Quay lại

Quyết định 24/2008/QĐ-UBND về việc ban hành Chương trình hành động của Ủy ban Nhân dân tỉnh thực hiện Quyết định 25/2008/QĐ-TTg ngày 05/02/2008 của Thủ tướng Chính phủ

UBND TỈNH GIA LAI
-------

Số: 24/2008/QĐ-UBND

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------------------------

tỉnh Gia Lai, ngày 14 tháng 05 năm 2008

QUYẾT ĐỊNH

Về việc ban hành Chương trình hành động của Ủy ban Nhân dân tỉnh

thực hiện Quyết định 25/2008/QĐ-TTg ngày 05/02/2008 của Thủ tướng Chính phủ

_________________________________

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH

Căn cứ Luật Tổ chức HĐND & UBND năm 2003;

Căn cứ Quyết định số 25/2008/QĐ-TTg ngày 05/02/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế xã hội đối với các tỉnh vùng Tây Nguyên đến năm 2010;

Xét đề nghị của Giám đốc các Sở Kế hoạch và Đầu tư,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Chương trình hành động thực hiện Quyết định số 25/2008/QĐ-TTg ngày 05/02/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế xã hội đối với các tỉnh vùng Tây Nguyên đến năm 2010.

Điều 2. Các Ông: Chánh Văn phòng UBND tỉnh, Thủ trưởng các sở, ban, ngành, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố và thủ trưởng các cơ quan, đơn vị có liên quan chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.

Quyết định này có hiệu lực sau 10 ngày kể từ ngày ký./.

TM UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH

CHỦ TỊCH

(Đã ký)

Phạm Thế Dũng

CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH

Thực hiện Quyết định 25/2008/QĐ-TTg ngày 05/02/2008 của Thủ tướng Chính phủ

về việc ban hành một số cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội

đối với các tỉnh vùng Tây Nguyên đến năm 2010

(Ban hành kèm theo Quyết định số 24/2008/QĐ-UBND ngày 14/5/2008 của UBND tỉnh)

_________________________________

I/ MỤC TIÊU

Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 25/2008/QĐ-TTg ngày 05/02/2008 về một số cơ chế,chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội đối với các tỉnh vùng Tây Nguyên đến năm 2010; để triển khai quyết định nói trên, Chương trình hành động này xác định nhiệm vụ của các Sở, ban, ngành của tỉnh, Uỷ ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố và các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế trong việc thực hiện thắng lợi Quyết định 25/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ gắn với Nghị quyết Đại hội XIII của Tỉnh Đảng bộ về phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006-2010, đưa tỉnh ta bước vào giai đoạn phát triển mới, nhanh và bền vững, ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng, an ninh trên địa bàn.

II/ NHỮNG NHIỆM VỤ CHỦ YẾU

1. Một số mục tiêu, chỉ tiêu chủ yếu đến năm 2010
- Tốc độ tăng trưởng GDP của tỉnh đạt bình quân hàng năm trên 13%;
- Giảm tỷ lệ hộ nghèo mỗi năm từ 4-5 %, thực hiện xoá đói giảm nghèo bền vững, không để tái đói nghèo;
- Giải quyết việc làm mới cho hơn 2 vạn lao động/năm;
- Tỷ lệ lao động qua đào tạo 27%;
- Tổng diện tích rừng đạt khoảng 735.000 ha;
- Tỷ lệ dân dùng nước sạch ở đô thị 95%, ở nông thôn 80%.

