|
UBND TỈNH GIA LAI Số: 45/2002/QĐ-UB |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------------------------- tỉnh Gia Lai, ngày 27 tháng 06 năm 2002 |
QUYẾT ĐỊNH
CỦA UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
Về việc phê chuẩn Quy chế tổ chức và hoạt động Hội Khuyến khích và Hỗ trợ phát triển
giáo dục tỉnh Gia Lai (gọi tắt là Hội Khuyến học tỉnh Gia Lai)
_________________________
UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
Căn cứ Luật Tổ chức HĐND và UBND ngày 21-6-1994; Pháp lệnh về nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của HĐND và UBND ngày 03-7-1996;
Căn cứ Chỉ thị số 01/CT ngày 05-11-1989 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) về việc quản lý tổ chức hoạt động của các Hội quần chúng; Văn bản số 07/TCCP ngày 06-01-1989 của Ban Tổ chức Cán bộ Chính phủ hướng dẫn thi hành Chỉ thị số 01/CT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng;
Xét đề nghị của Sở Giáo dục - Đào tạo tại Văn bản số 362/GD-ĐT ngày 14-05-2002;
Theo đề nghị của Trưởng ban Tổ chức chính quyền tỉnh;
QUYẾT ĐỊNH
Điều 1: Phê chuẩn Quy chế tổ chức và hoạt động Hội Khuyến khích và Hỗ trợ phát triển giáo dục tỉnh Gia Lai (gọi tắt là Hội Khuyến học tỉnh Gia Lai) đã được Đại hội Hội Khuyến học tỉnh Gia Lai lần thứ nhất thông qua ngày 24-4-2002.
Điều 2: Chánh Văn phòng HĐND và UBND tỉnh, Trưởng ban Tổ chức chính quyền tỉnh, Giám đốc Sở Giáo dục - Đào tạo, Giám đốc Sở, Thủ trưởng cơ quan, đơn vị, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện, thành phố thuộc tỉnh và Chủ tịch Hội Khuyến học chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.
TM. ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNHCHỦ TỊCH
(Đã ký)Nguyễn Vỹ Hà
QUY CHẾ
Tổ chức và hoạt động hội khuyến khích và hỗ trợ phát triển giáo dục
tỉnh Gia Lai (gọi tắt là hội khuyến học tỉnh Gia Lai)
(Ban hành kèm theo Quyết định số 45 /2002/QĐ - UB ngày 27-6-2002 của UBND tỉnh Gia Lai)
_________________________
Khuyến học là truyền thống tốt đẹp, lâu đời của dân tộc, là chính sách quốc gia và đạo đức, tình nghĩa của nhân dân Việt Nam.
Ngày nay, trong quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước, sự nghiệp "trồng người" vì lợi ích trăm năm nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực bồi dưỡng nhân tài là sự nghiệp của toàn xã hội.
Chương I
TÔN CHỈ - MỤC ĐÍCH
Điều 1: Hội Khuyến khích và Hỗ trợ phát triển giáo dục tỉnh Gia Lai (gọi tắt là Hội Khuyến học tỉnh Gia Lai) là tổ chức tự nguyện của mọi người Gia Lai có tâm huyết với sự nghiệp "trồng người", tích cực tham gia xã hội hoá giáo dục, góp sức phấn đấu cho phong trào "toàn dân học tập, toàn dân tham gia làm giáo dục" nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước, quê hương Gia Lai.
Điều 2: Hội Khuyến học tỉnh Gia Lai là thành viên của Hội Khuyến học Việt Nam, là thành viên của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Gia Lai, hoạt động trong khuôn khổ pháp luật nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Hội có tư cách pháp nhân, có con dấu, có tài sản và tài chính riêng, có tài khoản tại Ngân hàng Nhà nước.
Chương II
NHIỆM VỤ, NGUYÊN TẮC TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG
Điều 3: Hội Khuyến học tỉnh Gia Lai có nhiệm vụ phấn đấu nhằm đạt 3 mục tiêu cơ bản:
- Khuyến khích và hỗ trợ phong trào học tập, nâng cao trình độ văn hoá của mọi người trong nhà trường và trong xã hội, góp sức phấn đấu cho công bằng xã hội và quyền lợi học tập của mọi người, mọi vùng, miền trong tỉnh, đặc biệt chú ý những người nghèo không có điều kiện học tập, những người có năng khiếu.
- Cổ vũ xã hội trân trọng vai trò của người thầy và chăm sóc người thầy trong sự nghiệp giáo dục - đào tạo; khuyến khích người thầy phấn đấu, rèn luyện để không ngừng nâng cao trình độ nghề nghiệp và đạo đức; kiến nghị với Nhà nước về việc ban hành chính sách và chế độ đãi ngộ người thầy tương xứng với yêu cầu đào tạo và với vị thế mới trong xã hội.
