|
UBND TỈNH GIA LAI Số: 42/2004/QĐ-UB |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------------------------- tỉnh Gia Lai, ngày 08 tháng 04 năm 2004 |
QUYẾT ĐỊNH
CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
Về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển sự nghiệp chăm sóc sức khoẻ nhân dân Gia Lai giai đoạn 2001 - 2010
________________________
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Căn cứ điều 10 Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 2003;
- Xét Quy hoạch phát triển sự nghiệp chăm sóc sức khoẻ nhân dân Gia Lai giai đoạn 2001 - 2010 do Sở Y tế Gia Lai trình tại tờ trình số 74/TT-UB ngày 06/1l/2003;
- Xét đề nghị của Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư tại tờ trình số 97/TT -KH ngày 29 tháng 3 năm 2004,
QUYẾT ĐỊNH
Điều 1: Phê duyệt Quy hoạch phát triển sự nghiệp chăm sóc sức khoẻ nhân dân Gia Lai giai đoạn 2001 - 2010 với những nội dung chủ yếu sau:
I/ MỤC TIÊU
1. Mục tiêu chung:
Tạo cơ hội để mọi người dân được hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ ban đầu (CSSKBĐ), có điều kiện tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế có chất lượng. Phấn đấu mọi người đều được sống trong cộng đồng an toàn, phát triển tốt về thể chất và tinh thần. Giảm tỷ lệ mắc bệnh, nâng cao thể lực, tăng tuổi thọ và phát triển giống nòi.
Từng bước thực hiện công bằng và chất lượng dịch vụ cao trong các hoạt động khám chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ.
2. Mục tiêu cụ thể:
2. 1.Tạo điều kiện để đồng bào các dân tộc trong tỉnh dễ dàng tiếp cận với các dịch vụ y tế, đảm bảo mọi người dân được chăm sóc sức khoẻ (CSSK) và được khám chữa bệnh (KCB) khi ốm đau.
2. Đảm bảo công bằng và hiệu quả trong CSSK giảm bớt sự chênh lệch về tình trạng sức khoẻ giữa các khu vực trong tỉnh, giữa người nghèo và người giàu.
2. 3. Khống chế, tiến tới loại trừ các bệnh dịch lưu hành như sốt rét, dịch hạch, các bệnh xã hội như lao, phong, bướu cổ,...
2. 4. Mở rộng và nâng cao chất lượng dịch vụ y tế cơ bản, triển khai có trọng điểm dịch vụ khám chữa bệnh kỹ thuật cao, phát triển y học cổ truyền, thường xuyên kiện toàn và phát huy tốt hiệu quả của mạng lưới y tế cơ sở (YTCS).
2. 5.Thực hiện có kết quả các chương trình y tế quốc gia như sốt rét, suy dinh dưỡng (SDD), phòng chống bướu cổ, đảm bảo đủ thuốc thiết yếu cho công tác phòng và chữa bệnh cho nhân dân.
II/ NHIỆM VỤ CHỦ YẾU
1. Về y tế dự phòng:
- Khống chế các bệnh truyền nhiễm gây dịch trên địa bàn tỉnh: không để dịch xảy ra, phát hiện sớm, điều trị kịp thời các trường hợp xâm nhập, không để bệnh lan rộng, giảm tỷ lệ mắc bệnh trên 100.000 dân đối với các bệnh tả, dịch hạch, thương hàn, sốt xuất huyết, viêm não virut ...
- Duy trì tỷ lệ tiêm chủng mở rộng (TCMR) 8 loại vắc xin đầy đủ ở mức cao từ 95% trở lên, đạt mục tiêu loại trừ uốn ván sơ sinh và khống chế bệnh sởi; tỷ lệ phụ nữ có thai được tiêm phòng uốn ván từ 90% trở lên.
- Thực hiện an toàn truyền máu ở tất cả các bệnh viện trong tỉnh. Đảm bảo sàng lọc 100% HIV cho các túi máu trước khi truyền. Thực hiện quản lý giám sát người bị nhiễm HIV/AIDS ở 100% thành phố, thị xã, huyện. Tăng cường giáo dục truyền thông về tình dục an toàn, phòng chống ma tuý, mại dâm, phòng chống các bệnh lây truyền đường tình dục trong các cộng đồng.
- Khống chế không để dịch xảy ra, phát hiện bệnh và điều trị bệnh kịp thời. Giảm tỷ lệ mắc sốt rét trong 100.000 dân từ 354,34 hiện nay xuống 000 vào năm 2005 và 500 vào năm 2010. Giảm tỷ lệ chết trên 100.000 dân từ 0,94 (năm 2002) xuống 0,70 vào năm 2005 và 0,50 vào năm 2010.
- Phấn đấu đạt tỷ lệ số cơ sở sản xuất lập hồ sơ vệ sinh lao động trong tỉnh lên 70% vào năm 2005 và 90% vào năm 2010.
