|
UBND TỈNH VĨNH LONG Số: 3141/2004/QĐ-UB |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------------------------- tỉnh Vĩnh Long, ngày 08 tháng 09 năm 2004 |
QUYẾT ĐỊNH
Ban hành kế hoạch thực hiện chương trình hành dộng của Tỉnh ủy về việc thực hiện Nghị Quyết hội nghị Trung ương lần thứ 8 (khóa IX) về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới
________________
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Căn cứ Luật tổ chức Hội đồng Nhân dân và ủy ban Nhân dân ngày 26/11/2003;
- Căn cứ vào Nghị quyết hội nghị Trung Ương lần thứ 8 của Ban Chấp hành TW (khóa IX) ngày 12/7/2003 về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới và Chương trình hành động thực hiện nghị quyết hội nghị Trung ương lần thứ 8 (khóa IX) số: 15-CTr/TU ngày 09/10/2003 của Tỉnh ủy Vĩnh Long.
QUYẾT ĐỊNH
Điều I. Nay ban hành kèm theo quyết định kế hoạch thực hiện chương trình hành động của Tỉnh ủy về việc thực hiện nghị quyết hội nghị Trung Ương lần thứ 8 (khóa IX) về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Điều II. Thủ trưởng các sở, ban ngành tỉnh và Chủ tịch UBND các huyện, thị căn cứ nội dung kế hoạch tổ chức triển khai thực hiện tại cơ quan, đơn vị mình.
Điều III. Các Ông (bà): Chánh Văn phòng UBND tỉnh, Thủ trưởng các sở, ban, ngành tỉnh và Chủ tịch UBND các huyện, thị xã chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.
Quyết định có hiệu lực kể từ ngày ký./.
TM. ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH
CHỦ TỊCH
(Đã ký)
Trương Văn Sáu
KÊ HOẠCH
Thực hiện chương trình hành động của tỉnh ủy về việc thực hiện nghị quyết hội nghị Trung ương lần thứ 8 (khóa IX) về chiến lực bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới
(Ban hành kèm. theo quyết định số: 3141/QĐ.UB ngày 8/9/2004)
_________________
I. ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH KINH TẾ, VĂN HÓA XÃ HỘI VÀ QP-AN:
1. Kinh tế.
Kinh tế tiếp tục tăng trưởng với tốc độ tương đối khá, tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) năm 2001 - 2003 tăng bình quân 7,46%, riêng năm 2003 tăng 8,12%. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ tăng dần, tỷ trọng nông nghiệp giảm. Năm 2000 cơ cấu nông nghiệp - công nghiệp, xây dựng - dịch vụ là 59,20 - 11,93 - 28,87%, đến năm 2003 còn 55,19 -13,70 - 31,10%. Thu nhập bình quân đầu người năm 2000 là 4,26 triệu đồng, đến năm 2003 đạt 5,37 triệu đồng, tăng gấp 1,26 lần.
Nông nghiệp tiếp tục giữ vững tốc độ tăng trưởng theo hướng tăng dần giá trị kinh tế vườn và thủy sản. Bình quân 3 năm 2001 -2003, tăng trưởng nông nghiệp đạt 4,82%. Giá trị sản xuất bình quân 1 ha diện tích canh tác tăng từ 29,2 triệu đồng năm 2000 lên 35,9 triệu năm 2003.
Sản xuất công nghiệp - TTCN có nhiều tiến bộ, giá trị sản xuất công nghiệp giai đoạn 2001 - 2003 tăng bình quân hàng năm 13,84%, trong đó: Quốc doanh tăng 13,08%, dân doanh tăng 13,04%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 36,18%. Giá trị sản xuất (giá cố định 1994) tăng từ 921,19 tỷ năm 2000 lên 359,16 tỷ năm 2003. Tiềm lực công nghiệp tăng khá, nhiều cơ sở sản xuất mới ra đời không những giải quyết việc làm, tăng thu nhập mà còn tạo thuận lợi cho huy động, động viên công nghiệp quốc phòng.
Cơ sở hạ tầng được tăng cường đầu tư nên từng bước hoàn thiện, phục vụ có hiệu quả cóng cuộc phát triển kinh tế - xã hội và quốc phòng an ninh. Đã hoàn thành khôi phục lại 5 tỉnh lộ cũ, hình thành 02 tỉnh lộ mới và sửa chữa, nâng cấp một số đường quan trọng ở thị xã và các thị trấn, tạo mạng lưới giao thông đường bộ thông suốt từ thị xã đến các vùng nông thôn với 76/94 xã có đường ô tô đến trung tâm xã, 676 khu dân cư (chiếm tỷ lệ 76,9%) thông xe 2 bánh cả 2 mùa mưa nắng.
Khu vực dịch vụ phát triển khá cả về cơ sở vật chất, lẫn tốc độ tăng trưởng tạo điều kiện thuận lợi cho phục vụ sản xuất, sinh hoạt và củng cố quốc phòng, an ninh. Giá trị dịch vụ tăng từ 987,69 tỷ năm 2000 lên 299 tỷ năm 2003, bình quân hàng năm tăng 9,56%. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng xã hội tăng bình quân hàng năm 10,64%, giao lưu hàng hóa phát triển mạnh với nhiều chủ thể sở hữu khác nhau cùng tham gia kinh doanh: Mạng lưới chợ được triển khai thực hiện theo quy hoạch tạo nơi buôn bán, trao đổi hàng hóa thuận tiện hơn.
- Tổng thu ngân sách từ năm 2001 đến 2003 là 631 tỷ dồng, tổng chi ngân sách địa phương 2.202 tỷ đồng, tăng bình quân hàng năm 5,5%, bảo đảm được chi thường xuyên, có tích lũy và tập trung cho các mục tiêu đầu tư phát triển, trong đó có nhiều công trình của quốc phòng - an ninh.
