|
UBND TỈNH QUẢNG BÌNH Số: 23/2001/QĐ-UB |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------------------------- tỉnh Quảng Bình, ngày 13 tháng 08 năm 2001 |
UỶ BAN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG BÌNH
Số: 23/2001/QĐ-UB
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Đồng Hới, ngày 13 tháng 8 năm 2001
QUYẾT ĐỊNH CỦA UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH
Về việc: Phê duyệt đề án cũng cố, chấn chỉnh hoàn thiện và phát triển
Quỹ tín dụng nhân dân Quảng Bình
-------------------
UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
Căn cứ Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và UBND ngày 21/6/1994;
Căn cứ Chỉ thị số 57/CT-TƯ ngày 10/10/2000 của Bộ chính trị;
Kế hoạch số 11/KH-TU ngày 01/8/2001 của Thường vụ Tỉnh uỷ;
Theo đề nghị của Giám đốc chi nhánh Ngân hàng Nhà nước Quảng Bình.
QUYẾT ĐỊNH
Điều 1: Phê duyệt Đề án cũng cố, chấn chỉnh, hoàn thiện và phát triển QTDND Quảng Bình theo đề nghị của Giám đốc chi nhánh NHNN tỉnh (Tại tờ trình số 81/TT-NHNN ngày 8/8/2001).
- Giám đốc chi nhánh NHNN tỉnh chủ trì, phối hợp với các Ban, Ngành có liên quan và Chủ tịch UBND các huyện, thị xã, xã, phường chỉ đạo triển khai thực hiện đề án cũng cố, chấn chỉnh, hoàn thiện và phát triển QTDND Quảng Bình theo nộ dung được phê duyệt tại Quyết định này.
Điều 2: Đối với các QTDND hiện nay yếu kém, trong thời gian cũng cố phải áp dụng mọi biện pháp thu hồi nợ để đảm bảo chi trả cho người gửi tiền. Khi áp dụng biện pháp bằng Luật pháp đối với cá nhân có sai phạm liên quan đến hoạt động QTDND, chi nhánh NHNN tỉnh phải phối hợp chặt chẻ với Công an tỉnh và các cơ quan bảo vệ pháp luật, UBND các huyện, thị xã để xử lý.
- Trong trường hợp cần thiết chi nhánh NHNN tỉnh xin ý kiến của NHNN Việt Nam, Bảo hiểm tiền gửi để chi trả tiền gửi cho người gửi tiền; không để các QTDND đỗ vở ngoài sự kiểm soát của Nhà nước, làm ảnh hưởng đến hoạt động các QTDND trên địa bàn nói riêng, toàn quốc nói chung.
Điều 3: Chánh Văn phòng UBND tỉnh, Giám đốc NHNN tỉnh, Giám đốc các Sở, Thủ trưởng các ngành liên quan, Chủ tịch UBND các huyện, thị xã, xã, phường, Chủ tịch HĐQT, Giám đốc các QTDND cơ sở chịu trách nhiệm thi hành quyết định này kể từ ngày ký./.
Nơi nhận:
- Thống đốc NHNN;
- Thường vụ Tỉnh uỷ;
- Văn phòng Tỉnh uỷ;
- T.Trực HĐND tỉnh, Ban KTNS-HĐND tỉnh;
- Thường trực UBND tỉnh;
- Chủ tịch các huyện, thị, xã, phường có QTDND;
- Các Sở, Ngành có liên quan;
- Các QTDND cơ sở;
- Lưu VT, TM.
T/M UBND TỈNH QUẢNG BÌNH
K/T CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH
(Đã ký)
Phan Lâm Phương
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
CHI NHÁNH QUẢNG BÌNH
Số: 90/TDHT
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Đồng Hới, ngày 8 tháng 8 năm 2001
ĐỀ ÁN
CŨNG CỐ, CHẤN CHỈNH, HOÀN THIỆN VÀ PHÁT TRIỂN QUỸ TDND THEO CHỈ THỊ 57-CT/TW CỦA BỘ CHÍNH TRỊ, KẾ HOẠCH TRIỂN KHAI SỐ 11/KH-TU CỦA THƯỜNG VỤ THỈNH UỶ.
