Quay lại

Quyết định 24/2003/QĐ-UB v/v Ban hành Chương trình xuất khẩu lao động giai đoạn 2003 – 2010 và Quy chế làm việc của BCĐ xuất khẩu lao động

UBND TỈNH BÌNH PHƯỚC
-------

Số: 24/2003/QĐ-UB

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------------------------

tỉnh Bình Phước, ngày 20 tháng 03 năm 2003

QUYẾT ĐỊNH

V/v Ban hành Chương trình xuất khẩu lao động giai đoạn 2003 – 2010 và Quy chế làm việc của BCĐ xuất khẩu lao động

______________________________________

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC

Căn cứ Luật Tổ chức HĐND và UBND (sửa đổi) ngày 21/06/1994;

Căn cứ Nghị định số 152/1999/NĐ-CP ngày 20/09/1999 của Chính phủ về việc đưa người lao động và chuyên gia Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài.

Căn cứ Nghị quyết số 05/NQ-TU ngày 28/02/2003 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về việc lãnh đạo và đẩy mạnh công tác xuất khẩu lao động giai đoạn 2003 - 2010;

Căn cứ Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐ của Hội đồng nhân dân tỉnh tại kỳ họp thứ 7 – Khóa VI;

Căn cứ Chỉ thị số 04/2003/CT-UB ngày 19/03/2003 của UBND tỉnh v/v đẩy mạnh công tác xuất khẩu lao động giai đoạn 2003 - 2010;

Xét đề nghị của Giám đốc Sở Lao động TB&XH.

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1: Ban hành kèm theo Quyết định này “Chương trình xuất khẩu lao động giai đoạn 2003 - 2010 và Quy chế làm việc của BCĐ xuất khẩu lao động”.

Điều 2: Ông (Bà) Chánh Văn phòng UBND tỉnh; Giám đốc Sở Lao động - TB&XH, Công an Tỉnh, Sở Y tế, Ngân hàng Nhà nước tỉnh, Ngân hàng chính sách xã hội, Sở Tài chính – Vật giá, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Quỹ hỗ trợ Đầu tư – Phát triển; Thủ trưởng các Sở, ban, ngành; Chủ tịch UBND các huyện, thị; Chủ tịch UBND các xã, phường, thị trấn căn cứ Quyết định thi hành kể từ ngày ký.

TM. ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNHKT. CHỦ TỊCHPHÓ CHỦ TỊCH(Đã ký)

NGUYỄN VĂN THỎA

CHƯƠNG TRÌNH

XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA TỈNH GIAI ĐOẠN 2003 – 2010

(Ban hành kèm theo Quyết định số 24/2003/QĐ-UB ngày 20/03/2003 của UBND tỉnh)

Xuất khẩu lao động (XKLĐ) đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài là một giải pháp quan trọng đã được UBND tỉnh đề ra trong Đề án giải quyết việc làm giai đoạn 2001 - 2005. Tuy nhiên, từ năm 2001 đến nay giải pháp này chưa được các ngành, địa phương quan tâm thực hiện. Do đó để tạo cơ chế pháp lý có tính thống nhất và khả thi cho vấn đề đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, UBND tỉnh đề ra chương trình xuất khẩu lao động giai đoạn từ năm 2003 đến năm 2010 với những nội dung chính như sau:

I ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG LAO ĐỘNG

1. Đánh giá thực trạng
Bình Phước là tỉnh nông nghiệp – miền núi và dân tộc với dân số trên 700.000 người, trong đó người dân tộc thiểu số chiếm khoảng 120.000 người (gần 20%) thuộc 40 dân tộc khác nhau. Theo số liệu điều tra lao động – việc làm (1/10/2002) toàn tỉnh có 410.000 người đang lao động làm việc – Trong đó 45.000 người chiếm 10,05% đã qua đào tạo nghề và 366.000 người chiếm 89,5% chưa được đào tạo về chuyên môn (lao động phổ thông), trong đó hàng năm toàn tỉnh có khoảng 15.000 – 16.000 người đến tuổi lao động tham gia vào các hoạt động KT-XH, ngoài ra còn có số lao động dôi dư do sắp xếp lại SXKD của doanh nghiệp, bộ đội xuất ngũ, giảm biên chế từ khu vực Hành chính, sự nghiệp, số học sinh tốt nghiệp PTTH nhưng không tiếp tục theo học tại các Trường Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp... (khoảng 3.500 người).
Trước thực trạng đó, trong những năm qua tỉnh đã đề ra nhiều giải pháp để cải thiện tình hình lao động ở địa phương, giải quyết việc làm, XĐGN cho nhân dân. Trong đó quan tâm đến khu vực SX nông nghiệp, hỗ trợ vốn giải quyết việc làm... Tuy nhiên từ khi tỉnh được tái lập đến nay, công tác xuất khẩu lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài chưa được quan tâm, tạo điều kiện, định hướng phát triển và quản lý. Hiện nay, theo số liệu của ngành công an cung cấp, toàn tỉnh có khoảng 120 lao động đi xuất khẩu lao động ở một số nước như Malaysia, Hàn Quốc, Đài Loan... Tuy nhiên, số lao động này hiện nay có việc làm ổn định, thu nhập tương đối cao, thường xuyên gửi tiền về cho gia đình để trang trải chi phí và góp phần cải thiện đáng kể kinh tế hộ gia đình của họ, tạo nguồn vốn đáng kể để phát triển kinh tế hộ gia đình sau khi hết thời hạn lao động ở nước ngoài.
Từ những đánh giá trên, cho thấy việc đề ra chương trình đưa người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài trong thời gian tới là phù hợp với tình hình thực tế của tỉnh và đây là giải pháp quan trọng góp phần thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm có tính bền vững, cải thiện cơ bản đời sống của những người đi lao động ở nước ngoài...

