|
UBND TỈNH GIA LAI Số: 57/2006/QĐ-UBND |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------------------------- tỉnh Gia Lai, ngày 08 tháng 08 năm 2006 |
QUYẾT ĐỊNH
Về việc ban hành “Chương trình mục tiêu Giảm nghèo tỉnh Gia Lai giai đoạn 2006-2010”
_________________________
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH
Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân năm 2003;
Theo đề nghị của Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội;
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này“Chương trình mục tiêu Giảm nghèo tỉnh Gia Lai giai đoạn 2006 - 2010”.
Điều 2. Các Ông (bà): Chánh Văn phòng Ủy ban Nhân dân tỉnh, Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Thủ trưởng các Sở - Ban, ngành liên quan, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.
Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 10 ngày, kể từ ngày ký./.
TM. ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH
CHỦ TỊCH
(Đã ký)
Phạm Thế Dũng
CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU GIẢM NGHÈO TỈNH GIA LAI GIAI ĐOẠN 2006 - 2010
(Ban hành kèm theo Quyết định số 57/2006/QĐ-UBND ngày 08 tháng 8 năm 2006 của Ủy ban Nhân dân tỉnh)
_________________________
Phần thứ nhất
ĐÁNH GIÁ CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH GIAI ĐOẠN 2001 - 2005
I. Đặc điểm tình hình:
1. Khái quát tình hình chung:
Gia Lai có diện tích tự nhiên 15.495,7 km2; trong đó, diện tích đất có rừng chiếm 49,4%; diện tích đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ 24,4%; diện tích đất đồi núi trọc có khoảng 17,8%.
Toàn tỉnh có 13 huyện, 01 thị xã, 01 thành phố với 200 xã, phường, thị trấn. Trong đó, có 78 xã và 113 làng đặc biệt khó khăn. Dân số toàn tỉnh (năm 2005) là l.134.300 người với 22685 hộ, trong đó, đồng bào dân tộc thiểu số có 49265 người, chiếm tỷ lệ 44,5% tổng dân số toàn tỉnh, với chủ yếu là dân tộc JRai và Bahnar. Cơ cấu dân số giữa các vùng: nông thôn 72% và thành thị 28%. Hiện nay, toàn tỉnh có 50.642 đối tượng chính sách là thương binh, bệnh binh, liệt sỹ và người có công với nước (có 14.626 đối tượng chính sách đang hưởng trợ cấp hàng tháng); có 86.365 người cao tuổi (2.500 người từ 90 tuổi trở lên), trên 8.600 người tàn tật (2.353 trẻ em tàn tật), có 2.449 em mồ côi, 141 em bị bỏ rơi, 4 em bị nhiễm HIV/AIDS... (trong đó có: 3.893 người đang hưởng trợ cấp cộng đồng gồm 963 người già cô đơn, 943 trẻ mồ côi không nơi nương tựa và 2.987 người bị tàn tật nặng).
Diễn biến đói nghèo:
- Năm 1995, toàn tỉnh có tỷ lệ hộ nghèo 1à 35,7%.
Đại hội lần thứ 12 của Đảng bộ tỉnh, tỷ lệ hộ nghèo trong toàn tỉnh giảm xuống còn 16,84% (theo tiêu chí cũ);
- Kết quả điều tra hộ nghèo theo tiêu chí của giai đoạn 2001-2005 (đầu năm 2001) tỷ lệ hộ nghèo chiếm 22,4%;
- Năm 2002 tỷ lệ hộ nghèo còn 19,46%;
- Năm 2003 tỷ lệ hộ nghèo còn 14,25% (30.753 hộ);
- Năm 2004 tỷ lệ hộ nghèo còn 12,4%;
- Cuối năm 2005 tỷ lệ hộ nghèo còn khoảng 10% (22.169 hộ) giảm 5.320 hộ so với năm 2004.
Như vậy, trong vòng 5 năm qua (2001-2005), tỷ lệ hộ nghèo trong toàn tỉnh không ngừng giảm, trung bình mỗi năm giảm khoảng 2,48% (theo tiêu chí hộ nghèo giai đoạn 2001-2005) cao hơn mức trung bình của cả nước là 1,5-2%. Tuy nhiên, tỷ lệ các hộ nghèo là đồng bào dân tộc ít người vẫn còn chiếm tỷ lệ cao.
- Kết quả điều tra hộ nghèo toàn tỉnh theo tiêu chí mới của giai đoạn 2006-2010 (tháng 10/2005) là 66.108 hộ, chiếm tỷ lệ 29,82% trên tổng số hộ trong toàn tỉnh; trong đó hộ nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số là 54.562 hộ, chiếm 62,80% trong tổng số hộ đồng bào dân tộc thiểu số, chiếm 82,53% trong tổng số hộ nghèo của toàn tỉnh.
2. Thuận lợi, khó khăn:
Trong quá trình thực hiện mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo của tỉnh giai đoạn 2001-2005 có những thuận lợi và khó khăn như sau:
a. Thuậnlợi:
- Công cuộc xóa đói, giảm nghèo luôn được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm, Nhà nước đã ban hành các chính sách đúng đắn và kịp thời trong từng thời kỳ và trong từng giai đoạn phát triển của đất nước.
- Chính phủ phê duyệt nhiều chương trình, dự án nhằm huy động nhiều nguồn lực để đẩy nhanh chương trình XĐGN.
- Các cấp uỷ đảng và HĐND đã có chủ trương, nghị quyết cụ thể cho từng thời kỳ để đẩy nhanh tốc độ XĐGN.
b. Khó khăn và hạn chế.
- Khó khăn cơ bản và trực tiếp là trình độ dân ta thấp, còn tồn tại một số phong tục lạc hậu chi phối đời sống; tập quán sản xuất còn mang nặng tính tự nhiên; tư tưởng ỷ lại, trông chờ sự trợ giúp của nhà nước còn lớn, nhất là đồng bào dân tộc tại chỗ.
- Tình trạng di dân tự do ở các vùng miền trong cả nước đến tỉnh ta đã làm cho đối tượng nghèo tăng lên, gây khó khăn trong quản lí, tạo áp lực lớn về bố trí dân cư, bố trí đất đai và các vấn đề xã hội khác.
- Công tác định canh, định cư (ĐCĐC) tuy làm nhiều nhưng chưa được vững chắc, định cư chưa gắn với lập vườn, định canh chưa gắn với thâm canh. ĐCĐC chưa gần với quy hoạch đất sản xuất, dân cư vào làm công nhân ở các nông trường, xí nghiệp chưa nhiều; đồng bào dân tộc thiểu số tuy thiếu đất nhưng lại bán đất hoặc cho người khác thuê đất.
- Một số công trình đầu tư chưa đồng bộ, chưa dứt điểm, còn dàn trải, chất lượng thấp, chưa có sự phối hợp đồng bộ giữa các cấp, các ngành; có công trình chưa mang tính thiết thực cao.
- Khí hậu thời tiết diễn biến phức tạp, nắng hạn kéo dài, chưa có các biện pháp ngăn chặn, phòng ngừa thiên tai hữu hiệu, ảnh hưởng nhiều đến đời sống của nhân dân.
- Tuy một số địa phương đã có biện pháp tăng cường cán bộ cho xã, đưa thanh niên tình nguyện về cơ sở, tạo điều kiện tốt cho XĐGN, song không phải nơi nào cũng hoạt động có hiệu quả thiết thực, ở một số nơi trong thời gian làm việc ở xã, cán bộ tăng cường cũng chưa chuyển giao được kinh nghiệm và kiến thức cho cán bộ địa phương.
- Chưa có sự gắn kết chặt chẽ trong quá trình thực hiện các hợp phần của chương trình theo “mối liên kết ngang''(các cơ quan quản lý các hợp phần của chương trình ở các cấp) và“mối liên kết dọc”(giữa Trung ương và địa phương) vì thiếu một ban có thẩm quyền để điều phối chương trình. Công tác theo dõi, giám sát không được thực hiện thường xuyên.
- Cơ chế hoạt động của tổng hợp phần của chương trình chưa đồng bộ, nhất là việc huy động và phân bổ nguồn lực; một số hoạt động chưa đi vào chiều sâu và chưa thật sự bền vững. Một số chế độ, chính sách chậm sửa đổi, ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình thực hiện chương trình, dự án.