Sau tổng kết thí điểm thành lập Quỹ TDND trên địa bàn tỉnh, Ban chỉ đạo thí điểm thành lập Quỹ TDND có đề án cũng cố, chấn chỉnh và phát triển hệ thống Quỹ TDND trên địa bàn (a/2000). Từng Quỹ TDND cơ sở cũng đã xây dựng phương án cũng cố chấn chỉnh và đã được phê duyệt theo quy định (9/2000). Từ đó đến này chi nhánh Ngân hàng Nhà nước đã chỉ đạo các Quỹ TDND cơ sở, Quỹ Khu vực triển khai và đạt được kết quả tích cực.
Để tiếp tục cũng cố, chấn chỉnh hoạt động Quỹ TDND theo nội dung Chỉ thị 57-CT/TW ngày 10/10/2000 của Bộ Chính trị, Quyết định 135/QĐ-TTg ngày 28/11/2000 của Thủ tướng Chính Phủ, kế hoạch triển khai số 11/KH-Tu ngày 1/8/2001 của Thường vụ Tỉnh uỷ, chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh Quảng Bình bổ sung và hoàn chỉnh đề án cũng cố , chấn chỉnh hoàn thiện hệ thống Quỹ TDND trên địa bàn tỉnh như sau:
PHẦN THỨ NHẤT
Qua hơn 5 năm (từ cuối năm 1996) thí điểm thành lập QTDND theo quyết định 390/TTg ngày 27/7/1993 của Thủ tướng Chính Phủ, 1 năm thực hiện Chỉ thị 30 CT/TU ngày 8/3/2000 của Thường vụ Tỉnh uỷ, Chỉ thị 02/2000/CT-NHNN5 ngày 31/1/2000 của Thống đốc NHNN Việt Nam, hoạt động Quỹ TDND Quảng Bình đã từng bước ổn định và phát huy được tác dụng tích cực của mô hình này: khai thác nguồn vốn tại chổ để cho vay đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, giải quyết việc làm, cải thiện đời sống, góp phần thực hiện mục tiêu xoá đói, giảm nghèo, hạn chế nạn cho vay nặng lãi ở nông thôn. Tuy nhiên hoạt động của các Quỹ TDND cơ sở, Quỹ tín dụng Khu vực cũng còn nhiều mặt yếu cần thiết phải tích cực cũng cố, chấn chỉnh để hoàn thiện và phát triển hệ thống Quỹ TDND trong những năm tới.
I. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC CỦA VIỆC TRIỂN KHAI THÍ ĐIỂM THÀNH LẬP QTDND VÀ 1 NĂM THỰC HIỆN CŨNG CỐ CHẤN CHỈNH.
1) Đã xây dựng được hệ thống Quỹ TDND phù hợp với thực tiễn địa bàn nông nghiệp và nông thôn tỉnh ta.
Đến nay Quảng Bình đã có chi nhánh QTD Trung ương và 19 QTDND cơ sở hoạt động theo mô hình tín dụng hợp tác với sự tham gia của gần 13 ngàn thành viên , chiếm tỷ trọng trên 36% số hộ của 19 xã trên đại bàn ở 5 huyện, thị. Tổng hợp nguồn vốn hoạt động đến 30/6/2001 gần 45 tỷ đồng, trong đó vốn điều lệ gần 3 tỷ đồng, chiếm gần 7% tổng nguồn vốn, vốn huy động 32 tỷ đòng, chiếm trên 71% tổng nguồn vốn; đã có trên 45.000 lượt thành viên vay vốn, với doanh số cho vay trên 172 tỷ đồng, bình quân một lượt thành viên vay vốn 3, 8 triệu đồng.