2. Nhiệm vụ trọng tâm phát triển một số ngành, lĩnh vực chủ yếu:
a/ Ngành công nghiệp
Ưu tiên phát triển công nghiệp chế biến nông lâm sản, công nghiệp thuỷ điện vừa và nhỏ. Xây dựng và phát triển các khu, cụm công nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng các cơ sở công nghiệp mới; đồng thời đẩy mạnh phát triển tiểu thủ công nghiệp, các ngành nghề truyền thống ở nông thôn. Đa dạng hoá loại hình sản xuất với nhiều quy mô và trình độ công nghệ khác nhau, khuyến khích các doanh nghiệp đổi mới công nghệ. Phấn đấu giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân hàng năm 22,5%.
- Công nghiệp điện năng: Tập trung triển khai thi công các công trình đã cấp phép đầu tư để nhanh đi vào hoạt động, quy hoạch xong các công trình thuỷ điện vừa và nhỏ giai đoạn
- Trong phát triển công nghiệp chế biến nông lâm sản, nâng công suất các nhà máy đường ở Ayunpa và An Khê, nhà máy điều Krông Pa, các nhà máy chế biến trong Khu công nghiệp Trà Đa; phát huy hết công suất của 4 nhà máy sắn; xây dựng nhà máy sản xuất cồn có công suất 60.000m3/năm ở Đăk Đoa, nhà máy chế biến các sản phẩm từ cao su ở Pleiku, 2 nhà máy chế biến tinh bột ngô và thức ăn gia súc ở huyện Chư Sê, thị xã An Khê.
- Xây dựng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp: đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng khu công nghiệp Pleiku 2 đủ sức thu hút các cơ sở công nghiệp quan trọng, có trình độ công nghệ cao; phát triển các cụm công nghiệp Diên Phú, Chư Păh, Chư Sê, An Khê, Ayunpa...
b/ Ngành nông, lâm nghiệp
Phát triển nhanh sản xuất nông nghiệp hàng hoá theo hướng áp dụng các biện pháp khoa học - công nghệ để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn theo hướng CNH-HĐH, gắn nông lâm nghiệp với công nghiệp chế biến; gắn sản xuất với thị trường tiêu thụ trong nước và nước ngoài; nâng cao dần mức thu nhập trên một đơn vị diện tích đất canh tác. Phấn đấu đạt nhịp độ tăng trưởng GDP nông lâm nghiệp bình quân hàng năm 7,7%.
- Về trồng trọt: Mục tiêu đến năm 2010 sản lượng lương thực khoảng 59,5 vạn tấn, lương thực bình quân đầu người 466kg, đảm bảo an ninh lương thực, kể cả trong vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; tăng diện tích lúa nước 2 vụ đạt trên 24.000 ha, đi đôi với khai thác có hiệu quả các công trình thuỷ lợi, áp dụng các biện pháp thâm canh, sử dụng giống mới; xây dựng vùng lúa chất lượng cao; nâng tỷ trọng ngô lai lên trên 90%; trồng mới 5 vạn ha cao su từ chuyển đổi đất rừng nghèo; cây cà phê, không trồng mới, ổn định diện tích 75.000 ha, chủ yếu đầu tư cải tạo giống, thâm canh, tăng năng suất trên diện tích đã có; đầu tư đủ sân phơi, cơ sở chế biến nhằm nâng cao chất lượng, tiêu chuẩn và sức cạnh tranh của mặt hàng cà phê xuất khẩu; tiếp tục thực hiện chương trình cải tạo giống điều, đẩy mạnh trồng mới đưa diện tích điều lên khoảng 2500 ha, chủ yếu bằng các giống điều ghép; hình thành vùng nguyên liệu ổn định để phục vụ cho các nhà máy chế biến.
- Về chăn nuôi: Đẩy mạnh phát triển chăn nuôi tăng tổng đàn, thể trọng và chất lượng, nâng dần tỷ trọng ngành chăn nuôi trong ngành nông nghiệp; bên cạnh chăn nuôi hộ gia đình, hình thành và phát triển mô hình chăn nuôi trang trại theo hướng công nghiệp tạo tiền đề để từng bước phát triển công nghiệp chế biến súc sản, thuộc da. Tiếp tục thực hiện chương trình “lai hoá đàn bò, nạc hoá đàn heo”, mục tiêu đến năm 2010, nâng tỷ lệ bò lai lên 40-45%, heo lai 75-80%, tỷ lệ "nạc hoá" 30-35%; từng bước phát triển nuôi trồng thuỷ sản, nâng diện tích nuôi cá lên 5500- 6000 ha; hướng dẫn và khuyến khích các loại hình chăn nuôi công nghiệp ở các vùng ven đô thị, chăn nuôi đặc sản như chăn nuôi ong, nuôi dê... đáp ứng nhu cầu ngày càng phong phú của thị trường. Có chương trình chủ động phòng chống các loại dịch bệnh nguy hiểm để ổn định và phát triển sản xuất.
-Về Lâm nghiệp: Thực hiện rà soát quy hoạch ba loại rừng: rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng kinh tế; chuyển một phần diện tích rừng phòng hộ sang trồng rừng kinh tế để giao cho dân sản xuất, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, tạo thu nhập cho người trồng rừng. Trong 5 năm tới trồng rừng mới 30.000 ha, khoanh nuôi tái sinh khoảng 66.000 ha, đảm bảo vùng nguyên liệu cho nhà máy MDF; khai thác gỗ rừng tự nhiên ở mức 15.000-20.000 m3/năm; hoàn thành cơ bản việc giao đất khoán rừng cho hộ nông dân; rà soát quỹ đất để đẩy mạnh thu hút đầu tư trồng rừng nguyên liệu gắn với chế biến, có chính sách giao đất, cho thuê đất cho các tổ chức, cá nhân bỏ vốn đầu tư trồng rừng để tạo thêm việc làm, nhất là cho đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ; Tăng cường lực lượng kiểm lâm, kết hợp chặt chẽ giữa kiểm lâm với chính quyền địa phương và nhân dân địa phương để đẩy lùi nạn lâm tặc; tiếp tục sắp xếp lại các nông lâm trường quốc doanh.
c/ Ngành thương mại, dịch vụ
