|
UBND TỈNH NGHỆ AN Số: 36/2004/QĐ-UB |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------------------------- tỉnh Nghệ An, ngày 28 tháng 04 năm 2004 |
QUYẾT ĐỊNH CỦA UBND TỈNH NGHỆ AN
Về việc phê duyệt đề án hỗ trợ hộ nghèo xóa nhà ở dột nát, tạm bợ
____________________
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
Căn cứ Luật Tổ chức HĐND và UBND ngày 26/11/2003;
Xét đề nghị của Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tại Tờ trình số : 1921 TT-LĐTBXH ngày 08 tháng 03 năm 2004, có sự tham gia của Sở KH-ĐT, Sở Tư pháp, Sở Xây dựng về việc xin phê duyệt đề án hỗ trợ hộ nghèo xóa nhà ở dột nát, tạm bợ.
QUYẾT ĐỊNH
Điều 1. Phê duyệt đề án hỗ trợ hộ nghèo xóa nhà ở dột nát, tạm bợ, do Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Nghệ An lập, kèm theo quyết định này.
Điều 2. Căn cứ nội dung đề án, giao Sở Lao động TB và XH chủ trì phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể liên quan, hướng dẫn triển khai thực hiện.
Điều 3. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký; Trong quá trình thực hiện nếu gặp vướng mắc giao Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tổng hợp ý kiến, tham mưu trình UBND tỉnh xử lý.
Các ông: Chánh văn phòng HĐND, UBND tỉnh; Giám đốc các Sở: Lao động - Thương binh và Xã hội, Kế hoạch - Đầu tư, Tài chính, Xây dựng; Thủ trưởng các ban, ngành, đoàn thể liên quan và Chủ tịch UBND các huyện, thành, thị căn cứ Quyết định thi hành.
TM. UBND TỈNH NGHỆ AN
CHỦ TỊCH
(Đã ký)
Nguyễn Thế Trung
ĐỀ ÁN
Chính sách hỗ trợ để xóa nhà ở dột nát, tạm bợ cho hộ nghèo
(Ban hành kèm theo Quyết định số: 36/2004/QĐ- UB ngày 28 tháng 4 năm 2004 của UBND tỉnh Nghệ An)
________________________
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Xóa đói giảm nghèo là mục tiêu kinh tế - xã hội được Đảng và Nhà nước ta quan tâm sâu sắc.
Thời gian quạ, tỉnh ta đã đẩy mạnh công tác xóa đói giảm nghèo một cách toàn diện, đã làm giảm nhanh tỷ lệ hộ nghèo từ 19,75% năm 2000 xuống còn 12,15% năm 2003. Tuy nhiên, số lượng hộ nghèo của tỉnh vẫn còn lớn, trong đó có một bộ phận hộ gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn tập trung nhiều là đồng bào dân tộc thiểu số ở các huyện miền núi.
Một trong những nội dung của chương trình xóa đói giảm nghèo là hỗ trợ để xóa nhà ở dột nát đảm bảo cho hộ nghèo đang là vấn đề rất lớn cần phải được tiếp tục tập trung giải quyết.
Đề án chính sách hỗ trợ xóa nhà dột nát tạm bợ cải thiện nhà ở cho hộ nghèo nhằm huy động mọi nguồn lực, và có cách làm sáng tạo với các giải pháp, chính sách phù hợp từ đó mà nâng cao hiệu quả của chương trình xóa đói giảm nghèo, đảm bảo xóa nghèo một cách bền vững, tiếp tục giảm nhanh tỷ lệ hộ nghèo theo tinh thần Nghị quyết số 10 ngày 24/4/2002 của Ban thường vụ Tỉnh ủy.
Thời gian áp dụng đề án: Trong 2 năm (2004-2005)
II. THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH NHÀ Ở CỦA HỘ NGHÈO
1. Kết quả thục hiện việc hỗ trợ cải thiện nhà ở cho hộ nghèo thời gian qua
-Trên cơ sở tổng họp báo cáo của các huyện, thành, thị từ năm 2000 đến cuối năm 2003 bằng nhiều nguồn lực và nhiều cách làm toàn tỉnh đã hỗ trợ cải thiện nhà ở cho 3.332 hộ gia đình nghèo. Trong đó: Xây dựng nhà mới cho 061 hộ, sửa chữa nhà tạm bợ cho 2.271 hộ.
-Đối tượng các hộ gia đình nghèo được hỗ trợ cải thiện nhà ở bao gồm:
+ Hộ nghèo thuộc diện chính sách có công với cách mạng: 789 hộ
+ Hộ nghèo có người bị nhiễm chất độc hóa học trong chiến tranh: 20 hộ
+ Hộ nghèo thuộc đối tượng hưởng chính sách xã hội thường xuyên, bao gồm: người già cô đơn không nơi nương tựa, trẻ mồ côi, người bị tàn tật nặng có: 289 hộ.