II. Kết quả thực hiện chương trình:
1. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chương trình:
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác XĐGN và thực hiện chỉ đạo của thủ tướng Chính phủ, tỉnh Gia Lai đã có Nghị quyết của từng cấp ủy Đảng và HĐND về lãnh đạo công tác XĐGN; UBND tỉnh đã phê duyệt chương trình mục tiêu XĐGN trên địa bàn, ưu tiên nguồn lực cho các xã khó khăn nhất, có tỷ lệ nghèo đói cao và thiếu cơ sở hạ tầng thiết yếu, thành lập Ban chỉ đạo XĐGN các cấp. Có sự phân cấp và phân công trách nhiệm tổ chức thực hiện rõ ràng, cụ thể giữa các cấp, các ngành, phát huy vai trò của các tổ chức đoàn thể trong việc tham gia, giám sát thực hiện chương trình; phân công các ban ngành, tổ chức đoàn thể, các doanh nghiệp giúp đỡ các xã nghèo với các nội dung thiết thực, nhất là nhiệm vụ xóa nhà tạm cho hộ nghèo. Một số chính sách, dự án đã được kế hoạch hóa từ cấp xã đến cấp tỉnh theo một cơ chế linh hoạt, mềm dẻo và theo nguyên tắc nhà nước, cộng đồng và người dân cùng tham gia thực hiện; tạo được nhiều mô hình tốt, cách làm hay và có sáng tạo.
2.Kết quả thực hiện chương trình, dự án:
2.1. Dự án hướng dẫn làm khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư cho người nghèo:Vốn đầu tư theo dự án hướng dẫn làm khuyến nông cho người nghèo triển khai thực hiện đúng đối tượng và đúng trọng tâm, chủ yếu thực hiện các mô hình cây, con phù hợp với đất đai và điều kiện tự nhiên của vùng như: Hướng dẫn trồng lúa cạn, các cây họ đậu, bắp lai, mì cao sản, điều bông vải, bò lai, chăn nuôi dê... Dự án này được lồng ghép vào các dự án phát triển cây, con của tỉnh giúp nông dân vừa có giống, vừa được tập huấn kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư. Trong 5 năm 2001-2005 kinh phí thực hiện đầu tư là 3.019,8 triệu đồng.
2.2. Dự án hỗ trợ phát triển ngành nghề:Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về Công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn, xây dựng các mô hình về bảo quản, chế biến Nông-Lâm sản và phát triển ngành nghề nông thôn, dự án đã tập trung xây dựng với quy mô theo hộ, nhóm hộ gia đình phù hợp với điều kiện sản xuất và tập quán của dân cư như: Ngành nghề trồng nấm và sản xuất vật liệu xây dựng, hàng mỹ nghệ, hàng thủ công truyền thống.
- Năm 2004, kinh phí 700 triệu đồng hỗ trợ cho các dự án phát triển ngành nghề dệt thổ cẩm, cơ khí rèn, gò, xay xát, cơ khí sửa chữa ở 5 huyện: Chư Păh, Kông Chro, Ia Grai, Krông Pa, Mang Yang.
- Năm 2005, kinh phí thực hiện 700 triệu đồng đã tổ chức xây dựng các mô hình về bảo quản, chế biến nông - lâm sản và phát triền ngành nghề nông thôn theo quy mô hộ hoặc nhóm hộ phù hợp với điều kiện sản xuất và tập quán dân cư.
2.3. Dự án đào tạo cán bộ xã nghèo và cán bộ làm công tác XĐGN, đào tạo cán bộ giải quyết việc làm và cán bộ xã thuộc chương trình 135:
- Tỉnh đã mở 21 lớp tập huấn đào tạo cho 3.069 người gồm các đối tượng là: Bí thư xã, Chủ tịch HĐND xã, Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND xã, cán bộ xã hội, đại diện là ban giám sát chương trình 135 xã, các đoàn thể ở xã và trưởng thôn, làng.
- Kinh phí thực hiện 947 triệu đồng (trong đó có 35 triệu đồng đào tạo cán bộ XĐGN bằng tiếng Jơ Rai).
2.4.Dự án di dân tự do và xây dựng vùng kinh tế mới:Năm 2001 tỉnh bố trí 5.415 triệu đồng, để nhân dân kinh tế mới 300 hộ vào huyện Kông Chro và thực hiện giãn dân địa phương là 312 hộ. Năm 2002, kinh phí phân bổ là 4.700 triệu đồng, tiếp tục nhận 62 hộ dân kinh tế mới và giãn dân địa phương là 250 hộ. Năm 2004, 2005 tập trung kinh phí của dự án này 2.000 triệu đồng để ổn định dân di cư tự do xã Ia Piơ huyện Chư Prông. Kinh phí thực hiện trong 5 năm là 12.997,3 triệu đồng.
2.5. Dự án định canh định cư:
Tổ chức định canh định cư được 8.831 hộ. Lũy kế đến năm 2005 cơ bản ĐCĐC cho 72.200 hộ, đạt 83% số hộ trong diện vận động ĐCDC. Kinh phí dự án thực hiện trong 5 năm 2001-2005 là 31.173 triệu đồng, trong đó vốn ngân sách địa phương lồng ghép là 2.050,0 triệu đồng.
2.6.Khám chữa bệnh cho người nghèo:
Từ năm 2003 đến 2005 đã có 754.833 lượt người nghèo đến khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế nhà nước.
Trong đó:
- Khám bệnh tuyến xã: 581.399 lượt người;
- Khám chữa bệnh ngoại trú: 116.878 lượt người;
- Khám chữa bệnh nội trú: 56.556 lượt người.
2.7.Dự án đầu tư cơ sở hạ tầng các xã ĐBKK:
Tỉnh ta có 78 xã ĐBKK, trong đó có 11 xã ĐBKK được giao cho UBND xã làm chủ đầu tư.
Từ năm 1999 đến năm 2005, tổng kinh phí đầu tư cho chương trình này là 215.584,65 triệu đồng thực hiện các công trình sau: Giao thông, thuỷ lợi, nước sinh hoạt, điện, trường học, trạm xá, khai hoang...(có phụ lục kèm theo)
Về đầu tư xây dựng Trung tâm cụm xã: Trong 5 năm 2001-2005, tỉnh có 11 TTCX hoàn thành trên 25 TTCX được TW thoả thuận đầu tư đó là: TTCX Ia Pia huyện Chư Prông; TTCX Mláh huyện Krông Pa; TTCX Ia Lang huyện Đức Cơ; TTCX Đăk Sơ Mei huyện Đăk Đoa; TTCX Đăk Tơ Ver huyện Chư Păh; TTCX Kon Thụp, TTCX Đăk Trôi huyện Mang Yang; TTCX Kon Lơng Khơng huyện Kbang; TTCX Sơ Ró huyện Kông Chro; TTCX Chư Đrăng huyện Krông Pa. Kinh phí bố trí cho dự án 5 năm là 53.683 triệu đồng.
2.8.Tín dụng ưu đãi hộ nghèo:
Doanh số của ngân hàng chính sách xã hội tỉnh cho vay 5 năm 2001-2005 là 361.806 triệu đồng, trong đó cho vay hộ nghèo: 317.131 triệu đồng với 70.250 lượt hộ được vay (bình quân là 4,5 triệu đồng/hộ). Dư nợ đến cuối năm 2005 là 301 tỷ đồng, tăng 4,2 lần so với năm 2000. Trong đó, hộ đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ 60% trong tổng số hộ dư nợ. Trong công tác cho người nghèo vay vốn đã chú trọng đến hiệu quả vốn vay, chú trọng tính phối hợp giữa các ngành, các đoàn thể để xác định đối tượng đầu tư cho phù hợp từng vùng; kết hợp giữa chăn nuôi và trồng trọt, hướng dẫn kỹ thuật sản xuất cho hộ vay. Dư nợ bình quân không ngừng được nâng lên qua các năm, từ 2,1 triệu đồng/hộ năm 2003 tăng lên 4,4 triệu đồng/hộ năm 2004, đến cuối năm 2005 là 5,3 triệu đồng trên hộ. Vốn vay cho hộ nghèo đã không ngừng phát huy tính hiệu quả, đến nay đã góp phần đưa 16.360 hộ thoát nghèo.
2.9.Côngtác cho vay mua nhà trả chậm theo quyết định 154/QĐ-TTg:NHCSXH đã triển khai cho vay đối với các hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ và hộ đồng bào dân tộc thuộc diện chính sách ở các tỉnh Tây nguyên mua nhà trả chậm được 3.626 triệu đồng với 518 hộ được mua nhà. Đến ngày 15/8/2004, sau khi có quyết định 134/QĐ-TTg, đã dừng thực hiện. Dư nợ đến cuối năm 2005 còn 510 triệu đồng do hộ vay được chuyển vào chương trình 134 và nhà nước hỗ trợ cho mỗi hộ 6 triệu đồng (TW 5 triệu và 1 triệu từ ngân sách của tỉnh).
Ngoài ra, NHCSXH của tỉnh còn cho các đối tượng khác là sinh viên, học sinh nghèo vay vốn (dư nợ 510 triệu đồng) và giải quyết cho vay đối với những người đi lao động ở nước ngoài vay, dư nợ là 240 triệu đồng.