1. Chủ trương, cơ sở pháp lý
- Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 41/CT-TW ngày 22/09/1998 về xuất khẩu lao động và chuyên gia.
- Nghị định số 152/1999/NĐ-CP ngày 20/9/1999 của Chính phủ quy định về đưa người lao động và chuyên gia đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài.
- Nghị quyết số 05/NQ-TU ngày 28/02/2003 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về lãnh đạo và đẩy mạnh côngtác xuất khẩu lao động của tỉnh giai đoạn 2003 - 2010.
- Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐ của HĐND tỉnh tại kỳ họp thứ 7, Khóa VI.
- Chỉ thị số 04/2003/CT-UB ngày 19/3/2003 của UBND tỉnh v/v tăng cường thực hiện công tác XKLĐ trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2003 - 2010.
II. PHẠM VI CỦA CHƯƠNG TRÌNH
Thực hiện công tác XKLĐ rộng khắp tất cả các thị trường lao động ngoài nước có nhu cầu sử dụng lao động và có những đòi hỏi về chuyên môn mà người lao động của tỉnh đáp ứng được. Tuy nhiên, người lao động tỉnh ta với điều kiện kinh tế còn khó khăn, trình độ chuyên môn còn hạn chế, do đó trong giai đoạn 2003 – 2010 cần tập trung ưu tiên XKLĐ vào các thị trường lao động của các nước như: Malaysia, Hàn Quốc, Đài Loan... Vì các thị trường này đang có nhu cầu sử dụng lao động là người nước ngoài rất lớn, đặc biệt là lao động phổ thông, các đòi hỏi về học vấn, chuyên môn không quá caovà chi phí đi lao động thấp nên rất phù hợp với điều kiện hiện tại của người lao động nghèo.
III. ĐỐI TƯỢNG

1. Nam, nữ côn dân cư trú hợp pháp, hợp lệ trên địa bàn tỉnh Bình Phước đến thời điểm XKLĐ, tuổi từ đủ 18 đến 35 tuổi (tùy theo quy định của từng nước). Trừ các trường hợp bị cấm theo quy định của pháp luật hiện hành.

2. Đối tượng ưu tiên: Con thương binh, con liệt sĩ, con gia đình chính sách có công với cách mạng, bộ đội xuất ngũ, những người thuộc diện XĐGN (được công nhận) theo quy định.
IV. MỤC TIÊU
Trong giai đoạn 2003 – 2010 tập trung XKLĐ vào các thị trường ưu tiên (Malaysia, Hàn Quốc, Đài Loan...) 5.000 người. Trong đó chia thành 2 giai đoạn cụ thể:

1. Giai đoạn từ năm 2003 – 2005: Xuất khẩu lao động từ 2.000 đến 2.500 người, trong giai đoạn này chủ yếu xuất khẩu lao động phổ thông.

2. Giai đoạn từ năm 2006 – 2010:Xuất khẩu lao động từ 3.000 đến 3.500 người, trong thời kỳ này, vừa xuất khẩu lao động phổ thông, vừa quan tâm xuất khẩu lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật (đây là thời kỳ quan trọng và thể hiện quá trình cải thiện chất lượng lao động).
V. CÁC GIảI PHÁP
Để thực hiện tốt càc mục tiêu trên, cần phải có nhiều giải pháp tổng hợp tạo chuyển biến đồng bộ về nhận thức và hành động. Trong đó cần tập trung thực hiện một số giải pháp chính sau đây:

1. Tuyên truyền:
- Quán triệt đầy đủ và sâu sắc các văn bản như: Chỉ thị số 41/CT-TW ngày 22/9/1998 của Bộ Chính trị về xuất khẩu lao động và chuyên gia: Nghị định số 152/1999/NĐ-CP ngày 20/9/1999 của Chính phủ quy định về đưa lao động và chuyên gia Việt nam đi làm việc ở nước ngoài; các quyết định, thông tư hướng dẫn của bộ LĐ-TB&XH về công tác XKLĐ và chuyên gia; Nghị quyết số 05/2003/NQ-TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về lãnh đạo và đẩy mạnh công tác xuất khẩu lao động của tỉnh giai đoạn 2003 – 2010; Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐ của HĐND tỉnh tại kỳ họp thứ 7, Khóa IV, Chỉ thị số 04/2003/CT-UB ngày 19/3/2003 của UBND tỉnh v/v Tăng cường thực hiện công tác XKLĐ đến các Sở, ban, ngành, đoàn thể, Đảng bộ, chính quyền các cấp, tạo sự chuyển biến về nhận thức chủ trương, trách nhiệm trong việc thực hiện công tác XKLĐ trong thời gian tới.
- Thường xuyên tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng từ tỉnh đến cơ sở để mọi tầng lớp nhân dân nắm bắt chủ trương kịp thời, hiểu biết đầy đủ về chương trình XKLĐ của tỉnh để hưởng ứng tham gia thực hiện.