+ Hộ nghèo khác: 234 hộ
-Tổng số kinh phí hỗ trợ xây mới và sửa chữa nhà ở cho các hộ nghèo nói trên khoảng 25,201 tỷ đồng.
Kinh phí hỗ trợ chủ yếu huy động từ các nguồn đóng góp của cộng đồng, bao gồm:
+ Kinh phí được trích từ quỹ "đền ơn đáp nghĩa" dùng cho việc xây dựng và tu sửa nhà tình nghĩa cho hộ có công với cách mạng: 11,841 tỷ đồng.
+ Kinh phí trích từ quỹ "Vì người nghèo" hàng năm là: 6,8 tỷ đồng
+ Huy động từ nguồn đóng góp của các tổ chức đoàn thể chính trị xã hội, các cơ quan, đơn vị doanh nghiệp và các nhà hảo tâm: 6,65 tỷ đồng.
- Mức hỗ trợ kinh phí cho việc làm mới cũng như sửa chữa nhà ở cho các hộ nghèo ở những mức độ khác nhau, chủ yếu phụ thuộc vào khả năng huy động các nguồn kinh phí ở từng địa phương và vùng dân cư. Trong đó đối tượng được tập trung hỗ trợ là các hộ có công với cách mạng thông qua việc vận động xây dựng nhà tình nghĩa, với mức xây dựng mới bình quân từ 10 -12 triệu đồng và hỗ trợ sửa chữa, nâng cấp từ 3 - 5 triệu đồng; Đối với hộ nghèo chủ yếu hỗ trợ sửa chữa, khắc phục tình trạng nhà tạm bợ dột nát mức bình quân từ 1,5 - 3 triệu đồng.
2. Thực trạng nhà ở của các hộ gia đình nghèo hiện nay:
Theo kết quả rà soát, tổng hợp báo cáo từ các huyện, thành, thị tính đến cuối năm 2003 toàn tỉnh đang có 20.802 hộ nghèo cần được hỗ trợ cải thiện nhà ở, chiếm 26,84% so với tổng số hộ nghèo. (Có biểu phụ lục kèm theo).
+ Số lượng các hộ nghèo có khó khản về nhà ở phân theo vùng như sau:
a)Vùng đồng bằng và đô thị: (9 đơn vị) thành phố Vinh, thị xã Cửa Lò, các huyện Hưng Nguyên, Nam Đàn, Nghi Lộc, Diễn Châu, Quỳnh Lưu, Yên Thành, Đô Lương có 5.683 hộ chiếm 14,5% so với tổng số hộ nghèo trong vùng.
b)Vùng miền núi thấp: (4 đơn vị) Thanh Chương, Tân Kỳ, Anh Sơn, Nghĩa Đàn có 4.642 hộ chiếm 27,8% so với tổng số hộ nghèo trong vùng.
c)Vùng miền núi cao (6 đơn vị): Quỳ Hợp , Quế Phong, Quỳ Châu, Kỳ Sơn, Tương Dương, Con Cuông.
Có 10.477 hộ chiếm 48,4% so với tổng số hộ nghèo trong vùng.
+ Phân theo ba nhóm đối tượng như sau: Trong tổng số 20.802 hộ nghèo khó khăn về nhà ở có:
a)Hộ thuộc diện chính sách có công với cách mạng: 753 hộ chiếm 3,06% so với tổng số hộ có nhu cầu về cải thiện nhà ở trong toàn tỉnh.
b)Hộ thuộc diện người già cô đơn không nơi nương tựa, trẻ mồ côi, người bị tàn tật nặng đang hưởng chính sách cứu trợ xã hội thường xuyên theo Nghị định 07/CP của Chính phủ: 776 hộ chiếm 13,34% so với tổng sô' hộ có nhu cầu cải thiện về nhà ở.
c)Hộ nghèo còn lại: 17.273 hộ chiếm 83,6% so với tổng số hộ có nhu cầu cải thiện về nhà ở.
3. Đánh giá chung
a) Về kết quả hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo:
-Phong trào xây dựng quỹ "Đền ơn đáp nghĩa'' và quỹ "Vì người nghèo" phát triển ngày càng sâu rộng được các cấp, các ngành và các tầng lớp dân cư quan tâm ủng hộ đã thu được kết quả khá cao, tạo thêm nhiều nguồn lực cho việc tổ chức hỗ trợ cải thiện nhà ở cho các hộ gia đình chính sách và hộ nghèo;
-Cấp ủy, chính quyền Mặt trận ở nhiều huyện, xã đã có nhận thức đúng đắn về vấn đề hỗ trợ cải thiện nhà ở cho hộ nghèo, đã có các biện pháp chủ động trong tổ chức chỉ đạo, huy động các nguồn lực trên địa bàn cho công tác này một cách có hiệu quả mà tập trung cao là năm 200 Cho đến nay một số huyện nhờ sự nỗ lực tích cực đã giải quyết được khá tốt tình trạng nhà ở tạm bợ, dột nát cho hộ gia đình chính sách người có công và hộ nghèo như: Quỳnh Lưu, Yên Thành, Nam Đàn, Diễn Châu, Thị xã Cửa Lò, Đô Lương, Nghi Lộc, thành phố Vinh, Anh Sơn, Nghĩa Đàn. Một sô' ngành có đóng góp tích cực như: Bưu điện Nghệ An, Ngân hàng Nông nghiệp phát triển nông thôn, Công ty cổ phần XNK Thủ công mỹ nghệ...
