|
UBND TỈNH NGHỆ AN Số: 33/1998/CTUB |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------------------------- tỉnh Nghệ An, ngày 07 tháng 09 năm 1998 |
CHỈ THỊ
Về việc thực hiện nhiệm vụ năm học 1998 - 1999 và đến năm 2000
__________________________________
Năm học 1997 - 1998, năm học đầu tiên triển khai thực hiện NQTW2 của Đảng về giáo dục và đào tạo ; sự nghiệp giáo dục và đào tạo tỉnh nhà đã đạt được kết quả: Mạng lưới trường lớp phát triển rộng khắp các vùng, miền, cơ bản đáp ứng nhu cầu học tập của các tầng lóp nhân dân, số lượng học sinh các cấp học, ngành học tăng nhanh. Việc thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học có chuyển biến ; nề nếp kỷ cương trong trường học có tiến bộ. Sự nghiệp giáo dục đào tạo được các cấp ủy Đảng, Chính quyền và nhân dân chăm lo.Tuy vậy, đối chiếu vứi tinh thần NQTW2 vẫn còn những tồn tại : Triển khai xã hội hóa giáo dục đào tạo chưa mạnh, chưa có biện pháp vững chắc cho giáo dục miền núi ; chất lượng giáo dục giữa các vùng, miền đang có khoảng cách lớn ; giáo dục mũi nhọn chưa tương xứng với tiềm năng tỉnh nhà. Chưa ngăn chặn được tệ nạn xã hội xâm nhập vào nhà trường.Để các cấp, các ngành, các huyện, thành, thị và cơ sở tổ chức thực hiện nhiệm vụ năm học 1998 - 1999 và đến năm 2000 đạt kết quả tốt; Uy ban nhân dân tỉnh nhấn mạnh và lưu ý một số nhiệm vụ trọng tâm sau đây :
1. Tiếp tục triển khai thực hiện NQTW2 (Khóa VIII) Ban chấp hành TW Đảng và chương trình hành động thực hiện NQTW2 của Tỉnh ủy.Giáo dục và đào tạo là sự nghiệp của toàn xã hội, của -tất cả các ngành, các cấp, các đoàn thể, của mọi gia đình và mỗi người dân. Chăm lo đến sự nghiệp giáo dục là chăm lo thiết thực nhất đến sự phát triển của con người. Chủ thể của mọi sáng tạo, mọi nguồn của cải vật chất và văn hóa của đất nước. Với quan điểm trên, các cấp, các ngành, các đoàn thể xã hội cần đánh giá việc thực hiện NQTW2 và chương trình hành động thực hiện NQTW2 của địa phương, ngành mình nêu rõ việc đã làm được, việc chưa làm được, đồng thời đề ra biện pháp cụ thể để tiếp tục thực hiện NQTW2. Trước mắt cần có các chủ trương, biện pháp để bảo đảm kế hoạch phát triển, xây dựng cơ sở vật chất, bố trí đội ngũ giáo viên, cán bộ, ngân sách... cho năm học mới.
2. Giáo dục mầm non.
Tiếp tục phát triển hệ thống giáo dục mầm non phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội và nhu cầu của nhân dân theo các loại hình công lập, bán công, dân lập, tư thục. Ưu tiên cho trẻ 5 tuổi được hưởng chương trình giáo dục mẫu giáo. Mở rộng truyền bá tri thức, kỹ năng nuôi dạy trẻ trong nhân dân. Xóa vững chắc " xã trắng" về giáo dục mầm non.
3. Giáo dục phổ thông.
- Thực hiện phổ cập GDTH-XMC, tiến tới phổ cập GDTH-XMC đúng độ tuổi. Phấn đấu toàn tinh được công nhận đạt tiêu chuẩn quốc gia vào quý 4 năm 1998.
- Mử rộng diện trường, lớp học đủ môn, tăng buổi ở những nơi có điều kiện và nhu cầu học tăng đối với tiểu học. Phấn đấu tăng số lượng trường tiểu học bán trú và đạt chuẩn quốc gia.
- Phát triển mạnh trung học cơ sở, tiến tới thực hiện phổ cập THCS ở thành phố Vinh và một số huyện, phường, xã vùng xuôi trước năm 2000 ; các huyện khác mở rộng số xã đạt chuẩn PCTHCS.
- Phân luồng học sinh sau THCS với các loại hình : PTTH công lập, bán công, dân lập, tư thục, trung học chuyên nghiệp, trung học nghề, BTTH. Từ năm học 1999 - 2000 không tuyển mới các lớp bán công trong trường công lập, chuyển dần một số trường PTTH, THCS công lập sang trường bán công ở thành phố, thị xã và thị trấn nhằm tăng tỷ lệ học sinh ngoài công lập mỗi năm từ 3-5%.