2. Thu thập thông tin về thị trường lao động và công khai tuyển chọn:
- Thường xuyên cập nhật các thông tin về thị trường lao động của các nước thông qua các cơ quan chuyên môn của Bộ LĐ-TB&XH, các đối tác XKLĐ... Từ đó, xác định cụ thể về lĩnh vực có nhu cầu tuyển dụng lao động, thông qua các thông tin đó xây dựng kế hoạch tuyển dụng phù hợp có tính khả thi cao.
- Niêm yết công khai các thông tin về thị trường lao động như: Số lượng cần tuyển; các tiêu chuẩn để được xuất khẩu lao động; điều kiện làm việc và sinh hoạt; các quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động; tổng chi phí đi XKLĐ; quy trình thủ tục tuyển chọn và đi XKLĐ; các quy định về cho vay hỗ trợ xuất khẩu lao động...
- Thu thập thông tin về người lao động, tổng hợp số lao động có nhu cầu đi XKLĐ thuộc lĩnh vực, ngành nghề trong các thị trường lao động để có kế hoạch tuyển chọn từng đợt cụ thể (những người có chuyên môn kỹ thuật thì tổ chức giáo dục định hướng, những người chưa qua đào tạo thì tuyển chọn để hỗ trợ đào tạo và giáo dục định hướng).

3. Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ quản lý chương trình xuất khẩu lao động; củng cố cơ sở vật chất phục vụ đào tạo nghề và giáo dục định hướng:

a) Củng cố đội ngũ cán bộ:
- Tổ chức đào tạo, tập huấn cho cán bộ quản lý và trực tiếp thực hiện côn tác xuất khẩu lao động từ tỉnh đến cơ sở, về các quy định, quy trình xuất khẩu lao động, đảm bảo đủ năng lực thực hiện công tác này một cách chủ động, có phân công trách nhiệm rõ ràng.
- Xây dựng đội ngũ cán bộ - giáo viên đủ trình độ, năng lực trực tiếp đào tạo nghề cho người lao động, dạy ngoại ngữ, văn hóa của các quốc gia mà người lao động đến làm việc...

b) Củng cố, đầu tư cơ sở vật chất:
- Củng cố, tận dụng cơ sở vật chất hiện có của Trung tâm DVVL, các trung tâm đào tạo nghề của các huyện, thị, Trung tâm dịch vụ việc làm của Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh, LĐLĐ tỉnh. Xem xét đầu tư thêm các trang thiết bị dạy nghề đảm bảo điều kiện đào tạo nghề cho người lao động đạt tiêu chuẩn xuất khẩu lao động do phía đối tác yêu cầu.
- Liên kết các Trường Trung học kỹ thuật nghiệp vụ cao su, các cơ sở đào tạo nghề trong và ngoài tỉnh để tổ chức đào tạo nghề cho người lao động.
- Hình thành bộ máy tổ chức Trường Đào tạo nghề của tỉnh và nhanh chóng khởi công xây dựng Trường để tổ chức đào tạo nghề chính quy cho người lao động. Đây là giải pháp căn bản nhất để cải thiện và nâng cao chất lượng lao động, cung cấp nguồn lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật phục vụ cho chương trình xuất khẩu lao động giai đoạn 2 (2006 – 2010) và cung cấp lao động cho các khu công nghiệp của tỉnh trong thời gian tới.

1. Nguồn vốn trang trải các chi phí đi xuất khẩu lao động:
- Người lao động sử dụng nguồn vốn tích lũy được từ bản thân, gia đình và huy động sự giúp đỡ của dòng họ, bạn vè hoặc từ người thân đang đi lao động ở nước ngoài.
- Nếu nguồn vốn của bản thân và gia đình không đủ trang trải các chi phí thì người lao động vay tín dụng tại các Ngân hàng thương mại theo quy định tại Quyết định số 440/2001/QĐ-NHNN ngày 17/4/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về cho vay đối với người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài và nguồn hỗ trợ vốn vay của các doanh nghiệp xuất khẩu lao động.
- Người đi xuất khẩu lao động được Nhà nước hỗ trợ 50% chi phí đào tạo giáo dục định hướng (không bao gồm cả tiền ăn) từ ngân sách Nhà nước, thời gian hỗ trợ tối đa không quá 3 tháng.

2. Các đối tượng ưu tiên:Con thương binh, con liệt sĩ, con gia đình có công với cách mạng, bộ đội xuất ngũ và con em gia đình thuộc diện XĐGN (được công nhận theo quy định) sẽ được ưu tiên cho vay 100% chi phí XKLĐ từ nguồn vốn chương trình 120/HĐBT.
- Các đối tượng chỉ được vay 1 lần từ các nguồn trên đảm bảo 100% (đối tượng ưu tiên) và 70% (đối tượng khác) chi phí đi XKLĐ.
- Đối với các hộ hiện nay đang còn nọ vay tại các Ngân hàng thương mại để đầu tư phát triển kinh tế hộ gia đình, nay có nhu cầu vay vốn để đi XKLĐ thì vẫn được giải quyết cho vay theo Quyết định số 440/2001/QĐ-NHNN ngày 17/4/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về cho vay đối với người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài.
- Thủ tục vay vốn: Thông qua hợp đồng tín dụng (Vay tại Ngân hàng).
VI. NGUỒN TÀI CHÍNH THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH XKLĐ

1. Cơ cấu nguồn:
- Ngân sách Nhà nước: Đảm bảo chi phục vụ công tác quản lý Nhà nước, hoạt động của BCĐ và Tổ chuyên viên, tuyên truyền, tập huấn, chỉ đạo, kiểm tra và hỗ trợ các địa phương thực hiện Chương trình, hỗ trợ đào tạo, giáo dục, định hướng.
- Nguồn cho vay từ các Ngân hàng thương mại.
- Nguồn vốn Chương trình 120/HĐBT qua Ngân hàng chính sách xã hội.

