|
BỘ Y TẾ |
CỘNG HÒA XÃ
HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 5859/QĐ-BYT |
Hà Nội, ngày 18 tháng 12 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
VỀ VIỆC BAN HÀNH TÀI LIỆU CHUYÊN MÔN “BỘ CÔNG CỤ ĐÀO TẠO CHO CÁN BỘ Y TẾ TRIỂN KHAI THÔNG TƯ 24/2017/TT-BYT NGÀY 17/5/2017 QUY ĐỊNH QUY TRÌNH TIẾP NHẬN, CHĂM SÓC Y TẾ VÀ THỐNG KÊ, BÁO CÁO ĐỐI VỚI NGƯỜI BỆNH LÀ NẠN NHÂN BẠO LỰC GIA ĐÌNH TẠI CƠ SỞ KHÁM BỆNH, CHỮA BỆNH”
BỘ TRƯỞNG BỘ Y TẾ
Căn cứ Luật Phòng, chống Bạo lực gia đình năm 2007;
Căn cứ Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009;
Căn cứ Nghị định số 75/2017/NĐ-CP ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Y tế;
Xét đề nghị của Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh, Bộ Y tế,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này tài liệu chuyên môn “Bộ công cụ đào tạo cho cán bộ y tế triển khai Thông tư 24/2017/TT-BYT ngày 17/5/2017 về quy định quy trình tiếp nhận, chăm sóc y tế và thống kê, báo cáo đối với người bệnh là nạn nhân bạo lực gia đình tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh”.
Điều 2. Tài liệu chuyên môn “Bộ công cụ đào tạo cho cán bộ y tế triển khai Thông tư 24/2017/TT-BYT ngày 17/5/2017 quy định quy trình tiếp nhận, chăm sóc y tế và thống kê, báo cáo đối với người bệnh là nạn nhân bạo lực gia đình tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh” được áp dụng tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong cả nước.
Điều 3. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký, ban hành.
Điều 4. Các ông, bà: Chánh Văn phòng Bộ, Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh, Chánh Thanh tra Bộ, Tổng Cục trưởng, Cục trưởng và Vụ trưởng các Tổng cục, Cục, Vụ thuộc Bộ Y tế, Giám đốc Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Giám đốc các Bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế, Thủ trưởng Y tế các Bộ, ngành và các đơn vị có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
|
|
KT. BỘ
TRƯỞNG |
BỘ Y TẾ
BỘ CÔNG CỤ
ĐÀO TẠO CHO CÁN BỘ Y TẾ
TRIỂN KHAI THỰC HIỆN
THÔNG TƯ 24/2017/TT-BYT
Hà Nội, năm 2019
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
|
STT
|
Từ viết tắt
|
Từ viết đầy đủ
|
|
BLG
|
Bạo lực giới
|
|
|
BLGĐ
|
Bạo lực gia đình
|
|
|
BYT
|
Bộ Y tế
|
|
|
CBYT
|
Cán bộ y tế
|
|
|
CTXH
|
Công tác xã hội
|
|
|
DVXH
|
Dịch vụ xã hội
|
|
|
NN
|
Nạn nhân
|
|
|
NVCC DVXH
|
Nhân viên cung cấp dịch vụ xã hội
|
|
|
QĐ
|
Quyết định
|
|
|
UBND
|
Ủy ban nhân dân
|
|
|
TT
|
Thông tư
|
MỤC LỤC
|
Trang
|
||
|
LỜI NÓI ĐẦU
|
4
|
|
|
PHẦN I.
|
5
|
|
|
TỔNG QUAN
|
5
|
|
|
VỀ GIỚI, BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI,
|
7
|
|
|
BẠO LỰC GIỚI,
|
8
|
|
|
BẠO LỰC GIA ĐÌNH
|
10
|
|
|
I. KHÁI NIỆM VỀ GIỚI, BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI, BẠO LỰC GIỚI VÀ BẠO LỰC GIA ĐÌNH
|
11
|
|
|
II. TÌNH HÌNH BẠO LỰC PHỤ NỮ TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
|
12
|
|
|
III. NGUYÊN NHÂN VÀ CÁC YẾU TỐ DẪN ĐẾN BẠO LỰC GIỚI, BẠO LỰC GIA ĐÌNH
|
12
|
|
|
IV. HẬU QUẢ CỦA BẠO LỰC GIỚI, BẠO LỰC GIA ĐÌNH
|
13
|
|
|
V. QUYỀN CON NGƯỜI
|
14
|
|
|
VI. NHẬN DIỆN BẠO LỰC GIA ĐÌNH
|
17
|
|
|
VII. BẠO LỰC PHỤ NỮ THÔNG QUA CHU KỲ SỐNG
|
27
|
|
|
PHẦN II.