Xây dựng kế hoạch phát triển xuất khẩu và kế hoạch mở rộng thị trường nội địa đến năm 2010 theo kế hoạch phát triển xuất khẩu, phát triển thị trường giai đoạn 2008 – 2010. Phấn đấu vượt chỉ tiêu kim ngạch xuất khẩu đề ra cho năm 2010.
Xây dựng các chợ đầu mối để mở rộng thị trường nông thôn, tăng khả năng điều tiết lượng hàng hoá lưu thông trên thị trường.
Phát triển Khu kinh tế cửa khẩu đường 19; tiếp tục mở rộng quan hệ hợp tác với các tỉnh của Lào và Campuchia nhằm tạo thành vùng động lực, khai thác có hiệu quả tiềm năng trên hành lang kinh tế Đông-Tây trong Khu vực Tam giác phát triển Việt Nam - Lào - Campuchia.
Xây dựng và phát triển mạng bưu chính viễn thông, công nghệ thông tin theo hướng hiện đại, đồng bộ và rộng khắp, cung cấp đa dạng các loại hình dịch vụ chất lượng cao, tăng cường phát triển bưu cục, đại lý, điểm bưu điện để rút ngắn bán kính phục vụ, tiếp tục phát triển điểm bưu điện văn hoá xã; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan Nhà nước.
Đẩy mạnh các hoạt động dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm nhằm góp phần thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển.
d/ Khoa học – công nghệ và bảo vệ môi trường
- Có chính sách ưu đãi để các cơ sở sản xuất mạnh dạn đầu tư thay thế các thiết bị lạc hậu bằng những thiết bị công nghệ hiện đại, đồng thời nâng cao chất lượng các đề tài nghiên cứu khoa học để đẩy mạnh việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, đa dạng hoá các loại cây trồng, vật nuôi, hỗ trợ phát triển công nghệ sau thu hoạch để nâng cao chất lượng và giá trị các sản phẩm hàng hóa đủ sức cạnh tranh trên thị trường. Ưu đãi cho các nhà đầu tư có chuyển giao công nghệ cao: được miễn giảm thuế một thời gian, được ưu đãi chọn lựa địa điểm đầu tư xây dựng...; hỗ trợ nâng cao năng lực ngành cơ khí lắp ráp, cơ khí sửa chữa.
- Ban hành các chính sách khuyến khích phát triển các dịch vụ hỗ trợ về sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ, dịch vụ tư vấn, chính sách thúc đẩy sự phát triển các loại hình chợ công nghệ, hội chợ công nghệ, triển lãm công nghệ.
Phối hợp với các Bộ ngành chức năng, các cơ quan nghiên cứu để xây dựng và triển khai các đề án bảo vệ môi trường các lưu vực sông, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học, nâng cao năng lực quan trắc môi trường; nâng tỷ lệ che phủ rừng, chấp hành nghiêm phòng cháy chữa cháy rừng; có biện pháp lâm sinh để chống xói mòn, tăng độ phì cho đất, nhất là đối với đất đồi núi dốc. Thực hiện đánh giá tác động môi trường đối với các dự án đầu tư. Xử lý tốt chất thải rắn, chất thải nguy hại, chất thải sinh hoạt, chất thải bệnh viện, nước thải của các cơ sở sản xuất chế biến nông sản, lâm sản được xử lý đạt tiêu chuẩn trước khi thải vào hệ thống thoát nước chung. Việc khai thác, chế biến, tuyển quặng phải thực hiện nghiêm ngặt yêu cầu bảo vệ môi trường. Xử lý nghiêm các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng (kể cả đình chỉ hoạt động để nhà đầu tư thực hiện đúng Luật Bảo vệ môi trường).
- Triển khai thực hiện các chính sách của Trung ương về đẩy mạnh xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường, xây dựng hệ thống thông tin và báo cáo môi trường, đẩy mạnh công tác truyền thông môi trường. Gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái, phát triển bền vững.
d/ Các lĩnh vực văn hoá – xã hội
- Về giáo dục đào tạo
Huy động tối đa trẻ trong nhóm tuổi đi học đến lớp; đưa 95% trẻ ở độ tuổi 5 tuổi ra lớp mẫu giáo trước khi vào học lớp 1; huy động 98% trẻ 6 tuổi ra lớp 1; 95% học sinh lớp 5 theo học lớp 6; phát triển mở rộng hệ thống trường lớp của từng ngành học, cấp học theo hướng đạt chuẩn quốc gia, ưu tiên các trường dân tộc nội trú ở các huyện và trường bán trú ở các xã.
Tăng cường dạy tiếng Việt và tiếng dân tộc cho học sinh dân tộc tại các trường phổ thông. Chống tái mù chữ; chú trọng đầu tư trường lớp ở bậc học mầm non ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số; đẩy nhanh tốc độ phổ cập giáo dục THCS, phổ cập giáo dục THPT ở các khu vực đông dân cư, có điều kiện thuận lợi; tiếp tục triển khai chương trình kiên cố hoá trường lớp học giai đoạn 2008-2012 và nhà ở công vụ cho giáo viên.
Chuẩn bị các điều kiện để đến năm 2010 nâng cấp phân hiệu Đại học Nông Lâm thuộc Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh ở Gia Lai lên trường đại học; xây dựng trường Cao đẳng nghề Gia Lai; nâng cấp 2 Trung tâm dạy nghề An Khê và AyunPa lên thành trường Trung cấp nghề ở khu vực; thành lập Trung tâm dạy nghề Chư Sê; củng cố các Trung tâm giáo dục thường xuyên, thành lập mới ở các huyện chưa có; đẩy mạnh công tác xã hội hoá giáo dục đào tạo, khuyến khích đầu tư xây dựng trường ngoài công lập.
- Về y tế
