|
UBND TỈNH BẾN TRE Số: 24-UB/NQ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------------------------- tỉnh Bến Tre, ngày 26 tháng 01 năm 1980 |
NỘI QUY VỆ SINH THỊ XÃ
Để đảm bảo trật tự vệ sinh nếp sống văn minh sạch đẹp trong khu vực thị xã, tất cả mọi người đều phải thực hiện một số điều cơ bản như sau:
I. NGUYÊN TẮC CHUNG
Điều 1. Vệ sinh là một vấn đề có liên quan tới nhiều mặt trong đời sống của con người và tầm quan trọng về nhiều mặt trong tổ chức đời sống xã hội.
Giữ gìn vệ sinh là cơ sở khoa học để phòng bệnh, phòng dịch, bảo vệ sức khỏe cho mọi người, tạo điều kiện đẩy mạnh sản xuất, đẩy mạnh công tác, học tập, góp phần cải thiện và không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân.
Xây dựng thị xã Bến Tre ta có một nếp sống, vệ sinh, văn minh sạch đẹp là một yêu cầu rất quan trọng và rất cấp thiết trong giai đoạn hiện nay.
Giữ gìn vệ sinh cá nhân, vệ sinh xã hội làm nghĩa vụ và quyền lợi của mỗi công dân trong thị xã nên mỗi người cán bộ công nhân viên và nhân dân đều phải thực hiện nghiêm chỉnh bản nội quy vệ sinh này.
II. VỆ SINH CÔNG CỘNG
Điều 2. Cấm đổ rác, xả rác, ném xúc vật chết và những vật ô uế khác ra mặt đường và xuống sông, rạch ao hồ hoặc làm rơi rớt chuyên chở những thứ đó trên đường vỉa hè, phố, công viên, bờ sông và các nơi công cộng khác.
Chỉ được phép đổ rác ở những thùng rác công cộng hoặc xe đến khu rác.
Phòng vệ sinh thị xã phải quy định giờ quét rác, giờ đi thu rác thích hợp hằng ngày tại các đường phố.
Bãi đổ rác phải đặt xa thị xã và phải phủ đất rắc vôi hoặc tẩy uế sau mỗi lần đổ rác.
Điều 3. Cấm tự tiện đào hè phố cống rãnh, nếu không được phép các phòng nhà đất, phòng vệ sinh thị xã khi được phép phải làm nhanh gọn, làm xong đến đâu lấp ngay đến đấy, rãi đá lót gạch lại như cũ, quét dọn sạch sẽ.
Nghiêm cấm sử dụng lề đường, hè phố làm các công việc riêng như làm rào cản ngăn phơi đồ đạc, đun nấu, để vật tư hàng hóa sản xuất, …
Điều 4. Các cơ quan xí nghiệp, các gia đình có nhiệm vụ giữ gìn sạch sẽ lề đường, hè phố cống rãnh trước cửa nhà mình, cơ quan mình. Duy trì nề nếp tổng vệ sinh hàng tuần. Các gia đình, cơ quan phải có thùng chứa rác, đổ rác vào nơi quy định, không được đổ bừa bài, gây mất vệ sinh chung.
Điều 5. Những nơi công cộng tập trung đông người như bến chợ, bến xe bến bắc cửa hàng, rạp hát, công viên sân vận động thể thao, cơ quan xí nghiệp, bệnh viện, trường học, nhà ở tập thể và cá nhân, phải có đủ số lượng cầu tiêu hợp vệ sinh, có nước sạch để dùng ăn uống, tắm rửa.
Cấm phúng uế ngoài những nơi đã quy định đường đi hè phố, các ngõ ngách, bờ sông, bãi cỏ, gốc cây, công viên sông rạch ao hồ và các nơi công cộng khác.
Điều 6. Việc lấy và chuyên chở, phân ở nội ô thị xã, xe đường qua lại, xa nguồn nước ăn uống tắm giặt, xa nhà ở cuối chiều gió, không để dòi bọ ruồi lằn sinh sản.