-Tuy vậy, phong trào "Vì người nghèo" vận động hỗ trợ cải thiện nhà ở cho hộ nghèo chưa thật sự phát triển rộng khắp trong toàn tỉnh và trong các tầng lớp dân cư. Nguồn lực huy động chủ yếu dựa vào sự đóng góp của cộng đồng, nhiều cơ quan, doanh nghiệp có khả năng nhưng chưa tích cực tham gia và nguồn ngân sách hỗ trợ từ các cấp còn rất thấp. Mức hỗ trợ và phương thức còn chưa thống nhất. Kinh nghiệm được rút ra đối với công tác này là ở đâu được Cấp ủy, chính quyền quan tâm chỉ đạo, có biện pháp huy động phù hợp được sự tham gia chủ động tích cực của Mặt trận, đoàn thể, các ngành, các cơ quan đơn vị và tuyên truyền sâu rộng trong các tầng lóp dân cư để cộng đồng hưởng ứng tích cực và bản thân hộ nghèo tự chủ vươn lên thì phong trào và hiệu quả đạt được càng cao.
b) Khó khăn tồn tại và nguyên nhân:
Số hộ nghèo khó khăn về nhà ở còn nhiều và tập trung chủ yếu ở vùng miền núi cao, địa hình chia cắt, giao thông đi lại không thuận lợi. Trong khi đó điều kiện kinh tế - xã hội lại khó khăn làm hạn chế nhiều đến việc huy động nguồn lực để trợ giúp cũng như tổ chức triển khai thực hiện. Mặt khác thông qua kết quả rà soát thống kê từ các địa phương cơ sở cho thấy đại bộ phận các hộ nghèo có khó khăn về nhà ở sống chủ yếu bằng nghề nông hoặc đi làm thuê, việc làm không ổn định, thu nhập thấp, không có tích lũy. Khả năng tự cải thiện điều kiện nhà ở là rất khó, nếu không có các biện pháp hỗ trợ của Nhà nước và cộng đồng.
Nguyên nhân của những khó khăn tồn tại là:
-Tỉnh ta vốn là một tỉnh nghèo, có cơ cấu dân cư thuộc vùng miền núi và đồng bào dân tộc ít người chiếm tỷ lệ lớn (46 vạn đồng bào dân tộc ít người; 1,2 triệu người ở 10 huyện miền núi) hậu quả của các cuộc chiến tranh còn nặng nề (Với gần 10 vạn người có công với cách mạng); Thu ngân sách chưa đủ chi cho yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
-Nhận thức của một số cấp ủy, chính quyền, đoàn thể, đặc biệt là cấp cơ sở về vấn đề hỗ trợ cải thiện nhà ở cho hộ nghèo còn chưa đúng mức. Vì vậy mà chưa có kế hoạch và các biện pháp tập trung sự chỉ đạo tích cực đối với công tác này.
-Phong trào vận động đóng góp xây dựng quỹ "Vì người nghèo" phát triển chưa đều và rộng khắp trong các ngành, các cấp, các cơ quan đơn vị và các địa bàn dân cư. Chưa có các hình thức vận động phong phú phù hợp với khả năng đóng góp của nhân dân ở từng địa bàn và các cơ quan tổ chức nên kết quả đạt được chưa cao.
-Một số địa phương cơ sở chưa chú trọng đến công tác tuyên truyền vận động tổ chức huy động nguồn lực tại chỗ, động viên sự cố gắng vươn lên của các hộ nghèo trong việc cải thiện nhà ở. Còn nặng tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào chính sách hỗ trợ của Nhà nước và cộng đồng nên kết quả đạt thấp.
III. QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ HỘ NGHÈO XÓA NHÀ Ở DỘT NÁT, TẠM BỢ
A- Quan điểm
-Quan tâm đến việc hỗ trợ các hộ gia đình nghèo xóa nhà tạm bợ dột nát nhằm cải thiện điều kiện sông và đảm bảo xóa đói giảm nghèo bền vững là thể hiện đạo lý truyền thông tốt đẹp của dân tộc, của quê hương và thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa.