Làm tư vấn về giáo dục trên cơ sở tập hợp ý kiến của đông đảo các nhà giáo dục, khoa học và những người tâm huyết với sự nghiệp giáo dục kiến nghị với Nhà nước, với tỉnh chủ trương, chính sách, biện pháp phát triển giáo dục.
Điều 4: Để thực hiện tôn chỉ, mục đích và nhiệm vụ, Hội thực hiện các nguyên tắc sau đây trong tổ chức hoạt động:
- Tuân thủ sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng, nghiêm chỉnh chấp hành Luật pháp của Nhà nước, quy định của UBND tỉnh và chịu sự quản lý của các cấp chính quyền. Hợp tác với ngành Giáo dục - Đào tạo; tranh thủ sự hướng dẫn, hỗ trợ của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc ở các cấp của Hội.
- Phát huy quyền chủ động, sáng tạo của các tổ chức Hội; liên kết với các tổ chức kinh tế, khoa học, văn hoá, xã hội, các đoàn thể nhân dân và hội quần chúng khác trong hoạt động khuyến học và vận động nhân dân tham gia xã hội hoá giáo dục.
- Tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ về tinh thần, vật chất của mọi tổ chức, cá nhân trong và ngoài tỉnh vì sự nghiệp khuyến học.
Chương III
HỘI VIÊN
Điều 5: Công dân Việt Nam dù ở trong hoặc ngoài tỉnh có tâm huyết với sự nghiệp giáo dục, tán thành Điều lệ của Hội Khuyến học Việt Nam, Quy chế của Hội Khuyến học Gia Lai, tự nguyện hoạt động theo sự phân công của Hội đều được xem xét và công nhận là hội viên.
Điều 6: Hội viên có nhiệm vụ:
- Tôn trọng và thực hiện Quy chế, Nghị quyết của Hội.
- Tuyên truyền cho Hội và phát triển hội viên mới.
- Đóng hội phí và tham gia xây dựng quỹ hội.
- Sinh hoạt trong tổ chức của Hội.
Điều 7: Hội viên có quyền lợi:
- Trao đổi, thảo luận công việc của Hội, đề xuất ý kiến nhằm phát triển phong trào khuyến học và sự nghiệp giáo dục.
- Bầu cử, ứng cử vào các cơ quan lãnh đạo của Hội.
- Hưởng các quyền lợi do các hoạt động của Hội đem lại.
- Các tổ chức thành viên của Hội được giúp đỡ, bảo vệ quyền lợi hợp pháp trong hoạt động.
Điều 8: Hội viên có thẻ hội viên do Trung ương Hội ấn hành. Các cấp Hội lập danh sách hội viên và có văn bản đề nghị xét cấp.
Chương IV
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI
Điều 9: Hệ thống tổ chức và hoạt động của Hội Khuyến học tỉnh Gia Lai bao gồm:
1. Tỉnh hội Gia Lai:
1. Đại hội đại biểu khuyến học tỉnh Gia Lai: Là cơ quan lãnh đạo cao nhất của Hội Khuyến học tỉnh Gia Lai được tổ chức thường kỳ 5 năm một lần; khi cần thiết có thể triệu tập sớm hơn hoặc muộn hơn nhưng không quá một năm, nếu có 2/3 số uỷ viên Ban chấp hành (BCH) tỉnh hội yêu cầu. Đại hội có nhiệm vụ đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết của nhiệm kỳ, quyết định chương trình công tác nhiệm kỳ tiếp theo, sửa đổi, bổ sung "Quy chế của Hội Khuyến học tỉnh Gia Lai", bầu cử Ban chấp hành Hội mới.
1. 2 Ban chấp hành Tỉnh hội là cơ quan lãnh đạo cao nhất giữa hai kỳ Đại hội, thực hiện Nghị quyết Đại hội cấp mình; phân công, công tác các uỷ viên BCH; bầu Ban Thường vụ mới số lượng không quá 1/3 số uỷ viên BCH, gồm chủ tịch, các phó chủ tịch và các uỷ viên; bầu Ban Kiểm tra gồm các trưởng ban, phó trưởng ban và các uỷ viên; cử Hội đồng quản lý và Chủ tịch Hội đồng Quỹ Khuyến học của tỉnh và các ban, các tổ chức thành viên theo hướng dẫn của BCHTW Hội. Ban Chấp hành Tỉnh hội họp 6 tháng một lần, họp bất thường khi cần thiết.