|
30
|
|
|
ĐÁP ỨNG CỦA Y TẾ ĐỐI VỚI
|
31
|
|
|
PHÒNG CHỐNG BẠO LỰC GIỚI, BẠO LỰC GIA ĐÌNH
|
32
|
|
|
QUY TRÌNH ĐÁP ỨNG Y TẾ ĐỐI VỚI NẠN NHÂN BỊ BẠO LỰC
|
38
|
|
|
I. BƯỚC 1. SÀNG LỌC PHÁT HIỆN NẠN NHÂN BỊ BẠO LỰC
|
38
|
|
|
III. BƯỚC 3 - 4. TƯ VẤN – HỖ TRỢ NẠN NHÂN BỊ BẠO LỰC
|
41
|
|
|
Tư vấn là gì
|
43
|
|
|
IV. THỐNG KÊ, BÁO CÁO
|
48
|
|
|
V. HƯỚNG DẪN TRIỂN KHAI PHÒNG CHỐNG BẠO LỰC GIỚI/BẠO LỰC GIA ĐÌNH TẠI CƠ SỞ Y TẾ VÀ CƠ CHẾ PHỐI HỢP VỚI CỘNG ĐỒNG
|
54
|
|
|
PHẦN III.
|
54
|
|
|
CÁC VĂN BẢN LIÊN QUAN
|
58
|
|
|
ĐẾN BÌNH ĐẲNG GIỚI,
|
60
|
|
|
PHÒNG CHỐNG BẠO LỰC GIỚI, BẠO LỰC GIA ĐÌNH VÀ CƠ CHẾ PHỐI HỢP CỘNG ĐỒNG VỀ PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC
|
62
|
|
|
III. THÔNG TƯ SỐ 24/2017/TT-BYT NGÀY 17/5/2017 CỦA BỘ Y TẾ HƯỚNG DẪN VIỆC TIẾP NHẬN, CHĂM SÓC Y TẾ VÀ THỐNG KÊ, BÁO CÁO ĐỐI VỚI NGƯỜI BỆNH LÀ NẠN NHÂN BLGĐ TẠI CƠ SỞ KHÁM BỆNH, CHỮA BỆNH
|
62
|
LỜI NÓI ĐẦU
Bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em là một hiện tượng mang tính toàn cầu, là mối quan tâm chung của nhiều khu vực, cộng đồng dân tộc và các xã hội khác nhau trên thế giới. Bạo lực phụ nữ làm ảnh hưởng về thể chất , tinh thần, kinh tế và tình dục đối với người phụ nữ. Đặc biệt bạo lực tình dục đã gây ra những hậu quả liên quan đến các vấn đề về sức khỏe sinh sản: tổn thương hệ thống sinh dục, nạo, phá thai, có thai ngoài ý muốn, lây nhiễm các bệnh lây truyền qua đường tình dục, lây nhiễm HIV/AIDS...Các kết quả nghiên cứu cho thấy phụ nữ bị bạo lực tình dục còn bị sang chấm tâm lý nghiêm trọng, đặc biệt đối với trường hợp bị lạm dụng tình dục, hiếp dâm, nhiều phụ nữ đã có ý định tự tử. Tổ chức Y tế thế giới đã coi bạo lực với phụ nữ, trẻ em gái là vấn đề y tế công cộng và quyền con người.
Bạo lực gia đình xảy ra do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó nguyên nhân về bất bình đẳng giới là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn tới thực trạng bạo lực gia đình. Từ sự bất bình đẳng giới trong xã hội mà đối tượng chịu sự bất bình đẳng chủ yếu là phụ nữ đã làm cho người phụ nữ thường ở vị trí yếu thế và trở thành nhóm có nguy cơ bị bạo lực cao.
Năm 2007, Luật Phòng chống bạo lực gia đình ra đời đã đặt ra vấn đề phòng chống bạo lực phụ nữ, bạo lực gia đình và quy định trách nhiệm thực hiện của cá nhân, tổ chức, trong đó có nhiệm vụ của ngành y tế và cán bộ y tế.