1. Nguồn vốn và kinh phí thực hiện trong năm 2003:
- Chi hoạt động của BCĐ, Tổ chuyên viên từ tỉnh đến cơ sở và công tác tập huấn cán bộ, tuyên truyền: 150.000.000 đồng.
- Chi hỗ trợ bằng 50% chi phí đào tạo giáo dục định hướng cho người lao động: 500 người x 700.000 đ/người/khóa x 50% = 175.000.000 đồng.
-Tổng cộng: 325.000.000 đồng(do ngân sách Nhà nước cấp phát).
- Nguồn tín dụng của Ngân hàng Thương mại;
- Chương trình 120/HĐBT giải quyết cho người lao động thuộc diện ưu tiên vay vốn theo quy định.
- Các năm tiếp theo, căn cứ vào kế hoạch hàng năm để phân bổ cụ thể, phù hợp với tiến bộ XKLĐ.
Với mức đầu tư như trên, trong 8 năm, ngân sách Nhà nước phải đầu tư 2,7 tỷ đồng. tạo việc làm cho khoảng 5.000 lao động – số lao động xuất khẩu này hàng năm đưa về cho đất nước khoảng 50 tỷ đồng, giúp 5.000 hộ gia đình thoát nghèo bền vững.
VII. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Cấp tỉnh thành lập Ban chỉ đạo, sẽ xây dựng quy chế làm việc, bố trí cán bộ có tâm huyết, đủ phẩm chất, năng lực và tiến hành tập huấn cho cán bộ lãnh đạo của các huyện, thị xã và xã, phường.

1. Nhiệm vụ của các ngành: Được quy định cụ thể trong Quy chế hoạt động của BCĐ Xuất khẩu lao động tỉnh.
Tuy nhiên, một số ngành sau đây phải có kế hoạch chuẩn bị từ đầu để khi Chương trình được thông qua thì triển khai thực hiện ngay.

a) Ngành Văn hóa – Thông tin, Báo Bình Phước, Đài Phát thanh – Truyền hìnhvà các phương tiện thông tin đại chúng của các huyện, thị xã; các xã, phường, thị trấn; các tổ chức xã hội; đoàn thể tuyên truyền phổ biến đến các hội viên của mình, toàn thể nhân dân biết và nhận thức đầy đủ các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về XKLĐ để tạo bước chuyển biến mạnh mẽ nhận thức về xuất khẩu lao động cho nhân dân chủ động lựa chọn và tham gia XKLD.

b) Ngành Lao động – Thương binh và Xã hội:
Cơ quan Thường trực, chỉ đạo chặt chẽ các Trung tâm dịch vụ việc làm, các cơ sở đào tạo nghề, các Trường nghề tổ chức việc đào tạo giáo dục định hướng. Tổng hợp chung tình hình báo cáo về Ban Thường vụ Tỉnh ủy và UBND tỉnh. Đồng thời chỉ đạo các doanh nghiệp XKLĐ tiến hành nộp các khoản ký quỹ và BHXH cho người đi lao động tại Kho bạc Nhà nước tỉnh theo đúng quy định của Nghị định số 152/1999/NĐ-CP ngày 20/9/1999 của Chính phủ quy định về người lao động và chuyên gia Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài; các quyết định, thông tư hướng dẫn của Bộ LĐ – TB&XH về công tác XKLĐ và chuyên gia và Công văn số 3819/LĐTBXH-QLLDNN ngày 01/11/2002 của Bộ LĐ-TB&XH v/v nộp BHXH và quản lý tiền cọc của người lao động.
Xây dựng kế hoạch thực hiện cụ thể hàng năm để đưa vào thực hiện (Kế hoạch này phải gởi cho Sở KH&ĐT tham mưu cho UBND tỉnh giao chỉ tiêu hàng năm trong Quyết định giao chỉ tiêu phát triển KT-XH).

c) Ngành Tài chính – Vật giá; Kế hoạch – Đầu tư:
Cân đối, bố trí vốn từ ngân sách đảm bảo cho các hoạt động quản lý Nhà nước về XKLĐ.

d) Ngành Công an:
Thông báo rõ các thủ tục, quy trình, các khoản phí phải nộp, thời gian hoàn thành việc cấp hộ chiếu theo phương châm một cửa, ngăn chặn và xử lý nghiêm minh các hiện tượng lừa đảo gây thiệt hại đối với người lao động. Mặt khác, lập hồ sơ quản lý đối với người lao động khi hết thời hạn lao động ở nước ngoài trở về nước, để có hướng giúp đỡ tạo điều kiện sớm ổn định cuộc sống.

e) Ngân hàng Nhà nước:
Có văn bản chỉ đạo các ngân hàng Thương mại giải quyết cho vay vốn theo quy định tại Quyết định số 440/2001 ngày 17/4/2001 của Ngân hàng Nhà nước về việc cho vay đối với người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài. Khuyến khích cho người lao độn vay đủ khoản chi phí đi XKLĐ.

f) Ngành Y tế:
Chỉ đạo các Trung tâm Y tế các huyện, thị xã; Bệnh viện đa khoa tỉnh tổ chức khám sức khỏe cho người lao động; thông báo rõ các thủ tục, các khoản phí phải nộp đảm bảo việc khám sức khỏe cho người xuất khẩu lao động chính xác. Các cơ sở Y tế phải chịu trách nhiệm về các kết luận của mình về tình trạng sức khỏe của người đi xuất khẩu lao động, nếu các kết luận đó không khách quan, có tiêu cực dẫn đến hậu quả người lao động bị trả về nước vì lý do không đảm bảo sức khỏe sẽ bị xử lý theo quy định, và phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại (nếu có) cho người lao động.