Trong quá trình hoạt động, xuất phát từ nhu cầu công tác và đề nghị của Ban Thường vụ, Ban Chấp hành Tỉnh hội có thể tổ chức bầu cử bổ sung uỷ viên Ban Chấp hành với số lượng không quá 10% tổng số Ủy viên BCH do Đại hội đã bầu.
1. 3. Ban Thường vụ Tỉnh hội thay mặt BCH giữa hai nhiệm kỳ, có nhiệm vụ tổ chức chỉ đạo thực hiện Nghị quyết của Đại hội đại biểu và của BCH tỉnh; hướng dẫn, giúp đỡ, kiểm tra hoạt động của các tổ chức Hội cấp dưới; quản lý các tổ chức giúp việc BCH; quản lý tài chính, tài sản và lãnh đạo hoạt động của Quỹ Khuyến học tỉnh; triệu tập và chuẩn bị nội dung các kỳ họp của BCH.
1. 4. Các tổ chức trực thuộc Tỉnh hội:
a) Ban Thường vụ Tỉnh hội có thể thành lập các tổ chức trực thuộc giúp việc sau:
- Ban hỗ trợ Giáo dục - Đào tạo và phát triển phong trào khuyến học.
- Ban Tổ chức.
- Ban Kinh tế - Tài chính.
- Văn phòng Tỉnh hội (kiêm tuyên truyền, quan hệ đối ngoại).
b) Tỉnh Hội có thể có một số cơ sở đào tạo hoặc cơ sở dịch vụ, sản xuất nhằm phục vụ ba mục tiêu của Hội trên địa bàn tỉnh. Đây là những đơn vị tự quản về tài chính và hoạt động dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Tỉnh hội. Việc thành lập và tổ chức hoạt động của các cơ sở này tuân theo đúng các điều kiện, trình tự, thủ tục do luật pháp và UBND tỉnh quy định.
1. 5. Quỹ Khuyến học của Tỉnh hội Gia Lai có chức năng vận động và tiếp nhận các nguồn tài trợ để hỗ trợ cho các hoạt động khuyến học phù hợp với ba mục tiêu cơ bản của Hội Khuyến học Gia Lai. Quỹ có tư cách pháp nhân, hoạt động theo đúng điều lệ của quỹ trong khuôn khổ pháp luật của Nhà nước.
Hội đồng quản lý quỹ chịu trách nhiệm quản lý hoạt động của quỹ dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Tỉnh hội và sự kiểm tra, hướng dẫn về nghiệp vụ của Quỹ Khuyến học Việt Nam. Chủ tịch Hội đồng quản lý quỹ là Phó Chủ tịch Tỉnh hội.
1. 6. Ban Kiểm tra của Tỉnh hội có nhiệm vụ kiểm tra việc thi hành quy chế, việc thực hiện các Nghị quyết công tác, việc quản lý và sử dụng tài chính; kiểm tra tư cách cán bộ, hội viên; giải quyết các đơn khiếu nại, tố cáo đối với hội viên và tổ chức Hội; đề xuất các vấn đề về công tác kiểm tra với Ban Thường vụ hoặc BCH của Hội giải quyết.
2. Huyện, thành phố hội:
Huyện, thành phố Hội là cấp nối liền sự chỉ đạo của Tỉnh hội với các Hội cơ sở.
2. 1. Đại hội Huyện, Thành phố Hội được tổ chức thường kỳ 5 năm một lần để đánh giá việc thực hiện Nghị quyết của nhiệm kỳ, quyết định chương trình công tác của nhiệm kỳ tiếp theo trên cơ sở hoá nhiệm vụ công tác của Tỉnh hội, bầu cử BCH mới.
2. BCH Huyện, Thành phố Hội bầu Ban Thường vụ gồm chủ tịch, phó chủ tịch và các uỷ viên để điều hành công việc thường xuyên của Hội, cử 1 phó chủ tịch làm Chủ tịch Hội đồng quản lý Quỹ Khuyến học của Huyện, Thành phố Hội; phân công các uỷ viên Ban Chấp hành phụ trách về các mặt của Hội như:
Hỗ trợ giáo dục - đào tạo và phát triển phong trào khuyến học, tổ chức và kiểm tra, kinh tế - tài chính, văn phòng Huyện, Thành phố Hội.
Các phiên họp thường kỳ để kiểm điểm việc thực hiện chương trình công tác có thể được tiến hành 6 tháng một lần đối với BCH huyện, thành phố; 2 tháng một lần đối với Ban Thường vụ Huyện - Thành phố hội.