Năm 2017, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư 24/2017/TT-BYT ngày 17/5/2017 hướng dẫn việc tiếp nhận, chăm sóc y tế và thống kê, báo cáo đối với người bệnh là nạn nhân bạo lực gia đình tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
Năm 2018, Tổ chức y tế Thế giới đã hỗ trợ cho Bộ y tế Việt Nam xây dựng Bộ công cụ đào tạo cho cán bộ y tế để triển khai Thông tư 24/2017/TT-BYT có hiệu quả hơn .
Do thời gian ngắn nên các bài viết vẫn còn chưa được như mong đợi, Ban Soạn thảo rất mong các cán bộ nhân viên y tế đóng góp ý kiến để chúng tôi hoàn chỉnh Bộ công cụ để các, Sở Y tế, các bệnh viện, Viện có giường bệnh trực thuộc Bộ Y tế, đơn vị và y tế ngành triển khai thực hiện hiệu quả và đi vào cuộc sống của người dân Thông tư 24/2017/TT-BYT.
|
Trưởng Ban Soạn thảo
Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh
|
|
|
Lương Ngọc Khuê
|
PHẦN I.
TỔNG QUANVỀ GIỚI, BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI,
BẠO LỰC GIỚI, BẠO LỰC GIA ĐÌNH
I. KHÁI NIỆM VỀ GIỚI, BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI, BẠO LỰC GIỚI VÀ BẠO LỰC GIA ĐÌNH
1. Giới và giới tính
Theo Điều 5 của Luật Bình đẳng giới (Luật số 73/2006/QH11), khái niệm “giới tính” và “giới” được hiểu như sau:
- “ Giới tính” là khái niệm chỉ các đặc điểm sinh học của nam, nữ.
- “Giới” là khái niệm chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội.
Khái niệm giới và giới tính giúp ta phân biệt đặc điểm của phụ nữ và nam giới để hiểu rõ thực chất và cơ chế hình thành các đặc điểm đó. Sự khác nhau giữa “giới tính” và “giới”được thể hiện qua các nội dung sau:
- Giới tính là khái niệm chỉ sự khác biệt giữa nam và nữ về phương diện sinh học, có sẵn từ khi sinh ra, đồng nhất và không biến đổi (trừ trường hợp có sự can thiệp của y học). Ví dụ nam giới có thể làm thụ thai, phụ nữ có thể sinh con và cho con bú.
- Khác với giới tính, giới không mang tính bẩm sinh mà được hình thành trong quá trình sống, học tập của con người từ khi còn nhỏ đến lúc trưởng thành. Nói cách khác, giới được thể hiện thông qua các hành vi được hình thành từ sự dạy dỗ và thu nhận từ gia đình, cộng đồng và xã hội, là vị trí, vai trò của nam và nữ mà xã hội mong muốn, kỳ vọng ở phụ nữ và nam giới liên quan đến các đặc điểm và năng lực nhằm xác định thế nào là một người nam giới hay một phụ nữ (hoặc trẻ em trai, trẻ em gái) trong một xã hội hay một nền văn hóa nhất định. Ví dụ: phụ nữ làm nội trợ, thêu thùa, chăm sóc con cái, nam giới xây dựng nhà cửa, làm kinh tế, chính trị,… Những hành vi này không phải là hành vi hay kỹ năng bẩm sinh mà do họ được xã hội, gia đình, cộng đồng dạy dỗ để làm việc đó vì xã hội cho rằng như vậy là phù hợp với thiên chức phụ nữ hoặc nam giới.
Bảng 1. Khác nhau giữa Giới tính và Giới:
|
Giới tính
|
Giới
|
|
Đặc điểm sinh học khác nhau giữa nam và nữ (sinh ra đã có)
|
Cách ứng xử, vai trò, hành vi mà xã hội mong đợi ở nam và nữ (không phải sinh ra đã có mà là một quá trình hình thành bởi xã hội)
|
|
Con người sinh ra đã thuộc về một giới tính nhất định và không thay đổi theo thời gian
|
Con người được dạy và phải học về các vai trò giới trong quá trình trưởng thành, giao tiếp xã hội. Điều này có thể thay đổi theo thời gian.
|
|
Giới tính của một người ở nơi nào cũng vậy
|
Giới và vai trò giới khác nhau theo phong tục tập quán, theo vùng và thời gian
|
|
Khó hoặc không thay đổi được
|
Có thể thay đổi theo thời gian
|
BÀI TẬP
- Học viên nêu các đặc tính của nam và nữ
- Phân tích các đặc tính đó thuộc về khái niệm giới hay giới tính
- Xắp xếp lại và giải thích các đặc tính đó đúng theo khái niệm giới và giới tính
- Nhắc lại để hiểu rõ khái niệm giới và giới tính
2. Bình đẳng và bất bình đẳng giới
Bình đẳng giới: là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó.
