|
ỦY
BAN NHÂN DÂN |
CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 5826/QĐ-UB-KT |
TP. Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 10 năm 1997 |
QUYẾT ĐỊNH
VỀ VIỆC DI CHUYỂN DÂN CƯ, CÁC TỔ CHỨC VÀ BAN HÀNH BẢN QUY ĐỊNH ĐỀN BÙ, TRỢ CẤP THIỆT HẠI TRONG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG KHU CÔNG NGHIỆP TÂN THỚI HIỆP TẠI QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH.
ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Căn cứ Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ngày 21 tháng 6 năm 1994; Căn cứ Quyết định số 463/TTg ngày 02/7/1997 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập và phê duyệt Dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghiệp Tân Thới Hiệp, thành phố Hồ Chí Minh; Căn cứ Nghị định số 87/CP ngày 17/8/1994 của Chính phủ quy định khung giá các loại đất; Xét đề nghị của Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận 12 và Trưởng Ban Vật giá thành phố (công văn số 371/VG-Q12 ngày 03 tháng 10 năm 1997);
QUYẾT ĐỊNH
Điều 1. Nay tiến hành di chuyển toàn bộ các hộ dân cư, các cơ quan đơn vị Nhà nước và tổ chức khác trong phạm vi quy hoạch xây dựng khu công nghiệp Tân Thới Hiệp diện tích khu đất 215,4 ha thuộc địa bàn phường Hiệp Thành, quận 12.
Danh sách các hộ dân cư và các cơ quan, đơn vị, tổ chức khác phải di chuyển do Ủy ban nhân dân quận 12 xác định và công bố.
Điều 2. Ban hành kèm theo quyết định này Bản quy định về đền bù, trợ cấp thiệt hại về đất và tài sản hiện có trên đất và bố trí định cư trong phạm vi quy hoạch xây dựng công trình nêu tại điều 1 của quyết định này.
Điều 3. Thành lập Ban chỉ đạo di chuyển, đền bù của công trình do Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận 12 làm Trưởng Ban, Trưởng Ban chỉ đạo bổ nhiệm các thành viên trong Ban chỉ đạo (mời đại diện Ban Vật giá thành phố và Sở Địa chính tham gia Ban chỉ đạo).
- Kinh phí hoạt động của Ban chỉ đạo do đơn vị chủ đầu tư công trình tài trợ tính trong kinh phí di chuyển, đền bù (không quá 1% tổng kinh phí đền bù).
Điều 4. Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân thành phố, Giám đốc các Sở: Địa chính, Tài chánh, Xây dựng, Vật giá, Nhà đất, Kiến trúc sư trưởng thành phố, Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận 12, Giám đốc Công ty Xuất nhập khẩu và đầu tư Hóc Môn, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Hiệp Thành, quận 12, Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị và tổ chức khác có liên quan, các hộ gia đình và cá nhân trong khu vực quy hoạch xây dựng công trình trên chịu trách nhiệm thi hành quyết định này./.
T/M ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐK/T CHỦ TỊCHPHÓ CHỦ TỊCHTrần Thành Long |
Phần II
.
1. Đất ở là đất hiện hữu có nhà, bao gồm cả khuôn viên nhà (nếu có) đang sử dụng hợp pháp và hợp lệ, kể cả đất được cơ quan có thẩm quyền giao đất để sử dụng vào mục đích làm nhà ở nhưng chưa xây dựng nhà, đã hoàn tất thủ tục xin sử dụng đất và đã san lấp mặt bằng.
2. Đất ở phải phù hợp quy hoạch, không nằm trên mặt nước của kênh, rạch và sông, đất không vi phạm các công trình và hành lang bảo vệ các công trình kỹ thuật hạ tầng (ngoại trừ các trường hợp đã sử dụng đất hợp pháp, hợp lệ trước khi có công bố quy hoạch khu vực đầu tư xây dựng khu công nghiệp này) và không có tranh chấp.
3. Đất ở hợp pháp là đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của Luật đất đai ; đất ở hợp lệ được xác định theo công văn số 647/CV-ĐC ngày 31/5/1995 của Tổng cục Địa chính về việc hướng dẫn một số điểm thực hiện Nghị định số 60/CP ngày 5/7/1994 của Chính phủ và theo Quyết định số 6280/QĐ-UB-QLĐT ngày 26/8/1995 của Ủy ban nhân dân thành phố về việc ban hành qui định cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại thành phố Hồ Chí Minh.
