|
ỦY
BAN NHÂN DÂN |
CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 2921/QĐ-UB-THĐN |
TP. Hồ Chí Minh, ngày 08 tháng 09 năm 1994 |
QUYẾT ĐỊNH
BAN HÀNH QUY CHẾ TẠM THỜI VỀ QUYẾT TOÁN VỐN ĐẦU TƯ XDCB, SỬA CHỮA LỚN HOÀN THÀNH.
ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Căn cứ Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ngày 21 tháng 06 năm 1994; Căn cứ Quyết định số 92/TTg ngày 07/3/1994 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường quản lý chống lãng phí, thất thóat và tiêu cực trong đầu tư xây dựng; Căn cứ Thông tư liên bộ số 72/TT-LB ngày 06/12/1991 của Liên Bộ Tài chính – Xây dựng về hướng dẫn chế độ kế toán đơn vị chủ đầu tư và thông tư số 28/TC-ĐT ngày 10/5/1991 của Bộ Tài chính quy định chế độ quyết toán vốn đầu tư khi công trình XDCB hoàn thành; Theo đề nghị của Giám đốc Sở Tài chánh thành phố trong công văn số 727/TC/XDCB ngày 10/8/1994;
QUYẾT ĐỊNH
Điều 1. - Nay ban hành quy chế quyết toán vốn đầu tư XDCB và SCL hoàn thành đối với các công trình sử dụng nguồn vốn ngân sách thành phố.
Điều 2. - Quy chế quyết toán vốn đầu tư XDCB và sửa chữa lớn có hiệu lực kể từ ngày ký.
Điều 3. - Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân thành phố, Giám đốc Sở Tài Chánh, Giám đốc Sở Xây dựng, Giám đốc Ngân hàng đầu tư và phát triển, Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch thành phố, Ban Vật giá thành phố, Chi cục Trưởng Chi cục Kho bạc thành phố, Thủ trưởng Ban, Ngành, Sở thuộc thành phố và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các Quận, Huyện chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.
TM. ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KT.CHỦ TỊCH PHÓ CHỦ TỊCH Vương Hữu Nhơn |
Điều 4. - Chỉ khi hồ sơ quyết toán đã được thông qua và phê duyệt thì mới được thanh toán hết vốn cho công trình.
Chương II
.
Điều 5. - Xác định tổng số vốn thực tế đã đầu tư cho công trình, bao gồm chi phí cho công tác xây lắp, chi phí mua sắm thiết bị và các khoản chi phí kiến thiết cơ bản khác cho các công trình chính, công trình phụ hoặc công trình có liên quan được quy định trong luận chứng kinh tế kỹ thuật hoặc báo cáo kinh tế kỹ thuật.
5. 1 – Tổng số vốn thực tế đầu tư cho công tác xây lắp được xácđịnh căn cứ vào định mức dự toán của từng loại công tác, mứcgiá vật liệu được công bố hàng tháng và bộ đơn giá xây dựng cơ bản thống nhất trên địa bàn thành phố. Phải kiểm tra chặt chẽ sự đúng đắn việc áp dụng đơn giá xây dựng cơ bản, số bù trừ chênh lệch giá và khối lượng thi công trong hồ sơ quyết toán.
5. 2 – Đối với các công trình đấu thầu hoặc chọn thầu, giá trị quyết toán được xác định trên cơ sở trúng thầu tương ứng với khối lượng thực tế thi công phù hợp với thiết kế được duyệt và những quy định cụ thể trong hợp đồng giao nhận thầu. Khối lượng phát sinh trong quá trình thi công chỉ được thanh quyết toán đối với trường hợp có thay đổi thiết kế được Ủy ban nhân dân thành phố phê duyệt. Trường hợp đơn vị dự thầu tính khối lượng lớn hơn khối lượng tính trong thiết kế do tính sai khối lượng, tính trùng lắp nhiều lần… trong thực tế không thực hiện thì khi quyết toán phải xuất toán khối lượng tính sai đó theo đơn giá trúng thầu.
Điều 6. - Xác định đầy đủ giá trị TSCĐ mới tăng, giá trị Tài sản lưu động và phân loại TSCĐ, tài sản lưu động của công trình đã chuyển giao cho đơn vị khác quan lý sử dụng, để hạch toán giảm vốn đầu tư cho công trình chính và tăng vốn cho đơn vị sử dụng.
Điều 7. - Tổ chức phân tích, đánh giá tình hình quản lý, sử dụng vốn đầu tư XDCB, SCL từ công tác chuẩn bị đầu tư, chuẩn bị xây dựng, xây dựng, lắp đặt… đến khi hoàn thành bàn giao công trình đưa vào sử dụng đảm bảo hiệu quả theo luận chứng kinh tế kỹ thuật được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Điều 8. - Hồ sơ báo cáo quyết toán vốn đầu tư công trình hoàn thành bao gồm:
Điều 9. - Hồ sơ báo cáo quyết toán của chủ đầu tư được gởi đến các cơ quan:
Điều 10. - Thời hạn gởi báo cáo quyết toán:
Điều 11. - Thời hạn thẩm tra và xét duyệt quyết toán tối đa là 1 tháng kể từ ngày nhận đủ hồ sơ quyết toán do chủ đầu tư gởi đến.
