|
UBND TỈNH HƯNG YÊN Số: 38/2002/QĐ-UB |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------------------------- tỉnh Hưng Yên, ngày 18 tháng 07 năm 2002 |
QUYẾT ĐỊNH CỦA UBND TỈNH HƯNG YÊN
Về việc phê duyệt Chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2002 - 2010 tỉnh Hưng Yên
________________________
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
Căn cứ Luật Tổ chức HĐND và UBND ngày 21/6/1994;
Căn cứ Thông báo số 195/TB-TU ngày 15/5/2002, công văn số 470/CV-TU ngày 5/7/2002 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2002-2010 tỉnh Hưng Yên.
Theo đề nghị của Trưởng Ban tổ chức chính quyền tại Tờ trình số 191/TT-TCCQ ngày 17/6/2002.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1: Phê duyệt chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2002 - 2010 tỉnh Hưng Yên.
Điều 2: Quyết định này có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày ký. Các ông Chánh văn phòng HĐND và UBND tỉnh. Trưởng ban tổ chức chính quyền tỉnh, thủ trưởng các sở, ban, ngành của tỉnh, chủ tịch UBND các huyện, thị xã căn cứ quyết định thi hành./.
T/M UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH
CHỦ TỊCH
(Đã ký)
Nguyễn Đình Phách
TỔNG THỂ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC GIAI ĐOẠN 2002-2010 TỈNH HƯNG YÊN
(Ban hành kèm theo Quyết định số 38/2002/QĐ-UB ngày 18/7/2002 của UBND tỉnh Hưng Yên)
________________________
Căn cứ Quyết định 136/2001/QĐ-TTg ngày 17/9/2001 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010, thực hiện kế hoạch triển khai chương trình cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 -2010 của Ban chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ. Nghị quyết đại hội lần thứ XV của Đảng bộ tỉnh, UBND tỉnh xây dựng chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2002 - 2010 như sau:
I. Khái quát đặc điểm tình hình.
Hưng Yên được tái lập theo Nghị quyết kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa IX, có 9 huyện, 1 thị xã (trong đó có 7 huyện mới được tái lập): có 160 xã, phường, thị trấn.
- Bộ máy hành chính cấp tỉnh được chia tách về 22 sở, ban, ngành; có 11/19 đơn vị sự nghiệp trực thuộc sở, ban, ngành, còn các công ty, xí nghiệp, doanh nghiệp nhà nước, vốn, tài sản, cơ sở vật chất, trang thiết bị chưa được chia tách ngay.
- Đội ngũ cán bộ công chức, viên chức cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp về tỉnh còn ít, chất lượng không đồng đều, có 260/1122 công chức quản lý nhà nước (chiếm 21%) trong đó có 150 người có trình độ đại học trở lên chiếm 58%; có 657/2850 công chức, viên chức đơn vị sự nghiệp (chiếm 23%) có 335 người có trình độ đại học trở lên chiếm 51%. Được sự quan tâm lãnh đạo của tỉnh ủy, sự chỉ đạo điều hành của chính quyền các cấp về tổ chức, biên chế sớm ổn định, bộ máy gọn nhẹ, cán bộ công chức khắc phục khó khăn vươn lên hoàn thành tốt các nhiệm vụ công tác chuyên môn.
- Là tỉnh đồng bằng không có rừng, núi, biển, cửa khẩu, xuất phát điểm thấp về kinh tế và những khó khăn của một tỉnh mới tái lập, được sự quan tâm, chỉ đạo của Trung ương, Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh nỗ lực phấn đấu vươn lên hoàn thành tương đối toàn diện các mục tiêu, nhiệm vụ kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng, đời sống nhân dân ngày được cải thiện.
II. Đánh giá nền hành chính nhà nước của tỉnh từ năm 1997 đến nay.
1. Đánh giá nền hành chính nhà nước trong tỉnh
Thực hiện Nghị quyết Trung ương 3. Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) và Nghị quyết trung ương 7 (khóa VIII), Quyết định số 207/1999/QĐ-TTg ngày 25/10/1999 của Thủ tướng Chính phủ và Thông báo số 165/TB-TU ngày 2/8/2000 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về kiện toàn tổ chức, tinh giản biên chế các cơ quan thuộc UBND tỉnh và UBND huyện, thị xã. Công tác cải cách hành chính của tỉnh từ năm 1997 đến nay đã có những đổi mới, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng.
Về tổ chức bộ máy: Nếu như trước đây việc thành lập bộ máy mới còn mang nặng khuôn mẫu của các tổ chức ngành dọc Trung ương, đến nay đã được thẩm định kỹ lưỡng trên cơ sở ra soát chức năng, nhiệm vụ và khối lượng công việc sẽ đảm nhận. Quy trình thành lập bộ máy mới được tiến hành chặt chẽ, tổ chức nào chưa thật sự cần thiết, chức năng, nhiệm vụ chưa rõ ràng, cơ sở vật chất và nhân sự chưa đáp ứng thì chưa thành lập. Ngược lại tổ chức nào có nhu cầu thiết thực cho việc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh thì sớm được thành lập và tạo mọi điều kiện hoạt động. Cùng với kiện toàn tổ chức đã xây dựng quy chế làm việc, quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ công tác và lề lối làm việc của từng cơ quan, vì vậy:
Chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan hành chính trong tỉnh cơ bản khoa học, chặt chẽ và rõ ràng, ít chồng chéo.
