|
UBND TỈNH BẾN TRE Số: 246/UB-QĐ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------------------------- tỉnh Bến Tre, ngày 08 tháng 04 năm 1986 |
Nhằm tiếp tục hoàn thiện cải tạo XHCN và tổ chức lại sản xuất trong khu vực TCN-TCN cá thể và gia đình, khuyến khích, tận dụng rộng rãi sức lao động dồi dào và tay nghề sẳn có của đông đảo gia đình nhân dân ở thị xã, thị trấn và nông thôn; huy động nguồn vốn và lao động nhà rỗi tận dụng nguyên liệu, phế liệu hiện có trong tỉnh giải quyết việc làm cho người lao động và khuyến khích những người buôn bán đầu tư vốn của mình để chuyển sang góp phần phát triển sản xuất làm ra thêm nhiều mặt hàng tiêu dùng, hàng thủ công mỹ nghệ có giá trị phục vụ yêu cầu trong nước và xuất khẩu, hỗ trợ đắc lực cho kinh tế tập thể và kinh tế quốc doanh, góp phần phát huy tính phong phú, đa dạng của mặt hàng để thoả mãn nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng, tận dụng được năng lực sàn xuất sẳn có và đối với trang bị kỹ thuật.
UBND tỉnh Bến Tre quy định tạm thời việc tổ chức lại sản xuất sắp xếp quản lý các hộ TCN-TCN cá thể và gia đình và thực hiện 1 số chính sách khuyến khích như sau:
I. Quy định về các loại hộ TCN – TCN cà thể và gia đình:
Điều 1. Hình thành tổ chức và tiêu chuẩn xác định loại hình sản xuất; các hộ sản xuất TCN-TCN tuỳ theo quy mô và tính chất sản xuất kinh doanh phân theo 3 loại hình như sau:
a) Hộ sản xuất TCN-TCN cá thể.
b) Hộ sản xuất TCN-TCN gia đình.
c) Hộ sản xuất TCN-TCN nghề phụ gia đình đối với CNVC Nhà nước và xã viên gọi tắt là hộ sản xuất phụ gia đình.
a) Hộ TCN-TCN cá thể:
Tiêu chuẩn để xác định hộ TCN-TCN cá thể là:
Lao động sản xuất trong hộ gồm người thân trong gia đình chưa có công ăn việc làm hoặc thuê mướn lao động nhưng phải bảo đảm các chế độ Nhà nước quy định đối với người lao động làm thuê (số công nhân thuê mướn không quá 10 người kể cả lao động kỹ thuật).
Chủ hộ là người trực tiếp sản xuất hoặc điều hành công việc.
Tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu riêng của chủ hộ.
Quy mô sản xuất không hạn chế nhằm khuyến khích mạng việc bỏ vốn cố định và vốn lưu động và cải tiến công cụ làm nhiều sản phảm chất lượng tốt đối với những mặt hàng Nhà nước khuyến khích.
b) Hộ sản xuất TCN-TCN gia đình.
Tiêu chuẩn để xác định hộ sản xuất TCN-TCN gia đình là không thuê mướn công nhân. Lao động trong hộ lao động gồm những người có quan hệ trong gia đình như: ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, dâu, rễ, cháu và anh chị em ruột (có thể ở khác hộ nhưng bản thân chưa đăng ký kinh doanh riêng).
Do yêu cầu kỹ thuật, tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, đối với những hộ sản xuất TCN-TCN gia đình thuộc diện buôn bán chuyển sang sản xuất có thể xét cụ thể cho thuê mướn lao động kỹ thuật trong 1 thời gian cần thiết để hướng dẫn đào tạo bồi dưỡng tay nghề.
c) Hộ sản xuất nghề phụ gia đình:
Hộ sản xuất nghề phụ gia đình là một bộ phận của nền kinh tế XHCN, nó tồn tại trong suốt quá trình xây dựng CNXH.
Nó bao gồm những người đã có nghề chính nhưng tranh thủ làm thêm trong những giờ nhàn rổi hoặc có 1 phần lao động chính trong gia đình làm.