-Các cấp ủy Đảng, chính quyền và tất cả các tổ chức trong hệ thông chính trị cũng như toàn xã hội phải có trách nhiệm tham gia vào việc thực hiện chương trình hỗ trợ xóa nhà ở tạm bợ dột nát cho hộ nghèo.
-Thực hiện cơ chế kích cầu nhằm tập trung huy động tối đa các nguồn lực hỗ trợ cho việc xóa nhà ở tạm bợ dột nát của hộ nghèo; Tranh thủ các khả năng huy động
nguồn lực từ bên ngoài để đẩy nhanh tiến độ giải quyết vấn đề nhà ở cho hộ nghèo.
-Thực hiện đa dạng hóa các hình thức huy động nguồn lực và hỗ trợ (Bằng tiền, bằng vật tư nguyên liệu, công lao động...) để giải quyết theo hướng: Bản thân hộ nghèo tự lo, đóng góp giúp đỡ của cộng đồng dân cư, các cơ quan đơn vị doanh nghiệp và sự hỗ trợ một phần từ ngân sách Nhà nước các cấp, từ vốn vay của Ngân hàng chính sách xã hội. Với phương châm: Cân đối nguồn lực (Kinh phí, vật tư, nguyên liệu, công lao động...) ngay tại từng địa bàn xã, phường, thị trấn và huyện, thành, thị. Ngân sách tỉnh và Quỹ vì người nghèo cấp tỉnh chủ yếu ưu tiên hỗ trợ cho các địa phương, miền núi có khó khăn về kinh tế mà còn nhiều hộ nghèo cần hỗ trơ về nhà ở.
-Gắn xã hội hóa với công việc khai hóa chính sách, nguồn lực, đối tượng được hỗ trợ. Tổ chức tốt việc rà soát bình xét dân chủ sát thực từ cơ sở, đảm bảo đúng đối tượng và sự công bằng đoàn kết trong từng địa bàn dân cư, làng xã. Thực hiện ưu tiên theo thứ tự hộ khó khăn hơn làm trước và ưu tiên về mức hỗ trợ cho hộ gia đình có công với cách mạng. Phối hợp tổ chức quản lý chặt chẽ các nguồn kinh phí hỗ trợ theo hướng: Vận động nguồn lực và giám sát việc hỗ trợ qua Mặt trận, cấp phát và quản lý qua chính quyền Nhà nước các cấp.
B- Mục tiêu:
-Tập trung phấn đấu giải quyết cơ bản tình trạng nhà ở dột nát tạm bợ, cho hộ nghèo trên địa bàn toàn tỉnh trong hai năm 2004 - 2005. Trong đó các huyện, thành thị thuộc vùng đồng bằng giải quyết cơ bản xong trong năm 2004.
-Ngân sách và nguồn huy động tập trung của tỉnh chủ yếu hỗ trợ về chất lợp. Diện tích mái lợp được hỗ trợ tối đa cho mỗi hộ gia đình theo nhóm đối tượng:
+ Hộ gia đình chính sách có công với cách mạng: 40m2/hộ
+ Hộ thuộc đối tượng khác: 30m2/hộ
-Năm 2004, tập trung giải quyết xong cho các đối tượng hộ gia đình có công với cách mạng, các hộ gia đình ở vùng đồng bằng và 50% số hộ của vùng miền núi cao và miền núi thấp, tương đương 13.000 hộ, số còn lại giải quyết tiếp trong năm 2005.
C- Giải pháp:
1. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền và vận động phong trào quần chúng:
-Tổ chức phổ biến tuyên truyền rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng về chủ trương chính sách hỗ trợ xóa nhà dột nát tạm bợ, cải thiện nhà ở cho hộ nghèo. Phổ biến sâu rộng chủ trương quan điểm, phương thức và giải pháp tổ chức hỗ trợ để các cấp, các ngành, các cơ quan đơn vị tổ chức quán triệt và thực hiện thống nhất.
-Ủy ban Mặt trận các cấp, các ban ngành đoàn thể phối hợp tuyên truyền đẩy mạnh hơn nữa cuộc vận động xây dựng quỹ "Vì người nghèo" và các hình thức đóng góp hỗ trợ người nghèo cải thiện nhà ở; Duy trì phong trào thường xuyên đồng thời mở các đợt tuyên truyền vận động tập trung cho việc đóng góp xây dựng quỹ vào các thời gian trọng điểm trong năm (Vào tháng 4 và tháng 11 hàng năm). Thông tin kịp thời và công khai trên báo, đài phát thanh truyền hình của tỉnh và các huyện, thành, thị về kết quả vận động xây dựng quỹ, kết quả tổ chức hỗ trợ về nhà ở cho hộ gia đình nghèo.