Trong cho vay các Quỹ TDND cơ sở thể hiện rõ tính tương trợ cộng đồng, hầu hết các Quỹ TDND cơ sở đã bám Nghị quyết của Đảng bộ. Hội đồng nhân dân và thế mạnh kinh tế đại phương để đầu tư như: đánh bắt và chế biến hải sản ở Đức Ninh, Đồng Phú, Hạ Trạch, Bắc Trạch, phát triển kinh tế gò đồi ở Bắc Lý, vạn Trạch, mua sắm phương tiện sản xuất, phát triển chăn nuôi, trồng trọt ở Vạn Trạch, Đại Trạch. Một số Quỹ TDND cơ sở đã quan tâm cho vay hộ nghèo, mạnh dạn cho vay hỗ trợ cho các thành viên giải quyết các nhu cầu sinh hoạt như học hành, đau ốm, cưới, tang, mua sắm đồ dùng sinh hoạt cải thiện đời sống, góp phần xoá đói giảm nghèo. Thủ tục gọn nhẹ, kịp thời, thuận tiện cho việc vay vốn, gửi vốn được các thành viên và nhân dân đồng tình ủng hộ.
2) Đã xây dựng được đội ngũ cán bộ có khả năng quản trị, điều hành và tác nghiệp cho hệ thống Quỹ TDND.
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác cán bộ, coi đâu là khâu quyết định sự thành công, Cấp uỷ Đảng, Chính quyền các địa phương triển khai thí điểm đã cùng với Ngân hàng Nhà nước đã chọn lựa và tích cực đào tạo đội ngũ cán bộ làm việc tại Quỹ TDND cơ sở cơ bản đảm bảo được phẩm chất, đạo đức và có uy tín đối với thành viên; Ngân hàng Nhà nước đã mở nhiều lớp đào tạo, bồi dưỡng kiến thức cho trên 200 lượt cán bộ của các Quỹ TDND từ cán bộ nghiệp vụ đến cán bộ lãnh đạo về kỹ năng, kỹ thuật nghiệp vụ, công tác kiểm tra, kiểm soát, công tác điều hành, quản trị. Lớp học ngắn nhất là 15 ngày. Cán bộ sau khi được đào tạo cơ bản đã nắm bắt được các kỹ năng nghiệp vụ và hoạt động tốt.
3) Đã xây dựng được hệ thống cơ chế, quy chế tạo hành lang pháp lý cho hoạt động hệ thống Quỹ TDND an toàn và hiệu quả. Hoạt động của hệ thống Quỹ TDND đã được chuyển đổi theo luật HTX. Xác định được vai trò quản lý nhà nước của NHNN.
Song sông với việc triển khai mô hình Quỹ TDND Nhà nước đã xây dựng và ban hành các văn bản, cơ chế, chính sách, chế độ thể lệ nghiệp vụ, cơ chế tài chính, cơ chế liên kết và điều hoà vốn, để điều chỉnh động của hệ thống Quỹ TD. Các văn bản pháp quy nói trên vừa tạo hành lang đối với hoạt động của các Quỹ TDND trong những năm qua, vừa tạo tiền đề cho việc phát triển loại hình tín dụng hợp tác trong giai đoạn sau.
Các Quỹ TDND cơ sở cũng đã xây dựng được các điều lệ, 4 quy chế hoạt động và các nghị quyết điều chỉnh hoạt động của từng Quỹ mình theo định hường chung phù hợp với quy chế và các văn bản pháp quy của Nhà nước. Các Quỹ TDND đã được chuyển đổi và hoạt động theo luật Hợp tác xã.
Thông qua công tác triển khai thí điểm thành lập, cũng cố chấn chỉnh hoạt động Quỹ TDND với chức năng tham mưu, chi nhánh Ngân hàng Nhà nước đã chủ động và tích cực tham mưu cho ban chỉ đạo các cấp triển khai thực hiện, phản ánh kịp thời những vướng mắc, và những bất hợp lý trong quá trình thực thi các văn bản pháp quy, tổ chức thanh tra giám sát thường xuyên, toàn diện hoạt động của các Quỹ TDND; tham gia điều hoà vốn giữa các Quỹ TDND cơ sở, làm đầu mối liên kết hệ thống trong khi chưa có Quỹ TD Khu vực. Tích cực giúp đỡ Quỹ Khu vực về mọi mặt, kịp thời triển khai sáp nhập Quỹ Khu vực với Quỹ tín dụng Trung ương và mở chi nhánh Quỹ tín dụng Trung ương Quảng Bình. Đến cuối tháng 6/2001 Quảng Bình là 1 trong 4 tỉnh, thành phố được Quỹ tín dụng Trung ương mở chi nhánh tạo điều kiện thuận lợi để chăm sóc và hổ trợ cho các Quỹ TDND cơ sở xã, phường hoạt động an toàn, hiệu quả.