Đề án tổ chức và tinh giảm biên chế của tỉnh đã được Ban chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ thẩm định, tỉnh đã triển khai thực hiện một số nội dung cơ bản của đề án như chuyển Trường Chính trị Nguyễn Văn Linh về tỉnh ủy, chuyển Trường thực hành trong trường Cao đẳng Sư phạm về UBND thị xã và chuyển 02 Trường Phục hồi chức năng Tiên Lữ và Khoái Châu về Sở Lao động - TB&XH quản lý.
Thực hiện Nghị định số 12/2001/NĐ-CP ngày 27/3/2001 của Chính phủ về tổ chức lại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh và UBND huyện, thị xã, đã hợp nhất UB dân số kế hoạch hóa gia đình, Ủy ban Bảo vệ trẻ em của tỉnh thành Ủy ban Dân số, gia đình và trẻ em thành lập ban quản lý dự án các khu công nghiệp, Trường Công nhân kỹ thuật, Trường Trung học y tế, Trường Nghiệp vụ văn hóa thông tin, 04 trường trung học phổ thông, 01 phân hiệutrung học phổ thông, Trung tâm trợ giúp pháp lý và Trung tâm Tư vấn thiết kế thủy lợi. Đối với cấp huyện đã giảm từ 13 phòng xuống còn 10 phòng thuộc UBND huyện và 11 phòng thuộc UBND thị xã, đồng thời xây dựng chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn cho từng phòng.
Đội ngũ cán bộ công chức được tăng cường về số lượng, nâng cao chất lượng, đến 28/2/2002 toàn tỉnh có 13.229 người, trong đó (quản lý nhà nước: 1122 người, sự nghiệp giáo dục: 10.207 người, sự nghiệp y tế: 456 người; sự nghiệp văn hóa thông tin: 242 người; sự nghiệp khác: 202 người). Chất lượng cán bộ công chức được nâng lên, so với năm 1997 đến nay khối quản lý nhà nước cấp tỉnh tăng từ 58% - 68%, cấp huyện tăng từ 50%-53% có trình độ đại học.
Việc quản lý, sử dụng cán bộ công chức thực hiện theo các quy định của Pháp lệnh cán bộ, công chức và Nghị định số 95/CP của Chính phủ; từ khâu thi tuyển ,thị nâng ngạch, khen thưởng, kỷ luật, đào tạo, bồi dưỡng, chế độ chính sách… chế độ tuyển dụng đã loại bỏ thủ tục xin quyết định phân phối học sinh của các trường đại học, cao đẳng, chuyên nghiệp khi tuyển dụng đỡ tốn kém cho nhân dân phải đi lại, chống tiêu cực, tỉnh đã xây dựng chế độ cho cán bộ, công chức đi học nâng cao trình độ và chế độ khuyến khích ưu đãi tài năng, chế độ phụ cấp thêm cho cán bộ y tế cơ sở đi đào tạo bác sỹ … được cán bộ nhân dân trong tỉnh đồng tình ủng hộ.
Tuy nhiên, cải cách hành chính còn hạn chế:
- Một số sở, ngành chưa xây dựng hoặc xây dựng chưa chặt chẽ về chức năng, nhiệm vụ của các phòng chuyên môn, nên trong quá trình thực hiện còn chống chéo và thiếu thống nhất; thủ tục hành chính còn rườm rà, phức tạp.
- Bộ máy hành chính cấp huyện về cơ bản được củng cố kiện toàn, song so với thực tế còn thấp (biên chế bình quân 55 người/huyện) khối lượng công việc nhiều nên ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả và nhiệm vụ chính trị của địa phương.
- Một bộ phận cán bộ công chức thiếu ý chí vươn lên trong học tập, rèn luyện, chất lượng hiệu quả công việc còn thấp, phong cách làm việc chậm đổi mới, chưa sát dân, chưa nắm được những vấn đề nổi cộm trên địa bàn, lúng túng, bị động khi xử lý các tình huống phức tạp.
- Việc đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng, cập nhật cho đội ngũ công chức làm chưa được nhiều, còn dàn trải nên chưa đáp ứng yêu cầu và nâng cao chất lượng.
Nguyên nhân hạn chế:
- Nhận thức của một số cán bộ, công chức về vai trò và chức năng quản lýnhà nước, về xây dựng bộ máy hành chính có lúc, có nơi chưa rõ ràng và thống nhất, nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về tổ chức, bộ máy và chính sách thuộc thẩm quyền nhà nước ban hành đang trong quá trình hoàn thiện.