Phần lớn hộ nghèo sử dụng vốn vay có hiệu quả, trả vốn đúng hạn cho ngân hàng, tỷ lệ nợ quá hạn ở mức thấp (4%). Chính sách tín dụng đã có tác động quan trọng tới giảm nghèo, hơn một nửa số hộ được vay vốn cho rằng vốn vay có tác động tích cực đến tăng thu nhập và góp phần XĐGN cho hộ gia đình. Nhiều hộ vay vốn đã thoát nghèo, có điều kiện mua sắm thêm các phương tiện, công cụ sản xuất.
2.10.Hỗ trợ sản xuất vàđất ở:Thực hiện chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, tỉnh ta đã giải quyết đất sản xuất cho đồng bào DTTS thiếu đất sản xuất và đất ở: hỗ trợ vốn cho hộ đồng bào DTTS, hộ nghèo thiếu đất khai hoang để đảm bảo an ninh lương thực tại chỗ. Thực hiện chương trình 134 đã giải quyết đất cho 2.294 hộ với 750,35 ha (trong đó: 711,88 ha đất sản xuất cho l.246 hộ và 38,17 ha đất ở cho 1.048 hộ). Đồng thời đưa lao động ở các hộ thiếu đất sản xuất vào các công ty cao su trên địa bàn được 135 lao động.
2.11. Hỗ trợ về nhà ở:
- Thực hiện chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số khó khăn về nhà ở theo Quyết định 154 của Chính phủ, từ năm 2002 đến năm 2004 làm thí điểm 518 căn nhà tại 5 huyện gồm: Ia Grai, KBang, Mang Yang, Chư Sê, Đăk Đoa với số vốn vay là 3.626 triệu đồng.
- Thực hiện Quyết định 134 của Thủ tướng Chính phủ, đến ngày 31/12/2005 đã làm được 7.430 căn nhà, diện tích sử dụng từ 24 m2đến 35m2,trị giá từ 6-11 triệu đồng. Trung ương và tỉnh hỗ trợ 6 triệu đồng/căn, còn lại địa phương và người hưởng lợi đóng góp.
- Thực hiện chính sách tôn hoá nhà ở cho đồng bào dân tộc thiểu số, tỉnh đã xuất ngân sách 17,5 tỷ đồng cấp cho 15.139 hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo khó khăn về nhà ở (bình quân 30 tấm tôn/hộ).
- Tỉnh xuất ngân sách 16.440 triệu đồng để sửa chữa cho 4.224 nhà ở cho đối tượng chính sách khó khăn về nhà ở. Trong đó, 2.340 gia đình được hỗ trợ 3 triệu đồng/nhà, 1.884 gia đình được hỗ trợ 5 triệu đồng/nhà.
2.12. Hỗtrợ nước sinh hoạt:
- Vốn chương trình mục tiêu quốc gia thực hiện 153 công trình cung cấp nước sạch cho 2.160 hộ.
- Vốn chương trình 134 thực hiện 850 công trình (giếng đào, giọt nước, giếng khoan, hệ thống tự chảy) cung cấp nước sạch cho 9.698 hộ.
2.13. Xây dựngmô hình xóa đói, giảm nghèo:
- Năm 2004, kinh phí thực hiện là 799,1 triệu đồng hỗ trợ cho đồng bào dân tộc thiểu số ở xã nghèo và xã ĐBKK tập trung chủ yếu vào một số cây con như: bò lai, cây điều, cây bông vải. Xây dựng được 11 mô hình trình diễn kỹ thuật ở 14 huyện, thị xã. Mở được 33 lớp tập huấn khuyến nông cho 1.400 người tham gia.
- Năm 2005, kinh phí thực hiện 950 triệu đồng tập trung vào hướng dẫn người nghèo chủ yếu ở các xã ĐBKK cách làm ăn thông qua các mô hình trồng cây điều, cây bông vải, nuôi bò…
3. Sự tham gia có hiệu quả của các hội, đoàn thể:
3.1. Ủy ban MTTQVN tỉnh:Trong 5 năm qua,''Quỹ vì người nghèo''tỉnh đã thu được 9.366.243.936 đ;
Trong đó: - Quỹ tỉnh: 5.079.571.933 đ
- Quỹ TW hỗ trợ: 1.050.000.000 đ
- Quỹ huyện, TX, TP: 2.036.034.000 đ
- Quỹ xã, phường, TT: 1.200.638.000 đ
Đã chi (quỹ tỉnh và TW) 5.537.323.300 đ để xây 537 nhà đại đoàn kết; sửa chữa 486 nhà rách nát, hỗ trợ mua 207 con bò sinh sản, hỗ trợ chữa bệnh cho người nghèo 470 triệu đồng…
3.2. Hội nông dân tỉnh:Đến nay đã có 56.980 hộ nông dân vay vốn của Ngân hàng chính sách xã hội thông qua 3.580 tổ vay vốn, trong đó, đồng bào dân tộc thiểu số dư nợ 144.660 triệu đồng (chiếm 60,2%).
Thông qua chương trình hỗ trợ giải quyết việc làm (120), đã có 31 dự án với số vốn vay là 2.179 triệu đồng, giải quyết việc làm cho 496 lao động. Các dự án tập trung chủ yếu phát triển chăn nuôi bò sinh sản, chăm sóc cà phê, phát triển ngành nghề và dịch vụ sản xuất…
Thông qua Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Hội nông dân đã thành lập được 2.909 tổ vay vốn ở các thôn làng với 53.682 thành viên tham gia với số tiền vay 733.250 triệu đồng.
Quỹ hỗ trợ nông dân, đến nay hội viên nông dân trong toàn tỉnh đã ủng hộ được 1.217 triệu đồng, đã giải quyết cho 2.400 lượt hộ vay để sản xuất.
Trong 5 năm qua, Hội nông dân các cấp đã phối hợp với các ngành mở các lớp tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật, hội nghị đầu bờ, tập huấn IPM... được 216 lớp với sự tham gia của 1.442 lượt nông dân.
Hội nông dân đã phát động sâu rộng phong trào ''nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi''. Phong trào được sự tham gia của đông đảo nông dân trong tỉnh, năm sau nhiều hơn năm trước, năm 2005 có 51.865 hộ đăng ký và có 29.939 hộ đạt điển hình tiên tiến.
3.3. Hội phụ nữ tỉnh:Hội Phụ nữ tỉnh đã chủ động phối hợp với ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức được 123 lớp khuyến nông chuyển giao KHKT cho 55.470 lượt chị tham gia; phối hợp với các ngành tổ chức 316 buổi hội thảo đầu bờ cho 20.604 lượt chị tham dự; thành lập được 2 câu lạc bộ trồng trọt với 57 thành viên tham gia; mở 60 lớp tập huấn và cách quản lý và sử dụng vốn vay từ Ngân hàng chính sách xã hội có hiệu quả với 2.935 lượt chị tham gia.
Đẩy mạnh phong trào phụ nữ giúp nhau phát triển kinh tế gia đình: đã có 16.904 chị giúp cho 10.655 chị vay với số vốn quay vòng 1.789.899.000 đồng, 737 chỉ vàng, 21.334 con giống các loại, 51.054 cây giống, 32.592 kg hạt giống, 5 tấn xi măng làm sân phơi, 97 chai thuốc trừ sâu, 2.815 kg phân bón và 67.229 ngày công lao động. Qua phong trào này đã giúp cho chị em tận dụng các nguồn lao động dôi dư trong gia đình và có 71% chị em vay vốn thoát nghèo.
Song song với hoạt động vay vốn, các cấp hội đã chú trọng công tác duy trì và đẩy mạnh mô hình tổ, nhóm tín dụng tiết kiệm, đến nay có 911 tổ, nhóm với 10.985 thành viên có số vốn luân chuyển là 1.604.985.000 đồng cho 598 chị em vay với lãi suất thấp hoặc không lãi.
3.4. Đoàn thanh niên CS HCM tỉnh:Thực hiện chương trình vốn vay từ quỹ quốc gia giải quyết việc làm (120) với tổng số vốn là 12 tỷ đồng giải quyết việc làm cho 5.000 đoàn viên thanh niên; Duy trì và thành lập được 1.000 tổ vần đổi công giúp nhau lập nghiệp.
Các cấp đoàn đã chủ động phối hợp với ngành Nông nghiệp - PTNT vận động ĐVTN tích cực trong việc áp dụng những tiến bộ KHKT, công nghệ sinh học vào sản xuất. Trong 5 năm qua đã mở được 230 lớp tập huấn nâng cao tay nghề cho 10.542 ĐVTN, dạy nghề cho 11.256 ĐVTN, tư vấn giải quyết việc làm cho 8.954 ĐVTN, mở được 790 lớp tập huấn khuyến nông, khuyến lâm, IPM nhằm chuyển giao những tiến bộ KHKT cho 23.143 ĐVTN, tổ chức 352 điểm trình diễn kỹ thuật, 289 hội thảo đầu bờ với 26.915 lượt ĐVTN tham gia. Duy trì hoạt động của 23 CLB khuyến nông với 836 ĐVTN tham gia.
