|
UBND TỈNH NGHỆ AN Số: 58/2002/QĐ-UB |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------------------------- tỉnh Nghệ An, ngày 24 tháng 06 năm 2002 |
QUYẾT ĐỊNH CỦA UBND TỈNH NGHỆ AN
Về việc ban hành mẫu biểu kê khai tài sản ban hành theo Nghị định 13/2002/NĐ-CP ngày 30/01/2002 của Chính phủ
_________________________
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Căn cứ Luật tổ chức HĐND-UBND (sửa đổi) ngày 21/06/1994;
- Căn cứ Nghị định số 13/2002/NĐ-CP ngày 30/01/2002 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 64/1998/NĐ-CP ngày 17/08/1998.
- Căn cứ ý kiến chỉ đạo của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Nghệ An tại Công văn số 108 CV/TU ngày 20/05/2002.
QUYẾT ĐỊNH
Điều 1: Nay ban hành thống nhất mẫu kê khai tài sản theo Nghị định 13/2002/NĐ-CP ngày 30/01/2002 của Chính phủ.
Điều 2: Tất cả các đối tượng thuộc diện phải kê khai tài sản thuộc các cấp, các ngành, các đơn vị, các doanh nghiệp Nhà nước của tỉnh Nghệ An đều phải chấp hành nghiêm chỉnh chủ trương kê khai tài sản của Chính phủ và phải chịu trách nhiệm về tính trung thực của bản kê khai.
Điều 3: Các ông Chánh Văn phòng HĐND - UBND tỉnh, Giám đốc các Sở, Ban, Ngành; Các Tổ chức chính trị xã hội; Chủ tịch UBND các huyện, thành phố, thị xã, các xã, phường, thị trấn; Giám đốc các doanh nghiệp Nhà nước; Các tổ chức và cá nhân liên quan căn cứ Quyết định thi hành.
Quyết định có hiệu lực kề từ ngày ký.
TM. UBND TỈNH NGHỆ AN
KT Chủ tịch
Phó Chủ tịch
(Đã ký)
NGUYỄN VĂN HÀNH
HƯỚNG DẪN
Thực hiện Nghị định 13/2002/ NĐ-CP ngày 30/01/2002 của Chính phủ về; Quy định đối tượng, danh mục tài sản, thủ tục mẫu biểu kê khai tài sản
đối với cán bộ công chức.
(Kèm theo Quyết đinh số56/2002/QĐ-UB ngày 24/05/2002 của UBND tỉnh)
___________________________________
Ngày 30/01/2002 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 13/2002/NĐ-GP về: Quy định, thành phần, đối tượng và ban hành thống nhất mẫu biểu kê khai tài sản..
Để quá trình triển khai kê khai tài sản được thống nhất, đáp ứng yêu cầu Nghị định của Chính phủ, UBND tỉnh hướng dẩn thêm một số điểm sau đây:
1. Đặt vấn đề:
Việc kê khai nhà, đất, cơ sở sản xuất kinh doanh của cán bộ, công chức nhằm mục đích công khai minh bạch về tài sản, tạo điều kiện để cơ quan, tổ chức, quần chúng tham gia giám sát nhất là giám sát việc hình thành những tài sản mới, góp phần ngăn ngừa tham nhũng, tiêu cực.
2. Đối tượng thuộc diện phải kê khai tài sản:
- Cán bộ công chức đang làm việc trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, Tổ chức chính trị, Tổ chức chính trị xã hội, Cơ quan đơn vị thuộc quân đội nhân dân, Bộ đội Biên phòng và Công an nhân dân theo quy định của pháp lệnh cán bộ, công chức.
- Sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân, Bộ đội Biên phòng, Sỹ quan, Hạ sỹ quan nghiệp vụ và chuyên môn kỹ thuật trong các cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân.
- Những người được bầu cử, bổ nhiệm vào chức vụ theo nhiệm kỳ, những người được tuyển dụng vào các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp.
- Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong các doanh nghiệp Nhà nước gồm: Tổng giám đốc, Phó tổng giám đốc, Giám đốc, Phó Giám đốc, Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Thành viên Hội đồng quản trị, Kế toán trưởng, Thành viên Ban kiểm soát, Trưởng, phó các phòng, bạn nghiệp vụ trong các doanh nghiệp Nhá nước, Những người được Nhà nước cử giữ chức vụ kể trên trong doanh nghiệp có vốn Nhà nước.
