|
UBND THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG Số: 4862/QĐ-UB |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------------------------- thành phố Đà Nẵng, ngày 10 tháng 12 năm 1997 |
QUYẾT ĐỊNH CỦA UBND
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
V/v Ban hành quy chế quản lý đánh số và gắn biển số nhà tại thành phố Đà Nẵng
_________________________
ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Căn cứ Luật Tổ chức HĐND và UBND các cấp được Quốc hội thông qua ngày 21-6-1994;
- Xét tình hình thực tế và yêu cầu của công tác quản lý đồ thị trên địa bàn thành phố Đà Năng.
- Theo đề nghi của Giám đốc Sở Địa chính-nhà đất thành phố Đà Nẵng tại Tờ trình số 366/TT-ĐCNĐ ngày 26-9-1997.
QUYẾT ĐỊNH
Điều 1: Nay ban hành kèm theo quyết định này bản quy chế quản lý, đánh số nhà và gắn biển số nhà tại thành phố Đà Nẵng.
Điều 2: Quy chế này có hiệu lực kể từ ngày 1-1-1998 và áp dụng thống nhất trên địa bàn thành phố Đà Nắng.
Điều 3: Giao cho Giám đốc Sở Địa chính-nhà đất thành phố hướng dẫn, triển khai thực hiện quy chế này.
Nội dung của các quyết định trước đây trái với quyết định này đều không có hiệu lực.
Điều 4: Chánh Văn phòng UBND thành phố, Giám đốc các Sở Địa chính-nhà đất, Xây dựng, Giao thông công chính, Văn hóa thông tin, Bưu điện, Tài chính-vật giá, Công an thành phố, Tư pháp, - cac sở, ban, ngành cổ liên quan, Chủ tịch UBND các quận, huyện, Chủ tịch UBND phường, xã và các chủ sở hữu, chủ quản lý sử dụng nlià trên địa bàn thành phố Đà Nẵng chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.
TM. UBND THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
CHỦ TỊCH
(Đã ký)
Nguyễn Bá Thanh
QUY CHẾ
Quản lý, đánh số và gắn biển số nhà tại thành phố Đà Nẵng
(Ban hành kèm theo Qụyết định số 4862/QĐ-UB ngày 10-12-1997 của UBND thành phố Đà Nẵng)
Chương I
QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1: Quy chế quản lý, đánh số và gắn biển số nhà được áp dụng cho tất cả các loại nhà ỏ, nhà sản xuất kinh doanh dịch vụ, nhà làm việc, nhà chuyên dùng, nhà chung cư, nhà tập trung trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. (Trừ những nhà năm trong khu vực quy hoạch giải tỏa, nhà lấn chiếm xây dựng trái phép phải tháo dỡ). Việc đánh vá gắn biển số nhà nhăm mục đích xác lập địa chi ngôi, căn nhà, tạo Điều kiện thuận lợi trong giao dịch và công tác quản lý đồ thị trên địa bàn thành phố.
Điều 2: Việc đánh số, sửa đổi, bổ sung biển số nhà phải tuân thủ các nguyên tắc, quy cách cấu tạo và vị trí gắn biển số nhà nêu trong quy chế này. Những tuyến đường đi qua liên phường phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các phường với nhau để tổ chức thực hiện.
Điều 3: Những đường phố chưa đặt tên, giao cho Sở Văn hóa-thông tin phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức khảo sát, đề xuất tên đường báo cáo UBND thành phố để trình HĐND thành phố quyết định. Việc đánh và gắn biển số nhà được thực hiện sau khi có tên đường.
Điều 4: Các tuyến đường cũ đã có tên và số nhà ổn định được giữ nguyên số cũ nhưng có điều chinh, bổ sung cho hoàn chinh và phải gắn biển số nhà mới theo mẫu thống nhất trên toàn thành phố, phù hợp với quy chế này.
Điều 5: Những nhà đã đánh số được cấp giấy chứng nhận biển số nhà. Giấy chứng nhận biển số nhà không có giá trị pháp lý dùng để làm cán cứ trong việc xác lập quỳên sở hứu nhà ở và quỳên sử dụng đất ở.