Chương III
.
Điều 12. - Thành lập Hội đồng quyết toán các công trình xây dựng cơ bản và sửa chữa lớn của thành phố (gọi tắt là Hội đồng quyết toán). Thành phần Hội đồng quyết toán được quy định tại điều 11 trong quyết định số 92/TTg ngày 07/03/1994 của Thủ tướng Chính phủ. Bao gồm:
Điều 13. - Thành lập các tổ quyết toán tại các quận huyện do Trưởng Phòng Tài chánh làm tổ trưởng và bao gồm các phòng Xây dựng, Kế hoạch, chi nhánh Kho bạc tham gia. Tổ quyết toán các công trình XDCB và SCL cấp quận huyện trực thuộc Hội đồng quyết toán thành phố. Hội đồng quyết toán được phép thành lập tổ thư ký giúp việc cho Hội đồng.
Điều 14. - Giám đốc Sở Tài chánh có trách nhiệm phê duyệt quyết toán các công trình XDCB và SCL thuộc nguồn vốn Ngân sách thành phố và trực tiếp thẩm tra các công trình có Báo cáo kinh tế kỹ thuật được duyệt, Hội đồng quyết toán thành phố thẩm tra các công trình có Luận chứng kinh tế kỹ thuật được duyệt, Tổ quyết toán quận huyện thẩm tra các công trình được đầu tư bằng nguồn vốn Ngân sách của quận huyện.
Điều 15. - Ban QLCT có trách nhiệm hoàn tất công việc ghi chép sổ sách kế toán, kiểm tra đối chiếu số liệu, lập hồ sơ quyết toán công trình và chịu trách nhiệm về sự chính xác của số liệu trong hồ sơ quyết toán đó.
Điều 16. - Cơ quan chủ quản có trách nhiệm hướng dẫn, giúp đỡ và kiểm tra đôn đốc ban QLCT trực thuộc thực hiện công việc quyết toán vốn đầu tư theo đúng yêu cầu, nội dung, trình tự và thời hạn theo chế độ quy định. Hàng năm cơ quan chủ quản phải báo cáo tổng số vốn hoàn thành thuộc phạm vi quản lý cho Ủy ban nhân dân thành phố đồng gởi Sở Tài chánh, Ủy ban Kế hoạch thành phố, Cục Thống kê.
Điều 17. - Sở Xây dựng thành phố có trách nhiệm thẩm tra khối lượng đầu tư công trình hoàn thành, kiểm tra hồ sơ nghiệm thu, đánh giá chất lượng công trình, xác định tính hợp lý của khối lượng phát sinh so với hồ sơ thiết kế.
Điều 18. - Ban Vật giá thành phố có trách nhiệm thẩm tra hồ sơ quyết toán chi phí giải tỏa đền bù, kiểm tra việc thực hiện chánh sách giải tỏa đền bù do thành phố quy định, giá cả trong việc mua sắm, sản xuất, gia công hoặc nhập khẩu thiết bị, giá cả vật tư trong trường hợp có khối lượng phát sinh hoặc thay thế vật liệu trong quá trình thi công.
Điều 19. - Chi cục Kho bạc – Ngân hàng Đầu tư và phát triển có trách nhiệm thẩm tra và xác nhận tổng số vốn đầu tư được cấp phát và thanh toán, tham gia với Sở Tài chánh giải quyết các vấn đề tồn tại như công nợ, các khoản bàn giao cho đơn vị khác và thu hồi nộp Ngân sách Nhà nước.
Điều 20. - Sở Tài chánh có trách nhiệm kiểm tra chính xác và đầy đủ về nội dung quyết toán, thẩm tra việc xác định giá trị TSCĐ của toàn bộ công trình cũng như giá trị từng TSCĐ mới tăng. Triệu tập Hội đồng quyết toán để thẩm tra xét duyệt quyết toán các công trình có Luận chứng kinh tế kỹ thuật được duyệt đồng thời trực tiếp thẩm tra và phê duyệt quyết toán các công trình có báo cáo kinh tế kỹ thuật được duyệt.
Điều 21. - Ủy ban Kế hoạch thành phố có trách nhiệm xem xét đánh giá kết quả quá trình đầu tư, phân tích tình hình thực hiện chủ trương đầu tư, các yêu cầu cụ thể trong quyết định phê duyệt Luận chứng kinh tế kỹ thuật, đánh giá tình hình thực hiện mục tiêu đầu tư, năng lực sản xuất mới tăng và hệ số sử dụng TSCĐ; đồng thời tham gia xử lý những vấn đề còn tồn tại trong hồ sơ quyết toán công trình.
Điều 22. - Tổ trưởng tổ quyết toán quận huyện có trách nhiệm tổ chức việc thẩm tra tính chính xác và đầy đủ về nội dung quyết toán các công trình do quận huyện quản lý đồng thời lập tờ trình Giám đốc Sở Tài chánh phê duyệt quyết toán.
Điều 23. - Chi phí hoạt động của Hội đồng quyết toán được tính vào giá trị công trình (có quy định riêng).
Điều 24. - Điều khoản thi hành.