2- Lĩnh vực văn hóa - xã hội:
Sự nghiệp giáo dục - đào tạo phát triển cả về qui mô và chất lượng trên tất cả các ngành, cấp học: Mầm non: phổ thông, giáo dục thường xuyên, giáo dục chuyên nghiệp và phổ cập giáo dục.
Công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân được quan tâm, 100% trạm y tế xã được ngói hóa và có bác sĩ phục vụ, trang thiết bị từng bước được bổ sung. Cơ sở y tế được tăng cường bảo đảm cho khám trị bệnh ngày càng tốt hơn và tăng tiềm năng dự trữ huy động phục vụ cho việc bảo vệ ANTQ.
Thông tin liên lạc được hiện đại hóa và phát triển rộng khắp các xã, các điểm dân cư tập trung bảo đảm liên lạc nhanh chóng, kịp thời. Các thiết chế văn hóa phát huy hiệu quả, đời sông văn hóa cơ sở được nâng lên. Hoạt động văn hóa thông tin không những tuyên truyền, phổ biến có hiệu quả đường lốì chủ trương của Đảng và Nhà nước mà còn là vũ khí sắc bén phản bác lại các luận điệu xuyên tạc, nói xấu chế độ của các thế lực phản động. Thực hiện tốt cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư và nếp sống văn minh nơi công cộng đã góp phần hạn chế các tệ nạn xã hội, văn hóa không lành mạnh ở cơ sở. Tính đến nay dã có 429 ấp khóm đạt tiêu chuẩn văn hóa (tỷ lệ 50,7%); 26 xã văn hóa (24,29%); 939 cơ quan, đơn vị văn hóa (72,3%).
Công tác giải quyết việc làm, đào tạo nghề: đã có 5/7 huyện thị có trung tâm dạy nghề và trung tâm dịch vụ việc làm. Hàng năm giải quyết việc làm cho trên 25.000 lao động, góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị xuống còn 4,65% và tăng tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở khu vực nông thôn lên 74,46% năm 2003.
- Thực hiện tốt chính sách đền ơn đáp nghĩa đối với các đối tượng chính sách, người có công với cách mạng, xây dựng quỹ đền ơn đáp nghĩa được quan tâm. Các chính sách xã hội được quan tâm thực hiện, người già cô đơn, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được chăm sóc, nuôi dưỡng: không còn hộ đói, giảm hộ nghèo xuống còn 9.494 hộ chiếm tỷ lệ 4,48% so với toàn tỉnh.
- Các chủ trương, chế độ, chính sách của đảng và nhà nước đối với đồng bào tôn giáo - dân tộc đã được các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể chú trọng trong tổ chức phối hợp thực hiện nên đã đem lại hiệu quả thiết thực, đời sống vật chất của đồng bào tôn giáo - dân tộc đã từng bước được nâng lên, tinh thần yêu nước, đoàn kết dân tộc được nêu cao, niềm tin vào sự lãnh đạo của đảng được củng cố.
3. Quốc phòng - an ninh và trật tự an toàn xã hội:
- Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân từng bước được củng cô', cụm chiến đấu liên hoàn giữa các
huyện, thị, xã, phường và hệ thống kế hoạch chiến đấu được bồ’ sung đồng bộ, kịp thời phù hợp với sự diễn biến của tình hình. Cuộc vận động: Xây dựng cơ sở đảng trong sạch vững mạnh, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, từng bước xây dựng chính quy hơn đã có chuyển biến tích cực trong lực lượng vũ trang. Xây dựng lực lượng dù bị động viên, dân quân tự vệ đạt chỉ tiêu kế hoạch, chất lượng nâng lên. Tuyển quân đạt 100% chỉ tiêu, công tác giáo dục quốc phòng toàn dân, ý thức bảo vệ tổ quốc trong cán bộ, đảng viên và nhân dân được tăng cường.
- Các phương án diễn tập A2, A4 và phòng chống lụt bão ở các cấp tỉnh, huyện thị và xã, phường, thị trấn được duy trì và ngày càng nâng lên, tạo thê chủ động trong các tình huống.
- Chủ động ngăn chặn kịp thời và vô hiệu hóa các tài liệu, sách báo phản động đồi trụy thâm nhập vào trong tỉnh; Thực hiện tốt chính sách tôn giáo, dân tộc, từ đó dã giải quyết tốt các vấn đề có liên quan đến tôn giáo, dân tộc, ngăn chặn, vô hiệu hóa các hoạt động của số cực đoan trong các tôn giáo truyền đạo trái phép, phát triển đạo vào vùng dân tộc Khmer...
- Kịp thời ngăn chặn các hoạt động của số đối tượng cơ hội chính trị, không để hình thành các tổ chức chính trị đối lập. Tăng cường công tác bảo vệ nội bộ, bảo vệ bí mật Nhà nước, bảo vệ mạng lưới viễn thông quốc gia và quản lý tần số, máy phát vô tuyến điện. Tăng cường kiểm tra, phát hiện xử lý các diểm hoạt động văn hóa và giải quyết ổn định các vụ tranh chấp khiếu kiện phức tạp trong nội bộ nhân dân.
Triển khai nhiều biện pháp nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa và liên tục mở nhiều đợt cao điểm tấn công, trấn áp các loại tội phạm, triệt phá nhiều băng nhóm tội phạm theo kiểu "xã hội đen", buôn bán lừa gạt phụ nữ ra nước ngoài, lừa đảo trộm cắp, các tụ điểm mại dâm: ma túy, các nhóm lưu manh côn đồ gây rối trật tự. Đẩy mạnh công tác đấu tranh và xử lý nghiêm khắc những trường hợp tiêu cực, tham nhũng, buôn lậu, nâng cao hiệu quả công tác điều tra xử lý các loại tội phạm.
