Quay lại

Quyết định 55/2003/QĐ-UB về việc Ban hành Đề án phát triển sự nghiệp TDTT của tỉnh Hưng Yên đến năm 2005 và định hướng đến năm 2010

UBND TỈNH HƯNG YÊN
-------

Số: 55/2003/QĐ-UB

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------------------------

tỉnh Hưng Yên, ngày 03 tháng 10 năm 2003

QUYẾT ĐỊNH CỦA UBND TỈNH HƯNG YÊN

Về việc Ban hành Đề án phát triển sự nghiệp TDTT của

tỉnh Hưng Yên đến năm 2005 và định hướng đến năm 2010

________________________

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

- Căn cứ Luật Tổ chức HĐND và UBND ngày 21/6/1994;

- Căn cứ Chỉ thị số 28/CT-TU ngày 7/7/2003 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về phát triển sự nghiệp TDTT đến năm 2005 và định hướng đến năm 2010;

- Xét đề nghị của Giám đốc Sở TDTT tại Tờ trình số 16/TTr-TDTT ngày 25/9/2003.

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này “Đề án phát triển sự nghiệp TDTT của tỉnh Hưng Yên đến năm 2005 và định hướng đến năm 2010”.

Điều 2. Các ông Chánh Văn phòng HĐND và UBND tỉnh, thủ trưởng các sở, ngành, đoàn thể tỉnh, chủ tịch UBND các huyện, thị xã căn cứ quyết định thi hành.

TM. UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH

CHỦ TỊCH

(Đã ký)

Nguyễn Đình Phách


ĐỀ ÁN


ĐỀ ÁN

Phát triển sự nghiệp Thể dục thể thao đến năm 2005 và định hướng đến 2010

_______________________________

KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH

Nằm trong vùng châu thổ sông Hồng. Tỉnh Hưng Yên có bề dày truyền thống và tiềm năng văn hóa phong phú, những năm gần đây, nhất là từu sau tái lập tỉnh, cùng với sự chuyển biến mạnh mẽ về kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng; công tác TDTT đã có nhiều tiến bộ, phong trào TDTT từng bước được mở rộng với nhiều hình thức, nhiều môn thể thao được phát triển, một số môn đạt thành tích đáng khích lệ. Cơ sở vật chất - kỹ thuật TDTT ở một số địa phương, ngành đã được chú ý nâng cấp, từng bước xây dựng mới. Tổ chức bộ máy được củng cố, biên chế cán bộ đã nhanh chóng được tăng cường.

Hoạt động TDTT những năm qua của tỉnh được triển khai căn cứ vào Chỉ thị 36/TC-TW của Ban bí thư Trung ương Đảng; Nghị quyết số 06/NQ-TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy khóa XIV. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ XV. Để TDTT Hưng Yên phát triển nhanh và vững chắc hơn, cần xây dựng đề án định ra phương hướng, mục tiêu, kế hoạch phù hợp, đề ra những giải pháp tích cực, đồng bộ, đưa sự nghiệp thể dục thể thao phát triển tương xứng với nhịp độ phát triển KTXH từ nay đến 2005, định hướng đến 2010, đáp ứng yêu cầu công cuộc đổi mới hiện nay theo tinh thần Chỉ thị số 17/CT-TW ngày 23/10/2002 của Ban chấp hành Trung ương Đảng. Đề án bao gồm 3 phần chính:

1- Tình hình và kết quả thực hiện Nghị quyết 06/NQTU của Ban Thường vụ tỉnh ủy và sự nghiệp TDTT từ năm 1997 đến nay.

2- Phương hướng nhiệm vụ - mục tiêu phát triển sự nghiệp TDTT đến 2005, định hướng đến 2010.

3- Các giải pháp chủ yếu thực hiện đề án.

Phần thứ nhất

TÌNH HÌNH VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT 06/NQ-TU

CỦA BAN THƯỜNG VỤ TỈNH ỦY VÀ SỰ NGHIỆP TDTT TỪ NĂM 1997 ĐẾN NAY

I- NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC VÀ NGUYÊN NHÂN

A- Kết quả

1- Về thể dục thể thao quần chúng

- Phong trào TDTT quần chúng 6 năm qua tiếp tục được duy trì, có bước phát triển khá. Số người tham gia tập luyện TDTT thường xuyên tăng từ 10% (1997) lên 18,2 % dân số (2002); gia đình thể thao từ 3,2% (1997) lên 7,5% năm (2002). Điển hình là cuộc vận động toàn dân RLTT theo gương Bác Hồ vĩ đại và Đại hội TDTT các cấp tiến tới Đại hội TDTT toàn tỉnh lần thứ nhất, gắn với tổ chức lễ kỷ niệm 170 năm thành lập tỉnh, đã thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia, tạo thành phong trào thi đua sôi nổi rộng khắp với nhiều hình thức, nội dung tập luyện đa dạng, phong phú, gắn liền các lễ hội truyền thống và ngày kỷ niệm lớn của đất nước ở địa phương.