- Các cơ sở giáo dục, các địa phương phải coi trọng bồi dưỡng Mầm non nhân tài. Mầm non nhân tài phải được lựa chọn, bồi dưỡng trên cơ sở giáo dục toàn diện, giáo dục hòa nhập trong cộng đồng. Trường PTTH Phan Bội Châu là trường mũi nhọn tiêu biểu về chất lượng, cần tập trung đầu tư cơ sở vật chất, đội ngũ giáo Viên cho trường PTTH Phan Bội Châu đủ mạnh để làm nòng cốt đào tạo nhân tài. Toàn ngành tập trung chỉ đạo chuyên môn để tạo bước chuyển biến lớn về chất lượng giáo dục, rút ngắn khoảng cách chat lượng giáo dục giữa các vùng, miền, giứa các địa phương.
- Củng cố các trường DTNT tỉnh, huyện và cụm xã, giữ nguyên qui mô trường DTNT tỉnh, mở rộng diện học sinh DTNT huyện và cụm xã theo nhu cầu và khả năng hàng năm từ 7-10%. Mở lớp ở các bản lẻ của vũng sâu, vùng xa tạo điều kiện cho học sinh các dân tộc đi học thuận lợi.
- Giaọ Sở Giáo dục và đào tạo xây dựng đề án giáo viên miền núi theo hướng lấy người ở miền núi dạy cho học sinh miền núi dân tộc, đảm bảo đầy đủ giáo viên vào năm 2000.Chọn giáo viên cho trường dân tộc nội trú tỉnh phải đảm bảo chất lượng ; Trường phải có giáo viên dạy giỏi từ 50% trở lên.
- Chăm lo hom nữa đến việc học tập của thanh thiếu nién là đối tượng hưởng chính sách xã hội và con em các gia đình khó khăn về kinh tế. Quan tâm chăm lo, tạo đều kiện cho trẻ khuyết tật được học tập hòa nhập trong cộng đồng.
4. Chuyên nghiệp.
- Củng cố và tăng cường đầu tư cơ sở vật chất và đội ngũ của trường Cao đẳng sư phạm, hoàn thiện các khoa mới thành lập, từng bước xây dựng để trở thành trường đa cấp, đa hệ đào tạo có chất lượng, đáp ứng nhu cầu giáo viên của tỉnh.
- Từng bước nâng cấp các trường Trung học kinh tế, Trung học văn hóa nghệ thuật, Trung học y tế thành trường cao đẳng.Tiếp tục sắp xếp mạng lưới trường chuyên nghiệp, gắn trường chuyên nghiệp với nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh dịch vụ, chuyển giao công nghệ. Trước mắt hoàn .thiện phương án hợp nhất trường TH Nông lâm và TH Kinh tế; tiếp tục trình Bộ Giáo dục và đào tạo, cho thành lập trường Cao đẳng kinh tế.
- Sở Lao động TBXH phối hợp với Ban TCCQ tỉnh, Sở Giáo dục và đào tạo hoàn thành việc tiếp nhận các trường, các trung tâm dậy nghề ; đưa công tác dạy nghề vào hoạt động có nền nếp, đúng thời gian quy định.
5. Giáo dục thường xuyên.
Tiếp tục thực hiện quá trình đổi mới ngành học, mở rộng hình thức cung ứng các chương trình không chính quy, bổ sung và cập nhật tri thức kỹ năng cho người học, đáp ứng nhu cầu học của mọi người, mọi trình độ.
Nâng cao chất lượng đào tạo tại các trung tâm giáo dục thường xuyên huyện và tỉnh. Sở Giáo dục - đào tạo cần quan tâm về mọi mặt đến các trung tâm giáo dục thường xuyên ở huyện, thành, thị.
6. Kiên trì đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục đào tạo theo nội dung Nghị quyết 90/NQCP của Chính phủ.
UBND các huyện, thành, thị, ngành giáo dục - đào tạo và các ngành liên quan cần xây dựng và triển khai đề án xã hội hóa giáo dục năm học 1998 - 1999 và đến năm 2000 với các nội dung :
- Mở rộng loại hình ngoài công lập cho tất cả các ngành học, bậc học tiến tới đạt mức Nghị quyết 90/NQCP của Chính phủ đã quy định.- Tuyên truyền vận động các tầng lớp nhân dân, các tổ chức xã hội chăm lo đến sự nghiệp GD-ĐT trước hết cho con em gia đình, địa phương .mình.
- Mở hội. nghị xã hội hóa giáo dục các cấp từ cơ sở đến tỉnh ; mỗi cơ sở phải có đề án cụ thể, thiết thực để chãm lo sự nghiệp GD-ĐT.
- Sở GD-ĐT chủ trì phối họp với Sở Tài chính-Vật giá, Ban TCCQ tỉnh tổ chức đợt khảo sát các trường dân lập và dự thảo , các phương án trình UBND tỉnh có quyết định chính sách' đối với các trường ngoài công lập như : mượn đất, vay vốn lãi suất thấp để xây dựng trường sở, chế độ cho cán bộ giáo viên hợp đồng, tuyển dụng mới tham gia các loại bảo hiểm. Chế độ lương, phụ cấp cho cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên nhằm khuyến khích giáo viên trẻ vào giảng dạy ở các trường dân lập và việc trích lập quỹ xây dựng cơ sở vật chất; việc thành lập và tham gia các tổ chức chính trị xã hội theo Luật lao động...