Nhiệm vụ trọng tâm là phát triển mạng lưới y tế cơ sở, phát triển các dịch vụ khám chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ của y tế Nhà nước, mở rộng mạng lưới y tế ngoài công lập; phấn đấu đến năm 2010 có 60% số trạm xá xã có bác sỹ, 100% buôn làng có nhân viên y tế; trên 95% trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm chủng mở rộng, giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng xuống dưới 25%, giảm tỷ lệ mắc bệnh và chết do các bệnh sốt rét, lao, viêm phối trẻ em, thanh toán bệnh phong, bại liệt, uốn ván trẻ sơ sinh, nhanh chóng dập tắt các ổ dịch, phòng chống bệnh dại, tăng cường công tác vệ sinh phòng bệnh trong nhân dân, truyền thông giáo dục sức khoẻ; chống nghiện hút, mại dâm, ngăn chặn hiểm hoạ HIV/AIDS.
Tập trung nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân; thực hiện tốt các chương trình y tế quốc gia, tăng cường hoạt động của các trung tâm thuộc hệ dự phòng nhằm chủ động phòng chống dịch bệnh có hiệu quả. Đảm bảo chi ngân sách Nhà nước cho lĩnh vực y tế, đồng thời đẩy mạnh thực hiện chương trình xã hội hoá các hoạt động y tế và chăm sóc sức khoẻ cộng đồng; tạo điều kiện để xây dựng và đưa vào sử dụng Bệnh viện Hoàng Anh Gia Lai với quy mô 200 giường bệnh; thực hiện tốt chính sách bảo hiểm y tế cho đồng bào dân tộc, người nghèo, gia đình chính sách khi vào bệnh viện khám chữa bệnh; thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân vào năm 2010. Chấn chỉnh và nâng cao y đức cho cán bộ ngành y tế.
Triển khai thực hiện Quyết định 225/2005/QĐ-TTg ngày 15/9/2005 của Thủ tướng Chính phủ về xây dựng và nâng cấp bệnh viện huyện và bệnh viện đa khoa khu vực từ nguồn vốn trái phiếu chính phủ và Quyết định số 47/2008/QĐ-TTg ngày 02/4/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án đầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấp bệnh viện đa khoa huyện và bệnh viện đa khoa khu vực liên huyện sử dụng vốn trái phiếu Chính phủ và các nguồn vốn hợp pháp khác giai đoạn 2008-2010. Đầu tư xây dựng các trung tâm y tế dự phòng huyện, thị xã, thành phố và xây dựng trạm y tế xã đạt chuẩn.
- Về văn hoá du lịch, thể dục thể thao, phát thanh truyền hình
Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động nhân dân thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Xây dựng, bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá các dân tộc, phát triển không gian văn hoá cồng chiêng; ưu tiên xây dựng nhà sinh hoạt cộng đồng thôn, bản. Tăng cường đồng bộ hoạt động văn hoá ở cơ sở.
Cải tiến và nâng cao chất lượng các chương trình phát thanh, truyền hình địa phương, xây dựng chương trình để tiếp sóng đài Trung ương, tăng thời lượng phát sóng tiếng dân tộc địa phương. Phát triển kênh truyền hình để nâng cao mức hưởng thụ văn hoá ngày càng đa dạng của nhân dân. Đến năm 2010 phấn đấu có 95% số hộ được xem truyền hình, 100% số hộ được nghe đài phát thanh. Đẩy mạnh phong trào văn hoá văn nghệ quần chúng, xây dựng đời sống văn hoá cơ sở, trong đó chú trọng xây dựng gia đình văn hoá, khu dân cư văn hoá, xây dựng làng văn hoá, coi trọng các hoạt động bảo tồn, bảo tàng. Chú ý tôn tạo các di tích lịch sử và các di sản văn hoá dân tộc. Mở rộng các hoạt động báo chí, phát thanh, truyền hình đáp ứng nhu cầu thị hiếu lành mạnh của nhân dân. Ngăn chặn có hiệu quả các luồng văn hoá phản động, đồi truỵ. Xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh, nâng cao thị hiếu thẩm mỹ trong hưởng thụ văn hoá nghệ thuật, nhất là trong thanh thiếu niên.
Đẩy mạnh phát triển ngành du lịch thông qua xúc tiến, thu hút đầu tư và hỗ trợ đầu tư hạ tầng cho ngành du lịch.
Tiếp tục phát triển thể dục thể thao, chú trọng phát triển phong trào thể dục, thể thao quần chúng và mạng lưới thể dục thể thao cơ sở rộng khắp; nâng số người luyện tập thể dục thể thao thường xuyên lên 25%. Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ vận động viên thể thao thành tích cao, đạt trình độ để tham gia các giải khu vực, toàn quốc và quốc tế có hiệu quả.
Đầu tư xây dựng mới một số trung tâm văn hoá, thể dục thể thao. Nâng cấp, hiện đại hoá hệ thống phát thanh truyền hình; quản lý và khai thác có hiệu quả cơ sở vật chất hiện có. Đẩy mạnh xã hội hoá lĩnh vực văn hoá, thể dục thể thao, có cơ chế khuyến khích các tổ chức, cá nhân, các doanh nghiệp, đầu tư và bảo trợ các hoạt động văn hoá, du lịch, thể thao. Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, phát triển và nâng cao chất lượng các hoạt động văn hoá, du lịch, văn nghệ quần chúng, tăng cường các phương tiện vui chơi giải trí, chú trọng đầu tư phát triển văn hoá cho các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng.
e/ Phát triển kết cấu hạ tầng
-Giao thông:Mở rộng, nâng cấp các Quốc lộ 25, Quốc lộ 14 (Đường Hồ Chí Minh giai đoạn 1), đẩy nhanh việc xây dựng đoạn tuyến tránh qua thị xã, thị trấn, thành phố PleiKu; Quốc lộ 19 các đoạn tránh qua thị xã An Khê, cầu trên tuyến Quốc lộ 19 đến Cửa khẩu Lệ Thanh; đường Đông Trường Sơn triển khai các cầu bê tông cốt thép vĩnh cửu và các đoạn qua trung tâm huyện lỵ. Kéo dài đường băng, nâng cấp, mở rộng sân bay Pleiku đảm bảo cho việc cất, hạ cánh của các loại máy bay lớn (trước năm 2010).