Thực hiện tốt chức năng quản lý Nhà nước về an ninh trật tự, các kế hoạch liên tịch về phòng, chống tội phạm, giữ gìn trật tự an toàn giao thông, phòng cháy, chữa cháy...
Bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn những mặt tồn tại hạn chế sau:
- Chưa khai thác có hiệu quả các nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế, tốc độ tăng trưởng kinh tế các năm qua thấp hơn một số tỉnh và bình quân khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Chất lượng phát triển kinh tế chưa cao, chưa bền vững hiệu quả và sức cạnh tranh trên thị trường còn yếu, cơ cấu kinh tế chuyển dịch còn chậm, chưa đáp ứng yêu Cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn.
- Kết cấu hạ tầng có bước cải thiện nhưng chưa đồng bộ, chưa đáp ứng được yêu cầu thu hút vốn đầu tư cho phát triển kinh tế - xã hội và củng cô quốc phòng an ninh trong tình hình mới.
- Bộ máy điều hành và quản lý của các ngành, các cấp còn yếu, việc tổ chức triển khai các chủ trương chính sách của Nhà nước còn thiếu chặt chẽ.
- Các vấn đề về xã hội đang còn nhiều bức xúc, tình trạng không có việc làm ở thành thị, thiếu việc làm ở nông thôn còn khá cao.
- Vai trò lãnh đạo của các cấp ủy Đảng đôi lúc chưa được phát huy trong công tác xây dựng lực lượng, nhất là xây dựng lực lượng dự bị động viên và dân quân tự vệ. Công tác phối, kết hợp giữa 2 lực lượng Công an - Quân sự trong việc giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội có lúc chưa dược chặt chẽ.
- Chưa đủ sức kiểm soát được hoạt động của các đôi tượng, tình hình xảy ra đôi lúc chưa nắm bắt kịp thời, quản lý báo chí, xuất bản, in ấn... còn hạn chế, chưa chủ động phát hiện, ngăn chặn việc lưu hành văn hóa đồi trụy phản động, chưa kiểm soát được sách, sản phẩm vàn hóa nghệ thuật trong và từ bên ngoài tuồn về.
- Công tác phòng ngừa, đấu tranh với các loại tội phạm, nhất là tội phạm trộm cắp, cướp giật, hiếp dâm còn xảy ra; công tác phòng ngừa xã hội còn nhiều mặt hạn chế. Tỷ lệ điều tra khám phá các vụ vi phạm pháp luật hình sự còn thấp.
- Công tác tuyên truyền phản lại luận điệu tuyên truyền xuyên tạc của địch chưa thường xuyên, còn rời rạc và thiếu tập trung nên hiệu quả chưa cao. Tình hình tranh chấp trong nhân dân vẫn phức tạp, còn có một số vụ khiếu kiện vượt cấp. Những vụ việc tiêu cực hoặc có dấu hiệu tiêu cực chưa được giải quyết kịp thời gây tư tưởng hoài nghi làm giảm niềm tin đối với sự lãnh đạo của Đảng, chính quyền địa phương.
II. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI, CỦNG CỐ QUỐC PHÒNG AN NINH TRONG THỜI GIAN TỚI:
1. Dự báo tình hình:
Nghị quyết Trung ương 8 tình hình quốc tế trong thời gian tới diễn biến khá phức tạp. Các thế lực hiếu chiến thực hiện chiến lược "Đánh đòn phủ đầu", lợi dụng chống khủng bố để đe dọa chủ quyền của các Quốc gia dân tộc. Sự điều chỉnh chính sách của các nước lớn đặt ra nhiều thách thức đối với ANQG của Việt Nam, Mỹ và các thế lực thù địch tiếp tục thực hiện âm mưu "diễn biến hòa bình" tăng cường các hoạt động tán phát tài liệu phản dộng xuyên tạc, vu cáo; kích động gây rối, bạo loạn lật đổ với quy mô, mức độ ngày càng tăng trên nhiều lĩnh vực. Lợi dụng sự hợp tác, viện trợ nhân đạo hỗ trợ đào tạo, cải cách hành chính, pháp luật... để tăng sức ép về "dân chủ, nhân quyền"; thu thập tình báo, móc nối kết, cài cắm nội gián, tác động chuyển hóa nội bộ, thúc dẩy các nhân tố bên trong làm cho ta "tự diễn biến", "tự sụp đổ"...
Khu vực Đông Nam Á tiềm ẩn những nhân tố mất ổn định, bọn phản động tạo mâu thuẫn sắc tộc và tôn giáo ngày càng gay gắt có khả năng dẫn đến xung đột. Mỹ tiếp tục can thiệp sấu hơn, lôi kéo một sô' nước đi vào quỹ đạo của Mỹ và kìm chế ảnh hưởng của các nước lớn trong khu vực. Tình hình Lào, Campuchia còn nhiều khả thống đoàn kết, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau trong kháng chiến trước đây và trong phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo ngày nay. Là một tỉnh có nhiều tôn giáo (Phật giáo, Công giáo, Cao đài, Hòa hảo, Tin lành) nhưng đại bộ phận người dân có đạo thực hiện tốt nghĩa vụ công dân, xây dựng cuộc sông "tốt đời đẹp đạo".
- An ninh chính trị được giữ vững, trật tự an toàn xã hội có bước tiến bộ. Thế trận quốc phòng toàn dân với an ninh nhân dân được kết hợp chặt chẽ, thế trận lòng dân được củng cố; Phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc, phòng chống tội phạm, xây dựng đời sống văn hóa khu dân cư và nếp sống văn minh nơi công cộng đã phát triển rộng rãi trong tầng lớp dân cư và có hiệu quả cao trong phòng chông các loại tội phạm.