- Công tác giáo dục thể chất trong các trường học được duy trì, việc giảng dạy TDTT đi vào nền nếp. năm 2002 có 75,2% số trưởng đảm bảo giảng dạy nội khóa chất lượng tốt và 19,5% số trường duy trì tốt ngoại khóa thường xuyên. (Năm 1997: trường đảm bảo giờ nội khóa chất lượng tốt là 43%, trường duy trì ngoại khóa thường xuyên là 10%).

- Hoạt động TDTT trong các lực lượng vũ trang tiếp tục được đẩy mạnh, có trên 98% chiến sỹ trong lực lượng vũ trang đạt tiêu chuẩn “Chiến sỹ khỏe” và “Chiến sỹ Công an khỏe”.

- Một số môn thể thao dân tộc được khôi phục để phát triển. Điểm nhóm tập luyện, CLB TDTT khắp toàn tỉnh hàng năm đều tăng nhanh: Năm 2003 đạt 1800 điểm tập luyện, chất lượng hoạt động được nâng 1 bước (Năm 1996 có 582 điểm, nhóm, CLB).

- Công tác xã hội hóa TDTT có bước tiến bộ. Hàng năm, ngành TDTT đã phối hợp chặt chẽ với các ngành, ký văn bản liên tịch chỉ đạo các hoạt động TDTT trong mọi đối tượng; xã hội hóa thể dục thể thao có tiến bộ hơn. Nhiều người dân đã tự giác chọn lựa và tập luyện môn thể thao phù hợp để rèn luyện nâng cao sức khỏe.

- Hệ thống thi đấu thể thao quần chúng của tỉnh, các huyện thị từng bước được hoàn thiện, ổn định.

- Công tác đào tạo bồi dưỡng hướng dẫn viên, cộng tác viên cơ sở luôn được ngành quan tâm thường xuyên.

- Số lượng các môn thể thao phổ cập được phát triển (có 16 môn) với nhiều đối tượng tham gia.

2- Về thể thao thành tích cao

Những năm qua, thể thao thành tích cao của tỉnh có bước phát triển khá rõ. Đã sớm hình thành hệ thống đào tạo VĐV tài năng, tuyển chọn, đào tạo tập trung thường xuyên 100 VĐV năng khiếu các môn thể thao trọng điểm của tỉnh và 150 VĐV năng khiếu nghiệp dư tại các huyện, thị xã.

- Đã gửi, cử những HLV, VĐV xuất sắc đi tập huấn tại các trung tâm đào tạo VĐV của quốc gia và các tỉnh thành phố.

- Thường xuyên tạo điều kiện cho VĐV đội tuyển các môn thể thao của tỉnh được thi đấu giao lưu với các đội bạn để học tập, tích lũy kinh nghiệm, rèn luyện tâm ký, kĩ chiến thuật v.v…

- Trình độ và thành tích thi đấu các môn thể thao có bước tiến rõ rệt. Các môn trọng điểm tăng từ 4 môn (bóng bàn, bóng chuyền nữ, điền kinh, Pencaksilat) lên 9 môn (thêm bắn cung, kiếm, thuyền, tạ, bóng chyền bãi biển). Tham gia thi đấu giải thể thao toàn quốc, số lượng VĐV giành huy chương và đạt đẳng cấp quốc gia ngày càng tăng. Đặc biệt năm 2002 Hưng Yên giành được 29 huy chương: (3 HCV, 10 HCB, 16 HCĐ), 15 VĐV đạt đẳng cấp (có 1 kiện tướng, 1 dự bị kiện tướng và 13 cấp 1). Đoàn thể thao Hưng Yên dự Đại hội TDTT toàn quốc lần thứ IV đã giành 9 huy chương các loại (1 vàng, 2 bạc, 6 đồng), xếp thứ 42/64 đơn vị tỉnh, thành, ngành tham gia Đại hội TDTT. Đội tuyển bóng chuyền nữ được thăng hạng đội mạnh toàn quốc năm 2003, thi đấu giành thành tích khá, là 1 trong 10 đội bóng nữ mạnh toàn quốc hiện nay.