Bất bình đẳng giới: là sự đối xử khác biệt đối với nam và nữ về cơ hội, sự tham gia, tiếp cận, kiểm soát và thụ hưởng các nguồn lực. Sự phân biệt đối xử giữa nam giới và phụ nữ, tư tưởng trọng nam khinh nữ có thể xem như yếu tố ảnh hưởng rất lớn tới hành vi bạo lực gia đình đối với phụ nữ.
BÀI TẬP
- Hình ảnh ngang bằng và không ngang bằng giữa hai người nam và nữ
- Phân tích nếu ngang bằng điều gì sẽ diễn ra:
+ Cân bằng như nhau
+ Tôn trọng nhau
- Nếu không ngang bằng điều gì sẽ xảy ra:
+ Có hiện tượng Người nhìn xuống và người phải ngước nhìn lên
+ Có hiện tượng thể hiện người cao lớn, mạnh mẽ, người bé nhỏ, yếu đuối
+ Có thể xảy ra hiện tượng đàn áp và bị đàn áp
3. Bạo lực giới
Cao uỷ Liên hợp quốc về người tị nạn (UNHCR 2003) sử dụng thuật ngữ bạo lực trên cơ sở giới dựa trên Điều 1 và 2 của Tuyên bố của Đại hội đồng Liên hợp quốc về Xoá bỏ Bạo lực đối với Phụ nữ năm 1993 và Đề xuất thứ 19, đoạn 6 của Kỳ họp thứ 11 Hội đồng CEDAW. Theo đó, bạo lực trên cơ sở giới (bạo lực giới- BLG) là bạo lực nhằm vào một người trên cơ sở đối xử phân biệt giới hoặc giới tính. Nó bao gồm các hành động gây tác hại hoặc gây đau đớn về thể xác, tinh thần hay tình dục, gồm cả sự đe dọa thực hiện những hành vi này, sự cưỡng bức và tước đoạt tự do dưới các hình thức khác nhau. Mặc dù phụ nữ, nam giới, trẻ em trai và trẻ em gái đều có thể trở thành nạn nhân của BLG, phụ nữ và trẻ em gái thường là nạn nhân chủ yếu.
BLG phải được hiểu là bao gồm, nhưng không giới hạn ở những hình thức sau:
- Bạo lực thể xác, tình dục và tâm lý xảy ra trong gia đình, gồm cả hành vi đánh đập, bóc lột tình dục, lạm dụng tình dục trẻ em trong gia đình, bạo lực liên quan đến của hồi môn, cưỡng hiếp trong hôn nhân, cắt bỏ bộ phận sinh dục nữ và các hủ tục khác gây hại đến phụ nữ, bạo lực không phải do bạn tình gây ra và bạo lực liên quan đến bóc lột;
- Bạo lực thể xác, tình dục và tâm lý xảy ra trong cộng đồng, bao gồm: cưỡng hiếp, lạm dụng tình dục, quấy rối và sàm sỡ tình dục tại nơi làm việc, trong các cơ sở giáo dục hoặc bất kỳ đâu; buôn bán phụ nữ và mại dâm cưỡng bức;
- Bạo lực thể xác, tình dục và tâm lý được gây ra hoặc được bỏ qua bởi Nhà nước và các tổ chức hoặc cho dù xảy ra ở bất cứ đâu.
BÀI TẬP
- Có thể chiếu video clip về tình huống mâu thuẫn trong tình cảm
- Hỏi học viên nhận định tình huống xảy ra
- Để học viên phân tích tình huống đó và đưa ra các nhận định
- Tổng hợp, phân tích để học viên hiểu tình huống và phát hiện bạo lực
- Giúp học viên hiểu rõ thế nào là bạo lực
4. Bạo lực gia đình
Theo quy định tại Luật phòng, chống bạo lực gia đình 02/2007/QH12 thì: ”Bạo lực gia đình là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tình dục, tinh thần, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình.”