Về mặt khó khăn hạn chế:
- Tăng trưởng kinh tế chưa vững chắc, hiệu quả sản xuâ"t, kinh doanh còn thấp. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và trong nội bộ từng ngành còn chậm và chưa đồng đều. Biến động bất thường của thị trường tiêu thụ sản phẩm, giá cả nguyên vật liệu phục vụ sản xuất và đời sống đã gây ảnh hưởng đến sản xuât và đời sống.
- Kinh tế có phát triển nhưng tốc độ không cao và điểm xuất phát thấp nên GDP bình quân đầu người thấp hơn mức trung bình cả nước và khu vực. Đời sống một sô" bộ phận nhân dân, nhất là trong đồng bào dân tộc Khơmer còn gặp không ít khó khăn.
- Kết cấu hạ tầng có tiến bộ nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế và phục vụ cho quô"c phòng an ninh.
- Một số ngụy quân, ngụy quyền và bọn phản động cũ, mới có hành động xuyên tạc đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, và hoạt động của số chức sắc cực đoan trong tôn giáo; Tình hình tranh chấp khiếu kiện trong nhân dân (chủ yếu về đất đai, áp giá bồi hoàn các nơi giải tỏa...) đã gây cho tình hình thêm phức tạp.
- Thế trận Quốc phòng toàn dân và An ninh nhân dân ở cơ sở chưa toàn diện và vững chắc. Đội ngũ cán bộ cơ sở còn yếu, chất lượng dân quân tự vệ và dự bị động viên còn hạn chế so với yêu cầu nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu trong giai đoạn cách mạng mới.
Công tác đối ngoại chưa được quan tâm đúng mức, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, kiều bào, mở rộng thị trường, tranh thủ vô'n và công nghệ từ bên ngoài cho phát triển kinh tế xã hội còn yếu.
2. Mục tiêu nhiệm vụ:
2.1. Mục tiêu:
Tiếp tục thực hiện định hướng quy hoạch phát triển đến năm 2010 và Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 (Khóa IX) về "Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới" của Tỉnh ủy Vĩnh Long: Giữ vững an ninh chính trị, bảo vệ trật tự an toàn xã hội, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và sự nghiệp đổi mới. Đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân. Tăng cường củng cố chính quyền các cấp, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
2.2. Nhiệm vụ:
Kết hợp chặt chẽ 2 nhiệm vụ chiến lược là xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Xác định sức mạnh nội tại là nhân tố quyết định trong việc xây dựng cơ sở vật chất, tạo nên tiềm lực vững chắc cho củng cô quốc phòng - an ninh. Phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, đồng thời với nhiệm vụ củng cô’ quốc phòng - an ninh. Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, sức mạnh của khối doàn kết toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý điều hành của Chính quyền, tăng cường tiềm lực quốc phòng an ninh, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thê trận an ninh nhân dân vững chắc từ cơ sở.
- Đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa trước hết là công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp và phát triển nông thôn; Thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế để đến năm 2010 GDP trên địa bàn tỉnh tăng lên hơn 2,6 lần, tốc độ tăng bình quân hàng năm 9 - 10%. Đầu tư xây dựng các khu vực trọng điểm, phát triển kinh tế - xã hội gắn với đảm bảo quốc phòng - an ninh, tạo thế phòng thủ vững chắc trên từng địa bàn.
- Củng cố, xây dựng chính quyền co sở vững mạnh về mọi mặt làm cơ sở cho phát triển kinh tế, đảm bảo an ninh chính trị trật tự an toàn xã hội và nâng cao đời sống nhân dân trên từng địa phương, cơ quan, đơn vị. Thực hiện có hiệu quả Chỉ thị 01/TU của Tỉnh ủy về xây dựng đời sống văn hóa khu dân cư và nếp sông văn minh nơi công cộng. Thực hiện tốt các Chính sách tôn giáo, dân tộc và các chương trình phát triển kinh tế - xã hội dành cho đồng bào dân tộc. Ngoài vốn từ các Chương trình mục tiêu quốc gia, huy dộng các nguồn vốn để đầu tư cho các chương trình nhằm nhanh chóng xóa khoảng cách về mức sống của đồng bào dân tộc với mức bình quân chung ở tỉnh.
- Tăng cường tiềm lực, sức mạnh Quốc phòng - An ninh, tiếp tục huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu và xây dựng của lực lượng Quân sự Công an theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện dại. Kết hợp chặt chẽ thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân với sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu chiến lược "Diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ" của các thế lực thù địch, bảo vệ Đảng, nhân dân và chế độ XHCN.
- Bảo đảm kiểm soát được hoạt động của các đối tượng trọng điểm và các loại tội phạm, chủ động xử lý có hiệu quả mọi tình huống xảy ra. Bảo vệ an ninh chính trị nội bộ, giải quyết tốt các vấn đề phức tạp về an ninh xã hội, chủ động phòng ngừa đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch. Không để đột biến, bất ngờ, không để xảy ra bạo loạn, khủng bố tạo cớ cho nước ngoài can thiệp, không để hình thành các tổ chức chính trị đối lập trong nội địa, nội bộ, tiếp tục kiềm chế, từng bước kéo giảm sự gia tăng của tội phạm, đảm bảo trật tự an toàn xã hội, trật tự an toàn giao thông.
- Đẩy mạnh công tác xúc tiếp thương mại, mời gọi nước ngoài đầu tư đi đôi với bảo đảm lợi ích kinh tế - xã hội, ngăn ngừa các âm mưu lợi dụng hợp tác kinh tế, đầu tư để phá hoại kinh tế, an ninh chính trị, văn hóa, tư tưởng và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh.