- Cán bộ xã, phường, thị trấn gồm: Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND, Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Ủy viên Ủy ban nhân dân và các chức danh chuyên môn.
3. Tài sản phải kê khai gồm:
- Nhà được thuê, nhà được thừa kế, nhà được tặng, cho, nhà mua, nhà tự xây cất hoặc các loại nhà khác mà người kê khai hiện có.
- Đất được giao quyền sử dụng, đất được thừa kế, đất do chuyển nhượng, đất được thuê hoặc các loại đất khác mà trên thực tế người kê khai hiện có. Bao gồm: đất cả để ở ; đất dùng cho sản xuất, kinh doanh, đất chưa sử dụng...
- Các loại cổ phiếu, trái phiếu, vốn góp đầu tư vào doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh.
- Những tài sản có giá trị từ 50 triệu đồng trở lên như: ô tô, tàu thuyền...
4. Trách nhiệm của người kê khai:
Người kê khai phải khai đúng mẫu quy định ban hành theo Nghị định 13/2002/NĐ- CP và phải chịu trách nhiệm về tính trung thực của bản kê khai. Hàng năm, khi khai bổ sung lý lịch thì người kê khai phải kê khai bổ sung tài sản theo đứng quy định của Nghị định này,
5. Trách nhiệm quản lý đối với bản kê khai:
- Người kê khai thuộc quyền quản lý của cơ quan, tổ chức nào thì nộp bản kê khai cho cơ quan, tổ chức đó. Bản kê khai được báo cáo đến lãnh đạo cơ quan, tổ chức nơi người kê khai công tác.
Bản kê khai của những đảng viên phải báo cáo trước chi bộ nơi sinh hoạt.
- Bản kê khai được quản lý theo chế độ quản lý hồ sơ cán bộ. Trường hợp người kê khai được điều động, thuyên chuyển sang cơ quan, tổ chức khác thì bản kê khai của người đó phải được chuyển giao cùng với hồ sơ cán bộ cho cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quản lý. Khi người kê khai nghỉ hưu, thôi việc thi kê khai của người đó được lưu giữ cùng với hồ sơ cán bộ.
- Khi phát hiện tài sản kê khai có dấu hiệu bất minh, thủ trưởng cơ quan quản lý người kê khai hoặc cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp yêu cầu cơ quan có thẩm quyền thẩm tra, xác minh nguồn gốc. Nếu có vi phạm thì xử lý theo pháp luật.
- Các cơ quan kiểm tra, thanh tra, điều tra, kiểm sát, tòa án được nghiên cứu, khai thác bản kê khai để phục vụ việc thẩm tra, xác minh hành vi tham nhũng.
6. Về mẫu biểu phục vụ kê khai tàisản:
Trên cơ sở Nghị định 13/2002/NĐ-CP ngày 30/01/2002 của Chính phủ, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 58/2002 QĐ/UB ngày 24 tháng 06 năm 2002 kèm theo “Bản kê khai tài sản”. Mẫu này được áp dụng thống nhất trong toàn quốc. Các tiêu thức trong “Bản kê khai tài sản” đã giải thích khá rõ ràng. Vì vậy, yêu cầu đối tượng thuộc diện phải kê khai tài sản nghiên cứu kỹ các nội dung của “Bản kê khai tài sản” để ghi cho đúng, đủ, tránh sai sót và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật đối với việc kê khai của mình.
Riêng tỉnh Nghệ An, ngoài “Bản kê khai tài sản” theo Quyết định số 58/2002/QĐ/UB ngày 24 tháng 06 năm 2002 của UBND tỉnh còn thêm “Bản kê khai hoàn cảnh xã hội để cơ quan, tổ chức nắm được tình hình phạm tội, tệ nạn ma túy, cờ bạc, mại dâm, bạo lực trong gia đình của cán bộ.
Việc kê khai tài sản là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước nhằm tăng cường công tác quản lý giám sát cán bộ, đảng viên, ngăn chặn có hiệu quả tệ tham nhũng. Yêu cầu mọi đối tượng phải quán triệt và thực hiện nghiêm túc.