- Quá trình thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế còn gặp trở ngại, cơ chế cũ “xin - cho” ảnh hưởng đến nếp nghĩ, cách làm của một bộ phận cán bộ công chức.
- Chế độ phụ cấp cho cán bộ, công chức đi học và ưu đãi khuyến khích tài năng ban hành chậm nên chưa tạo được động lực thúc đẩy.
- Cơ quan làm công tác tổ chức cán bộ còn yếu và thiếu, chưa tham mưu kịp thời cho cấp ủy, chính quyền về thực hiện cải cách hành chính ở địa phương.
2. Một số kinh nghiệm ban đầu.
Thực tiễn cải cách hành chính, trên cơ sở kết quả đã đạt được và những hạn chế rút ra:
- Cải cách hành chính là một nhiệm vụ rộng lớn, liên quan đến nhiều lĩnh vực, phải được tiến hành đồng bộ, gắn liền với xây dựng và chỉnh đốn Đảng.
- Kết hợp cải cách hành chính với cải cách kinh tế trong từng bước đi và trong từng lĩnh vực, trên từng địa bàn, tạo sự ăn khớp và thúc đẩy lẫn nhau giữa cải cách hành chính và đổi mới cơ chế quản lý kinh tế.
- Cải cách hành chính là công việc nhạy cảm, khó khăn, đòi hỏi phải có quan điểm, nguyên tắc nhất quán, có chương trình hành động thiết thực, có sự chỉ đạo tập trung, thống nhất với quyết tâm cao của các cấp, các ngành.
- Cải cách hành chính phải được tiến hành đồng bộ từ trên xuống, từ dưới lên, xác định kỹ chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị và nhiệm vụ của từng cán bộ, công chức. Trên cơ sở đó sắp xếp bộ máy theo hướng gọn nhẹ và khoán biên chế và kinh phí hoạt động hành chính ở các cơ quan, đơn vị.
3. Thuận lợi và khó khăn trong cải cách hành chính thời gian tới.
a, Thuận lợi
- Sự chỉ đạo của Chính phủ và các bộ, ngành về cải cách hành chính trong thời gian tới sẽ được tăng cường và đồng bộ, nhiều cải cách về thể chế, cơ cấu tổ chức và mở rộng khoán biên chế và kinh phí hoạt động.
- Tổ chức bộ máy của tỉnh về cơ bản vừa mới được tái lập và luôn kiện toàn, cơ cấu hợp lý, biên chế chưa thật nặng nề.
- Cấp ủy, chính quyền và các cấp đã thường xuyên tập trung chỉ đạo cải cách hành chính nhằm thực hiện có hiệu quả về đề án kiện toàn tổ chức, tinh giản biên chế của tỉnh.
b, Khó khăn
- Nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác tổ chức, bộ máy, chính sách đang trong quá trình hoàn thiện, song một số cán bộ, công chức về nhận thức còn chưa rõ ràng về tổ chức bộ máy, biên chế, cải cách thủ tục hành chính nên vẫn đề nghị thành lập thêm bộ máy mới trực thuộc sở, ngành và tăng biên chế.
- Cải cách thủ tục hành chính trong các lĩnh vực kinh tế, hành chính như chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế quyền sử dụng đất, bảo lãnh thế chấp, góp vốn đăng ký cấp giấy phép chưa được thực hiện mạnhmẽ theo quy định.
- Công tác đào tạo, bồi dưỡng, quản lý đội ngũ cán bộ, công chức chưa chuyển kịp với yêu cầu cải cách hành chính nhà nước, đặc biệt là việc phân cấp quản lý, phân biệt chưa rõ công chức hành chính với công chức sự nghiệp, xác định cơ cấu công chức, tiêu chuẩn nghiệp vụ của ngạch công chức làm còn chậm.
- Công tác quản lý cán bộ còn yếu, còn có cán bộ vi phạm về phẩm chất đạo đức, làm việc thiếu tinh thần trách nhiệm, thiếu tinh thần xây dựng trong đấu tranh tự phê bình và phê bình; nội bộ cơ quan đơn vị có nơi, có lúc chưa thống nhất về phương pháp, cách làm việc ảnh hưởng đến phong trào thi đua chung của đơn vị.
III. Mục tiêu, nguyên tắc của chương trình
1. Mục tiêu
- Cơ cấu tổ chức bộ máy của UBND các cấp yêu cầu gọn nhẹ, hợp lý đảm bảo chất lượng đội ngũ cán bộ theo nguyên tắc quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, thực hiện chứcnăng quản lý nhà nước chủ yếu bằng pháp luật, chính sách, hướng dẫn và kiểm tra thực hiện.
Bổ sung đầy đủ tính chất, cơ cấu tổ chức và chế độ làm việc của chính quyền xã, phường, thị trấn theo quy định của Luật.
- Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đến năm 2010 đảm bảo số lượng, cơ cấu hợp lý, chuyên nghiệp. Cán bộ, công chức có phẩm chất tốt và đủ năng lực thi hành công vụ, thực sự là công bộc của nhân dân.
- Thực hiện nghiêm túc chế độ chính sách về tiền lương của cán bộ, công chức khi được Chính phủ ban hành.
- Thực hiện khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với các cơ quan hành chính nhà nước.
- Xóa bỏ cơ bản các thủ tục hành chính mang tính rườm rà, gây phiền hà cho tổ chức và cá nhân; hoàn thiện các thủ tục hành chính mới theo hướng công khai, đơn giản và thuận tiện.
- Đổi mới quy trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của UBND tỉnh, khắc phục những tồn tại về soạn thảo các văn bản, đề cao trách nhiệm của các cơ quan chuyên môn giúp UBND tỉnh xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật.
- Từng bước hiện đại hóa nền hành chính trong tỉnh. Các cơ quan hành chính có trang thiết bị tương đối hiện đại phục vụ yêu cầu quản lý nhà nước kịp thời và thông suốt, hệ thống thông tin điện tử được đi vào hoạt động.
2. Nguyên tắc
- Đảm bảo sự lãnh đạo toàn diện của Tỉnh ủy, sự chỉ đạo điều hành của UBND tỉnh, sự phối hợp của các cấp, các ngành.
- Cải cách hành chính đặt trong khuôn khổ các quan điểm và chủ trương của Đảng về đổi mới hệ thống chính trị và cải cách bộ máy nhà nước.
- Các chủ trương, giải pháp cải cách hành chính phải gắn chặt chẽ với đối mới kinh tế trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, giữ vững trật tự kỷ cương trong các hoạt động kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nhân dân.
IV. Nội dung của chương trình
1. Kiện toàn và nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức bộ máy hành chính
Thực hiện Quyết định số 207/1999/QĐ-TTg ngày 25/10/1999 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện Nghị quyết hội nghị lần thứ 7 ban chấp hành Trung ương Đảng (Khóa VIII) về “một số vấn đề về tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị và tiền lương, trợ cấp xã hội thuộc ngân sách nhà nước” và các văn bản hướng dẫn của Trung ương, của tỉnh, tập trung và một số nhiệm vụ sau:
- Căn cứ vào quy định của Hiến pháp (sửa đổi) và Luật tổ chức HĐND và UBND (sửa đổi) tiếp tục rà soát chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm chính quyền các cấp về xây dựng bộ máy gọn nhẹ, tăng cường tính chuyên nghiệp, giải quyết nhanh chóng công việc của tổ chức và cá nhân.
- Thành lập bộ máy mới trực thuộc sở, ban, ngành phải đảm bảo nguyên tắc quản lý nhà nước đa ngành, đa lĩnh vực gọn nhẹ, chọn cán bộ công chức phải đảm bảo chất lượng về bằng cấp chuyên môn được đào tạo, phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ, ưu tiên tuyển chọn chuyên gia đầu ngành, tùy đặc điểm của từng sở, ngành phải có đội ngũ cán bộ có trình độ ngoại ngữ để giao dịch và có trình độ tin học bậc cao.
- Tiếp tục bổ sung các nguyên tắc làm việc và quy chế phối hợp trong sự vận hành bộ máy hành chính. Định rõ phận sự, thẩm quyền và trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị về kết quả hoạt động của bộ máy do mình phụ trách.
- Loại bỏ những việc làm hình thức, không có hiệu quả thiết thực, giảm hội họp, giảm giấy tờ hành chính. Nêu cáo trách nhiệm và năng lực giải quyết công việc của tổ chức và cá nhân.
2. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức.
- Tiến hành tổng điều tra nhằm xác định cơ cấu, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức để phục vụ cho kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch cán bộ của tỉnh.
- Chế độ tuyển dụng đảm bảo dân chủ, công khai và đúng tiêu chuẩn theo từng chức danh.Thực hiện quy chế về đánh giá, khen thưởng, kỷ luật nhằm nâng cao chất lượng hoạt động công vụ của cán bộ, công chức.
- Thực hiện công tác quy hoạch đào tạo, bổ nhiệm, luân chuyển cán bộ quản lý nhằm tiêu chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công chức thời kỳ công nghiệp hóa- hiện đại hóa.
+ Lãnh đạo các sở, ban, ngành, UBND các huyện, thị xã có ít nhất 01 bằng đại học chuyên môn, bằng trung cấp chính trị hoặc cao cấp chính trị trở lên, có chứng chỉ cao – trung về quản lý nhà nước. Đến năm 2005 có 02-30% cán bộ lãnh đạo sở, ban, ngành và UBND cấp huyện biết sử dụng máy vi tính, khuyến khích học ngoại ngữ và đến năm 2010 đạt từ 10-15% đạt các tiêu chuẩn trên.