- Hưng Yên đã cung cấp cho đội dự bị tuyển quốc gia 8 VĐV trẻ (2 võ, 3 bóng chuyền, 2 kiếm, 1 thuyền), được tập huấn và thi đấu các giải quốc tế giành 1 huy chương vàng môn đua thuyền, 1 huy chương bạc bóng chuyền nữ trẻ Đông Nam Á. Ngành TDTT tỉnh nhà được vinh dự đón nhận Huân chương lao động hạng ba do Nhà nước trao tặng về thành tích 5 năm (1997 - 2002).

3- Cơ sở vật chất, kỹ thuật thể dục thể thao

- Cơ sở vật chất hạ tầng được quan tâm và có bước phát triển. Nghị quyết 06 của Ban thường vụ Tỉnh ủy đã giúp các địa phương quy hoạch giành được 768 ha diện tích đất cho hoạt động TDTT, tạo các điểm vui chơi cho cơ sở (năm 1997 mới quy hoạch được 32 ha). Đã có 30% cơ sở tạo được mặt bằng hoạt động từ diện tích quy hoạch; 100% huyện, thị xã đã lập xong quy hoạch khu trung tâm TDTT cấp huyện thị, trong đó đã được tỉnh phê duyệt dự án đầu tư công trình TDTT, sân vận động của 5 huyện (Kim Động, Khoái Châu, Tiên Lữ, Ân Thi, Phù Cừ) đang xây dựng. Các huyện còn lại đã làm xong công tác chuẩn bị để trình duyệt dự án. Một số huyện đã xây dựng được nhà tập đơn giản, giá trị hàng trăm triệu đồng, đáp ứng từng bước nhu cầu tập luyện của quần chúng nhân dân, như TX Hưng Yên, các huyện: Tiên Lữ, Ân Thi, Khoái Châu.

- Công trình TDTT cấp tỉnh được đầu tư trọng điểm. Tỉnh đã phê duyệt quy hoạch 12 ha đất (khu vực Phường Hiến Nam thị xã Hưng Yên) để xây dựng khu Liên hợp thể thao. Nhà tập đơn giản, sân vận động được cải tạo, nâng cấp với gần 4 tỷ đồng, đã đưa vào sử dụng có hiệu quả. Sân quần vượt đang xúc tiến dự án. Trường nghiệp vụ TDTT được duyệt dự án gần 8 tỷ, đã thi công 2 đơn nguyên ký túc xã - nhà ăn; nhà quản lý lớp học, nhà tập của trường và hệ thống tường rào đang chờ thẩm định thiết kế. Nhà thi đấu đa năng chuẩn bị thi phương án kiến trúc và lập dự án đầu tư.

- Ngân sách dành cho hoạt động TDTT cũng được quan tâm hơn. Hàng năm chi khoảng 2,7 tỷ (tỉnh 1,3 tỷ, huyện 1 tỷ, cơ sở 400 triệu). Tỉnh cũng hỗ trợ nhiều trang thiết bị, cơ sở vật chất cho các huyện và cơ sở từ nguồn chương trình mục tiêu của ngành.

4- Tổ chức bộ máy của ngành

- Hệ thống của ngành từng bước được kiện toàn, bổ sung biên chế; hoạt động có hiệu quả, chất lượng được nâng lên, cơ quan Sở hiện có 32 biên chế (trong đó 28 tốt nghiệp đại học TDTT). Cấp huyện có 9 đơn vị tổ chức theo mô hình là phòng VH - TDTT (trong đó 3 huyện có Trung tâm TDTT thuộc phòng Văn hóa TDTT), 01 huyện theo mô hình Trung tâm TDTT trực thuộc UBND huyện. Tổng số biên chế, cán bộ cơ quan quản lý TDTT huyện, thị xã: là 20 (đại học 16; 4 cao đẳng và trung học TDTT).

- Giáo viên chuyên trách TDTT khối trường học trong toàn tỉnh có 321 người trong đó có khối trường chuyên nghiệp, dạy nghề, PTTH và THCS đã có đủ giáo viên dạy TDTT. Các trường tiểu học thiếu giáo viên TDTT (chỉ có 1 giáo viên/166 trường tiểu học).

B- Về nguyên nhân


Đạt được kết quả trên đây, là do sự lãnh đạo và chỉ đạo sát sao của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh và các cấp ủy đảng, chính quyền của Ủy ban TDTT; các bộ, ngành TW và sự phối hợp chặt chẽ của các tỉnh bạn, các ngành, đoàn thể trong tỉnh và sự hưởng ứng, ủng hộ thường xuyên tích cực của đông đảo các tầng lớp nhân dân.


- Kinh tế của tỉnh tiếp tục tăng trưởng cao, chính trị xã hội ổn định; trình độ dân trí được nâng lên, đời sống nhân dân được cải thiện, đã tác động tích cực tới sự phát triển phong trào TDTT.