Tiếp tục nhựa hoá các tuyến tỉnh lộ, đến năm 2010, 100% tỉnh lộ được nhựa hoá, mở rộng một số đoạn có mật độ giao thông cao; nâng cấp nền rải mặt cấp phối các tuyến liên xã, nhựa hoá một số tuyến có mật độ giao thông cao, sửa chữa, nâng cấp và mở mới các tuyến đường nội thành, nội thị, phát triển giao thông nông thôn. Tiếp tục thực hiện chương trình kiên cố hoá đường giao thông thôn bản và hẻm đô thị.
-Thuỷ lợi:Khai thác có hiệu quả tài nguyên nước, nâng cấp và xây dựng các công trình thuỷ lợi nhất là ở những vùng thường khô hạn và có quỹ đất để mở rộng sản xuất. Đẩy nhanh tiến độ để sớm hoàn thành các công trình thuỷ lợi: Ia Mlah, Ia Mơ, Ia Hring, Ia Tul, hồ Tân Sơn... xây dựng mới một số công trình thuỷ lợi vừa và nhỏ ở vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng và đầu tư đồng bộ các công trình đầu mối, hệ thống kênh chính, kênh nhánh, kênh nội đồng và khai hoang xây dựng đồng ruộng.
-Cấp điện:Mở rộng nâng cấp mạng lưới điện trung và hạ thế, trạm biến áp và đường dây 110 KV đảm bảo đấu nối lên lưới điện quốc gia của các dự án thuỷ điện nhỏ trên địa bàn; đẩy nhanh tiến độ dự án cấp điện đến các thôn, buôn chưa có điện thuộc các tỉnh Tây Nguyên đã được Chính phủ phê duyệt để đến năm 2010 trên 90% số hộ được dùng điện. Cải tạo nâng cấp và xây dựng lưới điện các đô thị đảm bảo phụ tải cho từng thời kỳ phát triển mới của đô thị.
- Cấp nước sinh hoạt:Nâng cấp, mở rộng và xây dựng mới một số hệ thống nước thị trấn Kon Dơng, Nhơn Hoà, Phú Túc, xây dựng các công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn để đến năm 2010: 100% dân cư đô thị được dùng nước máy, 80% dân cư nông thôn được dùng nước sạch.
Tăng đầu tư cho kết cấu hạ tầng xã hội như: giáo dục, y tế, văn hoá, thể dục thể thao, khoa học công nghệ.
Mở rộng đô thị
Sớm triển khai việc nâng cấp đô thị Chư Sê thành đô thị loại IV và hình thành các thị trấn của các huyện chưa thành lập, nhằm ổn định hoạt động của bộ máy chính quyền cơ sở, xây dựng cơ sở vật chất và kết cấu hạ tầng song song với việc thực hiện chính sách xã hội, giảm nghèo, cải thiện, nâng cao đời sống của nhân dân; tổ chức và triển khai Nghị quyết của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về hình thành và phát triển các khu đô thị mới trong tỉnh Gia Lai từ nay đến năm 2020.
g/ Công tác tôn giáo và củng cố chính quyền cơ sở
Tiếp tục quán triệt và thực hiện Chỉ thị số 01/2005/CT-TTg ngày 04/02/2005 của Thủ tướng Chính phủ về một số công tác đối với đạo Tin lành; tuyên truyền hướng dẫn nội dung Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo và các quy định của pháp luật về tôn giáo cho chức sắc, tín đồ nhằm tạo sự hiểu biết, nhận thức đúng đắn về các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về tôn giáo để đồng bào hành đạo đúng pháp luật. Kiên quyết không để bọn phản động lợi dụng tôn giáo, lợi dụng tự do tín ngưỡng gây mất an ninh trật tự ở buôn, làng, thôn, xóm. Củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, tạo sức mạnh để thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
Phát huy vai trò của già làng, trưởng bản, những người có uy tín trong cộng đồng trong việc tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Củng cố, kiện toàn hệ thống chính trị từ buôn, làng theo hướng tự quản. Đổi mới nội dung, nâng cao chất lượng hoạt động của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cấp xã; kết hợp chặt chẽ việc xây dựng, củng cố chính quyền cơ sở với cải cách hành chính, thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở; đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của các tổ chức, đoàn thể, tổ chức chính trị xã hội cho gần dân, sát dân hơn.
h/ Bảo đảm quốc phòng an ninh
Tiếp tục xây dựng lực lượng quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân vững mạnh; kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế xã hội với bảo đảm an ninh quốc phòng, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ trong mọi tình huống, nhất là các tuyến biên giới, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Củng cố, tăng cường xây dựng lực lượng dân quân tự vệ ở các xã, phường, cơ quan, xí nghiệp, nhà máy đủ mạnh, ứng phó kịp thời các tình huống xảy ra, không bị bất ngờ. Xây dựng các phương án đấu tranh chống lại âm mưu diễn biến hoà bình, chuyển hoá chế độ của các lực lượng thù địch; bảo đảm vững chắc an ninh chính trị, an ninh thông tin, ổn định trật tự và an toàn xã hội trước những biến đổi nhanh, phức tạp của xu thế toàn cầu hoá, vừa đáp ứng các yêu cầu và nhiệm vụ hội nhập kinh tế quốc tế.
Tập trung xây dựng tổ chức Đảng, chính quyền cơ sở trong sạch, vững mạnh. Nâng cao vai trò lãnh đạo của các tổ chức cơ sở Đảng; năng lực quản lý điều hành của chính quyền các cấp, xử lý kịp thời và có hiệu qủa các tình huống phức tạp phát sinh ở cơ sở.