3. Những giải pháp chủ yếu:
Để thực hiện các mục tiêu, yêu cầu nhiệm vụ trên, thủ trưởng các Sở, ban ngành tỉnh; chủ tịch UBND các huyện, thị tập trung thực hiện những giải pháp chủ yếu sau:
3.1. Kết hợp chặt chẽ việc củng cố xây dựng chính quyền các cáp với bảo vệ chính trị nội bộ.
- Các ngành, địa phương có trách nhiệm thường xuyên củng cố, xây dựng bộ máy quản lý, nhất là ở cơ sở vững mạnh về chính trị, tư tưởng và chuyên môn nghiệp vụ. Bảo đảm sự đoàn kết, trước hết là trong nội bộ, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, suy thoái về dạo đức lối sống, chống tư tưởng cục bộ, bè phái trong và ngoài cơ quan, đơn vị. Kiên quyết bảo vệ vai trò lãnh đạo của các cấp ủy Đảng và sự quản lý của các cấp chính quyền. Nắm chắc các biểu hiện về tư tưởng của cán bộ công chức trong cơ quan, đơn vị mình để ngăn chặn, đấu tranh có hiệu quả với mọi biểu hiện tư tưởng đa nguyên, đa đảng.
- Tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng, giáo dục truyền thông và đẩy mạnh học tập tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác -Lênin để nâng cao quan điểm lập trường chính trị, phòng chống có hiệu quả với các thế lực thù địch đánh phá về tư tưởng, tuyên truyền xuyên tạc chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước.
- Sở nội vụ, UBND huyện, thị xã phối hợp với các cơ quan tổ chức của Đảng khẩn trương hoàn chỉnh công tác quy hoạch cán bộ, nhất là cán bộ cơ sở, tiếp tục thực hiện chủ trương luân chuyển cán bộ gắn với quy hoạch, đào tạo cán bộ kế thừa. Khẩn trương chuẩn bị nhân sự cho Đại hội Đảng các cấp và Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ VIII.
- Quân sự và Công an tỉnh có trách nhiệm phối hợp với các ngành và đia phương xây dựng kế hoạch đào tạo, quản lý, sử dụng lực lượng cán bộ chuyên môn kỹ thuật trong, ngoài Công an, Quân đội để phục vụ Quốc phòng - An ninh trên địa bàn của tỉnh.
- Công an tỉnh có trách nhiệm phôi hợp với các cơ quan có liên quan quản lý chặt chẽ mối quan hệ của cán bộ công chức với các tổ chức, thân nhân ở nước ngoài hoặc đi công tác, học tập ở nước ngoài. Tham mưu, đề xuất với thủ trưởng các cơ quan bô' trí công việc thích hợp cho sô' công chức có lý lịch chính trị chưa rõ ràng hoặc có nhiều vướng mắc về lịch sử chính trị.
- Sở nội vụ có trách nhiệm tham mưu cho UBND tỉnh tổng kết rút kinh nghiệm và hoàn thành cơ chế phôi hợp giữa chính quyền với cấp ủy, các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội, tổ chức nghề nghiệp trong củng cố xây dựng chính quyền các cấp và bảo vệ chính trị nội bộ.
3.2. Huy động mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội đi đôi với đảm bảo an ninh chính trị, tăng cường củng cô quốc phòng và giữ gìn trật tự an toàn xã hội.
- Các ngành, các địa phương có trách nhiệm chỉ đạo thực hiện có hiệu quả chủ trương chuyển dịch cơ câu kinh tế, cơ cấu sản xuất trong từng ngành theo quy hoạch được duyệt nhằm thực hiện thắng lợi các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ VII. Đến năm 2010 giải quyết cơ bản việc làm, không còn hộ nghèo, quan tâm đến các đối tượng chính sách, gia đình neo đơn, đồng bào dân tộc Khơme... để các đối tượng này có cuộc sông ngang bằng với mức bình quân chung của cả tỉnh.
Đẩy mạnh việc xây dựng kết cấu hạ tầng như: Giao thông, thủy lợi, nhà ở, điện, nước sinh hoạt, bưu chính viễn thông ở cả đô thị và nông thôn nhằm phục vụ tốt hơn cho phát triển kinh tế, nâng cao đời sông nhân dân và tạo tiền đề cho củng cố quốc phòng an ninh.
Giải quyết tốt các vân đề xã hội, xóa đói giảm nghèo và bảo đảm trật tự an toàn xã hội ngay trên từng địa bàn. Phối hợp với cơ quan Công an, Quân sự tăng cường củng cố các khu vực phòng thủ xung yếu phù hợp với đặc điểm của từng vùng.
- Sở kế hoạch và đầu tư, Quân sự, Công an tỉnh có trách nhiệm phối hợp với các ngành và địa phương xây dựng các quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội kết hợp với Quốc phòng - An ninh trên địa bàn của tỉnh. Quy hoạch lại hệ thông đường giao thông thủy nội bộ, quy hoạch các tuyến dân cư gắn với quyết tâm phòng thủ, trong đó có quy hoạch các khu công nghiệp quốc phòng.
- Sở công nghiệp, Quân sự và Công an tĩnh chủ trì thực hiện Pháp lệnh động viên công nghiệp trên địa bàn tỉnh. Thực hiện chuyển giao công nghệ sản xuất vũ khí thông thường cho các cơ sở công nghiệp, tiến hành sản xuất chế tạo thử, đưa vào quản lý để phục vụ khi cần. Kết hợp với Nhà máy cơ khí Cửu Long sản xuâ't các loại mô hình mẫu, học cụ, trang thiết bị vừa đảm bảo cho sẵn sàng chiến đấu, phục vụ cho công tác huấn luyện và diễn tập.