4. Đánh giá chung:
4.1. Ưu điểm:
4.1.1.Nhận thức, năng lực, trách nhiệm về XĐGN được nâng cao:Thông qua việc thực hiện chương trình nhận thức về trách nhiệm của các cấp, các ngành và người nghèo được nâng cao. Cán bộ XĐGN ở cơ sở không chỉ biết cách triển khai các dự án, chính sách, huy động nguồn lực, mà còn tham gia có hiệu quả vào quá trình ra quyết định, giám sát và đánh giá chương trình. Đồng thời bổ sung những kiến thức mới về lập kế hoạch phát triển làng, xã và vấn đề giới trong XĐGN. Thông qua tập huấn, năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác XĐGN được nâng lên, góp phần quan trọng vào việc thực hiện thành công chương trình.
Nhận thức về XĐGN và ý chí vươn lên làm giàu ngày càng được thấm sâu vào đội ngũ cán bộ và người dân. Nhiều tấm gương quyết tâm thoát nghèo vươn lên làm giàu xuất hiện ở hầu hết các địa phương.
4.1.2.Tạo được phong trào xoá đói giảm nghèo trong toàn xã hội:Trong 5 năm qua đã tạo được phong trào XĐGN sâu rộng trong phạm vi toàn tỉnh theo phương châm xã hội hoá, thu hút sự tham gia của toàn xã hội, của cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành, các tổ chức đoàn thể, các tổ chức kinh tế, lực lượng vũ trang, cộng đồng, các tầng lớp dân cư... Vai trò của MTTQ và các tổ chức đoàn thể như: Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh trong xoá đói giảm nghèo ngày càng được đề cao và có hiệu quả.
4.1.3.Đạt các mục tiêu giảm nghèo: Trong những năm qua, cùng với tăng trưởng kinh tế cao và tương đối ổn định, hàng loạt các chính sách XĐGN được triển khai đồng bộ ở tất cả các địa phương với sự tham gia của nhiều nguồn kinh phí, đã cải thiện đáng kể diện mạo nghèo đói ở các vùng miền trong tỉnh, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa. Bộ mặt các xã nghèo, xã ĐBKK đã có sự thay đổi đáng kể, nhất là về hạ tầng cơ sở phục vụ cho phát triển sản xuất hàng hoá. Chất lượng cuộc sống của người dân ở các xã nghèo được nâng cao, nhất là nhóm hộ nghèo, đồng bào dân tộc ở miền núi và phụ nữ.
4.2.Những tồn tại
4.2.1.Về nhận thức:Một bộ phận không nhỏ người nghèo, xã nghèo vẫn còn tư tưởng ỷ lại trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước, chưa chủ động vươn lên thoát nghèo. Do quá coi trọng về thành tích, ở một số địa phương đã khống chế tỷ lệ nghèo thấp hơn so với thực tế, dẫn đến một bộ phận người nghèo chưa tiếp cận được các chính sách của chương trình, gây ra những hiểu biết sai lệch về chính sách của Nhà nước.
4.2.2.Chương trình chưa bao phủ hết số hộ thực sự nghèo:Do chuẩn nghèo giai đoạn 2001-2005 qui định còn thấp, vì nguồn lực của nhà nước còn khó khăn; bên cạnh đó, việc xác định đối tượng ở một số địa phương thiếu chính xác dẫn đến một bộ phận người nghèo không tiếp cận các chính sách, dự án của chương trình, trong khi một bộ phận không nghèo lại được tiếp cận.
4.2.3.Nguồn lực huy động cho chương trình còn hạn chế, chưa đáp ứng được mục tiêu đề ra:Hàng năm kinh phí Nhà nước bố trí cho chương trình tính bình quân đầu người nghèo thấp (khoảng 60.000 đồng/người). Trong khi đó, một số địa phương chưa chủ động huy động nguồn lực tại chỗ hoặc huy động chưa tương xứng với tiềm năng của địa phương, còn trông chờ vào sự trợ giúp của TW, của tỉnh; chưa có cơ chế huy động sự tham gia, đóng góp tích cực của các hộ nghèo; chưa huy động được nhiều doanh nghiệp có điều kiện tham gia vào công cuộc XĐGN. Do đó, chưa đáp ứng được nhu cầu cần hỗ trợ của người nghèo, vì vậy việc giúp họ thoát nghèo trong thời gian ngắn và bền vững là khó thực hiện được.
4.2.4.Còn một số cơ chế, chính sách hỗ trợ chưa thật sự phù hợp với người nghèo, xã nghèo và tổ chức thực hiện chưa tốt ở cấp cơ sở cũng ảnh hưởng đến hiệu quả của chương trình:Một số cơ chế chính sách mang tính bao cấp kéo dài phần nào đã tạo ra tư tưởng ỷ lại trông chờ của một bộ phận người nghèo và xã nghèo vào sự hỗ trợ của Nhà nước và cộng đồng. Chính sách cho vay vốn làm nhà ở cho đồng bào dân tộc thiểu số chưa phù hợp với nhu cầu và tập quán của người dân; mức chi phí KCB còn thấp; đối tượng KCB miễn phí cũng chưa công bằng; chính sách trợ cước trợ giá cũng còn nhiều bất hợp lý; mức vốn vay tín dụng ưu đãi còn thấp và chưa phù hợp với chu kỳ sản xuất kinh doanh. Một số nơi, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, người dân chưa được thông tin đầy đủ nên người nghèo tiếp cận với các chính sách trợ giúp của Nhà nước còn nhiều khó khăn.
4.2.5.Trình độ và năng lực tổ chứcthựchiện chương trình không đồng đều ở các địa phương cả khu vực thành thị và nông thôn, đội ngũ cán bộ XĐGN vừa thiếu về số lượng vừa yếu về năng lực:Phần lớn đội ngũ cán bộ XĐGN ở xã vẫn là kiêm nhiệm, hay thay đổi nên nhiều người chưa được tập huấn cơ bản phụ cấp ít, khối lượng công việc thì nhiều, vì vậy họ khó thực hiện tốt nhiệm vụ được giao. Hơn nữa công tác XĐGN đòi hỏi người cán bộ ngoài chuyên môn nghiệp vụ còn phải nhiệt huyết, nhạy bén và tính sáng tạo, song các địa phương chưa coi đó là một vấn đề cần thiết để bố trí cho phù hợp nhu cầu của công việc.
Do đó, đề nghị Chính phủ cần có chính sách ưu tiên cho các tỉnh nghèo, bố trí 100% xã phường, thị trấn có 01 cán bộ chuyên trách về XĐGN.
4.2.6. Theo dõi, giám sát, đánh giá chương trình chưa được tổ chức một cách có hệ thống và đồng bộ:Hệ thống chỉ tiêu theo dõi, giám sát, đánh giá chưa thống nhất. Công tác sơ kết, tổng kết đánh giá chương trình chủ yếu dựa trên báo cáo của các ngành và các địa phương gửi về, song tình trạng không gửi báo cáo hoặc có báo cáo nhưng không đầy đủ thông tin vẫn xảy ra. Hơn nữa các báo cáo thường mang tính liệt kê số liệu, chưa có sự phân tích đánh giá đầy đủ.
Cơ quan thường trực chương trình chưa có đủ thẩm quyền trong điều phối và giám sát các hợp phần do các cơ quan khác thực hiện nên không có đủ cơ sở để tham mưu đề ra các quyết định điều chỉnh.
Thiếu hệ thống cơ sở dữ liệu ban đầu do chưa có các cuộc khảo sát chuyên sâu để đánh giá hiệu quả của chương trình. Điều này đã gây khó khăn cho công tác giám sát và đánh giá tổng thể chương trình tất cả các cấp.
5. Bài học kinh nghiệm:
- Một là:Nơi nào có sự lãnh đạo của Đảng, chỉ đạo của chính quyền thống nhất, lãnh đạo kiên quyết, chặt chẽ và thường xuyên bám sát chương trình mục tiêu XĐGN; xây dựng chương trình, mục tiêu phấn đấu rõ ràng sát thực và biện pháp phù hợp với công tác thì công tác XĐGN đạt hiệu quả cao.
- Hai là:Bất kỳ lúc nào, ở đâu cũng phải quán triệt thế kiềng ba chân trong công tác XĐGN: đó là bản thân đối tượng, cộng đồng và nhà nước. Trong đó, đặc biệt chú trọng phát huy vai trò, sức mạnh của cộng đồng và quyết tâm vươn lên của chính người nghèo. Nhà nước luôn luôn quan tâm và hỗ trợ mức tối đa. Mặt khác phải tranh thủ sự giúp đỡ các nguồn lực từ bên ngoài để hỗ trợ cho mục tiêu XĐGN, nhằm ổn định cuộc sống và phát triển.