Chương II
NGUYÊN TẮC ĐÁNH SỐ VÀ GẮN BIỂN SỐ NHÀ
Điều 6: Đánh số nhà mặt phố:
1- Nhà mặt phố là nhà có mặt tiền một bên, hai bên hoặc ba bên đường phố chính, đường khu vực, đường nội bộ khu dân cư và các trục đường giao thông khác thuộc thành phố Đà Nẳng.
2- Mỗi nhà mặt phố được gắn biển số nhà ở phía mặt tiền. Trường hợp một nhà nằm trên nhiều mặt phố (cửa mở ra các đường phố khác nhau) thì cửa chính mở ra đường phố nào được gắn biển số nhà đường phố đó, nếu cửa chính mở tại góc hai đường phố, biển số nhà được gắn theo mặt tiền của đường phố có mặt cắt rộng hơn.
3- Các số nhà phải đánh liên tục theo chiều từ bắc xuống nam, từ đồng sang tây (đối với các trục đường theo hướng Bắc Nam hoặc Đồng Tây); theo chiều từ trung tâm thành phố về phía ngoại ô (đối với các đường dạng hướng tâm) và theo chiều quay của kim đồng hồ (đối với dạng đường bao, đường vành đai).
Biển số nhà mặt phố được đánh từ thấp đến cao, dãy nhà bên trái được đánh số lẻ, dãy nhà bên phải được đánh số chẵn.
Điều 7: Đánh số nhà đường kiệt:
1- Đường kiệt là nhánh của đường phố
2- Chiều đánh số nhà đường kiệt:
a) Đường kiệt cụt (kiệt chi thông ra một đường phố) chiều đánh số nhà từ đường phố vào trong kiệt bắt đàu từ nhà liên ke nhà mặt phố tiến cíân đến cuối kiệt. Dãy nhà bên trái được đánh số lẻ, dãy nhà bên phải được đánh số chẵn, viết theo dạng phân số, tử số là tèn đường kiệt, mẫu số là thứ tự số nhà trong dãy nhà đường kiệt.
b) Đường kiệt thông ra 2 đường phố:
- Trường hợp tên kiệt đặt theo tèn đường phố: Chiều đánh số nhà kiệt đó theo hướng từ phía đường phố vào trong kiệt bắt đâu từ nhà liên ke nhà mặt phố mà kiệt mang tên tiến đần đến cuối kiệt. Dãy nhà bên trái được đánh số lẻ, dãy nhà bên phải được đánh số chẵn, được viết theo dạng phân số, tử số là tên đường kiệt, mẫu số là thứ tự số nhà trong dãy nhà đường kiệt.
- Trường hợp đường kiệt không đạt theo tên đường phố: Các số nhà phải đánh liên tục theo chiều từ bắc xuống nam, từ đồng sang tây (đối với các trục đường theo hướng bắc-nam hoặc đồng tây);
c) Những nhà ỏ có đường đi nhưng không phải là kiệt, hẻm việc đánh và gắn biển số giao cho Sở Địa chính-nhà đất kiểm tra hướng dản, bàn bạc cụ thể để thống nhất với UBND các quận, huyện, phường, xã tổ chức thực hiện.
Điều 8: Đánh số nhà đường hẻm:
1- Đường hẻm là đường nhánh của đường kiệt.
2- Chiều đánh số nhà đường hẻm được thực hiện giống như quy định đánh số nhà đường kiệt.
3- Số nhà đường hẻm được viết theo dạng phân số. Tử số là tên đường hẻm, mấu số là thứ tự số nhà trong dãy nhà đường hẻm.
Điều 9: Xác định tên đường kiệt, đường hẻm: Trong trường hợp đường kiệt, đường hẻm không có tên riêng, thì tên đường kiệt, đường hẻm đó được đặt tên theo số nhà mặt phố, mặt kiệt nằm liên kê và theo chiều đánh số như quy định tại điều 6 của quy chế này.