- Công an tỉnh chủ trì phối hợp với các ngành có liên quan có trách nhiệm nắm chắc tình hình, phát hiện kịp thời và tham mưu cho UBND tỉnh thực hiện các giải pháp phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng nhằm chủ động đâu tranh có hiệu quả với các âm mưu, ý đồ phá hoại của các lực lượng thù địch. Ngăn chặn kịp thời sự liên kết trong ngoài, kiên quyết không để chúng xâm nhập phá hoại, không để gây rối, bạo loạn, không để móc nôi, tập hợp lực lượng, tạo dựng "ngọn cờ" hình thành các tổ chức đối lập, cho ra đời "Nhà nước CPC-Krom".
3.3. Phát huy sức mạnh toàn dân thông qua thực hiện tốt quy chế dân chủ cơ sở đi đôi với tăng cường trật tự kỷ cương, nâng cao vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp trong sự nghiệp bảo vệ đất nước.
- Các ngành, các địa phương có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức nghề nghiệp, mặt trận tổ qucíc hoạt động nhằm tập hợp quần chúng vào các tổ chức. Thông qua Mặt trận và các tổ chức đoàn thể, tổ chức quần chúng, giáo dục cho quần chúng về trách nhiệm xây dựng và bảo vệ tổ quốc, âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch đối với công cuộc đổi mới ở nước ta.
Tiếp tục mở rộng và nâng cao chất lượng cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư và nếp sống văn minh nơi công cộng" đi đôi với tăng cường thực hiện quy chế dân chủ cơ sở. Phát động nhân dân cảnh giác trước các luận điệu tuyên truyền chiến tranh tâm lý, phòng chống có hiệu quả các loại tội phạm, tệ nạn xã hội, tai nạn giao thông. Chủ động ngăn chặn, vô hiệu hóa mọi âm mưu và hành động của các thế lực thù địch ngay tại địa bàn khóm, ấp.
Phối hợp với các ngành chức năng giải quyết kịp thời các mâu thuẫn, khiếu kiện trong nhân dân, không để dẫn đến gay gắt kéo dài phát sinh thành "điểm nóng" hoặc khiếu kiện vượt cấp.
Thực hiện tốt các quy định về mặt quản lý nhà nước và các chê độ chính sách tôn giáo - dân tộc của Đảng và Nhà nước, luôn đảm bảo sự nghiêm minh, công bằng trong xã hội, kiên quyết đấu tranh với bọn xấu lợi dụng tôn giáo, dân tộc để chia rẽ khôi đại đoàn kết toàn dân nhằm chống lại chế độ.
- Các cơ quan bảo vệ pháp luật có trách nhiệm phối hợp với các địa phương tăng cường thiết lập trật tự kỷ cương, thực thi pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân thực hiện nghĩa vụ công dân và bảo đảm lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân; dồng thời xử lý thích đáng những hành vi cố ý làm trái pháp luật.
- Công an tỉnh và Ban tôn giáo - dân tộc có trách nhiệm chủ trì phối hợp với các ngành và địa phương nắm chắc tình hình diễn biến trong tôn giáo, dân tộc. Kiên quyết đấu tranh ngăn chặn các luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc, nói xấu chê độ, lợi dụng tôn giáo, dân tộc để chống phá cách mạng.
3.4. Bảo vệ an ninh chính trị, an ninh văn hóa và an ninh kinh tế:
Các ngành, các địa phương có trách nhiệm tập trung giáo dục cho cán bộ công chức và quần chúng nhân dân quán triệt, nâng cao nhận thức về đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước đối với sự nghiệp bảo vệ TỔ quốc. Tăng cường đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm vô hiệu hóa các luận điệu, các hoạt động chồng phá về tư tưởng, văn hóa của thế lực thù địch, các phần tử cơ hội.
Thực hiện nghiêm Pháp lệnh bảo vệ bí mật Nhà nước và các biện pháp nhằm bảo vệ an ninh cho phát triển kinh tế. Tài liệu in ấn cung cấp cho hội nghị, hội thảo liên quan với nước ngoài, hình ảnh, tin tức trên các phương tiện thông tin đại chúng các cơ quan chức năng cần được xem xét kỹ trước khi phát hành.
Nâng cao tinh thần cảnh giác trước các hành động mua chuộc, từng bước làm thoái hóa biến chất của các tổ chức, cá nhân thông qua quà tặng, mời tham quan, hội thảo, cộng tác nghiên cứu...
- Sở văn hóa thông tin và Công an tỉnh chủ trì phối hợp với các ngành có liên quan quản lý chặt chẽ các lĩnh vực xuất bản, báo chí, hội thảo nhằm hạn chế những lệch lạc, tiết lộ thông tin nội bộ và thương mại hóa hoạt động văn hóa thông tin. Kiểm soát nghiêm ngặt các loại ấn phẩm, văn hóa phẩm từ nước ngoài đưa vào tỉnh để phòng, tránh việc lợi dụng trao đổi ấn phẩm và văn hóa phẩm cho tuyên truyền xuyên tạc, truyền bá lối sống đồi trụy thực dụng.
- Sở văn hóa thông tin chủ trì phối hợp với các địa phương và các ngành có liên quan nghiên cứu, xây dựng các thiết chế sinh hoạt văn hóa cơ sở phù hợp với sinh hoạt và tập quán của các địa phương để tạo không khí sinh hoạt văn hóa sôi động, lành mạnh và mang bản sắc dân tộc, phòng chống có hiệu quả văn hóa phản động, độc hại từ bên ngoài xâm nhập vào.
- Sở văn hóa thông tin, Công an và Bưu điện tỉnh chủ trì phối hợp với các địa phương và các ngành có liên quan quản lý chặt chẽ các đại lý, thuê bao Internet nhằm hạn chế thông tin, văn hóa phẩm độc hại, phát tán tài liệu tuyên truyền chống phá cách mạng nước ta và tiết lộ thông tin qua mạng.