-Các cấp ủy Đảng, chính quyền đoàn thể phải đưa vào chương trình kế hoạch hành động, phân công cấp ủy viên, cán bộ phụ trách từng địa bàn dân cư, từng nhóm hộ gia đình nghèo, vận động cán bộ đảng viên gương mẫu thực hiện. Rà soát, lập kế hoạch phân chia chỉ tiêu vận động cho các cơ quan, đơn vị trường học, doanh nghiệp, lực lượng vũ trang, các thôn xóm và những người có điều kiện nhận đỡ đầu giúp đỡ trực tiếp việc cải thiện nhà ở cho hộ nghèo.
-Chú trọng quán triệt việc tổ chức thực hiện phải đảm bảo nguyên tắc công khai, dân chủ, bình đẳng, đoàn kết, tổ chức phân loại chính xác đối tượng cần hỗ trợ. Quán triệt phương châm đa dạng hóa hình thức xây dựng và sửa chữa nhà ở để có thể tận dụng được các nguyên, vật liệu và nhân công tại chỗ; Động viên sự cố gắng vươn lên của bản thân hộ nghèo và sự tham gia tích cực của cộng đồng để giải quyết vấn đề nhà ở là chính, Nhà nước chỉ thực hiện hỗ trợ một phần.
2. Mức hỗ trợ từ ngân sách và các nguồn đóng góp tập trung:
2.1. Từ nguồn ngân sách tỉnh hàng năm, nguồn vận động đóng góp quỹ "Đền ơn đáp nghĩa" và "Quỹ vì người nghèo" và các nguồn đóng góp khác từ cộng đồng để hỗ trợ cho các hộ nghèo xây dựng và sửa chữa nhà ở. Mức hỗ trợ áp dụng cho các nhóm đối tượng như sau:
a)Mức hỗ trợ tối đa áp dụng cho các nhóm đối tượng:
-Hỗ trợ cho đối tượng là: Gia đình chính sách có công với cách mạng, bao gồm gia đình liệt sĩ, thương bệnh binh, gia đình có công giúp đỡ cách mạng, gia đình có người bị nhiễm chất độc màu da cam đang hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng, mức hỗ trợ là: 5 triệu đồng/hộ.
-Hỗ trợ cho các đối tượng chính sách xã hội bao gồm hộ người già cô đơn không nơi nương tựa, người bị tàn tật nặng, trẻ mồ côi đang hưởng chính sách cứu trợ xã hội theo Nghị định 07/CP của Chính phủ, mức hỗ trợ là: 3 triệu đồng/hộ.
-Hỗ trợ cho các hộ nghèo khó khăn về nhà ở còn lại là: 2 triệu đồng/hộ
b)Tỉ lệ hỗ trợ (Theo mức quy định trên):
-Đối tượng gia đình có công với cách mạng, gia đình có người nhiễm chất độc hóa học trong chiến tranh và các hộ gia đình thuộc vùng miền núi cao được hỗ trợ 100% theo mức quy định.
-Các đối tượng thuộc vùng miền núi thấp được hỗ trợ 80% theo mức quy định
-Các đối tượng thuộc vùng đồng bằng được hỗ trợ 50% theo mức quy định.
2.2. Cho vay vốn từ Ngân hàng chính sách xã hội và hỗ trợ lãi suất tiền vay:
Ngoài các mức hỗ trợ nói trên các hộ nghèo có nhu cầu được giải quyết cho vay vốn dùng vào việc xây dựng và sửa chữa nhà ờ. Mức vay tối đa là 5 triệu đồng/hộ, thời hạn vay là 5 năm, lãi suất theo quy định của Ngân hàng chính sách xã hội. Tỉnh trích ngân sách để hỗ trợ lãi suất tiền vay theo địa bàn cư trú như sau:
-Các hộ nghèo thuộc vùng miền núi cao: Được hỗ trợ 100% lãi suất tiền vay (Hộ nghèo được vay không phải trả lãi suất).
-Hộ nghèo ở vùng miền núi thấp: Được hỗ trợ 70% lãi suất tiền vay (Hộ nghèo vay trả 30% lãi suất tiền vay).
-Hộ nghèo thuộc vùng đồng bằng và thành thị: Được hỗ trợ 50% lãi suất tiền vay (Hộ nghèo vay trả 50% lãi suất tiền vay).
3. Nguồn kinh phí bảo đảm:
Trên cơ sở mức và tỷ lệ hỗ trợ như trên và số lượng các nhóm đối tượng hộ nghèo đã xác định, dự tính nguồn kinh phí cần cho việc hỗ trợ cải thiện nhà ở hộ nghèo trong 2 năm 2004 - 2005 là: 39,968 tỷ đồng, bao gồm:
-Kinh phí hỗ trợ: 38,668 tỷ đồng
-Kinh phí bù lãi suất tiền vay: 1,3 tỷ đồng
Dự kiến số kinh phí bảo đảm nói trên sẽ được huy động từ các nguồn sau:
+ Trích một phần quỹ "Đền ơn đáp nghĩa" của năm 2004 để hỗ trợ nhà ở cho các hộ gia đình có công với cách mạng: 753 hộ, tương đương 3,765 tỷ đồng.