Hộ sản xuất phụ gia đình được xác định theo tiêu chuẩn sau đây:
Cb CNVC Nhà nước, xã viên HTX, các tổ đoàn kết và tập đoàn sản xuất (kể cả xã viên các loại HTX như: nông nghiệp, vận tải... Đối với các loại HTX nua bán và tiêu thụ thì phải là CB CNV của HTX) ngoài thời gian lao động theo chế độ tại cơ quan, đơn vị, sử dụng lao động nhàn rỗi trong gia đình như: nội trợ, học sinh, những người ngoài tuổi lao động... đứng ra tổ chức sản xuất TCN-TCN phụ gia đình để vừa nâng cao thu nhập cải thiện đời sống vừa góp phần tạo ra của cải vật chất cho xã hội (mọi người trong độ tuổi lao động chưa có việc làm mà tham gia sản xuất phụ gia đình thì không được tính vào lao động nhàn rổi).
II. Phương hướng sản xuất và quản lý:
Điều 2. Các hộ sản xuất nói ở Điều 1 làm những nghề Nhà nước khuyến khích được tồn tại lâu dài trong suốt thời kỳ còn 5 thành phần kinh tế được khuyến khích huy động vốn đầu tư không hạn chế vào sản xuất và được Nhà nước bảo hộ. Những mặt hàng cấm sản xuất theo các quy định hiện hành như: thuốc lá điếu các loại, dầu dừa cac loại, xà bông các loại, thuốc uống các loại, cơ khí sửa chữa các loại thiết bị sản xuất và ôtô...
a) Đối với hộ sản xuất TCN-TCN cá thể:
1. Những hộ sản xuất TCN-TCN cá thể gia công cho quốc doanh, tập thể hoặc sản xuất những mặt hàng có kỹ thuật cao chất lượng sản phẩm tuỳ thuộc vào kỹ năng của người thợ.
2. Những người vì điều kiện nào đó như sức khoẻ phải làm việc tại nhà (kể cả những người về hưu).
b) Đối với hộ sản xuất TCN-TCN gia đình:
1. Những hộ sản xuất TCN-TCN gia đình có tay nghề truyền thống, sản xuất những mặt hàng có kỹ thuật và giá trị cao phục vụ cho yêu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.
2. Những hộ sản xuất TCN-TCN gia đình nhận gia công chi tiết hoặc phụ tùng, sản phẩn cho quốc doanh hay tập thể đã hình thành sự phân công chuyên môn hoá ổn định, sản phẩm có chất lượng cao.
3. Những hộ dịch vụ có tính chất công nghiệp (đóng giày, may đo, sửa chữa máy móc dụng cụ chủ yếu thuộc hàng tiêu dùng ...)
4. Những hộ sản xuất các mặt hàng mà quốc doanh tập thể chưa sản xuất hoặc chưa đáp ứng nhu cầu thì làm gia công dưới sự quản lý sản lượng, chất lượng và kỹ thuật sản xuất cuả quốc doanh hay hợp tác xã.
c) Đối với hộ sản xuất nghề phụ gia đình:
Nghề phụ gia đình được Nhà nước khuyến khích phát triển sản xuất các ngành nghề mà mọi thành phần kinh tế được phép hành nghề.
Nghề phụ gia đình chỉ đăng ký hành nghề với UBND phường, xã theo quy haọch chung mà huyện và thị xã thông qua.
Điều 3. Đối với việc phát triển cơ sở mới
Cho phép phát triển cơ sở mới đối với những mặt hàng quốc doanh và tập thể chưa sản xuất hoặc chưa đáp ứng được nhu cầu như quy định ở Điều 2.
Việc phát triển cơ sở mới cần theo hướng ưu tiên cho sản xuất những sản phẩm mới hoặc mẫu mã mới, sản phẩm thế cho hàng hoặc thay cho nguyên liệu nhập, sản phẩm có chất lượng cao với trang bị kỹ thuật mới hiện đại, ưu tiên cho cac đối tượng là những người lao động chưa có việc làm, Cb CNV xã viên làm nghề phụ gia đình, CB CNV hưu trí để tăng thêm thu nhập và những người buôn bán chuyển sang sản xuất.