- Sở giáo dục - đào tạo chủ trì phối hợp với Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh và các ngành có liên quan thực hiện các giải pháp nhằm tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng, lòng yêu nước cho thanh thiếu niên, học sinh và vai trò của tuổi trồ đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quô’c.
- Trường chính trị chủ trì phối hợp với ban tôn giáo Tỉnh ủy và các ngành có liên quan nghiên cứu, biên soạn tài liệu học tập chính trị - tư tưởng, tổ chức các lớp học sát hợp với từng đối tượng, nhất là cán bộ, quần chúng nhân dân ở cơ sở.
- Sở thương mại - du lịch và Công an tỉnh chủ trì phối hợp với các ngành, các địa phương tăng cường công tác đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại, sản xuất, vận chuyển hàng, tiền giả.
3.5. Tăng cường tiềm lực quốc phòng, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân. Tăng cường quản lý của Nhà nước đôi với công tác quốc phòng - an ninh.
- Các ngành, các địa phương có trách nhiệm tổ chức thực hiện tốt Chỉ thị 12/CT và Nghị quyết 21/BCT của Bộ chính trị về phương hướng nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm Quốc phòng - An ninh đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ 2001 -2010 và các Chương trình hành động cụ thể hóa của Tỉnh ủy, các kế hoạch thực hiện của UBND tỉnh.
- Quân sự và Công an tỉnh chủ trì phôi hợp với các ngành và địa phương nghiên cứu, điều chỉnh các kế hoạch, quyết tâm tác chiến, phòng thủ của tỉnh, huyện - thị đúng theo nội dung nghị quyết 02 của Bộ chính trị và chỉ thị 56 của Thủ tướng chính phủ như: A, A2, A4, B sát với tình hình kinh tế - xã hội và chiến lược quốc phòng - an ninh chung gắn với thế trận quốc phòng địa phương trên địa bàn tỉnh, huyện - thị. Điều chỉnh bố trí các đơn vị theo phương án tác chiến của cả thời bình và thời chiến.
- Quân sự và Công an tỉnh chủ trì phôi hợp với Sở kế hoạch và đầu tư, các ngành có liên quan và các huyện, thị xã nghiên cứu đề xuất xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng ở một sô địa bàn trọng điểm gắn với thế trận phòng thủ của tỉnh - huyện. Xây dựng và thực hiện quy hoạch, kế hoạch, các công trình gắn với thế trận quốc phòng - an ninh của tỉnh, nhất là công trình thủy bộ, các khu công nghiệp, cụm tuyến dân cư phải gắn với kế hoạch phòng thủ chung của từng địa bàn.
- Quân sự và Công an tỉnh chủ trì phối hợp với các ngành có liên quan và các huyện, thị xã tiếp tục bổ sung hoàn chỉnh các kế hoạch chuyên ngành và kế hoạch bảo đảm như: Kế hoạch B; kế hoạch xây dựng, huy động và tiếp nhận dự bị động viên; Kế hoạch phát triển lực lượng dân quân tự vệ thời chiến. Xây dựng, bổ sung, điều chính hệ thống kế hoạch sẵn sàng chiến đấu, phòng chống thiên tai địch họa, tập trung vào các phương án phòng chống bạo loạn vũ trang, chống khủng bô...
- Quân sự tỉnh chủ trì tham mưu xây dựng đề án tổ chức biên chế xây dựng cả ba lực lượng: Thường trực, dự bị động viên, dân quân tự vệ, đảm bảo về số lượng, nâng cao về chất lượng, thường xuyên huấn luyện, diễn tập nâng cao khả năng cơ động chiến đấu, ứng phó nhanh trong mọi tình hucíng. Kiến nghị với quân khu đảm bảo vũ khí, trang bị kỹ thuật trên địa bàn trọng yếu, đơn vị sẵn sàng chiến đấu.
- Công an tỉnh có trách nhiệm phôi hợp với các ngành chức năng và địa phương triển khai lực lượng tăng cường quản lý xuất nhập khẩu, quản lý cư trú, đi lại của người nước ngoài, quản lý chặt chẽ hộ tịch, hộ khẩu, tăng cường tuần tra kiểm soát vùng trọng điểm, vùng giáp giới và từng địa bàn dân cư. Chủ động phát hiện và vô hiệu hóa các hoạt động móc nôi, cài cắm, đấu tranh và kiên quyết ngăn chặn bọn phản động lưu vong, các phần tử xấu vào địa bàn tỉnh gây rối, gây nổ, khủng bố. Quản lý chặt chẽ vũ khí, vật liệu nổ, phương tiện kỹ thuật, đảm bảo phục vụ tốt nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu.
- Ban chỉ đạo phòng chống tội phạm, phòng chống ma túy - mại dâm của tỉnh chủ trì xây dựng cơ chế thích hợp để huy dộng sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội vào công tác phòng ngừa, đấu tranh trấn áp các loại tội phạm, nhất là tội phạm ma túy, tội phạm kinh tế, tội phạm có tổ’ chức, tội phạm có yếu tố nước ngoài. Thực hiện có
hiệu quả các giải pháp kềm chế, kéo giảm tệ nạn xã hội, tai nạn giao thông trật tự công cộng.
MỐC THỜI GIAN THỰC HIỆN NHIỆM VỤ QUỐC PHÒNG - AN NINH
- Tháng 9/2004 tổng kết 15 năm xây dựng Tỉnh thành khu vực phòng thủ vững chắc đúng theo nội dung Nghị quyết 02 của Bộ chính trị và chỉ thị 56 của Thủ tướng chính phủ.