Điều 10: Vị trí đã gắn biển số nhà mặt phố, kiệt, hẻm:
- Nhà liền kê với mặt phố, kiệt, hẻm: Biển số nhà được gắn ở phía bên trái cửa chính của ngôi nhà. Nếu nhà có 2 cửa sắt kéo, biển số được gắn ở mảng tường giữa của 2 cửa sắt đó.
- Nhà có hàng rào phía mặt tiền: Biển số nhà được gắn tại chính giứa mặt cột trụ cổng chính phía bên trái của ngôi nhà (nếu nhà số chẵn), phía bên phải ngôi nhà (nếu nhà số lẻ).
- Độ cao gắn biển số:
+ Đối với nhà mặt phố, gắn biển số ở độ cao cách mặt tê đường từ 2 mét đến 2,5 mét tùy độ cao ngôi nhà.
+ Đối với nhà mặt kiệt, hẻm gắn biển số ở độ cao cách mặt đất từ 1,5 đến 2 mét.
Điều 11: Đánh số nhà tại các khu nhà chung cư, các khu nhà tập trung:
Đối với khu nhà xây dựng tâp trung (từ nhóm 2 trở lên) phải đánh tên nhóm nhà. Tên nhóm nhà được viết bằng chữ Latinh (A,B,c...).
1- Chiều đánh tên nhóm nhà:
a) Khu nhà tập trung chi có một lối đi thông ra đường phố: Chiều đánh tên nhóm nhà được bắt đầu từ đường phố vào khu nhà tập trung.
- Trường hợp các nhóm nhà nằm một bèn trục đường giao thông nội bộ, tên nhóm nhà đánh theo vân chứ cái A, B, C đi cùng chiều trục đường giao thông nội bộ.
- Trường hợp các nhóm nhà nằm hai bên trục đường giao thông nội bộ, tên nhóm nhà đánh theo vần chữ cái A, B, C theo dạng sơ đồ hình sin. Trục sơ đồ hình sin là trục đường giao thông nội bộ.
b) Khu nhà tập trung có lối thông ra nhiều đường phố, chiều đánh tên nhóm nhà được thực hiện như sau:
- Đường giao thông nội bộ cùng chiều với trục đường phố hướng tâm, tên nhóm nhà đánh cùng chiều nhà mặt phố hướng tâm.
- Đường giao thông nội bộ cùng chiều với trục đường bao hoặc đường vành đai, tên nhóm nhà đánh cùng chiều nhà mặt tiền trục đường bao hoặc đường vành đai.
2- Đặt tên ngôi nhà:
Tên ngôi nhà nằm trong nhóm nhà hoặc dãy nhà được viết bảng tên ghép của tên nhóm nhà và số thứ tự của ngôi nhà trong nhóm nhà, hoặc dãy nhà như: A10, B16, C4...
3- Đánh số tên ngôi nhà trong nhóm nhà:
a) Khu nhà chung cư tập trung có nhíèu nhóm nhà (hoặc dãy nhà) chiều đanh số các ngôi nhà cùng chiều đánh số các nhóm nhà, hoặc dãy nhà trong khu nhà tập trụng.
b) Khu nhà tập trung chi có một nhóm nhà, chiều đánh số các ngôi nhà cùng chiều với lối vào các trục đường giao thông nội bộ.
- Trường hợp đường giao thông nội bộ đi giứa khu nhà tập trung, dãy nhà bên trái được đánh số lẻ, dãy nhà bên phải được đánh số chẵn theo hướng lối vào của trục đường giao thông nội bộ.
- Trường hợp đường giao thông nội bộ đi vòng quanh các ngôi nhà, chiều đánh số các ngôi nhà cùng chiều với lối vào của trục đường giao thông nội bộ đến các ngôi nhà, bắt đầu từ ngôi nhà đàu tièn nằm ở đầu trục đường giao thông nội bộ.