1. Các huyện, thị xã:
Căn cứ vào văn bản chỉ đạo của tỉnh, thành lập Ban chỉ đạo – xây dựng Quy chế, phân công trách nhiệm các thành viên, lập kế hoạch triển khai thực hiện theo đúng tiến độ thời gian do BCĐ tỉnh đề ra.

2. Các xã, phường, thị trấn:
Thành lập BCĐ xuất khẩu lao động do Chủ tịch UBND xã làm Trưởng ban - các thành phần khác tương tự như cấp huyện và có nhiệm vụ:
- Sau khi khảo sát, tuyên truyền để người lao động đăng ký xuất khẩu lao động sẽ tổ chức giới thiệu những nguời có đạo đức, ý thức tổ chức kỷ luật tốt, gia đình chấp hành tốt chính sách pháp luật để các Công ty xuất khẩu lao động trực tiếp tuyển chọn.
- Công bố công khai các điều kiện, tiêu chuẩn và chi phí đi lao động ở nước ngoài theo chỉ đạo của BCĐ tỉnh và các doanh nghiệp xuất khẩu lao động.
- Ngăn chặn kịp thời bọn môi giới, bọn lửa đảo tung tin thất thiệt và thu tiền bất hợp pháp của người xuất khẩu lao động.
- Tại các thôn hình thành các tổ liên gia có con em xuất khẩu lao động để thường xuyên nắm bắt thông tin, giáo dục; động viên con em làm việc tốt, chấp hành đúng các điều khoản đã ký, không bỏ trốn... để nâng cao uy tín của lao động Việt Nam, tiếp tục cho con em sang lao động ở nước ngoài.
UBND xã, phường, thị trấn đứng ra tín chấp cho người đi xuất khẩu lao động vay vốn.

3. Tăng cường sự phối hợp giữa địa phương với các Công ty tuyển lao động xuất khẩu:
- Căn cứ vào các Hợp đồng đã ký với nước ngoài. Công ty tuyển lao độn xuất khẩu thông báo kế hoạch, số lượng, cơ cấu ngành nghề (công việc), thời gian tuyển, kết quả sơ tuyển và các thông tin cần thiết khác cho Ban chỉ đạo tỉnh, trên cơ sở đó BCĐ điều phối địa bàn tuyển và chỉ định các đơn vị tổ chức đào tạo giáo dục định hướng phù hợp với yêu cầu của các đối tác tuyển dụng và XKLĐ.
- Các Công ty xuất khẩu lao động trực tiếp tuyển chọn lao động tại các xã, phường. Đối với các xã, phương, thị trấn cần có kế hoạch tuyển chọn những người lao động có đủ điều kiện và phẩm chất tốt, hoàn tất các thủ tục giấy tờ cần thiết cho người lao động; phối hợp chặt chẽ với các Công ty tuyển dụng xuất khẩu lao động để giải quyết kip thời những khó khăn vướng mắc trong công tác tuyển chọn lao động và quản lý lao động trong thời gian làm việc ở nước ngoài, đồng thời có những biện pháp ngăn chặn và xử lý kịp thời với các lao động bỏ trốn.
- Các Trung tâm dịch vụ việc làm, các Trường đào tạo nghề, các Trung tâm dạy nghề huyện, thị căn cứ vào nhu cầu tuyển lao động của các Công ty xuất khẩu lao động do Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, giới thiệu với các UBND xã, phường được chọn làm điểm, tổ chức tuyển chọn, đào tạo, giáo dục định hướng đảm bảo đủ số lượng và chất lượng lao động, hướng dẫn các thủ tục hồ sơ cần thiết cho người lao động.

4. Triển khai thực hiện:

a) Giao Sở LĐ – TB&XH:
Tổng hợp đầy đủ các văn bản, Chương trình liên quan đến công tác XKLĐ cung cấp cho các Sở, ngành, đoàn thể; UBND các huyện, thị xã; các xã phường, thị trấn; các doanh nghiệp XKLĐ và các cơ quan thông tin đại chúng để tuyên truyền rộng rãi trong mọi tầng lớp nhân dân.
- Tham mưu cho UBND tỉnh tổ chức hội nghị triển khai toàn tỉnh, xây dựng kế hoạch cụ thể cho năm 2003 và từng năm tiếp theo để chủ động thực hiện.
- Lập dự trù kinh phí để phục vụ công tác XKLĐ (của BCĐ, Tổ chuyên viên; tập huấn, tuyên truyền, hỗ trợ các địa phương, hỗ trợ đào tạo giáo dục định hướng...)
- Tham mưu cho UBND tỉnh chỉ đạo triển khai thực hiện.

b) Các Ngành Công an, Ngân hàng, Y tế:
Chỉ đạo trong hệ thống ngành thực hiện các nội dung của Chương trình XKLĐ có liên quan tới ngành mình.

c) Hàng năm có sơ kết đánh giá, rút kinh nghiệm để việc thực hiện ở các năm tiếp theo đạt kết quả tốt hơn.

5. Chế độ thông tin, báo cáo:BCĐ các cấp báo cáo định kỳ hàng tháng, quý và năm cho Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh.
Trong quá trình thực hiện nếu có gì vướng mắc cần phản ánh kịp thời để Ban chỉ đạo tỉnh giải quyết.
TM. ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNHKT. CHỦ TỊCHPHÓ CHỦ TỊCH(Đã ký)
NGUYỄN VĂN THỎA

QUY CHẾ

LÀM VIỆC CỦA BAN CHỈ ĐẠO XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG TỈNH

(Ban hành kèm theo Quyết định số 24/2003/QĐ-UB ngày 20/3/2003 của UBND tỉnh)

Căn cứ Quyết định số 418/QĐ-TU ngày 28/02/2003 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về việc thành lập Ban chỉ đạo xuất khẩu lao động, Ban chỉ đạo xây dựng quy chế hoạt động và phân công nhiệm vụ các thành viên như sau:

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1: Ban chỉ đạo xuất khẩu lao động là cơ quan tư vấn gồm các thành viên hoạt động kiêm nhiệm, hoạt động theo chế độ phối hợp tham mưu cho UBND tỉnh chỉ đạo điều hành xuyên suốt quá trình thực hiện Chương trình xuất khẩu lao động trên địa bàn tỉnh và chịu sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, chỉ đạo quản lý của UBND tỉnh; chịu sự hướng dẫn của Bộ Lđ – TB&XH về công tác XKLĐ.