4) Đã tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ và quan tâm giúp đỡ của cấp uỷ, chính quyền các cấp và các ngành, tổ chức xã hội:
Việc hình thành và phát triển các Quỹ TDND trên địa bàn tỉnh được sự quan tâm của Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh, Huyện uỷ, UBND huyện và cấp uỷ, chính quyền các địa phương, cũng như sự phối kết hợp giữa các ban, ngành trong tỉnh, là một điều kiện thuận lợi hổ trợ cho Quỹ TDND hoạt động trong giai đoạn đầu và những năm tiếp theo.
5) Một số Quỹ TDND bước đầu đã xây dựng được cơ sở vật chất, đảm bảo yêu cầu hoạt động và an toàn tài sản. Xây dựng được niềm tin, xoá mặc cảm sự đỗ vỡ của Hợp tác xã tín dụng trước đây.
Những kết quả đã đạt được trong những năm qua, khẳng định Quỹ TDND là mô hình kinh tế phù hợp được thành viên, nhân dân đồng tình ủng hộ, niềm tin trong dân ngày càng tăng, xoá dần mặc cảm của mô hình hợp tác xã tín dụng trước đây.
II. NHỮNG TỒN TẠI, YẾU KÉM CỦA CÁC QTD CƠ SỞ.
Bên cạnh những kết quả đạt được, các Quỹ TDND Quảng Bình cũng đã bộc lộ những yếu kém và tồn tại sau:
1) Quy mô hoạt động của Quỹ tín dụng còn nhỏ, tốc độ phát triển chậm.
Đến nay mức độ hoạt động của các Quỹ TDND trên địa bàn tỉnh không còn đồng đều giữa các huyện, các xã, phường, một số Quỹ, quy mô hoạt động nhỏ, tốc độ phát triển chậm, như Thanh Thuỷ, Liên Thuỷ, Gia Ninh, An Ninh, Thanh Trạch; khả năng tự lực vốn còn hạn chế, vốn hoạt động chủ yếu dựa vào nguồn vốn vay của Quỹ tín dụng Trung ương như An Ninh, Gia Ninh.
2) Chất lượng hoạt động yếu, hiệu quả chưa cao, chưa đáp ứng yêu cầu đề ra, thể hiện trên các mặt sau:
- Nợ quá hạn một số Quỹ tín dụng còn cao (như Đại Trạch, 2,99%; An Ninh, 2,76%; Xuân Ninh, 2,37%). Riêng Quỹ tín dụng Thanh Trạch nợ quá hạn trên 70%, có dấu hiệu mất khả năng chi trả.
- Trong cho vay chưa thực hiện đúng quy trình nghiệp vụ, không thực hiện thẩm định, điều tra trước lúc cho vay, chưa xem xét kỹ hiệu quả do vốn vay mang lại (đa số khi xét duyệt cho vay chỉ căn cứ vào giá trị tài sản đảm bảo tiền vay); việc định kỳ hạn trả nợ không căn cứ vào chu chuyển của đối tượng cho vay; gia hạn nợ không xem xét nguyên nhân khách quan, chủ quan, còn xem nhẹ kiểm tra sau khi cho vay.
- Chấp hành nguyên tắc, chế độ hạch toán, kế toán chưa nghiêm, một số quỹ đã vi phạm nghiêm trọng công tác quản lý và thu chi tài chính, không chấp hành nghiêm túc chế độ quản lý tiền mặt, chi tiêu tiền mặt tuỳ tiện không đúng quy định.
- Trình độ quản lý, điều hành và kiểm soát của các QTDND cơ sở còn hạn chế chưa đáp ứng được nhiệm vụ, ý thức chấp hành pháp luật chưa nghiêm.
3) Công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ chưa đáp ứng được yêu cầu việc giám sát, thanh, kiểm tra của Ngân hàng Nhà nước và các ngành có chức năng quản lý chưa thường xuyên, xử lý các sai phạm, tiêu cực chưa nghiêm.