- Trường hợp đường giao thông nội bộ đi một bèn nhóm nhà có nhiều lớp nhà, chiều đánh số các ngôi nhà được thực hiện theo thứ tự lớp nhà ngoài trước, lớp nhà trong sau theo dạng sơ đồ hình sin.
c) Khu nhà tập trung nếu không có tường rào ở phía mặt đường thì từng căn nhà được đánh số theo quy đinh như đánh số nhà mặt phố, biển số nhà được gắn chính giữa phía trên cửa đi chính của ngôi nhà.
4- Độ cao đặt biển tên ngôi nhà:
- Tại vị trí mặt tiền ngôi nhà: Biển tên nhà được đặt tại tầng 1 (nhà 1 tầng) hoặc tại tầng 2 (nhà từ 2 tầng trở lên).
- Tại vị trí 2 bức tường đầu hồi:
+ Trường hợp nhà cao 1 tầng, vị trí đặt biển cao từ 2 mét đến 2,5 mét.
+ Trường hợp nhà cao từ 2 tầng trở lên, vị trí đặt biển cao từ 3 mét đến 5 mét tùy theo chiều cao nhà.
Điều 12: Đánh số nhà cao tầng:
1- Đánh số tầng:
- Số tầng của nhà cao tầng được đánh từ thấp đến cao theo thứ tự: Tầng 1, tầng 2, tầng 3, tầng 4, tầng 5... (không tính tầng hầm).
- Biển số tầng được đặt giữa mảng tường chân cầu thang hoặc giữa mảng tường gian lồng cầu thang (hành lang giữa) ở độ cao bầng 1/2 chiều cao tầng nhà.
2- Đánh số cầu thang nhà cao tầng:
- Tên cầu thang được viết bàng chứ số 1, 2, 3...
- Chiều đánh số các cầu thang ngôi nhà được thực hiện theo chiều lối đi chính vào nhà, cầu thang đầu đánh số 1 những cầu thang nôi tiếp đánh số 2, 3, 4...
- Biển số cầu thang được gắn tại giữa mảng tường cầu thang tầng 1 và tại chính giữa cổng đơn nguyên (đối với nhà có từ 2 đơn nguyên trở lên).
3- Đánh số phòng (nhà làm việc) hoặc số căn hộ (nhà ở):
a) Nhà cao tầng có 1 cầu thang:
- Chiều đánh số phòng hoặc số căn hộ được thực hiện như sau:
4- Nhà hành lang giữa, cầu thang giữa: Chiều đánh số phòng (hoặc số căn hộ) cùng chiều quay kim đồng hồ. Phòng (hoặc căn hộ) đâu tiền của tầng 2 là phòng số 201 (họặc căn hộ số 201) nằm liên sát với gian cầu thang phía trái người đi lên cầu thang. Phòng (hoặc căn hộ) đầu tiền của tầng 1 là số 101 Tầng 3 là số 301.
+ Nhà hành lang bên, câu thang giữa: Chiều đánh số phòng (hoặc số căn hộ) theo chiều từ trái sang phải của người đứng quay mặt vào dãy phòng, (hoặc dãy căn hộ). Phòng (hoặc căn hộ) đâu tièn của tầng 2 là phòng (hoặc cán hộ) 201 nầm đâu dãy hành lang phía bên trái. Phòng (hoặc căn hộ) đầu tiền của các tang -1, 2, 3... cũng được đánh số theo quy tác trên.
- Tên phòng (hoặc tên căn hộ) được viết bằng tên ghép của số tầng với số thứ tự phòng (hoặc số thứ tự căn hộ) thuộc dãy hành lang, cụ thể:
- Tầng 1: 101 - 102 - 103...
- Tầng 2: 201 - 202 - 203...
- Tầng 3: 301 - 302 - 303...
- Tầng 4: 401 - 402 - 403...
- Biển số phòng (hoặc biển số căn hộ) được gắn ở vị trí chính giữa phía trên cửa đi chính của phòng (hoặc căn hộ).
b) Nhà cao tang có nhiều cầu thang, dánh số phòng (hoặc số căn hộ) được thực hiện theo quy định đánh số phòng (hoặc số căn hộ) nhà cao tầng hành lang giữa 1 cầu thang.