+ Lãnh đạo các trung tâm, phòng, ban thuộc sở, ban, ngành, UBND các huyện, thị xã và khối doanh nghiệp có ít nhất 01 bằng đại học chuyên môn trở lên và đến năm 2005 có từ 30-40% có bằng cao cấp hoặc trung cấp chính trị, có chứng chỉ về quản lý nhà nước, quản lý kinh tế…biết sử dụng máy vi tính, khuyến khích có chứng chỉ một số ngoại ngữ và đến năm 2010 có 70-80% cán bộ đạt các tiêu chuẩn trên.
+ Đảm bảo cơ cấu công chức hành chính chuyên môn có từ 70-80% có 01 bằng đại học chuyên môn trở lên và đến năm 2005 có từ 20-30% có bằng trung cấp chính trị trở lên, chứng chỉ quản lý nhà nước hoặc quản lý kinh tế… biết sử dụng máy vi tính, đến năm 2010 có 60-70 cán bộ đạt các tiêu chuẩn trên.
- Đối với công chức một số sở, ngành như Văn phòng HĐND và UBND tỉnh, Kế hoạch và Đầu tư, Thương mại và Du lịch, Khoa học công nghệ và Môi trường, Văn hóa Thông tin, Y tế, Giáo dục và Đào tạo, Nông nghiệp và PTNT… mỗi đơn vị có ít nhất 1 cán bộ công chức thành thạo một ngoại ngữ để giao dịch.
+ Công chức các đơn vị sự nghiệp y tế, giáo dục và đào tạo, văn hóa thông tin, thể thao đảm bảo tiêu chuẩn và cơ cấu công chức theo quy định của Chính phủ và của tỉnh. Đối với công chức chưa đạt tiêu chuẩn về chuyên môn, yêu cầu phải đào tạo, đào tạo lại và thực hiện theo Nghị quyết 16/NQ-CP của Chính phủ về tinh giảnbiên chế (có đề án riêng của các sở, ngành).
- Thực hiện bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm và luân chuyển cán bộ.
+ Việc bổ nhiệm và bổ nhiệm lại cán bộ quản lý khối nhà nước, đơn vị sự nghiệp phải đảm bảo tiêu chuẩn đúng quy trình quy định của Trung ương, của Tỉnh ủy và UBND tỉnh.
Thực hiện bổ sung có thời hạn: 5 năm đối với cán bộ quản lý thuộc diện Tỉnh ủy quản lý, cán bộ thuộc diện ban Cán sự Đảng UBND tỉnh quản lý và cán bộ quản lý cấp trưởng, phó phòng thuộc sở, ban, ngành, UBND các huyện, thị xã.
Bổ nhiệm lại phải căn cứ vào kết quả đánh giá cán bộ, nếu là cán bộ hoàn thành nhiệm vụ trong thời gian giữ chức vụ còn đảm bảo các điều kiện, tiêu chuẩn và yêu cầu nhiệm vụ trong thời gian tới thì làm quy trình bổ nhiệm lại và báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét quyết định.
+ Thực hiện miễn nhiệm chức vụ cán bộ quản lý khi cán bộ trong thời gian đương nhiệm xin từ chức, cán bộ hết thời gian giữ chức vụ nhưng khôn gđủ điều kiện bổ nhiệm lại như không hoàn thành nhiệm vụ, mất uy tín, sức khỏe yếu. Đối với Giám đốc, Phó giám đốc, kế toán trưởng các doanh nghiệp thực hiện theo quy định Luật Doanh nghiệp và quy chế dân chủ và để làm ăn thua lỗ 2 năm liền không còn tín nhiệm cán bộ công nhân viên chức trong doanh nghiệp.
+ Thực hiện luân chuyển cán bộ theo Chỉ thị 11/CT-BCT của Bộ chính trị và văn bản hướng dẫn của Tỉnh ủy.
- Thực hiện thường xuyên, nề nếp cơ chế nhân dân tham gia xây dựng và giám sát cán bộ để xây dựng bộ máy chính quyền các cấp trong sạch vững mạnh.