Điều 7. Các loại cầu tiêu phải được xây dựng và sử dụng đúng quy cách, có nắp đậy kín, có cửa che, có tường ngăn cách.
Điều 8. Cấm nuôi heo, bò, ngựa trong nội ô thị xã, nuôi chó thì phải cột nhốt lại, cấm chó chạy rong ra đường phố.
Những đơn vị cần sử dụng xúc vật để thí nghiệm phục vụ cho công tác nghiệp vụ thì phải được Ủy ban thị xã cho phép và phải tuân theo yêu cầu chăn nuôi của y tế quy định, gà vịt, ngỗng không được thả rong đường phố, chuồng gà vịt phải quét dọn sạch sẽ.
Điều 9. Cấm tắm giặt, rửa thức ăn đồ dùng nhiễm dơ bẩn tại các vòi nước máy công cộng, các ao hồ, nước giếng tập trung.
Khu vực nhà máy nước phải giữ gìn sạch sẽ, cấm chăn nuôi gia súc gà vịt, cấy cày trồng tỉa tắm rửa giặt giủ, làm ao cá tra trong khu vực nhà máy nước.
Nước do nhà máy nước sản xuất phải theo đúng quy định, hợp vệ sinh, đảm bảo đúng tiêu chuẩn do ngành y tế quy định.
III. VỆ SINH THỰC PHẨM VÀ ĂN UỐNG
Điều 10. Các cơ sở sản xuất chế biến, các kho, các cửa hàng lương thực, thực phẩm cửa hàng ăn uống giải khát, các nhà ăn tập thể phải luôn luôn sạch sẽ.
Phải tổ chức chế biến theo hệ thống 1 chiều từ sống đến chính, từ nguyên liệu đến thành phẩm, các phương tiện dụng cụ máy móc, sản xuất chế biến, chứa đựng đóng gói, bảo quản, chuyên chở thức ăn, đều phải đảm bảo vệ sinh sạch sẽ.
Điều 11. Các nguyên liệu dùng để chế biến thức ăn,nước uống phải có phẩm chất tốt, các mặt hàng sản xuất hàng loạt để lâu ngày như nước giải khát, nước mắm, tương chau, đồ hộp,… phải theo đúng công thức đã quy định.
Trước khi bán ra thị trường một mặt hàng mới phải có sự tham gia xem xét của ngành y tế. Mỗi loại sản phẩm có hồ sơ ghi có quy định thời gian sử dụng.
Nghiêm, cấm bán ra thị trường những thức ăn thức uống, thuốc hút, thuốc chữa bệnh mất phẩm chất và các hàng hóa khác có hại đến sức khỏe nhân dân.
Điều 12. Các khách sạn, cửa hàng ăn uống giải khát, nhà ăn tập thể phải sạch sẽ. Các dụng cụ cho ăn uống phải nhún nước sôi trước khi khách hàng dùng.
Những bà con bán các thức ăn phải bán đúng nơi chỗ quy định và phải đảm bảo vệ sinh.
Nhân viên phục vụ phải thực hiện vệ sinh cá nhân tốt, 6 tháng kiểm tra sức khỏe 1 lần người, mắc bệnh truyền nhiễm phải điều trị cho thật khỏi mới được trở lại làm việc hoặc thay đổi công tác khác.
IV. VỆ SINH NHÀ Ở, VỆ SINH XÂY DỰNG
Điều 13. Nhà ở tại các đường phố, các khu tập thể, nơi làm việc, hậu trường, câu lạc bộ, … thuộc đơn vị nào, gia đình nào thì gia đình ấy, đơn vị ấy chịu trách nhiệm giữ gìn vệ sinh riêng, vệ sinh chung cho sạch sẽ, cấm đổ rác, nước dơ ra đường phố, sang nhà bên cạnh xuống tầng dưới, cống rãnh phải thoát nước không ứ đọng, kính hơi không hôi thối.