- Ngành TDTT, HLV, VĐV đã chủ động tham mưu cho cấp ủy đảng, chính quyền các cấp, đồng thời tích cực, nỗ lực phấn đấu vượt qua khó khăn, triển khai các chương trình hành động, thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của ngành.

II- TỒN TẠI, HẠN CHẾ VÀ NGUYÊN NHÂN

A- Tồn tại hạn chế

1- Phong trào TDTT quần chúng phát triển chưa đồng bộ, chất lượng chưa cao, số người tham gia tập luyện TDTT ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa còn ít.

Công tác xã hội hóa TDTT phát triển chưa mạnh, còn nhiều khó khăn nhất là xã hội hóa trong xây dựng cơ sở vật chất TDTT và đầu tư kinh phí cho thể thao thành tích cao.

2- Còn nhiều trường tiểu học thiếu giáo viên dạy TDTT, chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục thể chất trong nhiều trường học còn thấp, chưa đáp ứng so với mục tiêu giáo dục toàn diện. Hoạt động thể thao ngoại khóa quan tâm chưa thường xuyên. Thiết bị dạy TDTT trong nhà trường còn thiếu.

3- Thể thao thành tích cao có tiến bộ song chưa mạnh, với các môn thể thao trọng điểm, trình độ và thành tích còn hạn chế so với các tỉnh trong khu vực và cả nước, chưa có môn thể thao nổi trội trở thành đặc thù của tỉnh.

4- Biên chế cán bộ TDTT cấp cơ sở chưa có. Hướng dẫn viên thể thao chưa được hưởng thụ cấp thường xuyên, lại hạn chế về chuyên môn.

5- Cơ sở vật chất hạ tầng phục vụ hoạt động TDTT các cấp đã được quan tâm, song nhìn chung còn thiếu, chưa đồng bộ, chưa đáp ứng yêu cầu tập luyện và thi đấu, thiếu các công trình trọng điểm (nhà thi đấu đa năng, bể bơi v.v…).

- Kinh phí giành cho hoạt động TDTT còn thấp so với nhu cầu. Chế độ chính sách chưa phù hợp, chế độ dinh dưỡng thường xuyên của VĐV cấp cao còn thấp chưa đáp ứng nhu cầu luyện tập ở cường độ cao. Đất quy hoạch cho hoạt động cho TDTT theo Nghị quyết 06/NQ-TU của tỉnh ủy, thực hiện chậm. Chưa có giải pháp cụ thể để tạo được mặt bằng hoạt động từ diện tích đất đã quy hoạch ở các địa phương, cơ sở.

- Bộ máy toàn ngành chưa thống nhất về mô hình, biên chế ít, lực lượng VĐV đẳng cấp cao còn mỏng, các tuyến chưa thành hệ thống đồng bộ. Ngành thiếu HLV giỏi có nhiều kinh nghiệm trong các môn trọng điểm. Công tác đào tạo VĐV tuy có nhiều cố gắng, tiến bộ nhưng chưa khai thác hết tiềm năng, ứng dụng khoa học kỹ thuật trong TDTT còn ít.

B- Nguyên nhân


- Những tồn tại hạn chế kể trên là do một số cấp ủy đảng, chính quyền, nhất là ở cơ sở nhận thức chưa đầy đủ đối với công tác TDTT, chưa quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và đầu tư đúng mức cho hoạt động TDTT.


- Công tác quản lý, chỉ đạo của ngành TDTT còn nhiều hạn chế, chậm được đổi mới, chưa thực hiện mạnh mẽ và hiệu quả chủ trương xã hội hóa hoạt động TDTT; chưa có nhiều giải pháp tích cực, hiệu quả trong công việc phối hợp giữa các ngành để đẩy mạnh giáo dục thể chất cho học sinh, nhất là khối trường tiểu học.


- Tỉnh mới tái lập, ngân sách đầu tư phát triển TDTT tuy được đầu tư tăng lên, song còn hạn hẹp. Cơ sở vật chất, trang bị cho TDTT chưa đáp ứng nhu cầu.


- Đội ngũ cán bộ TDTT, nhất là cán bộ quản lý giỏi còn thiếu, hạn chế về nghiệp vụ.