3. Chế độ tiền lương, chính sách đãi ngộ và tinh giản biên chế.
- Thực hiện tốt quy định của tỉnh về chế độ phụ cấp cho cán bộ, công chức đi học và chế độ khuyến khích ưu đãi tài năng để tiếp nhận những người thuộc diện trên hàng năm bổ sung cho một số sở, ban, ngành, UBND các huyện, thị xã thay người nghỉ chế độ, chuyển công tác đi nơi khác…
Đối với sinh viên là người địa phương tốt nghiệp đại học chính quy bằng loại khá, học đúng chuyên ngành đào tạo, phẩm chất đạo đức tốt, phù hợp với nhu cầu công việc của đơn vị thì áp dụng chế độ hợp đồng có thời hạn theo quy định của Luật Lao động để bổ sung cho các đơn vị sự nghiệp thuộc sở, ban, ngành và UBND các huyện, thị xã. Trước mắt tuyển chọn những chuyên ngành đang cần như kỹ sưtrồng trọt; kỹ sư cầu, đường bộ; kiến trúc sư; bác sỹ chuyên khoa phẫu thuật, bác sỹ nội khoa; những sinh viên tốt nghiệp đại học ngoại ngữ chính quy, thông thạo ngoại ngữ để giao dịch. Các vận động viên cấp kiện tướng về bóng chuyền, Benkatsinat. Tỷ lệ hợp đồng từ 5-7% so vơi số biên chế sự nghiệp trực thuộc sở, ngành, trong thời gian làm hợp đồng nếu rèn luyện, công tác tốt và được bồi dưỡng thêm kiến thức cần thiết có thể xem xét tuyển dụng thay thế số cán bộ, công chức nghỉ hưu, chuyển công tác khác…
- Thực hiện Quyết định 192/2001/QĐ-TTg ngày 17/12/2001 của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư hướng dẫn liên Bộ: Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ và Bộ Tài chính về việc mở rộng khoán thí điểm biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với các cơ quan hành chính nhà nước.
Trên cơ sở làm điểm Sở Tài chính - Vật giá, Ban Tổ chức chính quyền tỉnh, UBND huyện Khoái Châu rút kinh nghiệm nhân ra diện rộng. Đến năm 2003 cơ bản hoàn thành việc khoán kinh phí quản lý hành chính. Tổ chức đổi mới và nâng cao hiệu quả của các doanh nghiệp nhà nước, làm điểm một số doanh nghiệp rút kinh nghiệm nhân ra diện rộng.
- Tiếp tục thực hiện Nghị quyết 16/2000/NQ-CP ngày 18/10/2000 của Chính phủ về việc tinh giản biên chế trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp theo đề án về sắp xếp tổ chức, tinh giản biên chế của tỉnh đã được Ban chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ thẩm định.
4. Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức.
- Đánh giá lại công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, xây dựng và triển khai kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng theo từng loại; cán bộ, công chức làm nhiệm vụ tham mưu; cán bộ, công chức ở các ngạch hành chính, sự nghiệp và cán bộ chính quyền cấp xã.
- Các cơ sở đào tạo bồi dưỡng của tỉnh tiếp tục đổi mới nội dung chương trình và phương thức đào tạo, bồi dưỡng, chú trọng nâng cao kiến thức, kỹ năng hành chính theo chức trách nhiệm vụ của cán bộ, công chức đang đảm nhiệm.
- Hàng năm có kế hoạch đào tạo cán bộ kế cận quản lý các cấp về công tác quản lý, về tin học và ngoại ngữ, cán bộ cử đi học phải đảm bảo năng lực, phẩm chất đạo đức, tuổi từ 30 đến 40 tuổi (đối với cán bộ quản lý cấp phòng); từ 40 đến 45 tuổi (đối với cán bộ, cấp sở, ban, ngành)
- Kết hợp đào tạo chính quy với hình thức đào tạo không chính quy, đào tạo trong nước và gửi đi đào tạo nước ngoài. Khuyến khích cán bộ, công chức tự học.
- Thực hiện tốt công tác đào tạo cán bộ xã, phường, thị trấn theo kế hoạch hàng năm của tỉnh.
5. Nâng cao tinh thần trách nhiệm và đạo đức cán bộ, công chức
- Tăng cường các biện pháp giáo dục cán bộ, công chức về tinh thần trách nhiệm, ý thức tận tâm, tận tụy với công việc. Xây dựng tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp, tôn vinh nghề nghiệp và danh dự của người cán bộ, công chức.
- Thực hiện quy chế công vụ (khi được ban hành), gắn với thực hiện quy chế dân chủ trong hoạt động cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp.
- Đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng. Thực hiện chế độ kiểm toán và các chế độ bảo vệ cộng sản và ngân sách nhà nước.
6. Cải cách tài chính công
- Thực hiện đổi mới cơ chế phân cấp quản lý tài chính và ngân sách, đảm bảo tính thống nhất của hệ thống tài chính quốc gia, đồng thời phát huy tính chủ động sáng tạo và trách nhiệm của địa phương và các ngành trong việc điều hành, thực hiện tài chính và ngân sách.
- Bảo đảm quyền quyết định ngân sách địa phương của HĐND cấp huyện và cấp xã tạo điều kiện cho chính quyền địa phương chủ động xử lý các công việc ở địa phương theo quy định của pháp luật.
- Từng bước đổi mới cơ chế phân bổ ngân sách cho các cơ quan hành chính theo hướng dẫn của Trung ương, tăng cường kiểm soát đầu ra, chế độ chi tiêu theo mục tiêu của cơ quan hành chính.
- Đổi mới cơ bản về cơ chế tài chính đối với khu vực dịch vụ công.