- Ba là:Các hạng mục công trình tại cơ sở, thực hiện tốt quy chế dân chủ có sự tham gia của người dân địa phương thì công trình đó mang lợi ích thiết thực, chất lượng cao và thời gian sử dụng lâu hơn vì có sự quản lý của người dân, tránh được lãng phí và thất thoát.
- Bốn là:Công tác khuyến nông, khuyến lâm phải được mở các lớp tập huấn riêng cho hộ nghèo về cách thức làm ăn, kết hợp vay vốn với hình thức tín chấp, phân công cụ thể từng hội viên của đoàn thể làm ăn khá trực tiếp giúp đỡ các hộ nghèo, phát huy tính cộng đồng tại các thôn, làng. Đối với các hộ lười lao động, đông người thì giao trực tiếp cho các đoàn thể giáo dục, giúp họ tự vươn lên. Tổ chức giao việc cho từng hộ, tạo điều kiện để các hộ này được tham gia lao động từ các công trình của nguồn vốn 135. Tổ chức vận động sinh đẻ có kế hoạch cho tất cả đồng bào các dân tộc thôn bản vùng sâu, vùng xa.
-Năm là:Cần phát huy hơn nữa vai trò của các đơn vị được UBND tỉnh phân công giúp đỡ các xã về công tác XĐGN. Khuyến khích các tổ chức quần chúng, các tổ chức xã hội từ thiện thực hiện xã hội hoá công tác XĐGN.
Phần thứ hai
CHƯƠNG TRÌNH GIẢM NGHÈO GIAI ĐOẠN 2006 - 2010
A. Căn cứ xây dựng chương trình:
I. Chủ trương của Đảng và nhà nước về XĐGN
- XĐGN là một trong những chính sách ưu tiên hàng đầu trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, vì vậy các chính sách phát triển kinh tế - xã hội đều hướng vào người nghèo, xã nghèo, tạo động lực, tạo tiền đề cho XĐGN.
- XĐGN là mục tiêu quan trọng của phát triển xã hội, vì vậy quá trình thực hiện các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ phải hướng vào mục tiêu giảm nghèo, thực hiện công bằng xã hội, bảo đảm cho sự phát triển bền vững. Quan điểm này một lần nữa thể hiện sự cam kết mạnh mẽ của Nhà nước ta với cộng đồng quốc tế về việc thực hiện các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ.
- Chủ trương của Đảng và Nhà nước phải được thể chế hoá bằng các cơ chế, chính sách, kế hoạch hàng năm và huy động nguồn lực toàn xã hội để thực hiện mục tiêu và các chỉ tiêu của chương trình giảm nghèo 2006-2010, ưu tiên nguồn lực cho vùng khó khăn nhất, đối tượng khó khăn nhất.
- Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ Gia Lai lần thứ XIII ghi rõ: ''Thực hiện tốt chương trình XĐGN, lồng ghép có hiệu quả các chương trình Quốc gia cho các xã nghèo, tranh thủ các nguồn vốn của Nhà nước của nước ngoài tài trợ cho XĐGN, nhằm tạo ra những chuyển biến cơ bản về phát triển kinh tế xã hội các xã khó khăn. Hoàn thành công tác định canh định cư cho đồng bào các dân tộc thiểu số ổn định sản xuất lâu dài, gắn định canh định cư với sắp xếp lại dân cư, phân bố dân kinh tế mới. Thực hiện tốt chương trình 134 về giải quyết đất ở, đất sản xuất nhà ở và nước sinh hoạt cho đồng bào dân tộc thiểu số...''
II.Một số mục tiêu chủ yếu của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội5năm(2006 - 2010) của tỉnh:
-Tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, từng bước thu hẹp khoảng cách về GDP bình quân đầu người so với mức trung bình của cả nước, nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
- Cơ bản xoá được đói, giảm hộ nghèo xuống còn dưới 19% năm 2010. Giảm tỷ lệ thất nghiệp thành thị xuống dưới 3%; tăng tỷ lệ sử dụng thời gian lao động nông thôn lên 85%.
- Đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu và triển khai, ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến vào các ngành kinh tế cơ bản là thế mạnh của tỉnh, các lĩnh vực thiết yếu của đời sống.
III. Chỉ đạo của trung ương và của tỉnh:
-Ngày 13/3/2006, Bộ Lao động - TBXH có văn bản số 766/LĐ-TBXH-VP về việc xây dựng kế hoạch giảm nghèo;
- Ngày 05/4/2006, UBND tỉnh Gia Lai ban hành quyết định số 179/QĐ-UBND thành lập Ban soạn thảo kế hoạch giảm nghèo giai đoạn 2006-2010.
IV. Thực trạng nghèo:
1. Chuẩn nghèo giai đoạn2006-2010:
Theo quyết định số 170/2005/QĐ-TTg ngày 08/7/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006-2010 với các mức:
+ Khu vực nông thôn: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000 đồng/người/tháng (2.400.000 đ/người/năm) trở xuống là hộ nghèo.
+ Khu vực thành thị: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 260.000 đồng/người/tháng (dưới 3.120.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo.
Kết quả điều tra tháng 10 năm 2005 cho thấy: Toàn tỉnh có 66.108 hộ nghèo (tỷ lệ 29,82%).
Trong đó:
+ Khu vực thành thị có 5.725 hộ nghèo (9,42% so với tổng số hộ cùng khu vực và 8,66% so với số hộ nghèo);
+ Khu vực nông thôn có 60.383 hộ nghèo (37,52% so với tổng số hộ cùng khu vực và 91,34% so với tổng hộ nghèo).
2. Nguyên nhân nghèo:
2.1. Nguyên nhân khách quan:
Xuất phát điểm kinh tế của tỉnh ta thấp; chịu ảnh hưởng nặng nề hậu quả của các cuộc chiến tranh; điều kiện tự nhiên phức tạp, thời tiết khí hậu thất thường gây bất lợi cho sản xuất và đời sống của nhân dân.
2.2. Nguyên nhân chủ quan:
- Hệ thống chính sách chưa đồng bộ, chưa thật sự phát huy hiệu quả.
- Chưa phát huy được lợi thế về tài nguyên thiên nhiên của từng vùng.
- Bộ máy chính quyền cơ sở yếu, thiếu khả năng tổ chức, triển khai phát triển kinh tế xã hội còn nhiều hạn chế.
- Nguyên nhân cơ bản và trực tiếp là trình độ dân trí thấp cộng với tập tục lạc hậu kìm hãm rất lớn đến quá trình phát triển sản xuất và đời sống (tỷ lệ hộ nghèo cao tập trung ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số);
- Nhân dân ở vùng sâu, vùng xa thường thiếu kiến thức làm ăn, thiếu thông tin về thị trường nên việc áp dụng KH-KT vào sản xuất còn hạn chế, mặt khác, ở những vùng này người dân thường phải mua đắt bán rẻ những mặt hàng tiêu dùng.
- Một bộ phận người dân tộc thiểu số (nhất là hộ nghèo) chưa thấy hết tầm quan trọng của đất đai nên đã bán dần cho người khác rồi trở thành người thiếu đất hoặc không có đất sản xuất.
- Ngoài ra, còn một số nguyên nhân khác như: Do ốm đau, bệnh tật, thiếu lao động; Đông người ăn theo, thiếu kiến thức chi tiêu trong gia đình; Thiếu việc làm, thất nghiệp; Trong hộ có người rượu chè bê tha; lười lao động hoặc mắc tệ nạn xã hội…
B. Mục tiêu
I. Mục tiêu tổng thể:
- Giảm tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn mới) từ 29,82% năm 2005 xuống còn 27,4% vào cuối năm 2006 và đến năm 2010 còn 19% (mỗi năm giảm từ 2 - 3%); cải thiện đời sống của nhóm hộ nghèo, hạn chế tốc độ gia tăng khoảng cách chênh lệch về thu nhập, mức sống giữa thành thị và nông thôn, giữa nhóm hộ giàu và nhóm hộ nghèo.
- Tạo thêm việc làm cho người lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị, tăng thời gian lao động ở nông thôn. Phấn đấu mỗi năm giải quyết việc làm cho 2 vạn lao động, khuyến khích đồng bào phát huy nội lực tự tạo việc làm là chính.
- Gắn mục tiêu của Chương trình XĐGN với mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội, gắn tăng trưởng kinh tế bền vững với XĐGN. Thực hiện có hiệu quả các chương trình, dự án. Lồng ghép các chương trình, dự án khác với Chương trình XĐGN để tăng cường nguồn lực cho XĐGN, tăng cường quy hoạch bố trí lại dân cư, phát triển sản xuất hàng hóa ở các xã đặc biệt khó khăn. Thực hiện tốt công tác dân chủ ở cơ sở, đấu tranh ngăn ngừa có hiệu quả các tệ nạn xã hội.