- Không được làm chuồng heo gần đường, gần nhà người khác, gần sông rạch.
Nước thải của cơ quan xí nghiệp, bệnh viện không được để ảnh hưởng đến sức khỏe của nhân dân.
Điều 14. Những đề án thiết kế các công trình xây dựng, các cơ quan sản xuất, công nghiệp thì phải được cơ quan y tế có thẩm quyền tham gia ý kiến về mặt vệ sinh để đảm bảo sức khỏe cho nhân dân.
V. VỆ SINH TRƯỜNG HỌC NHÀ GIỮ TRẺ
Điều 15. Các trường học, lớp mẫu giáo, nhà gởi trẻ phải đặt xa nơi có nhiều khói bụi, hơi độc mùi hôi thối, phải đủ ánh sáng, thoát khí mát mẽ, bàn ghế đồ dùng giảng dạy phải hợp tầng lứa tuổi.
Phòng học, sân chơi, cầu tiêu, cầu tiểu phải luôn luôn sạch sẽ, có đủ nước uống, nước rửa cho học sinh và cô giáo.
Điều 16. Các thầy cô giáo mắc bệnh truyền nhiễm thì không làm nghề nuôi dạy trẻ nữa.
VI. PHÒNG DỊCH VÀ CHỐNG DỊCH
Điều 17. Thủ trưởng các cơ quan, xí nghiệp, trường học, đơn vị bộ đội, các nhà tập thể, chủ hộ gia đình khi phát hiện dịch bệnh có trong đơn vị mình thì phải báo ngay cho cơ quan y tế.
Khi dịch bệnh xảy ra ở 1 địa phương nào thì địa phương đó theo dõi đề nghị cơ quan y tế ra lệnh tiến hành bao vây dập tắc dịch ngay.
Điều 18. Để phòng các bệnh dịch, mọi người phải tiêm chủng thuốc phòng dịch, gia đình nào muốn nuôi chó phải tiêm phòng cho chó và cấm thả chó chạy rong, đưa chó từ vùng có dịch ra vùng không có dịch.
Điều 19. Khi có dịch xảy ra phải tổ chức kiểm tra địch tể ở các đầu mối, giao thông như bến bắc, bến xe, bến chợ ai không có giấy tiêm chủng, không được ra vào thị xã.
Điều 20. Việc bốc mộ cải táng chỉ được phép làm sau 3 năm chôn cất.
Việc di chuyển người chết và hài cốt giữa nội thị, ngoại thị đều phải được phép của trạm vệ sinh phòng dịch tỉnh.
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH VÀ BIỆN PHÁP XỬ LÝ NHỮNG TRƯỜNG HỢP VI PHẠM NỘI QUY
Điều 21. Cá nhân và tập thể đều có nhiệm vụ chấp hành bản nội quy vệ sinh này. Ai làm tốt sẽ được biểu dương khen thưởng, ai vi phạm sẽ được giáo dục và xử lý thích đáng.
Điều 22. UBND thị xã, khu phố phải thực hiện đầy đủ trách nhiệm của mình và phải chỉ đạo các ban, ngành thuộc cấp mình thực hiện nghiêm chỉnh bản nội quy này.
Điều 23. Ty Y tế, Ty Công an có trách nhiệm thành lập các Đoàn kiểm tra vệ sinh thị xã theo tinh thần Thông tư số 29-BYT-TT của Bộ Y tế và Chỉ thị số 68/D46 của Bộ Công an về quản lý vệ sinh thành phố để hướng dẫn đôn đốc kiểm tra và xử lý các trường hợp vi phạm nội quy vệ sinh, tiến tới thực hiện nội quy thành nề nếp trong thị xã làm cho thị xã chúng ta ngày càng được trật tự vệ sinh sạch đẹp.
Điều 24. Bản nội quy vệ sinh này đã được thông qua Ủy ban nhân dân và các ngành trong tỉnh và được thực hiện kể từ ngày 27 tháng 01 năm 1980./.
Ngày 26 tháng 01 năm 1980