Đại bộ phận Ban kiểm soát của các Quỹ TDND năng lực hạn chế, chưa đáp ứng được đòi hỏi của công tác kiểm tra, giám sát nội bộ. Các sai phạm trong hoạt động nghiệp vụ cũng như trong việc điều hành, quản trị của Hội đồng quản trị và ban điều hành, Ban kiểm soát chưa phát hiện được, hoặc có phát hiện nhưng không kịp thời, do đó chưa ngăn chặn được sai phạm, cũng như phản ánh cho các cơ quan quản lý và đại hội thành viên. Kiểm soát hoạt động chủ yếu mang tính sự vụ và chịu sự điều hành trực tiếp của Giám đốc điều hành, nên hạn chế chức năng giám sát ban điều hành.
Việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước của chi nhánh Ngân hàng Nhà nước và các cấp, các ngành liên quan còn hạn chế chưa xử lý nghiêm túc và kịp thời các sai phạm, nhất là trong sai phạm mang tính chủ quan, tiêu cực để răn đe, giáo dục.
4) Cơ sở vật chất một số QTD cơ sở chưa đáp ứng được yêu cầu đảm bảo an toàn trong hoạt động, đến nay vẫn còn nhiều Quỹ phải mượn nhà dân để làm việc.Trong 19 Quỹ TDND cơ sở chỉ có 14 Quỹ có trụ sở làm việc ổn định, còn lại 5 Quỹ (Thanh Thuỷ, Gia Ninh, Xuân Ninh, Hạ Trạch, Quảng Thuận) vẫn chưa có trụ sở.
5) Đội ngủ cán bộ chủ chốt:C.Tịch HĐQT, Giám đốc, Kế toán trưởng, kiểm soát mới chỉ được đào tạo ngắn ngày từ 15 đến 45 ngày, kiêm nhiệm công việc địa phương và hay thay đổi (nhất là C.Tịch HĐQT, Giám đốc). Một số cán bộ chưa chịu khó học hỏi, nắm bắt không đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
6) Chưa phát huy được vai trò liên kết bền vững trong hệ thống Quỹ TDND.
Tính an toàn hệ thống trong hoạt động đối với các Quỹ TDND cơ sở chưa được quan tâm đúng mức, một số Quỹ còn xem nhẹ, chưa thấy hết tác dụng liên kết trong hoạt động, thể hiện thông qua hình thành các quỹ an toàn hệ thống, việc duy trì các tỷ lệ bảo đảm thanh toán, cũng như việc xây dựng các mục tiêu, định lãi suất trong cho vay cũng như trong huy động tạo sự cách biệt lớn giữa các Quỹ TDND cơ sở. Trong hoạt động chưa thường xuyên thông tin, trao đổi kinh nghiệm cho nhau. Hoạt động chi nhánh Quỹ tín dụng Trung ương chưa quan tâm đúng mục tiêu chăm sóc thành viên Quỹ TDND cơ sở, nhất là việc điều hành lãi suất điều hoà và lãi suất cho vay còn chênh lệch lớn, do đó chưa kích thích được các Quỹ TDND cơ sở trong việc nhận và gửi vốn điều hoà.
Với những kết quả, tồn tại yếu kém trong hoạt động của Quỹ TDND trên địa bàn, cần thiết phải cũng cố và hoàn thiện để nâng cao chất lượng đảm bảo hoạt động an toán, có hiệu quả phát huy tác dụng tích cực của nó đối với sản xuất và đời sống.
PHẦN THỨ HAI
PHƯƠNG HƯỚNG CŨNG CỐ, HOÀN THIỆN VÀ PHÁT TRIỂN QUỸ TDND QUẢNG BÌNH TRONG THỜI GIAN TỚI
I) MỤC ĐÍCH.
1) Cũng cố chấn chỉnh về tổ chức và hoạt động của các QTDND, nhất là các Quỹ tín dụng yếu kém nhằm lành mạnh hoá hoạt động của các QTDND cơ sở, nâng cao tính hiệu quả, và khả năng an toàn trong hoạt động, tạo điều kiện hoàn thiện mô hình tổ chức, nội dung hoạt động và phát triển của hệ thống QTDND trong giai đoạn kế tiếp.