1/ Trên cơ sở những mục tiêu, nội dung, nhiệm vụ chủ yếu trong Chương trình hành động này và căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ đã được phân công, thủ trưởng các sở, ban, ngành, các tổ chức đoàn thể, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố căn cứ vào các cơ chế chính sách của Chính phủ tiếp tục thực hiện và các cơ chế, chính sách bổ sung được nêu trong Quyết định 25/2008/QĐ-TTg ngày 05/02/2008 của Thủ tướng Chính phủ để trực tiếp tổ chức chỉ đạo xây dựng kế hoạch của ngành, địa phương; xác định việc thực hiện Chương trình hành động này là nhiệm vụ chủ yếu trong giai đoạn từ nay đến năm 2010 của chính quyền các cấp gắn với việc thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII; cụ thể hoá các nhiệm vụ trong kế hoạch công tác hàng năm của địa phương, đơn vị. Đặc biệt là đối với các nhiệm vụ, công việc cấp bách cần thực hiện trong năm 2008 thì tập trung triển khai thực hiện nhằm đảm bảo hoàn thành kế hoạch, đạt chất lượng, hiệu quả.
Đối với những nhiệm vụ không phải triển khai theo các đề án, chương trình, tập trung tổ chức triển khai ngay để bảo đảm tính kịp thời, hiệu quả những nội dung của Chương trình hành động.