- Giúp việc cho Trưởng Ban chỉ đạo là Thường trực BCĐ và tổ chuyên viên giúp việc đặt tại Sở LĐ – TB&XH.

- Sở Lao động – Thương binh và Xã hội là cơ quan Thường trực Ban chỉ đạo thực hiện Chương trình xuất khẩu lao động của tỉnh. Kinh phí hoạt động của Ban chỉ đạo và tổ chuyên viên giúp việc do Sở LĐ-TB&XH dự toán trình UBND tỉnh phê duyệt theo quy định.

- Trong quá trình chỉ đạo điều hành thực hiện Chương trình XKLĐ, Trưởng Ban chỉ đạo được sử dụng con dấu của UBND tỉnh; Phó ban Thường trực được sử dụng con dấu và tài khoản của Sở Lao độn – Thương binh và Xã hội để giao dịch.

Điều 2: Trưởng Ban chỉ đạo chịu trách nhiệm trước Tỉnh Ủy – UBND tỉnh về toàn bộ hoạt động của Ban trong phạm vi địa bàn tỉnh. Giúp việc cho Trưởng ban có 2 Phó ban. Các Phó ban do Trưởng ban phân công phụ trách lĩnh vực, địa bàn công tác và chịu trách nhiệm nhiệm truớc Trưởng ban về các nhiệm vụ được phân công.

- Thường trực Ban chỉ đạo xây dựng kế hoạch kinh phí hoạt động hàng năm của Ban chỉ đạo và Tổ chuyên viên trình UBND tỉnh phê duyệt theo đúng quy định.

- Mọi vấn đề có liên quan đến hoạt động của BCĐ, các báo cáo gửi các ngành, Tỉnh ủy – HĐND – UBND tỉnh, các Bộ ngành Trung ương do Thường trực BCĐ chịu trách nhiệm tiếp nhận xử lý và phát hành. Trong khi xử lý các vấn đề cụ thể ở các ngành liên quan đến ngành nào, huyện, thị xã nào thì đồng chí thành viên trong BCĐ được phân công phụ trách ngành đó, huyện, thị xã đó cùng phối hợp để giải quyết.

Điều 3: Ban chỉ đạo hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể BCĐ quyết định toàn bộ các nội dung hoạt động của Chương trinh. Trưởng ban, các Phó trưởng ban; Trưởng ban và các Phó trưởngban điều hành công việc theo đúng tiến độ kế hoạch về XKLĐ đã được UBND tỉnh ban hành. Trưởng ban và Phó trưởng ban thường trực có quyền chỉ đạo mọi công việc phát sinh đột xuất, sau đó báo cáo cho tập thể Ban chỉ đạo xem xét.

Điều 4: Giúp việc cho Ban chỉ đạo giải quyết công việc hàng ngày có Tổ chuyên viên và Văn phòng Ban chỉ đạo đặt tại Sở LD – TB&XH Tổ trưởng Tổ chuyên viên do một đồng chí Phó Giám đốc Sở LĐ – TB&XH phụ trách, các thành viên tổ chuyên viên hoạt động theo nguyên tắc kiêm nhiệm, thành phần kiêm nhiệm phải là Trưởng, Phó phòng chuyên môn nghiệp vụ của Sở, ngành. Đồng thời là người giúp việc cho Giám đốc Sở, ngành thực hiện các nội dung có liên quan tới Chương trình XKLĐ.

Chương II

CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ

Điều 5: Chức năng của Ban chỉ đạo:

- Tư vấn, tham mưu cho Tỉnh ủy, UBND tỉnh tổ chức chỉ đạo các ngành, các cấp thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ theo đúng tiến độ kế hoạch của Ban Thường vụ Tỉnh ủy đề ra trong Nghị quyết số 05/NQ-TU ngày 28/02/2003 và Chương trình XKLĐ giai đoạn 2003 – 2010 của UBND tỉnh.

Điều 6: Nhiệm vụ của Ban chỉ đạo:

1. Xây dựng kế hoạch hoạt động nhằm thực hiện tốt Chương trình xuất khẩu lao động đã được UBND tỉnh ban hành.

2. Tổ chức vận động, tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về xuất khẩu lao động đến các ngành, các cấp và toàn thể nhân dân để tích cực hưởng ứng tham gia thực hiện.

3. Đánh giá kết quả thực hiện Chương trình xuất khẩu lao động theo định kỳ và xem xét, kiến nghị những biện pháp, giải pháp cho UBND tỉnh chỉ đạo điều hành Chương trình xuất khẩu lao động đạt hiệu quả theo kế hoạch đề ra.

4. Điều phối các ngành chức năng như: Công an, Y tế, Ngân hàng, Quỹ hỗ trợ đầu tư phát triển thực hiện các thủ tục hỗ trợ cho người lao động đi xuất khẩu lao động được thuận lợi, công khai, dân chủ, công bằng theo đúng các quy định.