Phần thứ hai


PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN SỰ NGHIỆP TDTT


ĐẾN NĂM 2005, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2010

I. MỤC TIÊU

Quán triệt Chỉ thị 17/CT-TW ngày 23/10/2002 của Ban bí thư Trung ương Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV, tiếp tục đẩy mạnh phong trào “Toàn dân RLTT theo gương Bác Hồ vĩ đại”, đưa TDTT quần chúng phát triển với mạng lưới rộng khắp, thu hút đông đảo nhân dân thường xuyên tập luyện TDTT; nâng cao chất lượng công tác giáo dục thể chất trong trường học, xây dựng đội ngũ VĐV các môn thể thao thành tích cao mà tỉnh có ưu thế, nhằm đưa thể thao Hưng Yên lên trình độ chung các tỉnh trong khu, góp phần nâng cao thể lực, xây dựng nguồn nhân lực, thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH, xây dựng tỉnh Hưng Yên giầu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh.

II. NHIỆM VỤ VÀ MỤC TIÊU CỤ THỂ

1- Đẩy mạnh phong trào “Toàn dân RLTT theo gương Bác Hồ vĩ đại”

Phát triển rộng khắp phong trào TDTT quần chúng, trú trọng cơ sở xã phường, cho tất cả các đối tượng, trước hết là thanh toán thiếu niên, lực lượng vũ trang. Đẩy mạnh xã hội hóa, phát triển các cơ sở mô hình tổ chức tập luyện TDTT dưới nhiều hình thức. Đa dạng hóa các hình thức thi đấu TDTT, đưa việc tập luyện TDTT trở thành thói quen của mọi người dân, trong mọi đối tượng, địa bàn, nhằm tăng cường sức khỏe, phát triển thể lực góp phần hoàn thành thắng lợi các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng của địa phương. Phấn đấu đến năm 2005 có 20% dân số tập luyện TDTT thường xuyên và 8% số gia đình thể thao; vào năm 2010 có 25% và 10 % dân số và gia đình tập luyện.

- Đẩy mạnh công tác giáo dục thể chất trong các đơn vị trường học và lực lượng vũ trang, góp phần đào tạo con người phát triển toàn diện cả về thể chất và trí tuệ, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc, phấn đấu số trường thực hiện tốt chương trình giảng dạy nội khóa đạt 80% vào năm 2005 và 95% vào năm 2010.

- Khai thác, giữ gìn và phát triển các môn thể thao dân tộc, đi đôi với các môn thể thao hiện đại đang phát triển trên địa bàn tỉnh nhà, thành lập một số Liên đoàn, Hội thể thao các môn đủ mạnh để thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của tổ chức hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của ngành TDTT tỉnh.

- Tăng cường sự phối hợp các ngành, đơn vị tổ chức tốt Hội khỏe Phù Đổng, Đại hội TDTT, Hội thi quốc phòng và các hội thao khác, chuẩn bị mọi điều kiện và lực lượng tham dự các kỳ đại hội, hội thao cấp quốc gia đạt kết quả cao hơn.

2- Chăm lo xây dựng phát triển thể thao thành tích cao tương xứng với tiềm năng của tỉnh

- Tiếp tục hoàn thiện hệ thống đào tạo VĐV TDTT, đầu tư trọng điểm công tác đào tạo VĐV trẻ, năng khiếu để bổ sung lực lượng VĐV cho các đội tuyển, đặc biệt chú trọng bồi dưỡng chuyên môn cho các đội, VĐV có khả năng giành huy chương tại giải vô địch quốc gia. Tập trung đầu tư cao, nâng nhanh thành tích 1 số môn thể thao mũi nhọn truyền thống của tỉnh như: bóng chuyền nữ, Pencaksilat, bóng bàn, cung cấp nhiều VĐV cho đội tuyển quốc gia.

- Tăng cường bồi dưỡng nghiệp vụ, nâng cao trình độ cho đội ngũ HLV, nhất là HLV đội tuyển. Đầu tư trang thiết bị hiện đại, ứng dụng những khoa học tiến bộ kỹ thuật TDTT tiên tiến, quan tâm những điều kiện cần thiết khác như nâng cao chế độ dinh dưỡng, thường xuyên kiểm tra y học … phục vụ công tác đào tạo, huấn luyện VĐV cấp cao ở các môn thể thao trọng điểm.