2. 3. Nhiệm vụ chủ yếu của BCH, Ban Thường vụ Huyện, Thành phố hội là quán triệt, vận dụng và theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện các nhiệm vụ công tác khuyến học của Tỉnh hội trong địa bàn huyện, thành phố cùng với việc tổ chức thực hiện công tác của Đại hội Huyện, Thành phố hội, hướng dẫn kiểm tra hoạt động của các Hội cơ sở; quản lý sử dụng có hiệu quả Quỹ Khuyến học Huyện, Thành phố Hội.
2. 4. Ban Chấp hành và Ban Thường vụ Huyện - Thành phố hội tuỳ điều kiện và khả năng của mình có thể có một số cơ sở đào tạo hoặc trung tâm dịch vụ, sản xuất nhằm phục vụ ba mục tiêu khuyến học trong huyện, thành phố. Đây là các đơn vị tự quản về tài chính, được thành lập và hoạt động theo qui định của pháp luật và đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Huyện, Thành phố Hội.
2. 5. Quỹ Khuyến học Huyện, Thành phố Hội có chức năng vận động và tiếp nhận các nguồn tài trợ để hỗ trợ các hoạt động khuyến học của Huyện, Thành phố Hội. Quỹ có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng, hoạt động theo Điều lệ của Quỹ Khuyến học và trong khuôn khổ pháp luật của Nhà nước, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Ban Thường vụ Huyện, Thành phố Hội và hướng dẫn, kiểm tra về nghiệp vụ của Quỹ Khuyến học Tỉnh hội.
3. Tổ chức Hội cơ sở:
3. 1. Ở xã, phường, thị trấn có đủ điều kiện và có nhu cầu thì thành lập Hội Khuyến học xã, phường, thị trấn (gọi là Hội Khuyến học cơ sở).
Hội cơ sở có dưới 15 hội viên thì cử chủ tịch, phó chủ tịch để điều hành công việc. Từ 15 hội viên trở lên thì cử BCH gồm chủ tịch, phó chủ tịch và các uỷ viên...
Hội cơ sở có đông hội viên có thể chia thành chi hội. Chi hội cử ra chi hội trưởng, chi hội phó hoặc BCH chi hội từ 3 - 5 uỷ viên để điều hành công việc.
Chi hội nếu có đông hội viên có thể thành lập các phân hội. Phân hội cử ra phân hội trưởng, phân hội phó điều hành công việc.
3. 2. Đại hội đại biểu hoặc đại hội toàn thể của Hội cơ sở được triệu tập 5 năm hai lần để đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết của nhiệm kỳ, quyết định chương trình công tác nhiệm kỳ tiếp theo, bầu cử BCH mới.
3. BCH Hội cơ sở có nhiệm vụ chỉ đạo thực hiện các Nghị quyết của Hội cấp trên, chương trình công tác của đại Hội cơ sở, xây dựng và phát triển tổ chức Hội cơ sở; phối hợp với nhà trường, các đoàn thể xã hội, Hội phụ huynh học sinh, câu lạc bộ nhà giáo, ban đại diện các dòng họ...để cùng vận động các tầng lớp nhân dân tham gia các hoạt động khuyến học, góp phần tích cực thực hiện xã hội hoá giáo dục cơ sở; xây dựng, quản lý sử dụng có hiệu quả Quỹ Khuyến học của Hội cơ sở; chuẩn bị Đại hội đại biểu hoặc đại hội toàn thể của Hội cơ sở nhiệm kỳ sau.
BCH Hội cơ sở có từ 9 uỷ viên trở lên được Ban Thường vụ gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các uỷ viên để điều hành công việc thường xuyên của Hội; dưới 9 uỷ viên chỉ cử chủ tịch, phó chủ tịch.
BCH Hội cơ sở phân công một hoặc một số uỷ viên phụ trách Quỹ Khuyến học cơ sở và phân công các uỷ viên phụ trách từng mặt công tác của Hội cơ sở; hỗ trợ và phát triển phong trào khuyến học, tổ chức, kiểm tra, văn phòng... đồng thời phân công công tác cho các hội viên.
BCH Hội cơ sở sinh hoạt 3 tháng một lần, Ban Thường vụ Hội cơ sở sinh hoạt 1 tháng 1 lần.