Điều 13: Đánh số nhà trong khu vực làng, xóm.
1- Nhà trong khu vực làng, xóm được đánh số theo khu vực đường làng và đường kiệt, đường hẻm.
Đường làng là đường đi lại chính trong làng.
Đường kiệt vào xóm là đường nhánh của trục đường làng.
2- Chiều đánh số nhà đường làng được đánh bắt đầu từ nhà liên kê đàu đường làng tiến dần vào cuối đường làng, dãy nhà bên trái được đánh số lẻ, dãy nhà bên phải được đánh số chẵn.
3- Đặt tên số nhà:
Số nhà trên đường làng được viết dưới dạng số nguyên.
Số nhà trên đường kiệt, hẻm được viết dưới dạng phân số, tử số là tên đường kiệt, hẻm; mẫu số là số thứ tự ngôi nhà trong dãy nhà ở kiệt, hẻm đó.
4- Vị trí gắn biển số nhà đặt tại giữa cửa chính hoặc tại giữa cột trụ cổng chính phía bên trái căn nhà, độ cao cách mặt đất > 2 mét.
Chương III
XỬ LÝ TỒN TẠI VỀ ĐÁNH SỐ VÀ GẮN BIỂN SỐ NHÀ
Điều 14: Đánh số nhà mới xây xen trên đất khuôn viên nhà cũ.
1- Trường hợp khu vực đất khuôn viên nhà cũ có xây xen nhà mới quay mặt ra đường phố, hoặc tại dãy nhà mặt phố cũ phát sinh thêm chủ sở hữu mới, số nhà mới đánh bổ sung theo số nhà cũ được viết tên ghép của số nhà cũ và số phụ chữ cái Latinh (A, B, C). Nếu nhà mới được xây dựng phía sau hoặc chủ mới ở phjía sau hay ở trên gác thì vẫn phải sử dụng số nhà củ.
2- Trường hợp nhà mới xây là nhà cao tầng được cải tạo từ nhà thấp tầng có nhiều chủ sở hữu, chủ sử dụng:
- Các số mới trong nhà được đánh theo quy định đánh số của nhà caOịtầng (tại điều 12 của quy chế này).
- Số nhà mặt phố cũ vẫn được giữ nguyên nhưng có sửa đổi bể sung cho phù hợp theo điểm 1 điều này.
Điều 15: Xử lý số nhà cũ trên đường phố có thay đổi tên.
- Trường hợp đường phố cũ được chia thành nhiều đường phố £nới có tên khác nhau hoặc nhiều đường phố cũ nhập lại thành một đường phố mới thì số nhà ò mặt phố phải đánh lại theo đường phố mới, tên số nhà cũ vẫn được giữ nguyên và được gắn biển số cũ dưới biển số mới nhưng không quá một nãm.
Điều 16: Sửa đổi số nhà đánh sai quy định tại đường phố, hoặc khu nhà tập trung.
Trường hợp đường phố, khu nhà tập trung có số nhà đánh sai thì phải điều chinh lại, nếu có nhiều nhà sai thì phải đánh số lại cho đúng theo quy định tại quy chế này.
Điều 17: Đánh số nhà bổ sung tại các đường phố đang xây dựng dở dang.
- Nếu đường phố đá đánh số, có nhà mới xây dựng sau thì nhà đó được đánh số theo số nhà liên k'ê kèm chữ số phụ bằng chứ cái Latinh (A, B, C...).
- Nếu đường phố có nhiều nhà mới xây sau và có nhà đánh số sai chiều, sai dãy quy định thì phải đánh lại số nhà của cả đường phố đó.
Chương IV
QUY CÁCH, CẤU TẠO BIỂN SỐ NHÀ
Điều 18:Biển số nhà áp dụng tại thành phố Đà Nẵng gồm: 5 loại.
1- Biển số nhà mặt phố, kiệt, hẻm, trục đường làng, khu dân cư, hộ chung cư, phòng làm việc.