- Nâng cao mức sống của các tầng lớp dân cư. Quan tâm đến gia đình chính sách, người tàn tật và các đối tượng thuộc diện cứu trợ xã hội khác. Tiếp thu kịp thời những thành tựu công nghệ hiện đại và tiến bộ của khoa học và công nghệ để tăng năng suất lao động, phấn đấu giảm dần số hộ nghèo đói.
II. Các mục tiêu cụ thể:
1. Tăng nhanh mức thu nhập của nhóm hộ nghèo để hạn chế tốc độ gia tăng khoảng cách chênh lệch giàu nghèo và giảm tính dễ bị tổn thương của người nghèo, để đến năm 2010 thu nhập nhóm hộ nghèo tăng 1,5 lần so với năm 2005.
2. Hỗ trợ trực tiếp cho các hộ nghèo: Đến năm 2008 không còn hộ nghèo thuộc diện chính sách người có công;
3. Hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng ở các xã vùng căn cứ cách mạng, các xã đặc biệt khó khăn, các xã nghèo có đủ công trình hạ tầng thiết yếu.
4. Giải quyết cho 90% hộ nghèo có lao động được vay vốn của Ngân hàng chính sách xã hội tương ứng khoảng 59.500 hộ.
5. Các hộ nghèo sản xuất nông nghiệp được cơ quan khuyến nông, khuyến lâm chuyển giao kỹ thuật và hướng dẫn cách làm ăn cho khoảng 50.000 lượt người.
6. Có 25.000 lượt người nghèo được đào tạo nghề miễn phí (bình quân mỗi năm có khoảng 5.000 lượt người nghèo được đào tạo nghề).
7. Nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân; 100% trung tâm cụm xã, các phòng khám khu vực và 60% số xã có bác sỹ; giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng xuống dưới 25%.
8. 100% con hộ nghèo đi học các cấp học phổ thông, trung học chuyên nghiệp và đại học được giảm học phí theo quy định.
9. Trên 95% số làng và hơn 90% số hộ sử dụng điện.
10. 80% dân cư nông thôn và 90% dân cư đô thị được dùng nước sạch.
11. 95% số hộ đồng bào dân tộc thiểu số định canh định cư vững chắc.
12. Giải quyết cơ bản tình trạng nhà ở tạm bợ (tranh tre, nứa lá) hoặc chưa có nhà ở; tình trạng người đồng bào dân tộc thiểu số thiếu đất sản xuất, đất ở, nước sinh hoạt.
13. 100% cán bộ xã phường, thị trấn được đào tạo nghiệp vụ về công tác XĐGN và việc làm.
14. Củng cố, kiện toàn BCĐ XĐGN các cấp.
C. Thời gian, phạm vi thực hiện kế hoạch:
I. Thời gian:
- Là 5 năm, bắt đầu từ đầu năm 2006-2010.
- Chương trình sẽ sơ kết giữa kỳ vào năm 2008.
II. Đối tượng, phạm vi:
1. Đối tượng:
- Người nghèo;
- Hộ nghèo;
- Xã nghèo, xã ĐBKK.
2. Phạm vi:
Chương trình được triển khai trên phạm vi toàn tỉnh; song từng chính sách, dự án có phạm vi cụ thể riêng.
D. Các giải pháp chủ yếu:
I. Nâng cao nhận thức:
1. Tuyên truyền chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng, Nhà nước về XĐGN.
2. Tuyên truyền mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng và trách nhiệm các cấp uỷ Đảng; chính quyền, đoàn thể xã hội và nhân dân về công tác XĐGN.
3. Tăng cường trách nhiệm của cấp uỷ, chính quyền các xã nghèo phải vươn lên thoát nghèo; vận động đồng bào vươn lên xoá đói giảm nghèo chính đáng, Nhà nước tích cực hỗ trợ, đồng bào tự lực vươn lên là chính. Tuyên truyền các mô hình sản xuất tốt, các hộ gia đình sản xuất giỏi vượt nghèo để đồng bào học tập làm theo.
4. Đa dạng các hình thức tuyên truyền: Tập huấn nghiệp vụ, thông tin, bản tin, tờ rơi, hội thảo xây dựng mạng lưới tổ chức xã hội tình nguyện của người nghèo như: nhóm tiết kiệm, nhóm tự quản sử dụng nước sạch, nhóm đồng sở thích, nhóm đồng nghiệp…
II. Về cơ chế, chính sách:
1. Cơ chế:
- Tiếp tục phân cấp trong quản lý, điều hành thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia và thực hiện tốt hơn xã hội hoá trong XĐGN.
- Ngân hàng chính sách xã hội tăng thêm nguồn vốn cho các hộ nghèo vay, nhất là hộ nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số.
- Xây dựng nhiều mô hình sản xuất theo hướng định canh định cư ổn định lâu dài gắn với quy hoạch bố trí lại dân cư và xây dựng cơ sở hạ tầng. Chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo xu hướng thâm canh, tăng vụ, tăng sản phẩm hàng hoá phù hợp với nhu cầu thị trường. Gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ sản phẩm để giảm thiểu rủi ro xảy ra.
- Xây dựng lực lượng nòng cốt khuyến nông, khuyến lâm ở các xã ĐBKK. Tổ chức đào tạo đội ngũ khuyến nông, khuyến lâm để mỗi xã đặc biệt khó khăn có ít nhất một cán bộ hướng dẫn khuyến Nông - Lâm cho dân, các thôn có các cộng tác viên khuyến Nông - Lâm.
- Theo dự án đầu tư được duyệt của các dự án đầu tư theo chương trình XĐGN, hàng năm chuẩn bị trước và hoàn thành các thủ tục đầu tư cho năm sau. Kết thúc đầu tư xây dựng của các dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, nhằm thúc đẩy sản xuất phát triển. Có chính sách giao đất, giao rừng, khoán quản lý, bảo vệ rừng cho các hộ nghèo gần rừng.
- Tiếp tục điều tra thống kê hộ đồng bào dân tộc đặc biệt khó khăn để thực hiện các chính sách ưu đãi của Nhà nước.
- Củng cố và nâng cao hiệu lực chỉ đạo điều hành của các Ban XĐGN từ tỉnh đến xã, đặc biệt là cán bộ chuyên trách XĐGN ở xã phải được bố trí chuyên trách và có phụ cấp để tăng cường trách nhiệm, thường xuyên theo dõi và nắm chắc diễn biến đói nghèo, tổng hợp và báo cáo kịp thời diễn biến đói nghèo để giúp cho công tác chỉ đạo của huyện, thị xã, thành phố và của tỉnh được kịp thời và hiệu quả.
- Các cơ quan Đảng, chính quyền, đoàn thể, lực lượng vũ trang được phân công giúp xã đặc biệt khó khăn phải tích cực tham gia giúp xã XĐGN, có chương trình hành động và việc làm cụ thể, thiết thực giúp dân, gắn bó với dân. Cử cán bộ luân phiên và thường trực giúp xã nâng cao trình độ về quản lý kinh tế - xã hội.
2. Chính sách:
2.1. Tạo điều kiệncho người nghèo phát triển sản xuất:
2.1.1. Về tín dụng ưu đãi cho người nghèo:Cung cấp tín dụng cho các hộ nghèo có sức lao động, có nhu cầu về vốn để phát triển sản xuất, tăng thu nhập và tự vượt nghèo.
Về lãi suất cho vay vẫn áp dụng cơ chế cho vay ưu đãi nhưng từng bước nâng cao lãi suất để hoà nhập tín dụng, điều quan trọng hơn là cung cấp vốn để dễ dàng thuận lợi kịp chu kỳ sản xuất và mức vay cơ bản đáp ứng nhu cầu hộ nghèo; mặt khác cần phối hợp hoạt động tín dụng với khuyến nông - khuyến lâm - khuyến ngư và khuyến công, gắn kết hoạt động tín dụng với tiết kiệm thông qua các tổ tương trợ của các tổ chức đoàn thể xã hội.
2.1.2. Hỗ trợ đất sản xuất cho hộ nghèo dân tộc thiểu số: Giải quyết đất sản xuất theo định mức quy định cho các hộ nghèo DTTS không còn đất hoặc thiếu đất để phát triển sản xuất, duy trì thu nhập ổn định và từng bước có thu nhập bền vững.
Đồng thời cần có cơ chế để nghiêm cấm tình trạng chuyển nhượng, cầm cố đất đai sản xuất đối với các hộ nghèo mới được thụ hưởng chính sách để ổn định cuộc sống cho đồng bào, đối với các hộ mới nhận đất do yêu cầu chuyển đổi ngành nghề từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp thì cấp huyện xem xét cho phép chuyển nhượng, cần có cơ chế giám sát của cộng đồng.