+ Xây dựng quan niệm đúng về dịch vụ công, nhà nước có trách nhiệm chăm lo đời sống vật chất và văn hóa cho nhân dân, nhưng không phải vì thế mà mọi công việc về dịch vụ công đều do cơ quan nhà nước trực tiếp đảm nhận. Trong từng lĩnh vực định rõ những công việc mà nhà nước phải đầu tư và trực tiếp thực hiện, những công việc cần phải chuyển để các tổ chức xã hội đảm nhận.
Nhà nước có các chính sách, cơ chế tạo điều kiện để doanh nghiệp, tổ chức xã hội và nhân dân trực tiếp làm các dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống dưới sự hướng dẫn, hỗ trợ và kiểm tra, kiểm soát của cơ quan hành chính nhà nước.
+ Thực hiện Thông tư hướng dẫn số 25/2002/TT-BTC ngày 21/3/2002 của Bộ Tài chính về thực hiện Nghị định số 10/2002/NĐ-CP ngày 16/1/2002 của Chính phủ về chế độ tài chính áp dụng cho đơn vị sự nghiệp có thu.
+ Khuyến khích các nhà đầu tư trong nước, nước ngoài đầu tư phát triển các cơ sở đào tạo dạy nghề, cơ sở chữa bệnh chất lượng cao ở thị xã, khu công nghiệp theo quy định của pháp luật.
+ Thực hiện cơ chế khoán một số dịch vụ công cộng như: Vệ sinh đô thị, cấp thoát nước, cây xanh, công viên, phục vụ nông nghiệp… trên cơ sở làm điểm rút kinh nghiệm nhân ra diện rộng.
+ Thực hiện cơ chế hợp đồng một số dịch vụ công trong các cơ quan hành chính theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP.
7. Đổi mới quy trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Tiếp tục rà soát và hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật theo từng lĩnh vực do UBND tỉnh ban hành. Loại bỏ những vản bản không còn hiệu lực hoặc chồng chéo, trung lặp.
Tổ chức tham gia có hiệu quả vào quá trình xây dựng pháp luật, bằng việc lấy ý kiến đóng góp của các tầng lớp nhân dân vào các dự án Luật, văn bản pháp quy theo các quy định.
Bảo đảm việc tổ chức thực thi pháp luật nghiêm minh của cơ quan nhà nước, của cán bộ, công chức như:
+ Cung cấp cho cán bộ, công chức đầy đủ về thông tinvề chính sách pháp luật của nhà nước để vận dụng, giải quyết công việc theo chức trách, thẩm quyền.
+ Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, chế độ thông tin cho nhân dân về chủ trương, chính sách nhà nước, của chính quyền địa phương, chế độ cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở địa phương, định kỳ gặp gỡ đối thoại và giải quyết các vấn đề do nhân dân và các doanh nghiệp đặt ra.
+ Phát huy hiệu lực, hiệu quả của thiết chế thanh tra, kiểm tra để bảo đảm hiệu lực quản lý, giữ gìn kỷ cương xã hội.
+ Mở rộng dịch vụ tư vấn pháp luật cho nhân dân, cho người nghèo. Tạo điều kiện cho luật sư và các chuyên gia thuộc lĩnh vực chuyên môn hoạt động tư vấn có hiệu quả theo pháp luật.
- Tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính:
+ Tiếp tục cải cách thủ tục hành chính nhằm đảm bảo tính pháp lý và hiệu quả về các thủ tục xây dựng cơ bản theo quy định luật, về giải quyết các đơn thư khiếu nại tố cáo của công dân theo quy định luật. Thực hiện quy chế dân chủ trong hoạt động của cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp và doanh nghiệp trong hoạt động cơ quan đơn vị, xóa bỏ những quy định không cần thiết về cấp phép; trong công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm soát, kiểm dịch, giám định không được chồng chéo.
Trên cơ sở học tập rút kinh nghiệm ở một số tỉnh, thành phố, từng bước thí điểm và nhân rộng cơ chế “một cửa” trong việc giải quyết công việc ở các cơ quan hành chính trong tỉnh. Các cơ quan hành chính thực hiện niêm yết công khai, đầy đủ mọi thủ tục, trình tự, lệ phí, lịch công tác tại trụ sở làm việc.
+ Thực hiện cơ chế kiểm tra cán bộ, công chức về việc tiếp nhận và giải quyết công việc của dân, xử lý nghiêm người có hành vi sách nhiễu, hách dịch, vô trách nhiệm, khen thưởng người hoàn thành xất sắc nhiệm vụ được giao.
8. Thực hiện từng bước hiện đại hóa nền hành chính.
Triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động chỉ đạo, điều hành của hệ thống hành chính nhà nước, áp dụng các công cụ, phương pháp quản lý tiên tiến, hiện đại trong các cơ quan hành chính phấn đấu đền năm 2010 các cơ quan hành chính có trang thiết bị tương đối hiện đại, cơ quan hành chính cấp xã có mạng tin học diện rộng của Chính phủ được thiết lập tới cấp xã.
