Quay lại

Quyết định 2483/2007/QĐ-UBND v/v Phê quyệt Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2006 - 2011, định hướng đến năm 2020

UBND TỈNH PHÚ THỌ
-------

Số: 2483/2007/QĐ-UBND

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------------------------

tỉnh Phú Thọ, ngày 01 tháng 10 năm 2007

QUYẾT ĐỊNH

V/v Phê quyệt Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản

tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2006 - 2011, định hướng đến năm 2020

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

Căn cứ Luật Tổ chức HĐND và UBND ngày 26/11/2003;

Căn cứ Luật Khoáng sản ngày 20/3/1996; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khoáng sản ngày 16/6/2005;

Căn cứ Nghị định số 160/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Khoáng sản Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khoáng sản;

Căn cứ Quyết định số 73/2006/QĐ-TTg ngày 04/4/2006 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển các ngành công nghiệp Việt Nam theo các vùng lãnh thổ đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020;

Căn cứ Nghị quyết số 57/2006/NQ-HĐND ngày 17/5/2006 của Hội đồng nhân dân tỉnh Phú Thọ về quy hoạch phát triển công nghiệp giai đoạn 2006 - 2010 định hướng đến năm 2015;

Căn cứ vào quy hoạch phát triển kinh tế xã hội tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2006 - 2010 và định hướng đến năm 2020;

Căn cứ Kết luận của Ban Thường vụ Tỉnh ủy tại Văn bản số 157-KL/TU ngày 26/6/2007 về Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2006 - 2010, định hướng đến năm 2020;

Căn cứ Nghị quyết số 110/2007/NQ-HĐND ngày 16/7/2007 của Hội đồng nhân dân tỉnh Phú Thọ về Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2006 - 2010, định hướng đến năm 2020;

Xét đề nghị của Sở Công nghiệp,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Phê quyệt Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2006 - 2011, định hướng đến năm 2020 với những nội dung chủ yếu sau:

1. Đánh giá về đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội và thực trạng công tác điều tra, khảo sát, thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản tỉnh Phú Thọ:

a) Đánh giá về đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội liên quan đến thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản:
- Tỉnh Phú Thọ có địa hình tự nhiện chia cắt khá phức tạp, hệ thống sông, ngòi được phân bố rộng khắp trên địa bàn. Khí hậu nhiệt đới, gió mùa; có nhiều hệ tầng địa chất, kiến tạo địa chất được khống chế bởi các hệ thống đứt gãy phương Tây Bắc - Đông Nam và phương Đông Bắc - Tây Nam.
- Tài nguyên khoáng sản đa dạng, có một số khoáng sản có trữ lượng, chất lượng cao. Theo tài liệu điều tra địa chất, tỉnh Phú Thọ có 23 loại khoáng sản, xác định 164 mỏ và điểm mỏ quặng kim loại, phi kim loại, khoáng chất công nghiệp, quặng phóng xạ, quặng quý hiếm, nước khoáng nóng … một số khoảng sản có lợi thế cạnh tranh như: Kaolin, Fenspat, quặng sắt, quarzit, talc…
- Phú Thọ có vị trí địa lý khá thuận lợi cho phát triển kinh tế và giao thương. Giao thông được phân bố đều trên các tiểu vùng, có nhiều tuyến quốc lộ chạy qua. Ngành công nghiệp sớm phát triển, kinh tế của tỉnh liên tục tăng trưởng, khả năng đầu tư và thu hút đầu tư của tỉnh có chiều hướng phát triển tích cực.
- Nguồn nhân lực, các dịch vụ vận tải, điện nước, bưu chính viễn thông, tín dụng ngân hàng, xuất nhập khẩu và cơ sở hạ tầng phục vụ cho ngành công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản khá thuận lợi.