- Phấn đấu giành nhiều huy chương các giải quốc gia, nhiều VĐV đạt đẳng cấp, đưa thể thao Hưng Yên ngang trình độ chung các tỉnh trong khu vực và cả nước. Riêng 2 môn thể thao trọng điểm mũi nhọn của tỉnh: bóng chuyền nữ phấn đấu vươn lên từ vị trí thứ 5 đên vị trí thứ 3 các đội mạnh toàn quốc, thời điểm 2005 đến 2010 với lực lượng VĐV 3 tuyến hùng hậu: đội tuyển - trẻ - năng khiếu. Môn Pencakisilát đến 2005 và những năm tiếp sau luôn là địa phương mạnh của cả nước, có nhiều VĐV đạt đẳng cấp quốc gia và tham gia đội tuyển thi đấu quốc tế và khu vực. Các môn thể thao trọng điểm khác giành được nhiều huy chương tại giải vô địch quốc gia. Cụ thể:

Năm 2005 phấn đáu giành 32 huy chương các loại; năm 2010 giành 40 huy chương. Đóng góp cho đội tuyển quốc gia 10 VĐV năm 2005; 15 VĐV năm 2010; có 25 VĐV đạt đẳng cấp 2005; 30 VĐV đạt đẳng cấp năm 2010. Tại các giải Đại hội TDTT toàn quốc tiếp theo, phấn đấu tăng số lượng huy chương và phấn đấu đạt vị trí xếp hạng trung bình của cả nước (thứ 30 trở lên).

3- Kiện toàn ổn định bộ máy tổ chức, quan tâm công tác đào tạo cán bộ và nghiên cứu khoa học

- Kiện toàn thống nhất tổ chức bộ máy ngành TDTT từ tỉnh đến cơ sở. Trường nghiệp vụ TDTT tăng cường biên chế lãnh đạo, bổ sung HLV các môn thể thao trọng điểm và cho các đội tuyển.

- Cấp huyện thành lập trung tâm TDTT là đơn vị sự nghiệp thuộc phòng VH - TCTT, bổ sung biên chế có chuyên môn TDTT cho các phòng VH -TDTT còn thiếu.

- Cấp cơ sở có phân công cán bộ phụ trách công tác TDTT, được đào tạo bồi dưỡng chuyên môn TDTT và được hưởng phụ cấp hợp lý.

- Thường xuyên chăm lo công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, HLV. Phối hợp chặt chẽ với ngành GD ĐT, tham mưu cho UBND tỉnh có kế hoạch đào tạo, bổ sung giáo viên chuyên trách TDTT cho các trường phổ thông còn thiếu, nhất là khối trường tiểu học, thường xuyên bồi dưỡng giáo viên TDTT để thực hiện tốt chương trình giáo dục thể chất theo quy định.

- Phấn đấu đến năm 2010 100% giáo viên chuyên trách TDTT các trường có trình độ cao đẳng đại học.

- Phối hợp tổ chức mở Đại học tại chức TDTT, tạo điều kiện cho VĐV cấp cao của tỉnh vừa tập luyện, thi đấu vừa được học tập để giải quyết đầu ra khi hết thành tích cống hiến, tạo cho VĐV yên tâm phấn đấu cho sự nghiệp TDTT của tỉnh.

- Hàng năm duy trì thường xuyên công tác đào tạo, bồi dưỡng, hướng dẫn viên cơ sở, làm nòng cốt xây dựng phong trào TDTT ở các địa phương.

- Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ TDTT tiên tiến phục vụ trực tiếp quản lý, tuyển chọn, đào tạo VĐV để nâng cao thành tích.

- Thực hiện nghiên cứu đề án, điều tra thể chất học sinh 7 đến 15 tuổi phục vụ cho quá trình tuyển chọn VĐV trẻ.

4- Đẩy nhanh công tác xây dựng cơ sở vật chất và phát triển hạ tầng cho hoạt động TDTT đáp ứng nhu cầu phát triển hiện nay

- Tập trung đầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấp cơ sở vật chất của ngành cả 3 cấp (tỉnh - huyện, thị - cơ sở). Trước mắt triệt để khai thác và phát huy hiệu quả mọi cơ sở vật chất, hạ tầng TDTT hiện có để hoạt động.

- Đến năm 2005 hoàn thành chỉ tiêu Nghị quyết đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV về XD khu trung tâm thể thao của tỉnh; mỗi huyện có 1 SVĐ, 1 nhà tập; mỗi xã có 1 SVĐ; mỗi thôn có một điểm vui chơi giành cho hoạt động TDTT, với diện tích đất được định mức theo tinh thần NQ 06/NQTU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy. Từng bước đầu tư xây dựng các công trình TDTT trọng điểm: Đối với mỗi trường học: có 1 sân thể thao cơ bản diện tích 4000m2để luyện tập và vui chơi. Mỗi xã có 1 sân vận động 05 - 0,6 ha, có phòng tập bóng bàn, 1 sân bóng chuyền, sân cầu lông v.v…

- Mỗi huyện (thị xã) có 1 sân vận động từ 1-2 ha với 2500 - 5000 chỗ, có nhà tập đơn giản, tập nhiều môn thể thao, có bể bơi 50m để phổ cập và thi đấu cấp huyện, thị.

