Quay lại

Quyết định 2382/1999/QĐ-UB về việc ban hành Quy chế báo cáo viên pháp luật

UBND TỈNH HƯNG YÊN
-------

Số: 2382/1999/QĐ-UB

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------------------------

tỉnh Hưng Yên, ngày 29 tháng 11 năm 1999

QUYẾT ĐỊNH CỦA UBND TỈNH HƯNG YÊN

Về việc ban hành Quy chế báo cáo viên pháp luật

________________________

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

- Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân (sửa đổi) ngày 21-6-1994;

- Căn cứ Quyết định số 210/1999/QĐ-BTP ngày 9-7-1999 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp.

- Căn cứ Chỉ thị số 08/1999/CT-UB ngày 18-4-1998 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên về việc đẩy mạnh công tác phổ biến, giáo dục pháp luật theo Chỉ thị số 02/1998/CT-TTg và Quyết định số 03/1998/QĐ-TTg ngày 7-1-1998 của Thủ tướng Chính phủ;

- Căn cứ Quyết định số 712/1998/QĐ-UB ngày 18-8-1998 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên về việc ban hành kế hoạch triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật từ năm 1998 – 2002 và thành lập Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật;

Theo đề nghị của Giám đốc Sở Tư pháp và Trưởng ban tổ chức chính quyền tỉnh.

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Ban hành Quy chế báo cáo viên pháp luật ở cấp tỉnh, cấp huyện, gọi tắt là quy chế báo cáo viên pháp luật.

Điều 2. Căn cứ vào các quy định của quy chế này, Giám đốc Sở Tư pháp tổ chức xây dựng quy chế tuyên truyền ở cơ sở trình Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành.

Điều 3. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký.

Giám đốc Sở Tư pháp có trách nhiệm hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện Quyết định này.

Điều 4. Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật tỉnh, Giám đốc Sở Tư pháp, Trưởng ban tổ chức chính quyền tỉnh, thủ trưởng các sở, ban, ngành ở tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, thị xã có trách nhiệm tổ chức thi hành Quyết định này.

TM. UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH

KT. CHỦ TỊCH

PHÓ CHỦ TỊCH

(Đã ký)

Nguyễn Thước

QUY CHẾ BÁO CÁO VIÊN PHÁP LUẬT

(Ban hành kèm theo Quyết định số 2382/1999/QĐ-UB ngày 29 tháng 11 năm 1999 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên)

________________________

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Báo cáo pháp luật.

Báo cáo pháp luật là một công tác tư tưởng, văn hóa của Đảng, được tiến hành bằng lời nói trước những đối tượng xác định, nhằm truyền đạt tinh thần, nội dung pháp luật, giúp người nghe hiểu biết và nâng cao nhận thức về pháp luật, tôn trọng, làm theo pháp luật một cách đúng đắn, thống nhất.

Điều 2. Báo cáo viên pháp luật

Báo cáo viên pháp luật gồm:

1. Báo cáo viên của tỉnh.

2. Báo cáo viên pháp luật của huyện, thị xã.
Ở xã, phường, thị trấn có lực lượng tuyên truyền viên.

Điều 3. Yêu cầu đối với công tác báo cáo pháp luật

Công tác báo cáo pháp luật phải bảo đảm những yêu cầu sau:

1. Đúng chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước;

2. Chính xác, phổ thông, dễ hiểu, có sức thuyết phục;

3. Tác động tích cực đến người nghe nhằm góp phần tạo niềm tin pháp luật; cổ vũ, động viên cán bộ, nhân dân thực hiện đúng chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước.

Điều 4. Phạm vi hoạt động của báo cáo viên pháp luật

Báo cáo viên pháp luật làm việc tại cơ quan, tổ chức nào thì trực tiếp thực hiện báo cáo pháp luật tại cơ quan, tổ chức đó; đồng thời truyền đạt, phổ biến pháp luật cho Báo cáo viên hoặc cán bộ, công chức của cơ quan, tổ chức khác khi có yêu cầu.

Việc tuyên truyền pháp luật cho cán bộ, nhân dân ở xã, phường, thị trấn, cơ quan, đơn vị cơ sở chủ yếu do lực lượng tuyên truyền viên ở cơ sở thực hiện.

Điều 5. Phương thức tổ chức hoạt động báo cáo pháp luật

Việc báo cáo pháp luật được tiến hành thường xuyên theo kế hoạch của từng cơ quan, tổ chức đồng thời được thực hiện từng đợt đột xuất theo hướng dẫn của cơ quan Tư tưởng – văn hóa, cơ quan Tư pháp và các cơ quan khác có thẩm quyền.