2.1.3. Khuyến nông - lâm - ngư cho người nghèo:Hỗ trợ người nghèo về kiến thức và kỹ năng xây dựng kế hoạch, bố trí sản xuất hợp lý, áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào tổ chức sản xuất.
Khuyến khích nhân dân nhận khoán bảo vệ rừng.
2.1.4. Dạy nghề cho người nghèo:Trợ giúp người nghèo có được tay nghề cần thiết để tạo việc làm ổn định, tăng thu nhập thông qua các khoá dạy nghề ngắn hạn để họ tìm việc làm tại các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ; đi lao động xuất khẩu hoặc tự tìm việc làm, góp phần XĐGN bền vững. Có chính sách các doanh nghiệp nhận lao động tại chỗ, nhất là người lao động người DTTS.
2.1.5. Phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu các xã ĐBKK: Hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu phục vụ sản xuất và dân sinh các xã ĐBKK đẩy nhanh tiến độ giảm nghèo bền vững.
- Huy động tối đa các nguồn lực cho xoá đói giảm nghèo, tổ chức lồng ghép các chương trình mục tiêu Quốc gia với các dự án đầu tư cho xã nghèo, hộ nghèo, các dự án đầu tư theo mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Kêu gọi nguồn vốn viện trợ ODA đầu tư xây dựng trường học, bệnh viện trạm xá, trung tâm dạy nghề, trang thiết bị y tế, thiết bị trường dạy nghề. Kêu gọi sự hỗ trợ của các tổ chức, doanh nghiệp, đoàn thể và các cá nhân có lòng hảo tâm ủng hộ phong trào xoá đói giảm nghèo. Hàng năm huy động lao động công ích của dân để xây dựng các công trình phục vụ dân sinh và phục vụ sản xuất.
2.1.6. Nhân rộng mô hình giảm nghèo: Phát triển các mô hình giảm nghèo ở các vùng sinh thái; nhân rộng các mô hình đã thực hiện có hiệu quả; mở rộng mô hình gắn kết các doanh nghiệp với hộ xã nghèo phát triển vùng nguyên liệu, đồng thời nghiên cứu mở rộng sang các ngành nghề khác; ưu tiên hỗ trợ những vùng khó khăn nhất; phát triển mô hình phát triển kinh tế quốc phòng gắn với giảm nghèo các xã vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào DTTS.
2.1.7. Hỗ trợ phát triển các xã nghèo: Hỗ trợ các xã nghèo phát triển sản xuất, giảm thiểu và khắc phục rủi ro cấp cộng đồng và hộ gia đình thông qua cơ chế tự chủ của cộng đồng và sự tham gia của người dân. Hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi; tập huấn kỹ thuật, hỗ trợ vốn sản xuất.
2.2. Tạo cơ hội để người nghèo tiếp cận dịch vụ xã hội:
2.2.1. Hỗ trợ y tế cho người nghèo: Tăng cường và tạo điều kiện thuận lợi cho người nghèo tiếp cận dịch vụ y tế khi ốm đau; Giảm thiểu rủi ro, khó khăn cho người nghèo.
Cấp thẻ BHYT cho người nghèo kịp thời để tạo điều kiện cho người nghèo được đảm bảo quyền lợi khám chữa bệnh theo quy định về BHYT.
2.2.2. Hỗ trợ về giáo dục cho người nghèo: Hỗ trợ con em hộ nghèo được tới trường học tập bình thường như các trẻ em khác, góp phần nâng cao trình độ văn hoá của người nghèo, giảm nghèo bền vững. Theo các chương trình của Chính phủ như: 134, 135, 168...
Giao việc xác nhận con hộ nghèo giao cho cấp xã xác nhận trên cơ sở Giấy chứng nhận hộ nghèo do Sở Lao động - TBXH cấp để các em dễ dàng hơn trong việc tiếp cận với chính sách trợ giúp.
2.2.3. Hỗ trợ về nhà ở và nước sinh hoạt cho người nghèo: Hỗ trợ hộ nghèo, đặc biệt là hộ nghèo DTTS về đất ở, nhà ở, nước sinh hoạt để ổn định đời sống và thoát nghèo bền vững theo quyết định 134 của Chính phủ.
Đồng thời, đẩy mạnh“quỹ ngày vì người nghèo”do Trung ương MTTQ VN chỉ đạo để hỗ trợ hộ nghèo cải thiện nhà ở, mặt khác tuyên truyền vận động dòng họ, làng xóm trên tinh thần“thương người như thể thương thân”tự nguyện chia sẻ trợ giúp hộ nghèo và khuyến khích tinh thần tự lực của hộ nghèo vươn lên, khắc phục tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào sự giúp đỡ của cộng đồng và Nhà nước.
2.3. Nâng cao năng lực và nhận thức:
2.3.1. Nâng cao năng lực cho cán bộ làm công tác giảm nghèo các cấp: Tiếp tục nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác giảm nghèo các cấp, đặc biệt là cấp cơ sở. Về nội dung tập huấn chú trọng nâng cao nhận thức về phương pháp tiếp cận tổng thể giải quyết vấn đề nghèo đói; kỹ năng thực hành tổ chức thực hiện các chính sách; kỹ năng phát hiện nhu cầu cộng đồng; xây dựng dự án quy mô nhỏ ở cấp xã, thôn, bản; các kỹ năng và biện pháp huy động sự tham gia của người dân, kỹ năng lồng ghép giới trong các dự án, hoạt động XĐGN các cấp…
2.3.2. Hoạt động truyền thông giảm nghèo:Nâng cao nhận thức cho toàn xã hội về ý nghĩa, tầm quan trọng, mục tiêu và chủ trương của Đảng, Nhà nước về giảm nghèo. Kết hợp tuyên truyền phổ biến những tác hại của căn bệnh, cách phòng tránh và sự cảm thông chia sẻ của cộng đồng đối với những người bị nhiễm HIV/AIDS, để từ đó, đề cao tính trách nhiệm của các cấp các ngành, các tổ chức và người dân về giảm nghèo và vươn lên làm giàu.
2.3.3. Hoạt động giám sát và đánh giá: Bảo đảm cho chương trình thực hiện có kết quả, đúng mục tiêu, đúng đối tượng, các cấp, các ngành điều chỉnh kịp thời các cơ chế, chính sách và các biện pháp thực hiện.
III. Về nguồn vốn:
1.Tổng đầu tưcho Chương trình xoá đói giảm nghèo từ các chương trình, dự án là: 6.116,2 tỷ đồng (có phụ lục kèm theo).
Trong đó: + Các chương trình, dự án XĐGN: 568,2 tỷ đồng.
+ Các chương trình, dự án lồng ghép: 5.548 tỷ đồng.
2.Quảnlý,điều hành:
2.1. Nguồn vốn Trung ương: Thực hiện việc tiếp nhận quản lý, sử dụng theo quy định của Chính phủ.
2.2. Lồng ghép các chương trình dự án vốn viện trợ nước ngoài để tăng thêm nguồn lực.
2.3. Huy động cộng đồng: duy trì nguồn vốn''ngày vì người nghèo''vận động các đoàn thể; Mặt trận tổ quốc Việt Nam; Hội liên hiệp phụ nữ; Liên đoàn lao động tỉnh; Đoàn thanh niên CS HCM; Hội chữ thập đỏ tỉnh vận động sự tài trợ của những tổ chức quốc tế; các doanh nghiệp trong nước và những nhà hảo tâm tài trợ vật tư, tiền để tham gia chương trình XĐGN.
3.Cơ chế phân bổ vốn:
Phải đảm bảo công khai, minh bạch và tập trung nguồn lực cho vùng khó khăn, vùng đồng bào DTTS, ưu tiên vốn đầu tư cho các dự án để phát huy nhanh hiệu quả, không dàn trải; việc phân bổ phải dựa trên hệ thống tiêu chí cụ thể cho từng loại đối tượng một cách tối ưu nhất.
4. Cơ chế tham gia:
Đảm bảo tính dân chủ, công khai, thực hiện nguyên tắc''dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra''trong việc quản lý và sử dụng nguồn lực gắn với thực hiện quy chế dân chủ cơ sở. Thiết lập quy chế giám sát và hệ thống chỉ tiêu theo dõi chặt chẽ bảo đảm vốn được sử dụng“đúng mục tiêu, đúng đối tượng, có hiệu quả, không thất thoát”.
Các cấp quản lý: huyện, thị xã, thành phố và xã, phường, thị trấn làm chủ đầu tư công trình nào phải thông báo đầy đủ đến dân về chủ trương, chính sách, sự hỗ trợ Nhà nước cho từng dự án, công trình; phải tổ chức cho người dân tham gia đảm bảo tính công khai, dân chủ.