2) Kết hợp việc cũng cố, chấn chỉnh các QTDND cơ sở yếu kém với việc nâng cao chất lượng công tác quản trị, điều hành, kiểm soát nội bộ của từng QTDND; đồng thời nâng cao hiệu lực của các cơ quan quản lý Nhà nước.
3) Ngăn chặn nguy cơ đổ vỡ của các QTDND cơ sở dẫn đến mất ổn định cho toàn hệ thống QTDND, cũng như đối với các loại hình tổ chức tín dụng khác.
II) PHƯƠNG HƯỚNG, NỘI DUNG CŨNG CỐ HOÀN THIỆN VÀ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG QUỸ TDND QUẢNG BÌNH.
Từ nay đến hết năm 2002 tập trung cũng cố, chấn chỉnh các Quỹ TDND khắc phục tồn tại, yếu kém nhằm lành mạnh hoá hoạt động của các Quỹ TDND theo hướng.
a)Đối với các Quỹ TDND cơ sở hoạt động tương đối tốt và ổn định gồm Quảng Thọ, Quảng Thuận (Quảng Trạch), Bắc Trạch, Vạn Trạch, Nhân Trạch, Đại Trạch, (Bố Trạch), Đồng Phú, Đức Ninh, Nam Lý, Bắc Lý (Đồng Hới), Xuân Thuỷ (Lệ Thuỷ)cần tập trung cũng cố và quy hoạch bộ máy Quỹ tín dụng, bổ sung những chức danh còn thiếu, yếu; rà soát lại hoạt động nhất là các sai phạm qua thanh, kiểm tra phát hiện để chấn chỉnh, sửa chữa. Thu hẹp phạm vi hoạt động của các QTD cơ sở chi trong địa bàn xã hay phường nơi QTD đóng trụ sở chính (kể cả huy động vốn và cho vay), điều chỉnh lãi suất linh hoạt, kịp thời để huy động đảm bảo cân đối để cho vay và điều hoà vốn cho hệ thống, nghiên cứu và tìm dự án đầu tư có hiệu quả để mở rộng cho vay, cố gắng huy động nguồn vốn trên 12 tháng cùng với việc sử dụng 10% nguồn vốn huy động ngắn hạn và phần vay vốn của Quỹ tín dụng Trung ương để cho vay trung, chú trọng các chương trình kinh tế lớn của tỉnh như nuôi trồng, chế biến hải sản, đổi mới cơ cấu trong sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi, phục hồi ngành nghề truyền thống, và đáp ứng nhu cầu bức thiết của thành viên trong việc đầu tư mua sắm TSCĐ, tạo điều kiện thuận lợi cho thành viên trả nợ.
b) Đối với các Quỹ TDND cơ sở còn một số tồn tại, hạn chế, quy mô hoạt động còn nhỏ; năng lực quản lý của bộ máy hạn chế gồm Quỹ TDND các xã Hạ Trạch, Nông trường Việt Trung, Thanh Thuỷ, Liên Thuỷ, Xuân Ninh, Gia Ninh, An Ninh cần tập trung cũng cố và chấn chỉnh một cách toàn diện các nội dung sau:
- Rà soát lại tổ chức bộ máy, xem xét kỹ năng lực, phẩm chất đạo đức của cán bộ Hội đồng quản trị, Ban điều hành và Kiểm soát Trưởng (hay Kiểm soát thường trực) để điều chỉnh, bổ sung đảm bảo các tiêu chuẩn quy định nhằm xây dựng được bộ máy đủ mạnh để quản trị và điều hành tốt.
- Xem xét lại 4 quy chế đã xây dựng và thực hiện vừa qua để chỉnh sửa, bổ sung cho phù hợp thực tế và phương hướng chỉ đạo của TW, thực hiện quản trị và điều hành theo quy chế, thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ đã phân công.
- Củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động của ban kiểm soát, đảm bảo yêu cầu kiểm soát nội bộ phải cung cấp đầy đủ, kịp thời và tung thực về tình hình tổ chức và hoạt động của QTDND giúp cho công tác kiểm tra, giám sát hoạt động của QTDND.
- Những QTDND đang còn thuê, mượn nhà dân, trụ sở UBND xã để làm trụ sở hoạt động chính cần khẩn trương tìm biện pháp khắc phục kịp thời nhằm đảm bảo an toàn và ổn định trong hoạt động.