+ Huy động Quỹ "Vì người nghèo", dự tính 10 tỷ đồng (Mỗi năm vận động thu 5 tỷ đồng). Trên cơ sở tiếp tục đẩy mạnh hơn và nâng mức vận động đóng góp của các cá nhân, tổ chức và giao nhiệm vụ chỉ tiêu cho các Sở, ban, ngành có thụ hưởng ngân sách và các đơn vị doanh nghiệp trực tiếp giúp đỡ một xã chủ yếu ở miền núi cao.
+ Huy động đóng góp của những người và đơn vị hưởng lương từ ngân sách Nhà nước bằng 10% quỹ tiền lương, tương đương 7 tỷ đồng (Mỗi năm 3,5 tỷ đồng).
+ Trích ngân sách tỉnh trong 2 năm: 10 tỷ đồng (Mỗi năm 5 tỷ đồng)
+ Xổ số kiến thiết ủng hộ quỹ "Vì người nghèo" hàng năm: 6 tỷ đồng (Mỗi năm 3 tỷ đồng).
+ Bản thân gia đình hộ nghèo và bạn bè người thân.
+ Nguồn vốn vay được đảm bảo từ quỹ cho vay hộ nghèo của Ngân hàng chính sách xã hội.
Đồng thời UBND tỉnh có phương án trình Chính phủ và các Bộ ngành TW cho Nghệ An được hưởng chính sách hỗ trợ và cho vay hộ nghèo cải thiện nhà ở với lãi suất ưu đãi trả chậm theo tinh thần Thông báo số 111 ngày 5 tháng 8 năm 2003 của Văn phòng Chính phủ.
4. Xây dựng chính sách hỗ trợ:
Trên cơ sở xác định khả năng cân đối nguồn lực cho việc hỗ trợ cải thiện nhà ở đối với hộ nghèo, UBND tỉnh sẽ xây dựng và ban hành chính sách hỗ trợ cụ thể:
a) Đối tượng được hưởng chính sách:
-Hộ nghèo có người đang hưởng chế độ ưu đãi theo quy định của Pháp lệnh líu đãi người hoạt động cách mạng.
-Hộ nghèo có người hưởng chính sách theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ về một số chế độ đối với người bị nhiễm chất độc hóa học trong chiến tranh.
-Hộ nghèo là người già cô đơn không nơi nương tựa; hộ nghèo có người tàn tật nặng, trẻ em mồ côi không có người nuôi dưỡng (từ 2 em trở lên) theo Nghị định số 07/2000/NĐ- CP về chính sách cứu trợ xã hội và Pháp lệnh người tàn tật, Pháp lệnh người cao tuổi.
-Hộ nghèo gặp rủi ro không có khả năng khắc phục, hộ nghèo ở các xã đặc biệt khó khăn thuộc chương trình 135/CP.
b) Điều kiện:
Phải là hộ có khó khăn về nhà ở, cụ thể là:
-Chưa có nhà ở (là hộ chưa có nhà riêng, đang phải ở nhờ nhà người khác).
-Có nhà nhưng nhà còn đơn sơ, tạm bợ (tranh tre, nứa lá) hư hỏng, dột nát, không đảm bảo điều kiện sống, không an toàn.
-Phải là hộ đang sinh sống ổn định tại địa phương (có hộ khẩu thường trú ít nhất là 3 năm trước đó kể từ ngày ban hành chính sách).
-Chưa được hỗ trợ về nhà ở của các chính sách khác.
-Không có điều kiện kinh tế để tự cải thiện về nhà ở, có đơn xin hỗ trợ về nhà ở. Trong đó, phải cam kết sử dụng đúng vốn, vật tư, vật liệu, trả nợ vay đúng hạn, được xóm, làng, bản bảo lãnh và UBND xã, phường xác nhận.
IV- TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Thành lập Ban chỉ đạo ở 3 cấp: Tỉnh, huyện, xã.
1.1 Đối với cấp tỉnh:
Thành phần gồm: Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh làm Trưởng ban, Giám đốc Sở: Lao động TB và XH làm phó ban, các ban ngành: Ban Dân tộc miền núi, Sở Tài chính, Sở Xây dựng, Sở Kế hoạch Đầu tư, Sở Văn hóa thông tin, Đài PTTH tỉnh, Báo Nghệ An, Ngân hàng chính sách xã hội, Hội Phụ nữ, Đoàn TNCS HCM, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh, Liên đoàn lao động.
1.2. Đối với cấp huyện:
Thành phần gồm: Chủ tịch ủy ban Mặt trận Tổ quốc làm Trưởng ban, Phó Chủ tịch UBND huyện làm Phó ban, các thành viên khác của Ban giông như thành phần đối với cấp tỉnh.