2/ Thủ trưởng các sở, ban, ngành, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố và thủ trưởng các cơ quan, đơn vị có liên quan tập trung chỉ đạo, tăng cường kiểm tra, đôn đốc việc triển khai thực hiện Chương trình hành động này; định kỳ vào ngày 05/11 hàng năm, báo cáo kết quả tình hình thực hiện về Sở Kế hoạch và Đầu tư và Văn phòng UBND tỉnh để tổng hợp báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh.

3/ Giao Sở Kế hoạch và Đầu tư có trách nhiệm theo dõi, tổng hợp kết quả thực hiện chương trình hành động này, báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh vào ngày 15/11 hàng năm.

4/ Trong quá trình tổ chức thực hiện Chương trình hành động này, nếu xét thấy cần thiết phải sửa đổi, bổ sung những nội dung cụ thể của Chương trình, các sở, ban, ngành, địa phương chủ động báo cáo về Sở Kế hoạch và Đầu tư để tổng hợp, báo cáo Uỷ an nhân dân tỉnh xem xét, quyết định./.

Tổng quan văn bản

Số ký hiệu24/2008/QĐ-UBND
Ngày ban hành14/05/2008
Loại văn bảnQuyết định
Ngày có hiệu lực24/05/2008
Nguồn thu thậpCơ sở dữ liệu
Ngày đăng công báo---
Cơ quan ban hành / Người kýUBND tỉnh Gia Lai / Phạm Thế Dũng
Phạm viGia Lai
Trích yếuVề việc ban hành Chương trình hành động của Ủy ban Nhân dân tỉnh thực hiện Quyết định 25/2008/QĐ-TTg ngày 05/02/2008 của Thủ tướng Chính phủ
Tình trạng hiệu lựcCòn hiệu lực

Chưa có thông tin lược đồ

Văn bản này hiện chưa được cập nhật dữ liệu về lược đồ liên quan.