- Đến năm 2005 tăng tỷ lệ số hộ gia đình sử dụng nước sạch lên đến 30% và tỷ lệ có hố xí hợp vệ sinh gấp 2 lần hiện nay. Đến năm 2010 đảm bảo 80% số hộ gia đình được sử dụng nguồn nước ăn sạch, an toàn và 70% số hộ gia đình có hố xí hợp vệ sinh.
Tới năm 2005 mạng lưới y tế học đường được thiết lập ở 60% số trường tiểu học, trung học cơ sở, 50% số trường phổ thông trung học. Năm 2010 - 90% các trường trung học, tiểu học trong tỉnh có nhân viên y tế hoạt động thường xuyên để CSSK học sinh.
- Đảm bảo chất lượng Vệ sinh an toàn thực phẩm.
2. Về chăm sóc sức khỏe BMTE/KHHGĐ:
- Tới năm 2005 nâng tỷ lệ bà mẹ có thai được quản lý thai nghén đạt 70%, tỷ lệ bà mẹ có thai được khám thai trên 3 lần đạt 60%, tỷ lệ tiêm 2 mũi uốn ván ở bà mẹ có thai đạt trên 85%. Tới năm 2010 các tỷ lệ trên tương ứng là 90%, 80% và 90%.
- Tới năm 2005 tỷ lệ phụ nữ có thai đẻ do cán bộ y tế đỡ đạt 80%, năm 2010 đạt trên 90%.
- Tới năm 2005 có 60% số bà mẹ được thăm khám sau đẻ, 50% được thăm khám từ 2 lần trở lên vào năm 2010 các chỉ số tương ứng là 70% và 60%.
- Vào năm 2005 có trên 70% số cặp vợ chồng áp dụng biện pháp tránh thai hiện đại, đến năm 2010 trên 80%. Giảm 50% số phụ nữ sinh con thứ 3 vào năm 2005 và 80% số phụ nữ sinh con thứ 3 vào năm 2010 so với năm 2000.
- Duy trì hàng năm trẻ em đạt tỷ lệ TCMR ở mức trên 95%.
- Giảm tỷ lệ tử vong trẻ em dưới 1 tuổi xuống còn 40% vào năm 2005, 35% vào năm 2010; tử vong trẻ em dưới 5 tuổi xuống 50% vào năm 2005 và 45% vào năm 2010.
- Giảm tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng xuống dưới 35% vào năm 2005 và dưới 30% vào năm 2010. Giảm tỷ lệ trẻ đẻ ra thấp cân dưới 500g xuống còn 8% vào năm 2005 và xuống dưới 7% vào năm 2010.
3. Về khám chữa bệnh (KCB):
Tăng số giường bệnh bệnh viện trong địa bàn toàn tỉnh từ 1.600 giường bệnh năm 2002 (bao gồm cả giường của ngành khác, không kể quân đội) lên. 1.850 giường bệnh vào năm 2005 và 2.200 giường bệnh vào năm 2010 (không tính số giường bệnh tại trạm y tế xã). Nâng cao chất lượng KCB, chỉ số giường bệnh ở các bệnh viện khu vực tỉnh Gia Lai bình quân cho 10.000 dân là 15,45 vào năm 2005 và 15,8 giường bệnh vào năm 2010.
- Tăng gấp đôi số người nghèo được KCB qua bảo hiểm y tế (BHYT) và gấp ba số người nghèo được điều trị nội trú bệnh viện vào năm 2005 so với năm 2000. Vào năm 2010 tất cả người nghèo (1.000%) và người thuộc diện cận nghèo ở trong tỉnh được nhà nước đảm bảo KCB dưới các hình thức hỗ trợ khác nhau.
- Tới năm 2005 triển khai KCB BHYT tại 80% trạm y tế xã và năm 2010 - 100%
- Phát triển mạng lưới Cấp cứu - Vận chuyển cấp cứu (VCCC): Thành lập 3 Trung tâm VCCC gắn vào 2 bệnh viện đa khoa khu vực và 1 bệnh viện tỉnh vào năm 2005. Tới năm 2005: 100% số bệnh viện trong tỉnh có khoa cấp cứu hồi sức và có bác sĩ được huấn luyện về cấp cứu hồi sức, 50% số trạm y tế xã có y bác sĩ được huấn luyện bổ túc về cấp cứu hồi sức. Năm 2010 100% số xã, 50% số thôn làng có nhân viên y tế được huấn luyện cấp cứu hồi sức hoạt động.
- Phát triển ứng dụng chuyên môn kỹ thuật y học hiện đại, công nghệ thông tin trong KCB, đào tạo chuyên gia và nhân lực y tế.
4. Về phòng chống các bệnh xã hội:
Phát hiện sớm bệnh nhân phong và điều trị kịp thời phản ứng phong. Khống chế tỷ lệ bệnh lưu hành xuống dưới 25/100.000 dân tới năm 2005 và dưới 20/100.000 dân tới năm 2010.
- Khống chế tỷ lệ mắc và chết do lao ở mức thấp trong các tỉnh Tây Nguyên (dưới 100 ca mắc và dưới 1 ca chết trong 100.000 dân) vào năm 2005. Năm 2010 giảm 50% tỷ lệ mắc và chết do lao so với năm 2005.