1.3. Đối với cấp xã: Thêm thành phần Bí thư hoặc Phó Bí thư Đảng ủy, Phó chủ tịch UBND xã và Bí thư chi bộ, trưởng thôn, trưởng bản, có hộ nghèo cần hỗ trợ nhà ở.
1.4. Ban chỉ đạo hỗ trợ cải thiện nhà ở cho hộ nghèo ở cấc cấp có nhiệm vụ:
-Giúp cấp ủy, chính quyền xây dựng kế hoạch thực hiện đồng thời xây dựng quy chế, nội dung chương trình hoạt động cụ thể; phân công cho từng thành viên trực tiếp phụ trách các địa bàn dân cư để phối hợp chỉ đạo, tăng cường công tác vận động đóng góp quỹ "Vì người nghèo" với việc tổ chức các biện pháp triển khai thực hiện đề án.
-Tổ chức khảo sát tình hình hoạt động, năng lực của các cơ quan, tổ chức, đơn vị doanh nghiệp trên địa bàn tham mưu cho cấp ủy, chính quyền giao chỉ tiêu đảm nhận việc giúp đỡ xây dựng, sửa chữa nhà ở cho các hộ nghèo trên từng địa bàn, chủ yếu là ở các xã vùng miền núi cao.
-Có biện pháp đôn đốc thường xuyên việc tổ chức thực hiện đề án ở từng cấp, định kỳ hãng quý có báo cáo kết quả lên Ban chỉ đạo và UBND cấp trên, sau 6 tháng triển khai thực hiện tổ chức sơ kết và sau mỗi năm có tổng kết đánh giá.
2. Trách nhiệm của các cấp, các ngành
2.1. Đối với cơ sở thôn, xóm, làng, bản:
Thôn xóm, làng, bản là địa bàn cơ sở trực tiếp triển khai thực hiện việc cải thiện nhà ở cho các hộ nghèo có trách nhiệm:
+ Phải tổ chức phổ biến đến từng hộ dân cư trên địa bàn các chủ trương, chính sách của tỉnh về hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo để mỗi hộ gia đình hiểu và ý thức đầy đủ quy định về chính sách, đối tượng và phương châm, nguyên tắc tổ chức hỗ trợ xây dựng và sửa chữa nhà ở. Động viên sự cố gắng vươn lên của bản thân các hộ nghèo kết hợp với sự hỗ trợ của Nhà nước, sự giúp đỡ của cộng đồng, của thôn xóm, làng bản và người thân để tổ chức xây dựng sửa chữa nhà ở.
+ Hướng dẫn các hộ nghèo làm đơn xin hỗ trợ xây dựng, sửa chữa nhà ở. Tổ chức sinh hoạt dân cư khối, xóm bình xét cụ thể công khai điều kiện nhà ở của các hộ gia đình nghèo, lập danh sách và kế hoạch tổ chức hỗ trợ các hộ gia đình trên địa bàn, báo cáo cho UBND cấp xã để tổng hợp lập phương án chung của xã.
+ Tổ chức tiếp nhận kinh phí hỗ trợ và triển khai tổ chức thực hiện việc giúp đỡ các hộ nghèo xây dựng, sửa chữa nhà ở theo kế hoạch và theo sự chỉ đạo của UBND cấp xã. Thường xuyên báo cáo kết quả và tiến độ thực hiện kế hoạch hỗ trợ nhà ở cho Ban chỉ đạo và UBND xã.
2.2 Đối với UBND xã, phường, thị trấn
+ Tuyên truyền, phổ biến các chủ trương,
chính sách cải thiện hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo tại địa phương để dân hiểu, dân bàn, dân bình xét đúng đối tượng và dân ủng hộ thực hiện đúng chính sách.
+ Thẩm định, xét duyệt, danh sách do các xóm, thôn, làng, bản gửi lên
+ Lập kế hoạch cụ thể của xã (số hộ cần hỗ trợ, nguồn vốn hỗ trợ, vốn vay, vốn gia đình tự lo, thời gian thực hiện, hoàn thành, cơ quan ban ngành, cán bộ chịu trách nhiệm phụ trách).
+ Chỉ đạo tổ chức thực hiện kế hoạch khi được huyện phê duyệt (Bao gồm huy động các nguồn lực và chỉ đạo tổ chức thực hiện kế hoạch đã được duyệt).
+ Phê duyệt đơn, ký bảo lãnh vốn vay hỗ trợ từ ngân hàng chính sách xã hội; Tiếp nhận, phân phối chỉ đạo thực hiện vốn cấp hỗ trợ từ nguồn cấp trên đến đúng đối tượng.
2.3. Đối với UBND huyện, thành phố, thị xã.
+ Chỉ đạo UBND xã, phường, thị trấn thực hiện các nội dung công việc phân định như trên.