7. Ngành Giáo dục - Đào tạo chỉ đạo việc đổi. mới nội dung và phương pháp giảng dạy, đổi mới việc đánh giá thi cử theo đúng quy chế của Bộ. Vận dụng sát họp VÓỊ tình hình thực tiễn của địa phương nhằm từng bước nâng cao chất lượng dạy và học kể cả chất lượng đại trà cũng như chất lượng mũi họn. Quy định việc học thêm, dạy thêm trong tuần, trong tháng và cả trong thời gian nghỉ hè. Có biện pháp tích cực để ngăn chặn tệ nạn ma túy xâm nhập học đường.
8. Trong khi chờ Luật giáo dục được Quốc hội thông qua, việc phân cấp quản lý giáo dục đào tạo tiếp tục thực hiện theo Quyết định số 307/QĐ-UB ngày 20/1/1997 và 778/QĐ-UB ngày 26/2/1997 của UBND tỉnh.
UBND tỉnh giao Sở GD-ĐT chủ trì, phối hợp vói Ban TCCQ tỉnh, Sở TC-VG có công văn hướng dẫn liên ngành về việc phân cấp quản lý cán bộ giáo viên và quản lý ngân sách giáo dục theo quyết định của UBND tỉnh. Các nội dung liên ngành, chưa nhất trí trình UBND tỉnh giải quyết. Sở Giáo dục - Đào tạo cần thống kê lại đội ngũ giáo viên, phân loại rõ số biên chế, hợp đồng, chờ hưu và có phương án trình UBND tỉnh bố trí hàng năm.
Xây dựng phương án định kỳ bổ nhiệm Hiệu trưởng, Trưởng phòng GD. Năm học 1998 -1999, việc tuyển mới văn thư, thư viện, kế toán, tạp vụ thực hiện chế độ hợp đồng trong lúc chờ đợi xin thêm biên chế Nhà nước.
9. Sở GD-ĐT cùng với Sở KH-ĐT tiếp tục xây dựng kế hoạch phát triển giáo dục đào tạo năm 1998 - 2000 và 2001 - 2005.
Xây dựng kế hoạch đào tạo bồi dưỡng đội ngũ giáo viên các cấp học, ngành học, đảm bảo đến năm 2005 đầy đủ giáo viên các bộ môn, đúng chuẩn vói các ngành cấp học. Các huyện miền núi cao ưu tiên đào tạo giáo viên tại địa phương để sau một thời gian các huyện cơ bản đủ giáo viên ngươi địa phương, nhất là giáo viên THCS và PTTH. Từ năm học 1998 - 1999 không đào tạo và tuyển dụng giáo viên dưới chuẩn. Đối với giáo viên dưới chuẩn đang công tác trong ngành cần có kế hoạch tổ chức bồi dưỡng; đến năm 2000 đối với giáo viên tiểu học, PTTH và năm 2002 đối với giáo viên mầm non và THCS không đạt chuẩn sẽ không bố trí giảng dạy mà chuyển làm nhiệm vụ khác thích hợp. Năm học 1998 - 1999 thí điểm thành lập một số hội đồng bộ môn của PTTH và tiểu học gồm các giáo viên giỏi để làm nòng cốt cho các hoạt động chuyên môn của ngành. Giúp ngành chỉ đạo chuyên môn, nhằm nâng cao chất lượng dạy và học. Đề xuất các giải pháp quản lý chuyên môn trong các nhà trường.
10. Sở GD-ĐT, UBND các huyện, thành, thị chỉ đạo các đơn vị cơ sở giáo dục và UBND các phường xã lập quy hoạch đất đai cho việc xây dựng các trường học theo đúng tiêu chuẩn của Bộ GD-ĐT quy định bình quân 10m2/1 học sinh. Phối hợp với các ngành địa chính làm thủ tục lập địa bạ cho các trường học. Các địa phương cần khai thác các nguồn ngân sách cùng với sự đóng góp của học sinh, cha mẹ học sinh để xây dựng, tu sửa trường sở đảm bảo đủ phòng học, bàn ghế cho năm học mới. Đối với các huyện miền núi cao, UBND các huyện sử dụng nguồn ngân sách chống xuống cấp hỗ trợ chất lợp, xi măng và một phần tiền công; các địa phương huy động vật liệu tại chỗ xây dựng phòng học bằng gỗ vững chắc thay thế dần phòng học bằng tranh tre, nứa lá tạm bợ.
Ủy ban nhân dân tỉnh yêu cầu UBND các huyện, thành, thị, ngành Giáo dục - đào tạo, các ban ngành liên quan, các đoàn thể xã hội và toàn dân triển khai thực hiện Chỉ thị này nhằm thực hiện thắng lợi Nghị quyết TW2 (khóa VIII) - Chương trình hành động thực hiện NQTW2 của Ban chấp hành Đảng bộ đề ra.
Chỉ thị này được phổ biến trong toàn ngành GD và ĐT ; các cấp, các ngành và chính quyền cơ sở.