4. Diện tích đất ở để tính đền bù và trợ cấp áp dụng theo mức quy định tại điều 5 của Bản quy định này.
Điều 4. Đất ở được đền bù, trợ cấp:
Điều 6. Đối với đất của các cơ quan, đơn vị và tổ chức khác:
1. Cơ quan Nhà nước, các tổ chức chính trị-xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân được Nhà nước giao đất mà được miễn nộp tiền sử dụng đất hoặc đã nộp tiền sử dụng đất bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước, thì khi Nhà nước thu hồi đất, các tổ chức này không được đền bù thiệt hại về đất, nhưng được xem xét cấp đất mới cho từng trường hợp theo thẩm quyền của Chính phủ hoặc của Ủy ban nhân dân thành phố (nếu xét thấy việc sử dụng đất có hiệu quả, đúng mục đích). Trường hợp đất cho thuê lại, đất sử dụng không hiệu quả, lãng phí hoặc sử dụng không đúng mục đích của Nhà nước giao thì bị thu hồi không điều kiện.
2. Doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp của các tổ chức chính trị-xã hội, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, đơn vị kinh tế tập thể, doanh nghiệp tư nhân, khi Nhà nước thu hồi đất thì được xem xét, giải quyết như sau:
a. Trường hợp đất đang sử dụng là đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng hoặc có quyết định giao đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và đã nộp tiền sử dụng đất mà tiền đó không thuộc nguồn vốn của ngân sách Nhà nước thì được Nhà nước hỗ trợ bằng cách giao đất hoặc thuê đất khác tương ứng với diện tích đang sử dụng hợp pháp hoặc được đền bù bằng tiền tương đương với giá trị diện tích đất bị thu hồi. Giá trị đất được áp dụng theo đơn giá ghi trong Quyết định 05/QĐ-UB-QLĐT ngày 04/01/1995 của Ủy ban nhân dân thành phố.
b. Trường hợp đất đang sử dụng mà khi được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giao không phải nộp tiền sử dụng đất hoặc nộp tiền sử dụng đất bằng nguồn vốn của ngân sách Nhà nước thì không được đền bù thiệt hại về đất. Thành phố trợ cấp bằng cách giao đất hoặc thuê đất khác hoặc bằng tiền với mức bằng 20% giá trị đất bị thu hồi (QĐ.05).
c. Trường hợp đất đang sử dụng là đất có quyết định tạm giao:
c. 1. Nếu đã đóng tiền sử dụng đất bằng nguồn vốn không thuộc ngân sách Nhà nước thì được xét hỗ trợ bằng cách giao đất hoặc thuê đất khác hoặc bằng tiền với mức bằng 30% giá trị đất bị thu hồi (QĐ.05).
c. 2. Nếu chưa đóng tiền sử dụng đất thì được xét bồi hoàn lại chi phí đã đầu tư trên đất, gồm: đền bù, san lấp (nếu có)... nhưng mức bồi hoàn không quá 30% giá trị đất bị thu hồi (QĐ.05).
d. Trường hợp đất có nhà xưởng, kho bãi đang sử dụng là đất có nguồn gốc tự chuyển nhượng hoặc mua nhà xưởng do Nhà nước thanh lý (có giá trị đất) bằng nguồn vốn không thuộc ngân sách Nhà nước, có giấy tờ hợp lệ về quyền sử dụng đất thì được đền bù theo mức quy định tại điều 5 của Bản quy định này.
3. Đối với đất có nguồn gốc chuyển nhượng trái phép, đang sử dụng nhưng không có giấy tờ hợp lệ thì Ủy ban nhân dân quận 12 cùng Ban chỉ đạo di chuyển đền bù của công trình xem xét từng trường hợp cụ thể, dựa theo công văn số 1427/CV-ĐC ngày 13/10/1995 của Tổng cục Địa chính về việc hướng dẫn xử lý một số vấn đề về đất đai để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất , để xác định mức bồi hoàn, trợ cấp hợp lý hoặc xử lý theo pháp luật hiện hành.