+ Lập kế hoạch chung toàn huyện, báo cáo Ban chỉ đạo tỉnh phê duyệt và tổ chức chỉ đạo thực hiện kế hoạch; Cân đối nguồn lực trên địa bàn huyện và tiếp nhận phân phối nguồn hỗ trợ từ ngân sách và quỹ "Vì người nghèo" cấp tỉnh cho cơ sở xã, phường, thị trấn.
+ Báo cáo kết quả thực hiện về Ban chỉ đạo tỉnh theo định kỳ (3 tháng, 6 tháng, năm)
+ Kiểm tra, giám sát, điều chỉnh kế hoạch, giải quyết các vướng mắc trong quá trình thực hiện trên địa bàn huyện.
2.4 Đối với các ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh.
+ Ủy ban MTTQ tỉnh chủ trì chỉ đạo phối hợp với các ngành Lao động TB và XH, Ban Dân tộc Miền núi, Kế hoạch đầu tư, Tài chính... các tổ chức chính trị xã hội: Đoàn thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội CCB, Hội Nông dân, Liên đoàn lao động, động viên huy động nguồn lực cộng đồng và thông qua tổ chức đoàn thể của mình để chỉ đạo thực hiện đề án.
+ Sở Lao động TB&XH, Ban Dân tộc Miền núi có trách nhiệm hướng dẫn cụ thể về đối tượng, mức cấp và mức cho vay hỗ trợ cải thiện nhà ở. Tham mưu đề xuất UBND tỉnh phê duyệt phân bổ nguồn vốn hỗ trợ cải thiện nhà ở cho hộ nghèo theo đúng định mức, đối tượng mà UBND tỉnh đã quy định theo cơ chế thống nhất trong toàn tỉnh. Phối hợp với Sở Kế hoạch Đầu tư, Sở Tài chính, Sở Nội vụ khảo sát lập danh sách tham mưu cho Tỉnh ủy, UBND tỉnh giao chỉ tiêu đảm nhiệm việc giúp đỡ xây dựng, sửa chữa nhà ở cho hộ nghèo, chủ yếu cho các xã miền núi cao, đối với các cơ quan, các Sở, ban ngành, các đơn vị thụ hưởng ngân sách Nhà nước và các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh.
+ Sở Kế hoạch Đầu tư, Sở Tài chính có trách nhiệm cân đối vốn, bố trí vốn từ ngân sách địa phương; Hướng dẫn việc sử dụng và
thanh quyết toán ngân sách hỗ trợ cho việc cải thiện nhà ở.
+ Ngân hàng chính sách xã hội chịu trách nhiệm huy động thêm nguồn vốn và phôi họp với UBND các huyện, Ngành lao động TB và XH, Ban Dân tộc miền núi tổ chức cho vay, thu hồi nợ.
+ Sở Văn hóa Thông tin, Đài PTTH, Báo Nghệ An chịu trách nhiệm về công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách về hỗ trợ cải thiện nhà ở cho hộ nghèo của tỉnh, thông tin thường xuyên về kết quả thực hiện chính sách.
+ Sở Xây dựng lập kế hoạch và chỉ đạo các doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng để đáp ứng nhu cầu vật liệu xây dựng cho các cơ sở theo yêu cầu và kế hoạch hàng năm của Ban chỉ đạo.
+ Trên cơ sở nội dung đề án đề nghị HĐND tỉnh có nghị quyết về "Chính sách hỗ trợ cải thiện nhà ở cho hộ nghèo trong 2 hăm 2004 - 2005" và giao nhiệm vụ cho các Sở, ban, ngành, các đơn vị có thụ hương ngân sách và các doanh nghiệp có trách nhiệm đảm nhận giúp một số xã, huyện xây dựng và sửa chữa nhà ở cho hộ nghèo từ kinh phí của đơn vị (Sẽ có danh sách phân công cụ thể và tập trung cho các xã miền núi cao còn nhiều khó khăn).
+ Uy ban nhân dân tỉnh có văn bản trình Chính phủ và các Bộ, ngành Trung ương đề nghị hỗ trợ Nghệ An nguồn kinh phí (Bao gồm cấp ngân sách và tăng vốn vay lãi suất thấp trả chậm từ Ngân hàng Chính sách xã hội để thực hiện đề án theo Thông báo số 111/TB-CP ngày 5 tháng 8 năm 2003 của Văn phòng Chính phủ).
+ Để động viên các tầng lớp nhân dân và nâng cao trách nhiệm của các cấp, các ngành, các cơ quan, tổ chức, đơn vị trên địa bàn trong việc tổ chức chỉ đạo thực hiện chính sách hỗ trợ cải thiện nhà ở cho hộ nghèo, đề nghị Ban
Thường vụ Tỉnh ủy có Chỉ thị để quán triệt và Lãnh đạo nội dung công tác này.
(Ghi chú : Có các bản phụ lục đính kèm)