ra. Chọn từ cột "Nước lớn cao" ở bảng trên (bảng bên trái). Dòng "Mực nước thấp nhất" ghi mực nước thấp nhất trong tháng và thời gian (giờ, phút, ngày) xảy ra. Chọn từ cột "Nước ròng thấp" ở bảng trên (bảng bên trái). Dòng "Thời gian triều dâng lớn nhất" ghi thời gian triều dâng lớn nhất và ngày xảy ra trong tháng. Chọn từ cột "TD" hoặc "TD’" của bảng bên phải. Dòng "Thời gian triều rút lớn nhất" ghi thời gian triều rút lớn nhất và ngày xảy ra trong tháng được chọn từ cột "TR" hoặc "TR’" của bảng trên bên phải.
Mẫu bảng BHV- 2 được trình bày trong Phụ lục N, Quy phạm này.

Tổng quan văn bản

Số ký hiệu21/2006/QĐ-BTNMT
Ngày ban hành15/12/2006
Loại văn bảnQuyết định
Ngày có hiệu lực01/01/2007
Nguồn thu thậpCơ sở dữ liệu
Ngày đăng công báo31/12/2006
Cơ quan ban hành / Người kýBộ Nông nghiệp và Môi trường / Nguyễn Công Thành
Phạm viTrung ương, Bộ Tài nguyên và Môi trường
Trích yếuBan hành quy phạm quan trắc hải văn ven bờ do Bộ trưởng Bộ tài nguyên và môi trường ban hành
Tình trạng hiệu lựcCòn hiệu lực

Chưa có thông tin lược đồ

Văn bản này hiện chưa được cập nhật dữ liệu về lược đồ liên quan.