Điều 7: Nhiệm vụ cụ thể

1. Trưởng Ban chỉ đạo:
Chỉ đạo chung, xem xét, duyệt các Chương trình hoạt động của các ngành thành viên Ban chỉ đạo của tỉnh. Đôn đốc kiểm tra tiến độ thực hiện nhiệm vụ của các ngành thành viên trong Ban chỉ đạo.

2. Phó Trưởng ban Thường trực (Sở LĐ – TB&XH):
- Xây dựng Chương trình, kế hoạch thực hiện hàng năm của Ban chỉ đạo, kế hoạch thực hiện công tác xuất khẩu lao động hàng năm trên địa bàn tỉnh, theo dõi, đôn đốc các ngành thực hiện theo đúng tinh thần chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh đề ra trong công tác xuất khẩu lao động.
- Phối hợp với các Phó ban và các thành viên trong Ban chỉ đạo giải quyết các công việc thường xuyên của Ban chỉ đạo.
- Hướng dẫn các ngành, các huyện, thị xã xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện Chương trình xuất khẩu lao động do Tỉnh ủy – UBND tỉnh đề ra.
- Tổ chức tập huấn cho các ngành, các huyện, thị xã; các xã, phường, thị trấn trong tỉnh về Chương trình xuất khẩu lao động.
- Chủ trì phối hợp với Sở Tài chính – Vật giá, Sở Kế hoạch - Đầu tư bố trí nguồn vốn thực hiện Chương trình xuất khẩu lao động hàng năm để thực hiện theo đúng tiến độ của Tỉnh ủy – UBND tỉnh đề ra.
- Phối hợp với Sở Kế hoạch – Đầu tư, Ngân hàng chính sách tham mưu cho UBND tỉnh bố trí nguồn vốn Chương trình 120/HĐBT hàng năm để giải quyết cho đối tượng chính sách vay vốn đi xuất khẩu lao động.
- Chủ trì, tổng hợp báo cáo của các ngành, soạn thảo các báo cáo định kỳ, đột xuất theo yêu cầu của Chương trình đã đề ra. Soạn thảo các kế hoạch hàng năm để thực hiện Chương trình theo đúng yêu cầu của Tỉnh ủy – UBND tỉnh.

3. Phó trưởng ban (Công an tỉnh):
- Thường xuyên chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện các nhiệm vụ được phân công; báo cáo kết quả thực hiện theo định kỳ và Trưởng Ban chỉ đạo và Thường trực Ban chỉ đạo về lĩnh vực quản lý của ngành.

4. Nhiệm vục của các thành viên:
-Đ/c Nguyễn Đình Chiến:Tỉnh ủy viên – Giám đốc Sở Y tế: Ủy viên, chịu trách nhiệm trong việc tổ chức khám sức khỏe cho người xuất khẩu lao động. Phụ trách huyện Đồng Phú.
-Đ/c Nguyễn Ngọc Am:Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo: Ủy viên – Phụ trách huyện Bù Đăng.
-Đ/c Phạm Văn Tòng:Tỉnh ủy viên – Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư: Ủy viên – Chủtrì phối hợp cùng các ngành cân đối kế hoạch kinh phí vốn Chương trình 120/HĐBT; Trực tiếp phụ trách huyện Phước Long.
-Đ/c Hồ Văn Hữu:Tỉnh ủy viên – Giám đốc Sở Công nghiệp: ủy viên – Chủ trì triển khai Đề án trong các doanh nghiệp công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp.
-Đ/c Trần Ngọc Trai:Tỉnh ủy viên – Giám đốc Sở Tài chính – Vật giá: Ủy viên – Chủ trì phối hợp cùng với ngành có liên quan cân đối ngân sách, hướng dẫn việc thu chi của các lớp đào tạo, giáo dục định hướng, khám sức khỏe và kinh phí hoạt động của BCĐ và phụ trách thị xã Đồng Xoài.
-Đ/c Đoàn Thanh Phong:Giám đốc Ngân hàng Nhà nước tỉnh: ủy viên – Chủ trì chuẩn bị nguồn vốn cho vay từ các Ngân hàng Thương mại, hướng dẫn các quy định, thủ tục cho vay theo Quyết định số 440/2001/QĐ-NHNN ngày 17/4/2001 của Thống đốc NHNN về việc cho vay đối với người đi xuất khẩu lao động và phụ trách huyện Lộc Ninh.
-Đ/c Nguyễn Nam Yên:Tỉnh ủy viên – Giám đốc Sở Tư pháp: Ủy viên – phụ trách Tư vấn các vấn đề pháp lý, tư pháp cho người lao động.
-Đ/c Bùi Thế Thành:TVTU – Chủ tịch Ủy ban MTTQVN tỉnh: Ủy viên – Chủ trì triển khai đề án tới UBMTTQ các cấp.
-Đ/c Nguyễn Hồng Trà:Tỉnh ủy viên – Bí thư Tỉnh đoàn: Ủy viên – Chủ trì triển khai tuyên truyền về công tác xuất khẩu lao động trong tổ chức Đoàn TNCSHCM và phụ trách huyện Bình Long.
-Đ/c Nguyễn Thị Đào:Tỉnh ủy viên – Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh: ủy viên – Chủ trì triển khai đề án đến các hội viên từ tỉnh đến cơ sở.
-Đ/c Trần Văn Gôm:Tỉnh ủy viên – Chủ tịch Hội Nông dân tỉnh: Ủy viên – Chủ trì triển khai đề án đến các hội viên từ tỉnh đến cơ sở.
-Đ/c Nguyễn Thị Thu Hà:Phó Giám đốc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội: ủy viên – Phụ trách công tác tổ chức tập huấn cán bộ và công tác đào tạo, giáo dục định hướng; trực tiếp chỉ đạo Tổ chuyên viên giúp việc BCĐ, chuẩn bị tài liệu cho các kỳ họp cho BCĐ, sơ kết, tổng kết...