2- Biển số khu vực nhà tập trung.
3- Biển tên ngôi nhà.
4- Biển số cầu thang.
5- Biển số tầng (nhà cao tầng).
Điều 19:Quy cách, cấu tao các loại biển số nhà.
- Màu sắc biển: Nên xanh lam sẫm, chữ số màu trắng, đường viên màu trắng.
- Chất liệu biển,: 4 Tôn tráng kẽm
+ Nhôm lá dập
1- Kích thước biển nhà mặt phố, kiệt, hẻm, trục đường làng, khu dân cư, hộ chung cư, phòng làm việc.
Từ 1 đến 3 chữ số: 150mm X 200mm.
2- Biển số khu vực nhà tập trung thể hiện tên riêng và sơ dồ quy hoạch khu vực.
3- Biển tên ngôi nhà
- Tên ngôi nhà dông thời thể hiện tên nhóm nhà (nếu có)
-4- Tên nhóm nhà được viết bầng chữ latinh (A, B, c...).
+ Tên ngôi nhà được viết băng tên ghép (tên nhóm nhà ghép với số thứ tự nhà trong dãy nhà).
- Kích thước biển: 600mm X 900mm
4- Biển cầu thang nhà cao tầng
- Tên số cầu thang được viết bằng chữ số: 1, 2, 3
Kích thước biển: 300mm X 300mm
5- Biển số tầng nhà cao tầng
- Tên số tầng được viết băng chữ số: 1, 2, 3 Kích thước biển: 300mm X 300mm
Chương V
TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Điều 20:Nhà được gắn biển số mới hoặc được chinh sửa đổi lại biển số mới, chủ sở hữu, chủ sử dụng nhà phải trả tiền biển số cho đơn vị thực hiện theo giá quy định của UBND thành phố.
Điều 21:Chủ sở hữu, chủ sử dụng nhà có trách nhiệm giữ gìn, bảo về biển số nhà đã gán. Khi biển số hư hỏng hoặc mất phải đến Sở Địa chính-nhà đất xin gắn lại biển số mới, không được dùng biển số nhà sai quy định, không được để nhà thiếu biển số.
Điều 22:Nhà có gắn biển số tự tạo hoặc chưa được gấn biẽn số chính thức, chủ sở hữu, chủ sử dụng gởi đơn xin gắn biển số đến Sở Địa chính-nhà đất để được hướng dẫn, giải quyết.
Điều 23:Nếu chủ sở hữu, chủ sử dụng nhà không chấp hành quy chế quản lý, đánh và gán biển số nhà của UBND thành phố thì cơ quan quản lý đánh số nhà Mến nghị UBND quận, huyện, phường, xã xử lý, phạt hành chính theo quy định hiện hành.
Điều 24:Sở Địa chính-nhà đất thành phố có trách nhiệm:
1- Thành lập Tổ công tác để phối hợp với các địa phương hướng dấn, triển khai thực hiện việc đánh, chinh sửa và gắn biển số nhà- lập bộ hồ sơ gốc để lưu trữ phục vụ công tác quản lý số nhà trên toàn thành phố.
2- Nghiên cứu các văn bản, kinh nghiêm ỏ các địa phương về công tác đánh và quản lý số nhà để xây dựng kế hoạch triển khai làm thí điểm ò một số khu vực đã có quy hoạch Ổn định, rút kinh nghiệm triển khai đánh số nhà trên đia bàn thành phố.
3- Lập kế hoạch triển khai việc đánh số, chinh sửa và gắn biển số nhà trên địa bàn thành phố từ nay đến năm 2000 theo hướng:
+ Giai đoạn I (quý 1-1998 đến quý 11-1999): Tiến hành đánh số nhà mới, sửa đổi số nhà cũ sai quy tắc trên các đường phố, kiệt, hẻm, xóm của những khu vực đã có quy hoạch ổn định và quy hoạch đã được Nhà nước phê duyệt.
+ Giai đoạn II (từ quý III-1999 đến năm 2000): Tiếp tục sửa đổi hoàn thiện việc đánh số nhà trên toàn thành phố.