Điều 7. Đền bù, trợ cấp thiệt hại đất nông nghiệp (đất ruộng, vườn, ao hồ):
1. Đất có quyền sử dụng hợp pháp được đền bù theo khung giá đất trồng cây hàng năm quy định tại Nghị định số 87/CP ngày 17/8/1994 của Chính phủ và được trợ cấp thêm như sau:
6. Các trường hợp lấn chiếm đất bất hợp pháp, đất không đủ điều kiện để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng thì không được đền bù, trợ cấp. Riêng đối với đất có nguồn gốc đất công, người đang sử dụng được cơ quan, đơn vị của Nhà nước tạm giao hoặc cho thuê canh tác có thời hạn và đã sử dụng tối thiểu từ ba năm trở lên, nay bị thu hồi thì được xét trợ cấp bằng 30% mức đơn giá quy định tại 1 trong các khoản 1,3,4,5 của điều này.
Điều 8. Nhà thuộc sở hữu tư nhân:
1. Nhà xây dựng hợp pháp, có giấy tờ hợp lệ hoặc không có giấy tờ nhưng đã xây dựng và sử dụng ổn định từ trước ngày 18/12/1980 (ngày Hiến pháp được Quốc hội thông qua), được đền bù 100% giá trị xây dựng nhà hiện có theo đơn giá ghi trong Bảng phụ lục số 2 kèm theo Bản quy định này, kể cả vật kiến trúc khác.
2. Nhà không có giấy tờ hợp lệ, không thuộc tài sản của Nhà nước, không có tranh chấp, tạo lập từ ngày 18/12/1980 đến nay, được đền bù bằng 80% đơn giá của nhà có giấy tờ hợp lệ quy định tại khoản 1 trên.
3. Nhà xây dựng không giấy phép trên đất có nguồn gốc lấn chiếm bất hợp pháp, không được đền bù, trợ cấp, phải tháo dỡ nhà không điều kiện. Nếu tự nguyện và chấp hành tốt, được hỗ trợ chi phí di chuyển nhà theo mức quy định tại khoản 2, điều 17 của Bản quy định này.
Điều 9. Nhà thuộc sở hữu Nhà nước:
1. Cá nhân, hộ gia đình có quyết định của cơ quan, đơn vị Nhà nước cấp nhà, tạm cấp, tạm giao, hợp đồng thuê nhà thuộc sở hữu Nhà nước hoặc nhà do nguồn vốn ngân sách Nhà nước tạo lập, nay bị thu hồi không được đền bù thiệt hại về nhà và đất. Người đang sử dụng hợp pháp được thuê một căn nhà khác theo chỉ định của Ủy ban nhân dân quận hoặc Ủy ban nhân dân thành phố.
2. Trường hợp người đang sử dụng nhà hợp pháp chấp nhận tự di chuyển, không yêu cầu thuê nhà thuộc sở hữu Nhà nước, được trợ cấp thống nhất một lần tiền như sau:
a. Mức trợ cấp:
a. 1. Nhà phố và nhà có khuôn viên riêng: 600.000 đ/m2 sàn sử dụng.
a. 2. Nhà chung cư, nhà ở nhiều hộ: 480.000 đ/m2 sàn sử dụng.
a. 3. Số m2 sàn sử dụng được tính trợ cấp là số m2 ghi trong quyết định tạm cấp, tạm giao, hợp đồng thuê nhà hoặc giấy cấp nhà của cơ quan chủ quản (do cơ quan, đơn vị quản lý căn nhà xác nhận). Không tính phần diện tích hành lang, ban công, lối đi chung và diện tích lấn chiếm. Đối với hộ gia đình ở chung cư, ở trong một căn nhà có nhiều hộ thì số m2 tính trợ cấp tương ứng với diện tích sàn nhà của mỗi hộ đang sử dụng hợp pháp.
b. Trường hợp hộ gia đình có nâng cấp, xây dựng mới tăng thêm diện tích nhà, được cơ quan có thẩm quyền cho phép, được đền bù 100% theo đơn giá xây dựng quy định tại khoản 1, điều 8 đối với phần diện tích xây dựng mới có giấy phép. Trường hợp không có giấy phép được trợ cấp bằng 80% đơn giá xây dựng theo hiện trạng.
3. Các hộ gia đình và cá nhân đang sử dụng hợp pháp nhà thuộc sở hữu Nhà nước nay phải di chuyển, được hưởng các khoản trợ cấp khác quy định tại điều 17 của Bản quy định và được ưu tiên mua một nền nhà hoặc căn nhà tại khu bố trí định cư của dự án.