- Các QTDND cơ sở có vốn điều lệ thấp phải có kế hoạch nâng vốn điều lệ đảm bảo tương xứng, đáp ứng yêu cầu mở rộng, nâng cao chất lượng hoạt động.
- Về huy động vốn: chấp hành nghiêm túc các quy định, chấm dứt tình trạng huy động vốn ngoài địa bàn. Những QTDND cơ sở có mức vốn huy động thấp, mới đáp ứng được 50% nhu cầu sự dụng vốn cần phải có biện pháp nâng tỷ trọng nguồn vốn huy đọng chiếm từ 70 đến 80% tổng nguồn vốn hoạt động.
- Về tín dụng: Kiểm tra, đối chiếu 100% dư nợ, phân tích và đánh giá dúng thực trạng đúng chất lượng tín dụng, khả năng thu hồi, nhất là nợ quá hạn, tìm nguyên nhân từ đó đề ra biện pháp xử lý. Trong cho vay tăng cường điều tra, thẩm định, nắm bắt kịp thời nhu cầu vốn, khả năng trả nợ thành viên để chủ động giải quyết kịp thời khi thành viên có nhu cầu.
- Về kế toán, thống kê và quản lý thu chi tài chính: Chấp hành nghiêm túc chế độ hạch toán kế toán, mở sổ theo dõi đầy đủ, kịp thời các hoạt động của QTDND. Trong công tác quản lý thu chi tài chính phải đảm bảo theo đúng quy định, tuỳ theo mức độ, quy mô hoạt động kinh doanh và khả năng thu nhập của từng đơn vị để có mức chi tiêu hợp lý và tiết kiệm.
c) Đối với Quỹ TDND xã Thanh Trạch,Sau hơn 2 năm hạn chế huy động vốn và cho vay tập trung cũng cố, chấn chính khắc phục các sai phạm trong hoạt động, đến nay cơ bản đã khắc phục được phần lớn các khoản tham ô, lợi dụng và một phần nợ cho vay của thành viên, tuy nhiên tồn tại, hạn chế hiện nay vẫn còn nghiêm trọng. Hoạt động của đơn vị đang bế tắc, HĐQT không có, Ban điều hành còn lại 2 ngời (1 Giám đốc, 1 kế toán), một số thành viên tỏ ra chây lỳ trong việc trả nợ, sai phạm của cán bộ Ban điều hành củ vẫn chưa xử lý dứt điểm, lãnh đạo địa phương thiếu kiên quyết trong việc xử lý vi phạm của Ban điều hành, trong áp dụng biện pháp để xử lý đối với các thành viên chây lỳ không thực hiện cam kết trả nợ v.v nên Quỹ TDND xã Thanh Trạch đang đứng trước nguy cơ đổ bể. Nếu kéo dài sẽ ảnh hưởng đến tình hình chính trị, xã hội địa phương và hoạt động các Quỹ TDND trên địa bàn huyện Bố Trạch nói riêng, Quảng Bình nói chung. Vì vậy từ nay đến 31/12/2001 tập trung triển khai các bước sau:
1) Tiếp tục triển khai xử lý thu hồi nợ. Đối với 3 cán bộ trong Ban điều hành phải áp dụng biện pháp xử lý bằng tài sản, hoặc bằng pháp luật để thu hồi nợ, đối với những thành viên chây lỳ đã có cam kết trả nợ nhưng không thực hiện phải kiên quyết xử lý tài sản để thu hồi nợ, nhất là số cán bộ xã, thôn, đảng viên; các trường hợp khác do khách quan khó khăn trong việc trả nợ cho làm cam kết, giãn nợ và phân kỳ hạn nợ để thu hồi nợ.
2) Sau khi xử lý được những vấn đề trên cho cũng cố lại nhân sự và chuẩn bị đầy đủ các điều kiện cần thiết để đưa Quỹ hoạt động trở lại.