Điều 6. Bảo đảm sự hoạt động có hiệu quả của báo cáo viên

Cơ quan Tư pháp phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, tổ chức hữu quan tham mưu giúp Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh, cấp huyện, xây dựng bồi dưỡng đội ngũ báo cáo viên pháp luật, bố trí thời gian và tạo điều kiện thuận lợi để báo cáo viên nâng cao hiệu quả hoạt động của mình theo quy định tại điểm 2 Chỉ thị số 02/1998/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ và điểm 3 Chỉ thị số 08/CT-UB ngày 18-4-1998 của Ủy ban nhân dân tỉnh.

Chương II

TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG CỦA BÁO CÁO VIÊN PHÁP LUẬT

Điều 7. Nguồn lựa chọn Báo cáo viên pháp luật

1. Báo cáo viên pháp luật được lựa chọn từ các cán bộ, công chức, sĩ quan đã và đang làm việc trong các cơ quan bảo vệ pháp luật, cơ quan Tư tưởng – Văn hóa, trong các cơ quan tuyên huấn thuộc lực lượng vũ trang, các tổ chức chính trị - xã hội và cán bộ, công chức làm công tác pháp luật.

2. Báo cáo viên pháp luật của Tỉnh được lựa chọn từ cán bộ, công chức đang công tác tại các sở, ban, ngành và một số báo cáo viên của huyện, thị xã.
Báo cáo viên pháp luật của huyện, thị xã được lựa chọn từ cán bộ, công chức đang công tác tại các phòng, ban, đoàn thể và một sốcán bộ ở xã, phường, thị trấn.

Điều 8. Tiêu chuẩn của Báo cáo viên pháp luật

1. Báo cáo viên pháp luật phải có tiêu chuẩn chung sau đây:

a) Gương mẫu thực hiện chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước; có phẩm chất chính trị vững vàng, tư cách đạo đức tốt.

b) Có uy tín trong công tác, trong sinh hoạt.

c) Có kiến thức pháp luật, có khả năng báo cáo pháp luật trước công chúng.

d) Tự nguyện, nhiệt tình, có đủ điều kiện về sức khỏe và thời gian để hoàn thành nhiệm vụ báo cáo pháp luật.

e) Được cơ quan, tổ chức nơi mình công tác, sinh hoạt hoặc chính quyền cơ sở giới thiệu.

2. Ngoài các tiêu chuẩn chung quy định tại khoản 1 điều này, Báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh phải có trình độ cao đẳng các ngành chuyên luật hoặc cao đẳng khác trở lên và công tác ở một lĩnh vực liên quan đến pháp luật ít nhất 3 năm.
Báo cáo viên pháp luật cấp huyện, thị xã phải có những tiêu chuẩn tại khoản 1 điều này và có từ 2 năm công tác trở lên.

Điều 9. Thủ tục công nhận Báo cáo viên pháp luật

Thủ tục công nhận Báo cáo viên pháp luật được thực hiện như sau:

1. Sở Tư pháp phối hợp với các cơ quan, tổ chức cùng cấp và Ủy ban nhân dân huyện, thị xã lựa chọn người đủ tiêu chuẩn trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định công nhận Báo cáo viên pháp luật Tỉnh.

2. Phòng Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân huyện, thị xã phối hợp với các cơ quan, tổ chức cùng cấp và Ủy ban nhân dân các xã, phường, thị trấn lựa chọn người đủ tiêu chuẩn trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, thị xã quyết định công nhận Báo cáo viên pháp luật của mình.

3. Trong từng thời kỳ Sở Tư pháp, phòng Tư pháp phối hợp với các cơ quan tổ chức hữu quan cùng cấp rà soát, đánh giá hoạt động, đề nghị bổ sung thay đổi Báo cáo viên.

Điều 10. Thẻ Báo cáo viên pháp luật

1. Thẻ Báo cáo viên pháp luật chứng nhận tư cách, năng lực báo cáo về pháp luật của người được cấp thẻ.

2. Ủy ban nhân dân tỉnh; huyện, thị xã cấp thẻ báo cáo viên pháp luật cho Báo cáo viên cấp mình.

3. Thẻ báo cáo viên pháp luật bị thu hồi khi người được cấp thẻ bị xóa tên trong danh sách Báo cáo viên pháp luật.

4. Thẻ báo cáo viên pháp luật được cấp theo mẫu quy định, thống nhất của Bộ Tư pháp.

Điều 11. Quyền của báo cáo viên pháp luật

Báo cáo viên pháp luật có các quyền sau đây:

1. Được cung cấp thông tin, văn bản quy phạm pháp luật và các tài liệu khác cần thiết cho công tác báo cáo pháp luật.

2. Được tham gia dự các hoạt động học tập, bồi dưỡng nghiệp vụ để nâng cao kiến thức chuyên môn về phổ biến, giáo dục pháp luật.

3. Được sử dụng thẻ Báo cáo viên pháp luật để thực hiện công tác báo cáo pháp luật và tham gia các hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật khác.

4. Được hưởng thù lao Báo cáo viên theo quy định hiện hành của Nhà nước.