Cấp tỉnh triển khai dự án khu liên hợp thể thao của tỉnh tại thị xã Hưng Yên: hoàn thành dự án Trường nghiệp vụ TDTT, dự án sân quần vợt, xây dựng nhà thi đấu đa năng 2000 đến 2500 chỗ; xây dựng bể bơi 50m, thi đấu quốc gia. Đến năm 2010 từng bước triển khai mặt bằng sân vận động trung tâm tại phường Hiến Nam - TX Hưng Yên; mở rộng đầu tư các công trình thể thao trọng điểm tại các khu công nghiệp của tỉnh. Đảm bảo đủ điều kiện làm vệ tinh cho Thủ đô Hà Nội đón chu kỳ Segames sau này.

Phần thứ 3

NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

1- Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo các cấp ủy đảng, chính quyền và sự phối hợp của các ngành đoàn thể, các tổ chức xã hội đối với công tác TDTT, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức đối với phát triển TDTT, nhằm nâng cao sức khỏe cho nhân dân, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

2- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, hướng dẫn, động viên mọi tầng lớp nhân dân nhận thức rõ tác dụng và tích cực luyện tập TDTT, đồng thời coi trọng giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong cán bộ, HLV, VĐV. Kiên quyết đấu tranh ngăn ngừa mọi biểu hiện tiêu cực trong hoạt động TDTT.

3- Quan tâm đào tạo đủ giáo viên bộ môn TDTT, tăng cường ứng dụng khoa học - kỹ thuật - công nghệ và xây dựng cơ sở vật chất để nâng cao hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ, HLV và các tài năng thể thao. Thực hiện từng bước tiêu chuẩn hóa cán bộ, khuyến khích cán bộ, HLV học tập nâng cao trình độ nghiệp vụ. Ưu tiên tuyển chọn những cán bộ, HLV trưởng thành từ VĐV đảm đương nhiệm vụ huấn luyện các đội tuyển của tỉnh.

Tiếp tục kiện toàn thống nhất cơ quan quản lý TDTT cấp huyện, thành lập Trung tâm TDTT là đơn vị sự nghiệp thuộc phòng VH - TDTT huyện, thị, bổ sung đủ biên chế; đáp ứng yêu cầu số lượng chuyên môn. Cấp xã, phường có phân công cán bộ phụ trách công tác TDTT, được hưởng phụ cấp hợp lý.

4- Tập trung đầu tư cao cho các môn trọng điểm của tỉnh phấn đấu giành thứ hạng cao toàn quốc, bao gồm:

a) Đầu tư cho 2 môn (bóng chuyền nữ và Pencaksilát):

+ Hàng năm tuyển chọn bổ sung thường xuyên lực lượng VĐV theo 3 tuyến: Đội tuyển - trẻ - năng khiếu; được đào tạo tập trung tại Trường nghiệp vụ TDTT; mỗi tuyến có từ 12 - 15 VĐV, đồng thời xây dựng từ 2-3 lớp nghiệp dư nâng cao tại các huyện để cung cấp lực lượng cho tỉnh.

+ Nâng chế độ ăn thường xuyên cho VĐV tuyến đội tuyển và VĐV đạt đẳng cấp quốc gia (cấp 1, kiện tướng, dự bị kiện tướng). Từ 15.000đ/người/ ngày lên 25.000 đ/người/ngày.

+ Từ năm 2003 đến 2005: cho phép chuyển nhượng 4 VĐV của một số đội mạnh toàn quốc bổ sung cho đội tuyển của tỉnh trong thời gian thi đấu (6 tháng).

+ Mỗi năm mời 1 chuyên gia HLV người Trung Quốc sang huấn luyện cho 2 đội tuyển trong 3 tháng và cử 2 đội tuyển sang tập huấn tại Trung Quốc mỗi năm 2 tháng.

b) Đối với môn trọng điểm khác: (bóng bàn).

Gửi 3 VĐV bóng bàn trẻ có triển vọng đi tập huấn tại Trung Quốc hoặc Trung tâm bóng bàn mạnh trong nước (1 năm gửi 3 tháng).

c) Đầu tư về cơ sở vật chất: Triển khai XD nhà thi đấu đa năng với đầy đủ trang thiết bị hiện đại, đáp ứng quá trình tập luyện nâng cao của VĐV các môn trọng điểm của tỉnh từ năm 2004.