b) Thực trạng công tác điều tra, khảo sát, thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản tỉnh Phú Thọ:
- Công tác nghiên cứu, điều tra địa chất khoáng sản: Tỉnh đã phối hợp với các cơ quan chức năng của Trung ương tiến hành công tác nghiên cứu, điều tra địa chất khoáng sản, qua đó đã cơ bản nắm được cấu trúc địa chất, đặc điểm sinh khoáng và sơ bộ phát hiện đánh giá được khả năng triển vọng của khoáng sản chủ yếu.
- Công tác tìm kiếm, thăm dò khoáng sản được thực hiện trên nhiều cấp độ từ năm 1960 đến năm 2002, có ý nghĩa khoa học và giá trị thực tiễn, đã góp phần hoạch định chiến lược phát triển công nghiệp khai khoáng của tỉnh.
- Hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản triển khai theo sự phân bố của mỏ khoáng sản và phân cấp của Nhà nước, thành phần tham gia khai thác, chế biến khoáng sản chuyển từ doanh nghiệp Nhà nước sang doanh nghiệp thuộc nhiều thành phần kinh tế.

c) Đánh giá chung: Là tỉnh có nguồn tài nguyên phong phú về chủng loại, có trữ lượng đáng kể và chất lượng tốt. Việc quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản phù hợp với quy hoạch chung của cả nước. Việc đầu tư khai thác gắn với chế biến, đặc biệt là chế biến sâu bước đầu được coi trọng và góp phần thúc đẩy sản xuất công nghiệp phát triển, nâng cao tốc độ tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động, giải quyết việc làm và thu nhập cho người lao động.
Tuy nhiên, tiềm năng khoáng sản chưa được đánh giá đầy đủ, mức độ kiểm tra, nghiên cứu địa chất được tiến hành không đồng đều, mức độ nghiên cứu còn hạn chế, công nghệ, máy móc thiết bị thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản còn lạc hậu, quy mô nhỏ, năng suất lao động thấp, giá thành cao, sản phẩm chế biến khả năng cạnh tranh thấp; hầu hết các mỏ khai thác khoáng sản chưa quan tâm đúng mức tới môi trường. Lực lượng lao động trong ngành khai thác, chế biến khoáng sản chủ yếu là lao động phổ thông, chưa được đào tạo, tỷ lệ lao động có tay nghề còn ở mức thấp. Công tác quản lý Nhà nước còn nhiều bất cập, chưa chặt chẽ, có nơi bị buông lỏng, tình trạng khai thác khoáng sản trái phép còn xảy ra ở một số địa phương, lợi ích kinh tế chưa được giải quyết hợp lý.

2. Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2006 - 2010, định hướng đến năm 2020:

a) Quan điểm quy hoạch:
- Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản của tỉnh phải phù hợp với Luật Khoáng sản, phù hợp với Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội và các Quy hoạch chuyên ngành có liên quan đã được phê duyệt.
- Xây dựng và phát triển ngành công nghiệp khai khoáng với công nghệ hiện đại, thiết bị tiên tiến phù hợp với từng loại khoáng sản. Gắn khai thác với chế biến tăng cường chế biến sâu để tiết kiệm tài nguyên, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm ở trong nước và xuất khẩu.
- Đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, đảm bảo lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp, nhân dân trong vùng khoáng sản. Bảo vệ môi trường, phát triển bền vững, đảm bảo an ninh quốc phòng trong từng giai đoạn, giữ gìn các di sản văn hóa.
- Khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư vào thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản đi đôi với lập lại trật tự trong hoạt động khoáng sản, nhằm phát triển ngành công nghiệp khai thác, chế biến theo quy hoạch một cách bền vững.

b) Mục tiêu:
- Mục tiêu tổng quát:
+ Quy hoạch nhằm xác định đầy đủ chính xác vị trí, trữ lượng chất lượng các loại khoáng sản có triển vọng, khoáng sản quý hiếm và vùng cấm khai thác.
+ Đề xuất điều kiện, phương tiện, thiết bị công nghệ khai thác, chế biến theo hướng hiện đại, tiên tiến phù hợp với chế biến sâu sản phẩm cho từng loại khoáng sản ở giai đoạn trước năm 2010 và sau năm 2010.
+ Đề xuất các giải pháp về quản lý, cơ chế chính sách để đảm bảo hoạt động khoáng sản theo quy hoạch.
- Mục tiêu cụ thể:
+ Đáp ứng được nhu cầu sử dụng khoáng sản của tỉnh cũng như nhu cầu trong nước theo như dự báo. Làm tăng giá trị sản xuất ngành công nghiệp khai khoáng chiếm tỷ trọng từ 1,8% đến 2% giá trị sản xuất công nghiệp toàn ngành, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 16%/năm giai đoạn 2006 - 2010 và 18%/năm giai đoạn 2011 - 2020.
+ Đối với loại khoáng sản có tiềm năng lợi thế của tỉnh như Kaolin, Fenspat, quặng sắt trong thời gian tới tập trung nguồn lực cho khai thác và chế biến, tăng cường đầu tư chế biến sâu, nâng cao chất lượng sản phẩm để đáp ứng nhu cầu nguyên liệu trong nước và từng bước thay thế các sản phẩm nhập khẩu. Phấn đấu đến năm 2020 đạt 700 ngàn tấn quặng Kaolin - Fenspat và đạt từ 900 đến 1.000 ngàn tấn quặng sắt.
+ Trong giai đoạn 2006 - 2010, cơ bản hoàn thành việc thăm dò những khu vực khoáng sản có triển vọng.