V. Tổ chức thực hiện.
Chương trình tổng thể cải cách hành chính chia làm 2 giai đoạn:
1. Giai đoạn 1 (2002-2005)
a, Từ nay đến 31/12/2002:
- Tiếp tục thực hiện việc rà soát chức năng, nhiệm vụ, xã định cơ cấu tổ chức và thực hiện tinh giản biên chế theo Quyết định số 207/1999/QĐ-TTg ngày 25/10/1999 và Nghị quyết số 16/2000/NQ-CP ngày 18/10/2000 của Chính phủ.
- Xây dựng chính sách bổ sung kinh phí của địa phương để hỗ trợ hành chính cho việc giải quyết chế độ cho cán bộ, công chức nằm trong diện tinh giản biên chế.
- Thực hiện thí điểm khoán biên chế và kinh phí hoạt động hành chính ở một số cơ quan: Sở Nông nghiệp và PTNT, Sở Công nghiệp và UBND huyện Khoái Châu để rút kinh nghiệm và nhân ra diện rộng.
- Thực hiện có hiệu quả chế độ đối với cán bộ, công chức đi học, chính sách khuyến khích ưu đãi tài năng. Thủ trưởng các đơn vị căn cứ vào nhu cầu công việc của cơ quan để tiếp nhận những người thuộc đối tượng ưu đãi tài năng để báo cáo cơ quan có thẩm quyền xem xét quyết định, tránh gây phiền hà trong tiếp nhận người.
Đối với sinh viên tốt nghiệp đại học chính quy bằng khá đã nêu ở trên UBND tỉnh sẽ thể chế hóa về mặt tiếp nhận.
- Hàng năm thực hiện tốt việc xây dựng quy hoạch về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức và cán bộ chính quyền cấp xã.
- Xây dựng và thực hiện đềán ứng dụng công nghệ tin học trong hoạt động cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp.
b, Từ 01/01/2003 đến 31/12/2005:
- Tổ chức thực hiện chương trình cải cách tiền lương theo hướng dẫn của Trung ương.
- Xây dựng và thực hiện chương trình đổi mới công tác xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
- Xây dựng và thực hiện đề án nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan đơn vị, xác định biên chế của từng cơ quan, dựa trên cơ sở tiêu chuẩn, cơ cấu cán bộ, công chức.
2. Giai đoạn 2 (2006-2010)
Trên cơ sở kết quả đã đạt được trong giai đoạn 1, UBND tỉnh sơ kết và tiếp tục điều chỉnh, hoàn chỉnh làm cho bộ máy các cơ quan hành chính nhà nước phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, thực hiện mục tiêu chung của chương trình tổng thể cải cách hành chính.
3. Phân công trách nhiệm:
- Ban tổ chức chính quyền tỉnh là cơ quan thường trực giúp UBND tỉnh tổng hợp và thực hiện chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2002-2010, có trách nhiệm phối hợp với các ngành, các cấp trong tỉnh để thực hiện các nội dung của chương trình. Có trách nhiệm chính trong việc xây dựng và triển khai thực hiện các nội dung của chương trình.
- Sở Tài chính - Vật giá có trách nhiệm cấp kinhphí cho việc xây dựng và triển khai các chương trình đề án nêu trên và phối hợp với Ban Tổ chức chính quyền tỉnh. Văn phòng HĐND và UBND tỉnh, các sở, ngành có liên quan triển khai thực hiện khoán kinh phí và tinh giản biên chế.
- Sở Khoa học công nghệ và môi trường chủ trì phối hợp với Văn phòng HĐND và UBND tỉnh và các ngành có liên quan xây dựng và triển khai nhiệm vụ hệ thống thông tin điện tử.
- Sở Tư pháp có trách nhiệm chủ trì xây dựng tổ chức thực hiện phối hợp với Văn phòng HĐND và UBND tỉnh, các ngành có liên quan tiếp tục cải cách hành chính, rà soát hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật.
- Sở Kế hoạch và Đầu tư (thường trực Ban chỉ đạo đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước) phối hợp với các sở, ngành liên quan xây dựng phương án tổ chức thực hiện được UBND tỉnh phê duyệt.
- Các sở, ban, ngành, UBND các huyện, thị xã căn cứ vào nội dung của Chương trình tổng thể cải cách hành chính của tỉnh báo cáo cấp ủy Đảng cùng cấp chỉ đạo và xây dựng chương trình triển khai thực hiện trong đơn vị.
Cải cách hành chính là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, là công việc làm thường xuyên. Vì vậy, các cấp, các ngành triển khai thực hiện tốt chương trình tổng thể này. Hàng quý báo cáo kết quả triển khai về UBND tỉnh (qua Ban Tổ chức chính quyền tỉnh để tổng hợp chung). Trong quá trình triển khai thực hiện ở cơ sở có gặp vướng mắc báo cáo về UBND tỉnh để xử lý, giải quyết kịp thời./.