5- Tiếp tục đẩy mạnh xã hội hóa TDTT, khuyến khích các tổ chức, cá nhân, các thành phần kinh tế tham gia ủng hộ, đầu tư và huy động mọi nguồn lực trong nhân dân để phát triển sự nghiệp TDTT. Hình thành một số liên đoàn thể thao ở các môn có đủ điều kiện, chuyển giao phần lớn việc điều hành hoạt động cho các tổ chức xã hội về TDTT, từng bước phấn đấu tạo cơ sở phát triển kinh tế thể thao, mở các dịch vụ quảng cáo, xổ số kiến thiết TDTT để tăng thêm nguồn thu cho hoạt động phục vụ phát triển TDTT.

6- Điều chỉnh nâng mức đầu tư của nhà nước cho lĩnh vực TDTT, ưu tiên cho phát triển TDTT trong trường học, khu vực nông thôn và các môn thể thao trọng điểm. Có cơ chế chính sách hợp lý hỗ trợ tạo mặt bằng cho các trung tâm TDTT ở cơ sở (mỗi cơ sở: 5.000.000đ).

- Huy động thêm các nguồn đóng góp tài trợ, thực hiện tốt XH hóa hoạt động TDTT. Tranh thủ huy động mọi nguồn lực của nhân dân để phát triển sự nghiệp TDTT thông qua các tổ chức xã hội như các liên đoàn thể thao của tỉnh. Thực hiện đúng các quy định về quản lý, sử dụng ngân sách cho hoạt động TDTT, chống lãng phí.

7- Tăng cường quan hệ hợp tác, trước hết là với các tỉnh, thành phố có thế mạnh về TDTT và tỉnh Quảng Tây - Trung Quốc để tranh thủ sự giúp đỡ trong công tác đào tạo, bồi dưỡng HLV, VĐV, tạo điều kiện thuận lợi cho các đoàn VĐV giao lưu, cọ sát trong và ngoài nước để nâng cao thành tích.

8- Để thực hiện tốt những mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu trên đây:

- Các cấp chính quyền, các ngành, đoàn thể quần chúng, tổ chức tốt đợt phổ biến, quán triệt Chỉ thị 17 của Ban Bí thư TW, Chỉ thị của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, đề án của UBND tỉnh về sự phát triển sự nghiệp TDTT đến năm 2005 và định hướng đến 2010, đồng thời xây dựng chương trình, kế hoạch cụ thể và tổ chức thực hiện.

- Sở TDTT chủ trì xây dựng chương trình, kế hoạch, tổ chức thực hiện đề án trong toàn ngành. Phối hợp với các ngành, đoàn thể, đơn vị có liên quan tổ chức triển khai thực hiện các nội dung của đề án.

- Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính - Vật giá; căn cứ vào đề án của UBND tỉnh bố trí kế hoạch, ngân sách đầu tư hàng năm để xây dựng các thiết chế và tổ chức các hoạt động TDTT.

- Ban Tổ chức chính quyền tỉnh, phối hợp với Sở TDTT, Sở Giáo dục Đào tạo rà soát nghiên cứu thống nhất đề xuất, kiện toàn bộ máy cơ quan TDTT huyện thị, bổ sung đủ biên chế, có cơ chế chính sách hỗ trợ cán bộ làm công tác TDTT ở cơ sở, đào tạo giáo viên dạy TDTT các trường phổ thông. Chính sách ưu đãi hợp lý nhằm khuyến khích, thu hút HLV giỏi, VĐV thể thao tài năng phấn đấu vì sự nghiệp TDTT.

- Sở TDTT phối hợp với Sở Văn hóa - Thông tin, chỉ đạo xây dựng và hướng dẫn triển khai thiết chế Văn hóa - TDTT ở cơ sở.

- Các cơ quan thông tin đại chúng của mỗi tỉnh phối hợp với ngành TDTT đẩy mạnh công tác tuyên truyền hoạt động TDTT, kịp thời biểu dương gương người tốt, việc tốt và các điển hình tiên tiến trong hoạt động TDTT của tỉnh./.

Tổng quan văn bản

Số ký hiệu55/2003/QĐ-UB
Ngày ban hành03/10/2003
Loại văn bảnQuyết định
Ngày có hiệu lực03/10/2003
Nguồn thu thậpCơ sở dữ liệu
Ngày đăng công báo---
Cơ quan ban hành / Người kýUBND tỉnh Hưng Yên / Nguyễn Đình Phách
Phạm viHưng Yên
Trích yếuVề việc Ban hành Đề án phát triển sự nghiệp TDTT của tỉnh Hưng Yên đến năm 2005 và định hướng đến năm 2010
Tình trạng hiệu lựcCòn hiệu lực

Chưa có thông tin lược đồ

Văn bản này hiện chưa được cập nhật dữ liệu về lược đồ liên quan.