4. Đơn vị chủ đầu tư có trách nhiệm chi trả tiền đền bù thiệt hại về nhà ở, đất ở có nguồn gốc thuộc sở hữu Nhà nước theo quy định tại điều 5 và điều 8 của Bản quy định này cho ngân sách thành phố (thông qua cơ quan quản lý căn nhà) sau khi trừ các khoản chi phí trợ cấp cho người đang sử dụng nhà hợp pháp.
Điều 10. Nhà thuộc sở hữu của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh:
Điều 11. Nhà của các doanh nghiệp quốc doanh:
1. Nhà đã được cấp có thẩm quyền (Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh hoặc Bộ chủ quan) giao thành tài sản cố định cho doanh nghiệp hoặc tạo lập bằng nguồn vốn không thuộc ngân sách Nhà nước được đền bù 100% theo đơn giá tại Quyết định số 5184/QĐ-UB-KT ngày 9/11/1996 của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh.
2. Nhà doanh nghiệp thuê Nhà nước thì không đền bù cho đơn vị đang thuê nhà, chỉ tính đền bù tài sản cho đơn vị cho thuê nhà theo đơn giá quy định tại khoản 1 của điều này. Trường hợp có cho thuê lại, thì đơn vị đang sử dụng nhà tự giải quyết việc chấm dứt hợp đồng với bên thuê lại.
Điều 12. Nhà của các cơ quan hành chánh sự nghiệp:
Điều 13. Nhà có điện thoại, đồng hồ nước, điện (thuê bao), giếng nước, được đền bù:
Điều 14. Cây trồng, hoa màu:
1. Mức giá đền bù các loại cây trồng và hoa màu áp dụng theo mức giá ghi trong Bảng phụ lục giá số 1 kèm theo Bản quy định này, không tính đền bù những loại cây mới trồng sau thời điểm Ủy ban nhân dân thành phố ban hành khung giá đền bù thiệt hại ở công trình.
Điều 15. Mồ mả: Bồi hoàn chi phí để thân nhân có ngôi mộ tự lo di dời, cải táng như sau:
1. Mộ đất: 000.000 đ/mộ.
2. Mộ xây thường, đá ong: 1.500.000 đ/mộ.
3. Mộ xây bán kiên cố: 2.500.000 đ/mộ.
4. Mộ xây kiên cố: 000.000 đ/mộ.
5. Mộ cải táng: 400.000 đ/mộ.
6. Đối với mộ đặc biệt kiên cố, kiến trúc phức tạp thì Ban chỉ đạo di chuyển, đền bù của công trình xem xét, giải quyết mức đền bù cụ thể cho từng trường hợp.
7. Đối với mộ vắng chủ, Ủy ban nhân dân phường giúp đơn vị đầu tư hợp đồng với đơn vị phục vụ mai táng tổ chức bốc mộ và cải táng.
Điều 16. Đối với các công trình kỹ thuật hạ tầng (đèn đường, cáp điện thoại, đường điện, đường cấp thoát nước...) sẽ áp dụng phương án di dời cụ thể cho từng trường hợp. Phương án di dời do đơn vị quản lý trực tiếp công trình đó lập, thông qua cơ quan chủ quản xét duyệt và có sự xem xét, thống nhất của Ban chỉ đạo di chuyển về mức đền bù thiệt hại khi di dời.
Điều 17. Các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân có nhà ở hợp pháp phải di chuyển toàn bộ, ngoài mức trợ cấp về nhà và đất, được trợ cấp thêm các khoản như sau:
1. Trợ cấp đời sống:
Điều 18. Đơn vị chủ đầu tư công trình chịu trách nhiệm phối hợp với các cơ quan chức năng lập quy hoạch và kế hoạch cụ thể về việc xây dựng hoàn chỉnh khu định cư mới cùng với phương án tái bố trí lại dân cư trong khu vực phải di chuyển trình cấp có thẩm quyền quyết định. Việc bố trí lại dân cư được thực hiện theo các hướng sau:
1. Áp dụng các phương thức thích hợp với hình thức đền bù, trợ cấp: bán đứt, bán trả góp, cho thuê theo nguyên tắc không kinh doanh thu lãi. Chính sách và kế hoạch bố trí lại nơi ở mới cho dân cư sau khi được cơ quan có thẩm quyền xét duyệt, phải công bố cho nhân dân trong khu vực di chuyển biết trước.