Điều 12. Nghĩa vụ của Báo cáo viên pháp luật

Báo cáo viên pháp luật có những nghĩa vụ sau:

1. Chịu trách nhiệm cá nhân về nội dung báo cáo; phải phát ngôn phù hợp với chính sách của Đảng, truyền đạt đúng tinh thần văn bản pháp luật; không tiết lộ bí mật của nhà nước; không sử dụng thẻ báo cáo viên pháp luật vào mục đích khác ngoài mục đích giới thiệu tư cách báo cáo viên pháp luật.

2. Luôn học tập chuyên môn, trau dồi nghiệp vụ tuyên truyền, tìm hiểu thực tiễn, thu nhập thông tin để nâng cao năng lực phổ biến giáo dục pháp luật; đảm bảo kế hoạch báo cáo pháp luật đã đề ra; thực hiện có chất lượng các hoạt động báo cáo pháp luật.

3. Thường xuyên giữ mối liên hệ với các cơ quan Tư pháp, cơ quan Tư tưởng – Văn hóa; báo cáo cho cơ quan, tổ chức trực tiếp quản lý và cơ quan Tư pháp về hoạt động của mình, về ý kiến của các đối tượng được báo cáo pháp luật.

Điều 13. Phổ biến văn bản pháp luật mới ban hành

Khi có văn bản quy phạm pháp luật mới ban hành mà theo sự chỉ đạo cần tổ chức phổ biến rộng rãi, Sở Tư pháp chủ động hoặc phối hợp với các cơ quan, ban ngành có liên quan xây dựng đề cương, chỉ đạo việc phổ biến văn bản.

Dựa vào đề cương được cung cấp, Báo cáo viên xây dựng đề cương chi tiết, sát hợp để phổ biến cho Báo cáo viên cấp dưới, cho cán bộ, công chức trong cơ quan, tổ chức hoặc cho nhân dân ở địa bàn nơi mình sinh sống.

Điều 14. Trách nhiệm của cơ quan Tư pháp trong việc tạo điều kiện để Báo cáo viên hoạt động

Cơ quan Tư pháp phối hợp chặt chẽ với cơ quan Tư tưởng – Văn hóa và các cơ quan, tổ chức hữu quan có trách nhiệm:

1. Xây dựng đội ngũ, quản lý hoạt động của Báo cáo viên.

2. Tổ chức hướng dẫn, bồi dưỡng nghiệp vụ, trao đổi kinh nghiệm báo cáo pháp luật, phổ biến giáo dục pháp luật nhằm không ngừng nâng cao trình độ của Báo cáo viên.

3. Cung cấp thông tin, tài liệu, văn bản quy phạm pháp luật cần thiết cho Báo cáo viên.

4. Trao đổi, thống nhất ý kiến với các cơ quan, tổ chức trực tiếp quản lý Báo cáo viên để tạo điều kiện về thời gian, phương tiện hoạt động cho Báo cáo viên.

5. Định kỳ tổ chức sơ kết, tổng kết, thực hiện công tác thi đua khen thưởng trong hoạt động Báo cáo pháp luật.

Chương III

KHEN THƯỞNG, KỶ LUẬT

Điều 15. Khen thưởng

Báo cáo viên có thành tích trong hoạt động phổ biến pháp luật, góp phần vào việc nâng cao hiểu biết và ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân thì được cơ quan Tư pháp với sự thỏa thuận của cơ quan, tổ chức hữu quan đề nghị Bộ Tư pháp hoặc Ủy ban nhân dân cùng cấp hoặc cấp trên khen thưởng theo quy định chung của nhà nước.

Điều 16. Kỷ luật

Báo cáo viên pháp luật vi phạm Quy chế này, không còn đủ tư cách Báo cáo viên thì tùy theo mức độ có thể bị tạm đình chỉ hoạt động Báo cáo viên pháp luật; xóa tên trong danh sách Báo cáo viên pháp luật; thu hồi thẻ báo cáo viên hoặc bị áp dụng các hình thức kỷ luật theo quy định chung.

Tổng quan văn bản

Số ký hiệu2382/1999/QĐ-UB
Ngày ban hành29/11/1999
Loại văn bảnQuyết định
Ngày có hiệu lực29/11/1999
Nguồn thu thậpCơ sở dữ liệu
Ngày đăng công báo---
Cơ quan ban hành / Người kýUBND tỉnh Hưng Yên / Nguyễn Thước
Phạm viHưng Yên
Trích yếuVề việc ban hành Quy chế báo cáo viên pháp luật
Tình trạng hiệu lựcCòn hiệu lực

Chưa có thông tin lược đồ

Văn bản này hiện chưa được cập nhật dữ liệu về lược đồ liên quan.

Quyết định 2382/1999/QĐ-UB về việc ban hành Quy chế báo cáo viên pháp luật | C-AI Legal