c) Nội dung quy hoạch thăm dò, khai thác chế biến khoáng sản tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2006 - 2010, định hướng đến năm 2020.
- Quy hoạch điều tra, đánh giá khoáng sản: Phát hiện các mỏ, điểm quặng mới và xác định rõ trữ lượng, chất lượng và tài nguyên dự báo cấp 333+334a; lập kế hoạch thăm dò và thăm dò bổ sung cho một số mỏ, điểm quặng có triển vọng. Tiến hành hoàn thiện đo vẽ bản đồ địa chất - khoáng sản tỷ lệ 1:50.000 trong thời gian tới, cần điều tra đánh giá thêm các mỏ lớn, điểm quặng đó được phát hiện để đưa vào quy hoạch các mỏ và điểm quặng triển vọng.
- Quy hoạch thăm dò khoáng sản: Xác định trữ lượng, chất lượng và điều kiện khai thác mỏ, nghiên cứu hệ thống tuyển khoáng để làm cơ sở cho lập báo cáo đầu tư khai thác chế biến. Từ nay đến hết năm 2010 phải cơ bản hoàn thành việc thăm dò, thăm dò bổ sung, nâng cấp chữ lượng các mỏ, điểm quặng có triển vọng, các mỏ đang khảo sát và chuẩn bị đưa vào khai thác. Tổng nhu cầu vốn đầu tư cho công tác thăm dò, thăm dò bổ sung, nâng cấp trữ lượng đến năm 2010 là 5,8 tỷ đồng đến 8,7 tỷ đồng.
- Quy hoạch khai thác, chế biến khoáng sản: Đáp ứng nhu cầu về quặng cho các cơ sở sản xuất hiện có và trong tương lai; tập trung khai thác, chế biến những khoáng sản có tiềm năng, triển vọng của tỉnh như Kaolin-Fenspat, quặng sắt. Quy hoạch khai thác gắn với chế biến, đặc biệt là chế biến sâu với công nghệ tiên tiến, hiện đại để sử dụng tài nguyên hợp lý, hiệu quả, tận thu tối đa tài nguyên và giảm thiểu các tác động xấu đến môi trường. Tổng nhu cầu vốn cho việc nghiên cứu khoa học, tiếp cận các công nghệ mới về khai thác, chế biến khoáng sản và chuyển giao công nghệ giai đoạn 2006 - 2010 là 4 tỷ đồng và giai đoạn 2011 - 2020 lả 6,2 tỷ đồng.
- Quy hoạch các vùng quản lý nghiêm ngặt và các vùng tạm thời cấm hoạt động khoáng sản: Các khu vực an ninh quốc phòng cấm hoạt động khai thác khoáng sản được xác định ở một số địa điểm tại huyện Thanh Sơn và Tân Sơn, tùy thuộc vào yêu cầu đảm bảo quốc phòng - an ninh trong từng giai đoạn; các khu vực liên quan tới rừng đặc dụng và rừng phòng hộ trên địa bàn tỉnh theo quy hoạch 3 loại rừng; các khu vực liên quan đến di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, khu đô thị, hành lang bảo vệ đê, kè, cầu, cống, hồ, đập, các công trình thủy nông.