3) Đến 30/9/2001 nếu không xử lý được các tồn tại thì triển khai các bước thu hồi giấy phép hoạt động theo quy định của pháp luật, đến 31/12/2001 rút giấy phép hoạt động.
d) Đối với QTD Trung ương chi nhánh Quảng Bình,trước mắt tập trung củng cố tổ chức, ổn định bộ máy, từng bước triển khai xây dựng trụ sở làm việc để ổn định hoạt động. Về hoạt động trong khi cơ chế chưa đầy đủ cần làm tốt công tác điều hoà và hổ trợ vốn kịp thời cho các Quỹ TDND cơ sở. Củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động, nhất là chất lượng tín dụng, an toàn tài sản.
III. KẾ HOẠCH TRIỂN KHAI.
a) Đối với các xã, phường có Quỹ tín dụng và đối với các Quỹ TDND cơ sở.
1) Sau khi hội nghị triển khai các Quỹ TDND cơ sở căn cứ rà soát lại tồn tại, yếu kém của đơn vị mình để lập kế hoạch bổ sung vào đề án củng cố và chấn chỉnh hoạt động của đơn vị đã được phê duyệt.
2) Kiện toàn lại Ban củng cố, chấn chỉnh hoạt động của từng Quỹ được thành lập trước đây đầy đủ các thành phần, đồng thời thực hiện đề án củng cố và chấn chỉnh Quỹ tín dụng một cách có hiệu quả nhất.
3) Đảng uỷ các Xã, Phường xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện kế hoạch triển khai của Thường vụ Tỉnh uỷ, đề án củng cố, chấn chỉnh hoàn thiện và phát triển Quỹ TDND trên địa bàn tỉnh đã được UBND tỉnh phê duyệt.
b) Chi nhánh Ngân hàng nhà nước tỉnh.
1) Xây dựng kế hoạch cụ thể để triển khai thực hiện kế hoạch của Thường vụ Tỉnh uỷ triển khai Chỉ thị 57 CT/TW ngày 10/10/2001 của Bộ Chính trị, đề án bổ sung củng cố, chấn chỉnh, hoàn thiện và phát triển Quỹ TDND được UBND tỉnh phê duyệt.
2) Chỉ đạo bổ sung đề án củng cố và chấn chỉnh của từng Quỹ TDND cơ sở và giám sát, giúp đỡ, tạo điều kiện để các Quỹ triển khai thực hiện. Theo dõi tổng hợp tình hình, kết quả triển khai củng như vướng mắc, đề xuất tham mưu biện pháp chỉ đạo xử lý với Thường vụ Tỉnh uỷ, Thường trực UBND tỉnh.
3) Tăng cường thanh, kiểm tra các hoạt động của Quỹ TDND để phát hiện và xử lý kịp thời những sai phạm.
4) Triển khai đầy đủ, kịp thời các chủ trương của nhà nước, của ngành liên quan đến hoạt động của Quỹ TDND. Tổ chức đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngủ cán bộ hệ thống Quỹ TDND Quảng Bình.
c) Đối với các ngành liên quan,đề nghị tăng cường giám sát, kiểm tra, giúp đỡ và tạo điều kiện cho các Quỹ TDND hoạt động. Đặc biệt Công an, Viện kiểm sát phối hợp, hổ trợ Quỹ TDND trong việc xử lý thu hồi các khoản nợ mà thành viên chây ỳ, né tránh trách nhiệm trả nợ, các khoản mà cán bộ Quỹ tín dung tham ô, lợi dụng.
IV. KIẾN NGHỊ.
1. Để thực hiện tốt đề án củng cố và chấn chỉnh hệ thống QTDND đề nghị UBND tỉnh chỉ đạo chính quyền các cấp, các ban ngành, đoàn thể các xã phường có Quỹ TDND hoạt động có trách nhiệm chỉ đạo hổ trợ tích cực, nhằm củng cố và giúp các QTDND cơ sở ổn định về mọi mặt để các QTDND cơ sở hoạt động một cách an toàn và hiệu quả.
2) Chỉ đạo các ngành, các địa phương quan tâm đến việc cấp đất để các Quỹ TDND sớm xây dựng trụ sở làm việc. Đồng thời có chính sách hổ trợ một phần kinh phí cho các Quỹ TDND cơ sở trong việc xây dựng cơ sở vật chất.
GIÁM ĐỐC NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC
TỈNH QUẢNG BÌNH
(Đã ký)
NGUYỄN MẬU QUYẾT