5. Về phát triển y dược học cổ truyền:
- Nâng cấp bệnh viện y học cổ truyền (YHCT) tỉnh thành một trung tâm điều trị, nghiên cứu khoa học, đào tạo cán bộ y học cổ truyền của toàn tỉnh và của khu vực Tây Nguyên gồm 150 giường vào năm 2010.
- Tới năm 2005: 100% các Bệnh viện Đa khoa khu vực (ĐKKV), bệnh viện huyện có khoa YHCT. Tới năm 2010, 100% các Phòng khám ĐKKV và 80% trạm y tế xã có ứng dụng KCB bằng YHCT.
6. Về phục hồi chức năng người tàn tật:
- Thành lập khoa phục hồi chức năng (PHCN) ở 100% ở bệnh viện tỉnh và các bệnh viện ĐKKV, bệnh viện huyện tới năm 2005.
- Triển khai chương trình PHCN dựa vào cộng đồng ở 80% số huyện, 30% số xã phường vào năm 2005; ở 100% số huyện và 50% số xã phường vào năm 2010.
- Đào tạo cán bộ ngành PHCN cho 100% số bệnh viện, 50% số phòng khám ĐKKV, 30% số trạm y tế xã tới năm 2005. Tỷ lệ trên vào năm 2010 tương ứng là 100% 100% và 50%.
7. Về phát triển ngành Dược và TTB y tế:
- Khẩn trương đào tạo cán bộ ngành Dược thuộc các trình độ khác nhau: dược tá, dược sĩ trung học, dược sĩ đại học và trên đại học, đảm bảo cân đối giữa lưu thông, phân phối, sản xuất dược phẩm.
- Tới năm 2005 bệnh viện đa khoa tỉnh được trang bị CT-scanner, máy siêu âm màu, hiện đại hóa thiết bị phòng mổ, hồi sức cấp cứu, xét nghiệm sinh hóa huyết học. Tới năm 2010 bệnh viện đa khoa tỉnh thực hiện được 50% số phẫu thuật thuộc loại đặc biệt và loại I.
- Tới năm 2005 có 100% các bệnh viện ĐKKV và bệnh viện huyện được trang bị máy X-Quang, máy siêu âm chẩn đoán, thiết bị hồi sức cấp cứu, xét nghiệm sinh hóa, huyết học, ô tô cứu thương,... Năm 2010 mở rộng trang bị như trên xuống các phòng khám ĐKKV, phòng khám đa khoa cụm liên xã.
8. Về phát triển hệ thống y tế và nhân lực:
Tăng tỷ lệ bác sỹ/10.000 dân lên 4,0 vào năm 2005 và 5,6 vào năm 2010.
Tăng số cán bộ y tế trung bình trong mỗi xã phường từ mức 3,25 nhân viên y tế (2002) lên 4 nhân viên y tế/trạm vào năm 2005 và 6 nhân viên y tế vào năm 2010.
Tăng tỷ lệ trạm y tế xã (TYT) có bác sĩ từ mức 17,4% (năm 2002) lên 40% vào năm 2005 và 60% vào năm 2010. Tăng tỷ lệ TYT xã có NHS hoặc y sĩ sản nhi lên 80% vào năm 2005 và 90% vào năm 2010.
Tạo cơ cấu hợp lý về nhân viên y tế giữa các tuyến tỉnh, huyện, xã; giữa trình độ và chuyên môn được đào tạo về y, dược, các ngành chuyên môn kỹ thuật khác, về tỷ lệ trên đại học, đại học, trung học và sơ cấp.
Đến năm 2005 tỷ lệ số thôn, làng có nhân viên y tế hoạt động đạt 100% (năm 2002 đã đạt 84,3%).
Nâng cấp Trường Trung học y tế tỉnh thành Trường Cao đẳng Y tế.
Điều 2: Giao cho Sở Y tế Gia Lai chịu trách nhiệm quản lý lưu trữ tài liệuQuy hoạch phát triểnsự nghiệp chăm sóc sức khoẻ nhân dân Gia Lai giai đoạn 2001 - 2010 để khai thác sử dụng có hiệu quả. Công khai hoá quy hoạch này cho các huyện, thành phố, thị xã, các ngành và nhân dân trên địa bàn tỉnh biết và thực hiện. Cụ thể hoá quy hoạch bằng các kế hoạch hàng năm và các chương trình, dự án ưu tiên đầu tư. Trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện, cần tiếp tục nghiên cứu để có những bổ sung, điều chỉnh kịp thời cho phù hợp với nhiệm vụ và tình hình mới nhằm đẩy mạnh sự nghiệp chăm sóc sức khoẻ nhân dân Gia Lai.
Điều 3: Các ông: Chánh Văn phòng HĐND và UBND tỉnh, Giám đốc các Sở: Y tế, Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Giám đốc các Sở, Ban ngành, Chủ tịch UBND các huyện, thành phố Pleiku, thị xã An Khê và Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị có liên quan chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.
Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký ./.