Điều 4. Về quản lý
UBND phường, xã là cấp trực tiếp quản lý hành chính kinh tế đối với các hộ san xuất TCN-TCN cá thể gia đình và nghề phụ gia đình theo hướng dẫn của LHX huyện, thị xã và các ngành có liên quan được UBND huyện, thị xã uỷ quyền.
Nhiệm vụ quản lý chủ yếu là:
1. Hướng dẫn việc đăng ký sản xuất kinh doanh theo quy định ngành và địa phương, đăng ký chất lượng và nhãn hiệu sản phẩm, bảo đảm môi sinh trong việc phát triển sản xuất.
2. Nắm chắc tính chất hoạt động kinh doanh của từng hộ mà đề ra quy hoạch cải tạo, sắp xếp lại sản xuất TCN-TCN các thể và gia đình ở địa phương theo hướng dẫn của cấp trên và tổ chức thực hiện quy hoạch đó, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nghề phụ gia đình, đảm bảo kết hợp quản lý theo ngành và quản lý theo địa phương.
3. Hướng dẫn và kiểm tra việc chấp hành chính pháp luật Nhà nước về sản xuất kinh doanh. Giải quyết khó khăn của sản xuất trong phạm vi quyền hạn của mình.
4. Cùng với các cơ quan có liên quan hướng dẫn cơ sở trong việc thực hiện chế độ hợp đồng kinh tế, tăng cường quan hệ kinh tế với Nhà nước, hợp tác sản xuất quốc doanh và tập thể, tham gia trong việc quy định tiêu chuẩn, chất lượng, định mức KHKT, mức thuế, bao tiêu sản phẩm…
5. Giáo dục chính trị, tư tưởng, đường lối chính sách động viên phát triển sản xuất, tổ chức sinh hoạt các nhóm sản xuất theo ngành nghề ở đường phố và ở ấp, xã.
III. Một số chế độ, chính sách khuyến khích phát triển sản xuất:
Điều 5. Về quan hệ hợp đồng đặt hàng
Các hộ sản xuất TCN-TCN theo quy định ở Điều 2, được ký hợp đồng kinh tế với khách hàng theo hướng dẫn của huyện, thị xã đúng quy định về tổ chức quản lý ngành kết hợp quản lý địa bàn huyện và thị xã.
Các hộ sản xuất nghề phụ gia đình được nhận gia công hoặc sản xuất theo hợp đồng cho xí nghiệp quốc doanh, xí nghiệp hợp doanh hoặc hợp tác xã bằng các nguồn nguyên liệu Nhà nước cho phép.
Điều 6. Về vật tư, nhiên liệu, năng lượng và huy động vốn
Các hộ sản xuất TCN-TCN có quan hệ hợp đồng với Nhà nước làm vệ tinh cho quốc doanh hay tập thể. Các mặt hàng truyền thông và sản phẩm xuất khẩu được khuyến khích trong việc giải quyết vật tư như:
- Được góp vốn bằng tiền Việt Nam, kim loại quý (vàng, bạc) hoặc kiều hối để mua thiết bị vật tư nước ngoài thông qua liên hiệp các Cty xuất nhập khẩu tỉnh hay cơ quan được uỷ quyền.
- Được Nhà nước bán vật tư, nhiên liệu theo chế độ bán nguyên liệu mua thành phẩm và cung ứng điện năng thiết bị vật tư khác theo chính sách hiện hành.
- Được vận động thân nhân ở ngoài tỉnh cũng như ở nước ngoài gửi thiết bị vật tư (nhất là thiết bị hiện đại, vật tư nguyên liệu quý hiếm) về cho sản xuất theo chính sách khuyến khích.
- Sản phẩm xuất khẩu được Nhà nước dành ngoài tệ thoả đáng để nhập vật tư, hàng hoá đúng theo quy định về quyền sử dụng ngoại tệ hiện hành của Nhà nước.