d) Các giải pháp chủ yếu:
- Đẩy mạnh các hoạt động khảo sát, điều tra cơ bản: Phối hợp chặt chẽ với các bộ, ban, ngành Trung ương trong công tác khảo sát, tìm kiếm, thăm dò chi tiết khoáng sản trên địa bàn tỉnh, nhất là các mỏ có triển vọng; thường xuyên bổ sung và cập nhật số liệu thực tế về vị trí, trữ lượng, chất lượng các loại khoáng sản. Nhà nước ưu tiên dành nguồn lực cho công tác điều tra cơ bản về địa chất và hỗ trợ một phần hoạt động thăm dò khoáng sản. Phấn đấu hoàn thành công tác khảo sát, tìm kiếm, thăm dò chi tiết khoáng sản trên địa bàn tỉnh trước năm 2010.
- Tổ chức đấu thầu khai thác và chế biến khoáng sản: Lựa chọn các nhà thầu có đủ năng lực tài chính, trình độ công nghệ, trình độ quản lý tham gia đấu thầu rộng rãi, công khai theo quy định của pháp luật. Định hướng phát triển công nghệ khai thác và chế biến cho từng giai đoạn và từng chủng loại khoáng sản. Tổ chức tổ việc quản lý hoạt động triển khai công nghệ, chuyển giao công nghệ, nhất là tiếp nhận kiến thức, kinh nghiệm; ưu tiên và xây dựng tiêu chí nhằm khuyến khích những dự án có công nghệ sạch, hiện đại.
- Phân cấp quản lý cho hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản: Phân cấp quản lý Nhà nước cho các cơ quan quản lý chuyên ngành và địa phương phù hợp với thực tế và đúng với quy định của Nhà nước; nâng cao công tác phối hợp giữa các cơ quan chuyên môn với các cấp chính quyền địa phương. Tăng cường giáo dục và nâng cao ý thức của người dân trong bảo vệ nguồn tài nguyên khoáng sản. Kiên quyết xử lý những tổ chức và cá nhân sai phạm liên quan tới lĩnh vực này.
- Cơ chế, chính sách cho hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản: Có chính sách về giao đất, hỗ trợ đền bù giải phóng mặt bằng, hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng, hỗ trợ xử lý ô nhiễm môi trường, giảm thuế cho những dự án lớn. Tạo cơ chế thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước có năng lực tài chính đầu tư vào lĩnh vực khai thác và chế biến khoáng sản trên địa bàn tỉnh. Ban hành cơ chế tạo nhanh nguồn vốn đầu tư vào cơ sở hạ tầng thiết yếu phục vụ cho quá trình khai thác và chế biến khoáng sản. Thực hiện xã hội hóa công tác đào tạo nghề, đa dạng hóa các loại hình đào tạo, trong đó có sự hỗ trợ của ngân sách tỉnh.
- Lập lại trật tự trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản: Rà soát, đánh giá lại năng lực tài chính, công nghệ, trình độ khai thác và chế biến, ý thức bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp, từ đó điều chỉnh lại quy mô khai thác cho phù hợp với doanh nghiệp; yêu cầu các doanh nghiệp xây dựng đề án đổi mới thiết bị công nghệ cho từng giai đoạn phát triển, kiên quyết xử lý những doanh nghiệp không đảm bảo những tiêu chí theo quy định. Sắp xếp tổ chức, bộ máy quản lý Nhà nước trong lĩnh vực này, tăng cường đào tạo bồi dưỡng cán bộ có trình độ chuyên môn sâu tại các cơ quan quản lý Nhà nước về khoáng sản. Quan tâm đến quyền lợi của nhân dân sống trong vùng khoáng sản.
- Tăng cường công tác bảo vệ môi trường, đảm bảo phát triển bền vững: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục về Luật Môi trường. Tiến hành sớm việc xây dựng các quy chế, nội quy, các tiêu chí về bảo vệ môi trường, nêu rõ quy định trách nhiệm của các bên tham gia tác động đến môi trường nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường theo các chỉ tiêu kỹ thuật cho phép. Kiểm kê, đánh giá các nguồn gây ô nhiễm chính trong khu vực khai khoáng và các cơ sở chế biến; định kỳ quan trắc, phân tích thành phần các chất độc hại. Khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp sử dụng năng lượng sạch, công nghệ hiện đại.
- Tăng cường quản lý, giám sát thực hiện quy hoạch: Trên cơ sở quy hoạch thăm dò, khai thác và chế biến khoáng sản đã được phê duyệt, các huyện, thành, thị nghiên cứu và lập quy hoạch chuẩn bị quỹ đất, phân bổ các khu dân cư, dịch vụ công cộng, xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng để phục vụ cho quá trình khai thác và chế biến về sau. Công bố công khai cho nhân dân và các doanh nghiệp biết. Nâng cao chất lượng về quản lý, giám sát thực hiện quy hoạch thăm dò, khai thác và chế biến khoáng sản tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2006 - 2010, định hướng đến năm 2020 đã được phê duyệt, đồng thời quản lý tốt các quy hoạch chuyên ngành khác tránh tình trạng chồng chéo, phá vỡ các quy hoạch.