2. Chi phí xây dựng căn nhà hoặc nền đất đã hoàn chỉnh hạ tầng kỹ thuật là mức chi phí bao gồm: chi phí đền bù, san lấp, hạ tầng nội bộ và phần giá trị xây dựng nhà (nếu là căn hộ), không tính tiền sử dụng đất đối với phần diện tích đất dùng để điều chỉnh, bán lại cho các đối tượng có nhà ở, đất ở hợp pháp (đã đóng tiền sử dụng đất) phải di chuyển để xây dựng công trình. Số tiền sử dụng đất phải nộp cho Nhà nước theo quy định đối với phần diện tích này sẽ do đơn vị chủ đầu tư công trình chịu và tự cân đối.
3. Đối với những hộ gia đình có hộ khẩu tại căn nhà phải di chuyển, không có khả năng tự lo nhà ở nơi khác thì được ưu tiên mua một căn nhà tại khu định cư mới với nguyên tắc khấu trừ trước tiền đền bù nhà, đất của những hộ gia đình đó. Phần chênh lệch (nếu có) do bên bán và bên mua thanh toán khi giao nhà. Nếu tiền đền bù không đủ trả tiền mua nhà, người mua nhà được chọn 1 trong các phương thức trả góp do chủ đầu tư công bố cụ thể, sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
4. Đối với những hộ gia đình không có hộ khẩu tại căn nhà phải di chuyển nhưng có hộ khẩu gốc tại thành phố, khi di chuyển không có chỗ ở nào khác tại thành phố thì được áp dụng phương thức tái định cư quy định tại khoản 1, 2 trên. Riêng các trường hợp chiếm dụng đất và cất nhà bất hợp pháp, không có hộ khẩu tại thành phố thì phải trở về nơi ở cũ hoặc được tổ chức di chuyển đến các khu kinh tế mới và được xét trợ cấp di chuyển một lần: 2.000.000 đ/hộ - 3.000.000 đ/hộ tùy theo hoàn cảnh từng hộ và thời gian đã cư trú.
5. Việc xây dựng khu định cư mới hoàn chỉnh đến đâu thì mới tổ chức di dời dân đến đó. Trường hợp cần thiết phải giải phóng ngay mặt bằng phục vụ thi công thì phải có điều kiện bố trí nơi tạm cư trước (bố trí nơi ở tạm hoặc chi trả tiền thuê nhà cho chủ hộ tự tìm nơi ở tạm). Chi phí nơi tạm cư do đơn vị chủ đầu tư công trình chi trả, nhưng không kéo dài quá 1 năm.
Phần IV
.
Điều 19. Ủy ban nhân dân thành phố giao trách nhiệm cho Ủy ban nhân dân quận 12 phối hợp cùng Ban Vật giá thành phố và Ban chỉ đạo di chuyển, đền bù của dự án tổ chức phổ biến giải thích, hướng dẫn thực hiện cụ thể Bản quy định này đến các đối tượng trong khu vực quy hoạch xây dựng công trình biết để thực hiện và giám sát việc đền bù, trợ cấp đúng quy định.
Điều 20. Những trường hợp đang tranh chấp về quyền sử dụng đất. Chỉ đền bù, trợ cấp sau khi tranh chấp đã được cơ quan có thẩm quyền giải quyết bằng quyết định có hiệu lực thi hành.
Điều 21. Những người không chấp hành hoặc cố tình trì hoãn, gây khó khăn, gây cản trở chủ trương, chính sách, kế hoạch di chuyển, đền bù, đã được cơ quan chức năng giải thích nhiều lần và thực hiện đúng quy định đền bù, trợ cấp theo Bản quy định này nhưng vẫn không chấp hành di chuyển, Ủy ban nhân dân quận 12 được quyền ra quyết định cưỡng chế thi hành. Số tiền đền bù, trợ cấp theo quy định được tạm gởi vào Ngân hàng Nhà nước theo chế độ tiền gởi tiết kiệm do đơn vị chủ đầu tư công trình đứng tên. Trong khi chờ cơ quan có thẩm quyền quyết định sau cùng, người khiếu nại vẫn phải chấp hành di chuyển đến nơi định cư mới.
Điều 22. Bản quy định này được áp dụng kể từ ngày ký và được áp dụng luôn cho các Dự án đầu tư có cùng mục đích sử dụng đất trên cùng khu vực kế cận./.