Điều 7. Chính sách khuyến khích sản xuất (giá bán sản phẩm về thuế)
Những sản phẩm mà các hộ sản xuất TCN-TCN tự lo nguyên liệu thì được tính theo giá thoả thuận có lãi cao hơn sản phẩm gia công cho Nhà nước hoặc bán vật tư mua thành phần. Với sự hướng dẫn của cơ quan vật giá và các cơ quan liên quan khác, những sản phẩm mới chế thử và bán ra có tính chất thăm dò thị trường, Nhà nước không quy định giá những sản phẩm sản xuất bằng thiết bị nhập qua thân nhân ở nước ngoài những sản phẩm mới và những hộ sản xuất mới thành lập có khó khăn được xét miễn thuế lợi tức 1 năm.
Các hộ sản xuất TCN-TCN gia đình được xét miễn giảm thuế trong các trường hợp tận dụng phế liệu phế thải, sử dụng nguyên liệu địa phương thay thế nguyên liệu nhập, đối với trang thiết bị…Trong thời gian sản xuất thử theo kế hoạch sản xuất đã được duyệt Nhà nước không thu thuế.
Cac hộ sản xuất nghề phụ gia đình được miễn tất cả các loại thuế.
Điều 8. Về tín dụng
Các hộ TCN-TCN có quan hệ kinh tế với Nhà nước có sản phẩm xuất khẩu, ngoài vốn đầu tư của mình nếu thiếu vốn hoạt động được ngân hàng cho vay theo chính sách, theo hướng ưu tiên cho những sản phẩm có kỹ thuật cao, các hộ TCN-TCN gia đình và các hộ từ mua bán chuyển sang sản xuất.
Các hộ sản xuất nghề phụ gia định, nếu thiếu vốn được vay của quỹ tiết kiệm XHCN, HTX tín dụng hoặc nguồn vốn khác theo các chế độ của ngân hàng.
IV. Điều khoản thi hành:
Điều 10. Liên hiệp xã tỉnh phối hợp với Sở Công nghiệp và các Cty liên doanh, các sở có sản xuất công nghiệp, Văn phòng UBND tỉnh (bộ phận cải tạo và khối công nghiệp), UBND các huyện, thị xã cùng các cơ quan liên quan có trách nhiệm tổ chức thực hiện bản quy định này và hướng dẫn cụ thể về các nội dung sau đây:
- Các ngành nghề mà các loại hộ sản xuất TCN-TCN được phép sản xuất kinh doanh.
- Phân loại các ngành nghề theo ngành kinh tế kỹ thuật và ngành sản phẩm để phân trách nhiệm quyền hạn quản lý.
- Danh mục sản phẩm do Thương nghiệp quốc doanh và Thương nghiệp hợp tác xã cần tập trung thu mua.
- Danh mục vật tư phế liệu, phế thải mà các hộ TCN-TCN được phép mua. Phương thức mua bán các loại vật tư, phế liệu, phế thải mà Nhà nước quản lý.
- Chính sách thuế đối với TCN-TCN và các trường hợp được xét ưu đãi về thuế…
- Hướng dẫn nguyên tắc thủ tục đăng ký kinh doanh.
- Thành lập Ban Chỉ đạo và điều hành thực hiện quy định tạm thời này do Ban liên hiệp xã tỉnh và Sở Công nghiệp tỉnh trực tiếp chủ trì.
Điều 11. Khen thưởng và xử phạt
a) Hộ sản xuất TCN-TCN và cá nhân nào có nhiều thành tích trong việc thực hiện quy định này: sản xuất nhiều sản phẩm có giá trị cao cho xã hội và xuất khẩu sẽ được khen thưởng thích đáng.
b) Hộ sản xuất TCN-TCN và cá nhân nào vi phạm quy định này: cố tình làm ăn không đảm bảo chất lượng, làm gian dối, làm hàng giả, mạo hoá thành nhãn hiệu nước ngoài gây thiệt hại cho người tiêu dùng, sản xuất không đảm bảo vệ sinh công nghiệp, gây ảnh hưởng môi sinh sẽ phải chịu trách nhiệm vật chất và xử phạt nghiêm minh về những thiệt hại đã gây ra.
c) Chế độ khen thưởng và xử phạt theo đúng các quy định hiện hành của Nhà nước.
Điều 12. Bản quy định này có hiệu lực kể từ ngày ký bãi bỏ những quy định trước đây trái với quy định này./.