Điều 2. Tổ chức thực hiện:

- Sở Công nghiệp chủ trì phối hợp với các sở, ban, ngành, các huyện, thành, thị tổ chức triển khai thực hiện quy hoạch.

+ Công bố công khai Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2006 - 2010 và định hướng đến năm 2020 theo quy định.

+ Chủ trì phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường, các sở, ban, ngành;UBND các huyện, thành, thị tổ chức lập kế hoạch phân vùng thăm dò, khai thác chế biến và sử dụng khoáng sản trên địa bàn tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2006 - 2010, định hướng 2020.

+ Giúp UBND tỉnh quản lý về công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản bảo đảm sự phát triển bền vững theo quy hoạch và sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên.

- Sở Tài nguyên và Môi trường: Phối hợp với Sở Công nghiệp, UBND các huyện, thành, thị trong việc quản lý và bảo vệ tài nguyên khoáng sản. Tham mưu cho UBND tỉnh cấp, gia hạn hoặc thu hồi giấy phép khai thác, chế biến khoáng sản thuộc thẩm quyền của UBND tỉnh theo quy định của pháp luật; tổ chức điều tra cơ bản, kiểm kê, đánh giá nguồn tài nguyên khoáng sản, khoanh vùng cấm hoặc tạm thời cấm hoạt động khoáng sản. Quản lý các hoạt động khoáng sản gắn với công tác bảo vệ môi trường.

- Sở Khoa học và Công nghệ: Quản lý các hoạt động đánh giá, thẩm định, giám định, tư vấn và chuyển giao công nghệ trên địa bàn tỉnh với các dự án đầu tư trong tỉnh theo phân cấp, tổng hợp và đánh giá trình độ công nghệ của các tổ chức kinh tế trong tỉnh.

- Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính: Cân đối ngân sách và đề xuất giải pháp huy động mọi nguồn lực cho công tác điều tra, nghiên cứu tài nguyên khoáng sản thuộc phạm vi tỉnh quản lý, tổ chức xúc tiến đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi thu hút các nhà đầu tư có năng lực đầu tư vào lĩnh vực thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản.

- UBND các huyện, thành, thị và các xã, phường, thị trấn: có trách nhiệm quản lý bảo vệ tài nguyên khoáng sản trên địa bàn theo quy định; ngăn chặn tình trạng khai thác, chế biến và tiêu thụ khoáng sản trái phép; tổ chức tuyên truyền giáo dục người dân nâng cao ý thức bảo vệ nguồn tài nguyên khoáng sản có trên địa bàn quản lý; tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư đến đầu tư tại địa bàn quản lý của địa phương.

Điều 3. Quyết định này có hiệu lực sau 10 ngày, kể từ ngày ký.

Chánh Văn phòng UBND tỉnh, Thủ trưởng các cơ quan: Sở Công nghiệp, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Khoa học và Công nghệ, UBND các huyện, thành, thị và các đơn vị có liên quan căn cứ Quyết định thực hiện.

Tổng quan văn bản

Số ký hiệu2483/2007/QĐ-UBND
Ngày ban hành01/10/2007
Loại văn bảnQuyết định
Ngày có hiệu lực10/10/2007
Nguồn thu thậpCơ sở dữ liệu
Ngày đăng công báo15/10/2007
Cơ quan ban hành / Người kýUBND tỉnh Phú Thọ / Đặng Đình Vượng
Phạm viPhú Thọ
Trích yếuV/v Phê quyệt Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2006 - 2011, định hướng đến năm 2020
Tình trạng hiệu lựcHết hiệu lực toàn bộ

Chưa có thông tin lược đồ

Văn bản này hiện chưa được cập nhật dữ liệu về lược đồ liên quan.