3. 4. Quỹ Khuyến học của Hội cơ sở trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo và quản lý, dưới sự kiểm tra, hướng dẫn của Quỹ Khuyến học huyện, thành phố; không có Quỹ Khuyến học ở chi hội các thôn xóm, khối phố...Hội Khuyến học cơ sở có thể đề ra các chính sách phân phối quỹ ưu tiên cho những đơn vị chi hội trực thuộc, nếu ở đó việc vận động có kết quả cao hơn đơn vị khác. Quỹ có nhiệm vụ vận động và tiếp nhận tài trợ để hỗ trợ sự nghiệp khuyến học ở cơ sở. Quỹ hoạt động theo Điều lệ của Quỹ Khuyến học và trong khuôn khổ pháp luật của Nhà nước. Một Phó Chủ tịch Hội Khuyến học làm Chủ tịch Hội đồng Quản lý quỹ.
3. 5. Tuỳ theo điều kiện và khả năng từng cơ sở, BCH Hội cơ sở có thể có một số cơ sở giáo dục - đào tạo hoặc dịch vụ sản xuất nhằm trực tiếp phục vụ hoạt động khuyến học ở cơ sở như: trường, lớp mầm non dân lập, trường phổ thông dân lập...Việc thành lập và tổ chức hoạt động của các cơ sở này phải theo quy định của Pháp luật.
3. 6. Trong các cơ quan, công trường, xí nghiệp, trường học trực thuộc cấp tỉnh, huyện, thành phố nếu có đủ điều kiện thì có thể tổ chức Hội Khuyến học cơ sở.
Chương V
KHEN THƯỞNG VÀ KỶ LUẬT
Điều 10: Tổ chức Hội, cán bộ, hội viên có thành tích trong hoạt động khuyến học được Hội khen thưởng theo quy định của Ban Thường vụ TW Hội hoặc được đề nghị Nhà nước khen thưởng.
Tổ chức Hội, cán bộ, hội viên hoạt động sai trái với Điều lệ Hội Khuyến học Việt Nam, Quy chế Hội Khuyến học Gia Lai và các Nghị quyết của Hội tuỳ theo mức độ mà bị xử lý kỷ luật từ khiển trách, cảnh cáo đến giải thể đối với tổ chức Hội, hoặc khiển trách, cảnh cáo, cách chức đến đưa ra khỏi Hội đối với hội viên.
Chương VI
TÀI CHÍNH CỦA HỘI
Điều 11: Tài chính của Hội gồm 2 phần: Tài chính hoạt động thường xuyên và Quỹ Khuyến học:
1. Tài chính hoạt động thường xuyên:
- Hội phí viên.
- Thu từ các hoạt động khoa học, tư vấn dịch vụ, sản xuất của Hội.
- Kinh phí được cấp khi tham gia cùng cơ quan Nhà nước thực hiện các chương trình, dự án phát triển giáo dục.
- Tài trợ của Nhà nước, của các tổ chức, cá nhân ở trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật.
2. Quỹ Khuyến học được hình thành và phát triển từ nguồn tài chính hợp pháp sau đây:
Sự tài trợ dưới mọi hình thức, kể cả tài trợ theo địa chỉ, của các tổ chức, cá nhân ở trong và ngoài nước để thực hiện mục tiêu khuyến khích và hỗ trợ phát triển giáo dục.
- Tiếp nhận sự đóng góp theo nghĩa vụ của các đơn vị trực thuộc Tỉnh hội, Huyện - Thành phố hội, do Ban Thường vụ Hội cấp đó qui định;
- Thu lãi từ tài khoản của Quỹ mở tại Ngân hàng, tiền lãi mua trái phiếu Chính phủ vì mục tiêu khuyến học (nếu có).
- Thu từ sự đóng góp tự nguyện của Quỹ Khuyến học các cấp;
- Các khoản thu khác.
Điều 12: Tài chính của Hội được quản lý theo chế độ kế toán và kiểm toán hiện hành của Nhà nước, được sử dụng theo đúng mục đích của Hội.
Hàng năm, Ban Chấp hành các cấp Hội nghe báo cáo và quyết định các vấn đề về tài chính của Hội.
Chương VII
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 13: Tổ chức của Hội và cán bộ hội viên phải chấp hành nghiêm chỉnh Quy chế của Hội Khuyến học tỉnh Gia Lai.
Điều 14: Ban Chấp hành Tỉnh hội có nhiệm vụ hướng dẫn việc thi hành quy chế trong toàn Hội.
Điều 15: Chỉ Đại hội đại biểu của Hội Khuyến học tỉnh Gia Lai mới có quyền sửa đổi, bổ sung bản Quy chế này trình Uỷ ban nhân dân tỉnh phê duyệt.
Bản Quy chế này gồm 7 chương 15 điều đã được Đại hội đại biểu Hội Khuyến học tỉnh Gia Lai lần thứ nhất thông qua ngày 24 tháng 04 năm 2002 và có hiệu lực thi hành khi có quyết định phê duyệt của Uỷ ban nhân dân tỉnh./.