5. Tổ chuyên viên giúp việc cho BCĐ có nhiệm vụ:
- Triển khai thực hiện các nội dung theo kế hoạch của BCĐ XKLĐ đề ra.
- Dự thảo các báo cáo thường xuyên, đột xuất theo yêu cầu của Tỉnh ủy, UBND tỉnh và Ban chỉ đạo để trình Thường trực BCĐ XKLĐ ký duyệt phát hành.
- Hệ thống, sao in các văn bản, các tài liệu liên quan đến công tác XKLĐ gởi các thành viên BCĐ, các huyện, thị và các Sở, ngành có liên quan.
- Giúp các thành viên BCĐ đôn đốc các Sở, ban, ngành, các huyện, thị, các tổ chức đoàn thể thực hiện đúng kế hoạch của BCĐ.
- Chuẩn bị các tài liệu, báo cáo hàng tháng, hàng quý cũng như các kỳ họp của BCĐ XKLĐ.
- Thực hiện việc tham mưu cho BCĐ XKLĐ của tỉnh triển khai và quản lý đề án.
- Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, tổ chuyên viên thuộc ngành, lĩnh vực nào có thể xin ý kiến trực tiếp của Đồng chí thành viên BCĐ tỉnh ở ngành mình để đề xuất, giải quyết các vấn đề thuộc ngành mình phụ trách.
- Hàng quý, tổ chuyên viên họp để kiểm điểm nhiệm vụ quý trước, đề ra nhiệm vụ quý tiếp theo và báo cáo kết quả cho Thường trực BCĐ.

Điều 8: Kinh phí hoạt động:

- Mọi khoản kinh phí chi hoạt động của BCĐ, Tổ chuyên viên theo chế độ quy định do Thường trực BCĐ (Sở LĐ – TB&XH) trực tiếp dự toán và chi trong kế hoạch đã bố trí và quyết toán theo quy định hiện hành.

Chương III

CHẾ ĐỘ HỘI HỌP VÀ BÁO CÁO
- Khi tổ chức họp BCĐ, Trưởng ban hoặc Phó ban Thường trực ký giấy triệu tập các thành viên phải tham gia đầy đủ (trường hợp vắng mặt phải có sự đồng ý của Trưởng hoặc Phó ban trực).
- Trước các kỳ họp, mỗi thành viên BCĐ và Tổ trưởng tổ chuyên viên giúp việc phải chuẩn bị báo cáo bằng văn bản về tình hình thực hiện nhiệm vụ của mình, các đề xuất và những vấn đề còn vướng mắc về thường trực BCĐ để tổng hợp.

Điều 9: Hàng năm BCĐ tỉnh tổ chức sơ kết kết quả hoạt động công tác xuất khẩu của tỉnh nhằm đề ra phương hướng và biện pháp thực hiện trongt hời gian tiếp theo.

Các thành viên BCĐ được phân công phụ trách ở từng lĩnh vực phải xây dựng kế hoạch triển khai, công khai các quy định thuộc ngành mình và bố trí đủ cán bộ để giải quyết công việc nhanh gọn, đúng thời gian quy định, không gây phiền hà cho người lao động.

Trong quá trình thực hiện có vấn đề gì chưa rõ hoặc vướng mắc, đề nghị các thành viên BCĐ, tổ chuyên viên giúp việc và các ngành có liên quan phản ánh bằng văn bản về Thường trực BCĐ xem xét và giải quyết kịp thời.

Chương IV

KHEN THƯỞNG VÀ KỶ LUẬT

Điều 10: Tất cả các tổ chức, cá nhân có nhiều hoạt động tích cực, đạt nhiều thành tích xuất sắc trong việc thực hiện Chương trình xuất khẩu lao động và được xem xét, đề nghị khen thưởng kịp thời theo chế độ thi đua khen thưởng hiện hành.

- Những cá nhân tổ chức nào cản trở việc thực hiện Chương trình XKLĐ, gây phiền hà sách nhiễu, tiêu cực đối với người lao động trong việc thực hiện các thủ tục như: Làm hộ chiếu, vay vốn, khám sức khỏe... sẽ bị xử lý theo đúng quy định của pháp luật.

Chương V

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 11: Các thành viên Ban chỉ đạo XKLĐ căn cứ Quy chế này triển khai thực hiện theo đúng quy định; Quy chế này có hiệu lực kể từ ngày ký.

Điều 12: Việc sửa đổi, bổ sung Quy chế này do Thường trực Ban chỉ đạo đề nghị, UBND tỉnh sẽ xem xét quyết định.

Tổng quan văn bản

Số ký hiệu24/2003/QĐ-UB
Ngày ban hành20/03/2003
Loại văn bảnQuyết định
Ngày có hiệu lực20/03/2003
Nguồn thu thậpCơ sở dữ liệu
Ngày đăng công báo---
Cơ quan ban hành / Người kýUBND tỉnh Đồng Nai / NGUYỄN VĂN THỎA
Phạm viBình Phước
Trích yếuV/v Ban hành Chương trình xuất khẩu lao động giai đoạn 2003 – 2010 và Quy chế làm việc của BCĐ xuất khẩu lao động
Tình trạng hiệu lựcCòn hiệu lực

Chưa có thông tin lược đồ

Văn bản này hiện chưa được cập nhật dữ liệu về lược đồ liên quan.