5.Cơ chế cung cấp dịch vụ:
Nhà nước trực tiếp chi trả phí dịch vụ về y tế, giáo dục dạy nghề cho người nghèo hoặc trả thay cho người nghèo đối với các cơ sở cung cấp dịch vụ và bình đẳng trong việc tiếp cận các dịch vụ trên.
6.Cơ chế khuyến khích hộ, xã thoát nghèo:
- Nhà nước có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp tiếp nhận lao động; dạy nghề cho người nghèo có chỗ làm ổn định trong doanh nghiệp.
- Đối với hộ thoát nghèo được chính quyền địa phương công nhận thì tiếp tục được hưởng chính sách trợ giúp tín dụng; y tế, giáo dục, khuyến nông, khuyến lâm, dạy nghề trong 24 tháng kể từ ngày được công nhận thoát nghèo.
- Xã ĐBKK phấn đấu thoát khỏi danh sách ĐBKK được huyện, tỉnh công nhận thì được hỗ trợ năm tiếp theo nguồn kinh phí bằng 50% mức hỗ trợ xã ĐBKK trên địa bàn để tu bổ sửa chữa các công trình cơ sở hạ tầng của xã.
7.Cơ chế phân cấp:
Tăng cường phân cấp cho cơ sở đủ điều kiện làm chủ dự án tổ chức triển khai chương trình. Cụ thể như sau:
7.1. Đối với cấp huyện:
- Hằng năm, xác định xã ĐBKK của huyện để trình tỉnh, trung ương công nhận.
- Hằng năm, xác định xã thoát nghèo, xã ra ngoài chương trình xã ĐBKK trình tỉnh, trung ương công nhận.
- Huy động phân bổ nguồn lực theo thẩm quyền.
- Chỉ đạo xã lập kế hoạch, chương trình hàng năm, chương trình cho giai đoạn trình huyện phê duyệt theo Nghị quyết cấp uỷ, HĐND cấp huyện.
- Chọn điểm tổ chức giám sát, đánh giá để rút kinh nghiệm.
7.2. Đối với cấp xã:
- Xác định hộ nghèo của xã; quản lý danh sách và sự biến động hộ nghèo.
- Công nhận hộ thoát nghèo.
- Công nhận thôn, tổ, làng thoát nghèo.
- Huy động nguồn lực tại chỗ để thực hiện các chính sách trên địa bàn xã.
- Giám sát, đánh giá hiệu quả các chính sách các dự án của chương trình.
- Tổ chức triển khai các chính sách đối với hộ nghèo, người nghèo trên địa bàn quản lý.
8. Cơ chế giám sát, đánh giá:
- Cấp tỉnh xây dựng hệ thống chỉ tiêu để thống nhất số liệu báo cáo từ tỉnh xuống cấp huyện và cấp xã (không thay đổi): 5 năm.
- Hàng năm và 6 tháng cơ sở (xã, phường, thị trấn) gọi chung là xã: báo cáo cấp huyện 2 lần (thời điểm ngày 20/6 báo cáo 6 tháng đầu năm và ngày 20/11 báo cáo cả năm).
- Đề nghị HĐND tỉnh tổ chức các Ban của HĐND tỉnh mỗi năm giám sát 1 lần theo chuyên đề để đánh giá hiệu quả chương trình giảm nghèo của tỉnh.
E. Tổ chức thực hiện:
1. Đối với cấp tỉnh:
Phân công nhiệm vụ cho các Sở, ban, ngành như sau:
1.1. Sở Lao động - TBXH:
-Là cơ quan thường trực chương trình, chịu trách nhiệm xây dựng kế hoạch giảm nghèo giai đoạn (2006-2010) có sự tham vấn của các ngành, đánh giá hoạt động của chương trình, tổng hợp báo cáo HĐND tỉnh và UBND tỉnh theo định kỳ;
- Chịu trách nhiệm triển khai các hoạt động về an sinh xã hội, cấp giấy chứng nhận hộ nghèo, dự án đào tạo cán bộ làm công tác XĐGN, phối hợp với các ngành liên quan thực hiện các chính sách ưu đãi đối với người nghèo.
1.2. Sở Kế hoạch- Đầu tư:
- Chủ trì phối hợp với các ngành liên quan xác định nhu cầu nguồn vốn hằng năm dành cho mục tiêu XĐGN kể cả nguồn vốn lồng ghép các chương trình phát triển kinh tế - XH dành cho XĐGN;
- Theo dõi và kiểm tra việc lồng ghép các chương trình, dự án có mục tiêu XĐGN ở các cấp và các ngành.
1.3. Sở Tài chính:
- Phối hợp cùng Sở kế hoạch - đầu tư xác định nguồn vốn hằng năm dành cho mục tiêu XĐGN;
- Theo dõi việc quản lý tài chính đối với các nguồn vốn huy động cho mục tiêu XĐGN. Đồng thời chỉ đạo và tổ chức cấp phát kinh phí đầy đủ, kịp thời theo mục tiêu đã được duyệt.
1.4. Ban Dân tộc:
- Hàng năm phối hợp với các ngành liên quan xây dựng các dự án: xây dựng cơ sở hạ tầng theo chương trình 135, 134, ĐCĐC, di dân kinh tế mới, chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn trình UBND tỉnh để báo cáo Chính phủ.
- Phối hợp cùng với các ngành liên quan thực hiện dự án hướng dẫn người nghèo cách làm ăn, đào tạo các xã nghèo miền núi và lồng ghép các chương trình dự án phát triển kinh tế - xã hội vùng đặc biệt khó khăn.
- Hàng năm rà soát xác định xã, làng ĐBKK.
1.5. Sở Nông nghiệp và PTNT:
- Xây dựng dự án hỗ trợ phát triển sản xuất.
- Phối hợp với các ngành liên quan thực hiện dự án hướng dẫn người nghèo cách làm ăn và chuyển giao kỹ thuật. Thực hiện lồng ghép các chương trình dự án hỗ trợ sản xuất thuộc ngành quản lý có mục tiêu XĐGN.
1.6. Sở Y tế:Thực hiện tốt công tác khám chữa bệnh cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số và chính sách hỗ trợ y tế cho cơ sở.
1.7. Sở Giáo dục-đào tạo:Triển khai tốt các chính sách hỗ trợ giáo dục cho học sinh nghèo, dân tộc thiểu số, vùng ĐBKK.
1.8. Sở Khoa học - công nghệ:Lồng ghép triển khai một số chương trình chuyển giao công nghệ, giúp hộ nghèo phát triển sản xuất.
1.9. Sở Công nghiệp:Lồng ghép triển khai các chương trình phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, làng nghề với XĐGN.
1.10. Sở Văn hoá thông tin:Triển khai dự án hỗ trợ người nghèo về văn hoá thông tin.
1.11. Sở Nội vụ: Có kế hoạch kiện toàn, bố trí và đào tạo cán bộ XĐGN các cấp.
1.12. Đài Phát thanh - Truyền hình, Sở Bưu chính Viễn thông: Có kế hoạch hỗ trợ phương tiện nghe nhìn, thông tin liên lạc và tăng cường công tác truyền thông các hoạt động về XĐGN, mô hình XĐGN có hiệu quả cho người nghèo, người dân tộc thiểu số.
1.13. Ngân hàng chính sách xã hội:Thực hiện chính sách hỗ trợ tín dụng đối với người nghèo.
1.14. Đề nghị UBMTTQVN tỉnh:Chủ trì phát động các phong trào toàn dân tham gia đóng góp xây dựng quỹ “Ngày vì người nghèo” và tích cực thực hiện có hiệu quả chương trình mục tiêu XĐGN. Đồng thời giám sát việc triển khai thực hiện chương trình XĐGN ở các cấp.
1.15. Đề nghị Hội liên hiệp Phụ nữ, Hội nông dân, Hội cựu chiến binh, Tỉnh đoàn TNCS HCM:Lồng ghép các hoạt động của hội với thực hiện chương trình XĐGN.
1.16. Đề nghị các sở, ban, ngành, đoàn thể của tỉnh, các đơn vị trung ương đứng chân trên địa bàn tỉnh:Mỗi đơn vị chịu trách nhiệm giúp đỡ thực hiện công tác XĐGN một xã ĐBKK.
2. Đối với cấp huyện:
- Trên cơ sở kế hoạch giảm nghèo giai đoạn 2006-2010 của tỉnh, các địa phương căn cứ vào nghị quyết của cấp uỷ xây dựng kế hoạch giảm nghèo cho địa phương mình, đề ra mục tiêu và giải pháp cụ thể nhằm triển khai công tác giảm nghèo có hiệu quả.
- Kiện toàn Ban chỉ đạo giảm nghèo các cấp, bố trí cán bộ chuyên trách làm công tác XĐGN nhằm tạo ra một hệ thống quản lý, theo dõi và giúp việc có hiệu quả cho cấp uỷ và chính quyền các cấp.