4- Lập dự trù kinh phí đưa vào giá thành của mỗi loại biển số nhà trình UBND thành phố phê duyệt.
5- Tổ chức thiết kế, sản xuất các loại biển số, mấu đơn, mẫu giấy chứng nhận biển số nhà theo hướng dẫn của Cục Quản lý nhà (Bộ xây dựng) đủ đáp ứng nhu cầu phục vụ việc đánh và gắn biển số nhà thông nhất trên toàn thành phố.
6- Được tạm ứng từ ngân sách thành phố một khoản kinh phí để sản xuất biển số, in ấn biểu mảu, mua sấm văn phòng phẩm phục vụ công tác đánh và gắn biển số nhà.
Được thu tiền gắn biển số nhà theo đơn giá của UBND thành phố phê duyệt để bù đắp chi phí công tác đánh và gắn biển số nhà và hoàn trả cho ngân sách thành phố khoản kinh phí tạm ứng.
7- Kiểm tra việc thực hiện qui chế quản lý, đánh và gắn biển số nhà của UBND thành phố.
8- Định kỳ hàng quý tổng hợp tình hình, tiến độ thực hiện lập báo cáo cho UBND thành phố để kịp thời chi đạo.
Điều 25: Ủy ban nhân dân quận, huyện có trách nhiệm:
1- Phối hợp với Sở Địa chính - Nhà đất tổ chức và chi đạo tốt việc quản lý, đánh số và gắn biển số nhà trên địa bàn mình phụ trách theo phân cấp của UBND thành phố.
2- Hướng dẫn cơ quan quản lý cấp dưới và chủ sở hữu, chủ sử dụng nhà trên địa bàn lãnh thổ thực hiện nghiêm chinh qui chế quản lý, đánh số và gắn biển số nhà của UBND thành phố và sự hướng dẫn của Sở Địa chính - Nhà đất thành phố.
3- Phối hợp với Sở Địa chính - Nhà đất và các ngành có liên quan kiểm tra, xử lý các vi phạm quy chế quản lý, đánh và gắn biển số nhà trên địa bàn quận, huyện,
Điều 26: ủy ban nhân dân xã, phường có trách nhiệm:
1- Tuyên truyền, giáo dục cho nhân dân hiểu rõ và chấp hành nghiêm chinh qui chế quản lý, đánh số và gắn biển số nhà của UBND thành phố.
2- Thành lập tổ công tác theo hướng dẫn của Sở Địa chính - Nhà đất thành phố và UBND quận, huyện để triển khai thực hiện việc kê khai, đãng ký, lập danh sách đến từng chủ sở hứu, chủ sử dụng nhà phục vụ cho công tác đánh số và gắn biển số nhà, thu hộ tiền biển số nhà theo qui định của UBND thành phố Đà Nẵng.
3- Thường xuyên kiểm tra và phát hiện những hành vi vi phạm quy chế quản lý, đánh và gắn biến số nhà để xử lý hoặc đề xuất cấp trên xử lý hành chính theo qui định hiện hành.
Điều 27:Sở Xây dựng và các cơ quan liên quan phối hợp với Sở Địa chính - Nhà đất lập sơ đồ xác định thửa đất tại mặt tiền đường phố mới quy hoạch chưa xây dựng hoặc xây dựng dở dang phù hợp kích thước mặt tiền của thửa đất theo qui hoạch để quản lý thống nhất đánh số nhà mặt phố.
Điều 28:Còng an, bưu điên thành phố và các ngành liên quan có trách nhiệm phối hợp với Sở Địa chính - Nhà đất điều chinh lại địa chi, hồ sơ phù hợp với số nhà mới được xác lập cho chủ sở hữu, chủ sử dụng.
Điều 29:Trong quá trình triển khai thực hiện qui chế này, nếu có vấn đề gì vướng mắc, các địa phương, đơn vị phản ảnh cho Sở Địa chính - Nhà đất thành phố để tổng hợp báo cáo UBND thành phố kịp thời chỉ đạo.