- Cấp huyện sáu tháng một lần, cấp tỉnh mỗi năm một lần, phải điều chỉnh kế hoạch A, A2, A4, chống khủng bô' phù hợp với tình hình địa bàn. Năm 2004 điều chỉnh xong các kế hoạch theo chương trình hành động của quân khu.
- Năm 2004-2005 các ngành hoàn thành kế hoạch B (kế hoạch năm đầu chiến tranh) dế' trình cấp thẩm quyền phê duyệt.
- Năm 2004-2007 tập trung triển khai và tổ chức thực hiện: Luật sửa đổi bổ sung một số điều của luật nghĩa vụ quân sự, luật Quốc phòng, luật an ninh quốc gia, luật Công an nhân dân; các pháp lệnh, nghị định bổ sung, sửa đổi liên quan đến lĩnh vực quốc phòng và chỉ thị 16/CT-TW của Ban Bí thư TW khóa IX "về tăng cường sự lãnh đạo của đảng đối với dân quân tự vệ và lực lượng dự bị động viên trong tình hình mới"; Nghị quyết 71/TW về đổi mới nâng cao chất lượng hệ thông chính trị cơ sở, xã, phường, thị trấn và các địa phương, quy hoạch cán bộ quân sự, đào tạo theo chương trình quốc gia; đẩy mạnh giáo dục quôc phòng phù hợp với các đối tượng.
- Từ năm 2007-2010 thực hiện theo mốc thời gian chương trình hành động của Đảng ủy quân khu, của Tỉnh ủy đã xác định.
3.6. Đẩy mạnh công tác liên doanh, liên kết kinh tế với các tỉnh trong vùng và trong cả nước, tăng cường công tác xúc tiến thương mại và đầu tư để tranh thủ vốn và kỹ thuật cho phát triển. Bảo đảm lợi ích và an ninh trong hợp tác quốc tế.
- Sở kế hoạch và đầu tư, Sở thương mại - du lịch chủ trì phối hợp với các ngành và địa phương tăng cường công tác xúc tiến thương mại, kêu gọi đầu tư và đẩy nhanh tiến độ hội nhập tổ chức thương mại Quốc tế (WTO) nhằm mở rộng thị trường, thu hút ngày càng nhiều các nguồn vốn đầu tư, công nghệ trong và ngoài nước vào tỉnh.
- Sở kế hoạch và đầu tư, Sở khoa học và công nghệ, Sở thương mại - du lịch chủ trì phối hợp với các doanh nghiệp trong tỉnh mở rộng việc thực hiện áp dụng các tiêu chuẩn quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế, đăng ký kiểu dáng công nghiệp và thương hiệu hàng hóa nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.
- Sở kế hoạch và đầu tư chủ trì phôi hợp với các ngành có liên quan tham mưu cho UBND tỉnh các chính sách cụ thể về hợp tác, liên kết với các tỉnh trong vùng, về phối hợp kêu gọi đầu tư, xúc tiến thương mại và phân vùng sản xuất, đầu tư phù hợp với thế mạnh vốn có của tỉnh.
- Văn phòng UBND tỉnh chủ trì phối hợp với Liên hiệp các tổ chức hữu nghị tăng cường vận động các tổ chức phi chính phủ tài trợ cho các dự án xã hội, xóa đói giảm nghèo ở tỉnh. Tham mưu đề xuất với UBND tỉnh khuyến khích kiều bào ở nước ngoài đầu tư sản xuất kinh doanh góp phần xây dựng kinh tế tỉnh nhà.
- Công an tỉnh có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với các ngành liên quan thường xuyên bám sát thực tế hợp tác, liên kết với nước ngoài, người nước ngoài đến đầu tư, làm ăn ở tỉnh nhằm phát triển kinh tế xã hội nhưng đồng thời ngăn chặn có hiệu quả việc lợi dụng giao lưu hợp tác để thu thập tin tức tình báo, mua chuộc cán bộ, chuyển hóa tư tưởng, cài cắm, móc nối với các phần tử bất mãn, cơ hội chính trị phục vụ cho âm mưu chống phá Cách mạng nước ta.
III TỔ CHỨC THựC HIỆN:
1. Căn cứ vào kê hoạch của UBND tỉnh, thủ trưởng các sở ban, ngành, chủ tịch UBND huyện, thị xây dựng kế hoạch cấp mình, tổ chức quán triệt và triển khai thực hiện phù hợp từng ngành và từng địa phương.
2. Giám đốc các Sở, Thủ trưởng các cơ quan, Ban ngành, Chủ tịch UBND các huyện, thị trên cơ sở kế hoạch UBND hàng năm và từng giai đoạn, rà soát, điều chỉnh lại quy hoạch tổng thể, quy hoạch chi tiết vùng sản xuất, cụm tuyến dân cư cho phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội gắn với củng cố quốc phòng -an ninh. Xây dựng và điều chỉnh các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội gắn với quốc phòng an ninh, phải có sự tham gia đóng góp ý kiến của cơ quan quân sự và công an.
3. Các thành viên của UBND tỉnh, Thủ trưởng các Sở, Ban ngành, Chủ tịch UBND huyện, thị trên cương vị và chức trách được phân công chỉ đạo, kiểm tra đôn đốc thực hiện theo từng lĩnh vực của ngành mình.
4. Giao cho Tỉnh đội trưởng và Giám đốc công an tỉnh tham mưu cho UBND tỉnh tăng cường công tác kiểm tra, đôn đốc việc kiểm tra thực hiện các nội dung của kế hoạch, kịp thời đề xuất các giải pháp và thực hiện chế độ báo cáo sơ, tổng kết theo quy định; định kỳ sáu tháng, một năm báo cáo về thường trực UBND tỉnh dể có sự chỉ đạo phù hợp với tình hình.