Khoản 1 Điều 2 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 quy định các hành vi bạo lực gia đình bao gồm:
a) Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng;
b) Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm;
c) Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng;
d) Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau;
đ) Cưỡng ép quan hệ tình dục;
e) Cưỡng ép tảo hôn; cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ;
g) Chiếm đoạt, huỷ hoại, đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hư hỏng tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình hoặc tài sản chung của các thành viên gia đình;
h) Cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ; kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính;
i) Có hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở.
5. Liên quan giữa bất bình đẳng giới và bạo lực giới, bạo lực gia đình
Bạo lực gia đình xảy ra do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó nguyên nhân về bất bình đẳng giới là một trong những nguyên nhân quan trọng nhất dẫn tới thực trạng bạo lực gia đình. Từ sự bất bình đẳng giới trong xã hội mà đối tượng chịu sự bất bình đẳng chủ yếu là phụ nữ đã làm cho người phụ nữ thường ở vị trí yếu thế, phụ thuộc vào nam giới về kinh tế, văn hoá, giáo dục…Những định kiến giới như chồng có quyền dạy vợ; chồng có thể chơi bời nhưng vợ thì phải đoan trang; chồng là chủ gia đình, có quyền quyết định mọi việc trong gia đình; tư tưởng trọng nam, khinh nữ…, hay những các quan niệm bất bình đẳng giới khác về vai trò của nam và nữ đã làm cho phụ nữ trở thành nhóm có nguy cơ bị bạo lực gia đình cao. Vì vậy, bạo lực gia đình và bình đẳng giới là hai vấn đề có liên quan trực tiếp đến nhau. Muốn xoá bỏ hoặc hạn chế bạo lực gia đình thì phải loại trừ các nguyên nhân gốc rễ gây ra nó, trong đó có nguyên nhân quan trọng là tình trạng bất bình đẳng giới trong gia đình và trong xã hội.
II. TÌNH HÌNH BẠO LỰC PHỤ NỮ Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
1. Trên thế giới
Tình hình bạo lực phụ nữ ở các nước trên thế giới hiện đang là vấn nạn của toàn cầu, khảo sát đa quốc gia Tổ chức y tế thế giới (WHO), năm 2001 tại 10 nước khu vực Đông Nam Á cho thấy có khoảng từ 10 - 69% phụ nữ đã bị bạo lực thể chất bởi chồng/bạn tình của mình; 6 - 59% phụ nữ bị bạo lực tình dục. Ở hầu hết các điểm nghiên cứu tỉ lệ phụ nữ bị cả bạo lực thể chất và tình dục khoảng từ 30 - 50%, kể cả trong thời gian mang thai cũng có từ 4 - 12% phụ nữ bị bạo lực và hơn 90% trường hợp kẻ gây bạo lực là bố của những đứa trẻ chưa chào đời.
Tại Mỹ, hàng năm có tới 4 triệu phụ nữ bị bạo lực do chồng, chồng cũ, bạn trai hay bạn tình, 22 - 35% phụ nữ phải đi cấp cứu vì lý do bị bạo lực. Bạo lực là nguyên nhân chính gây thương tích cho phụ nữ ở độ tuổi sinh sản.
Để điều tra đánh giá các hình thái và những thương tổn do bạo lực gây ra, trong khuôn khổ điều tra đa quốc gia của Tổ chức y tế thế giới năm 2001, nghiên cứu 1.371 phụ nữ ở độ tuổi 18 – 49 ở Thành phố Yokohama, Nhật Bản cho thấy: 36,3% phụ nữ đã từng bị bạo lực thể chất; 9,2% từng bị đạp hoặc bị ném; 8,6% từng bị đẩy hoặc xô đẩy; 2,7% từng bị đá, kéo lê, đánh đập, 2,2% từng bị đấm, hoặc dùng vật sắc nhọn đâm, chém, cắt, cứa,...; 0,5% bị hăm dọa hoặc tấn công bằng vũ khí; 0,2% bị chẹn gây nghẹt thở hoặc gây bỏng và 12,9% bị các bạo lực thể chất khác. Trong bạo lực tình dục, 15,4% phụ nữ cho biết họ đã từng bị bạo lực tình dục gồm nhiều hình thức khác nhau: đánh, đập, hăm dọa, làm nhục, hạ thấp uy tín,… để ép buộc phải quan hệ tình dục.
Theo số liệu của Tổ chức y tế thế giới ước tính toàn cầu có khoảng 150 triệu trẻ em gái và 73 triệu trẻ em trai là nạn nhân của bạo lực và xâm hại tình dục. Châu Á-Thái Bình Dương là khu vực có tỉ lệ trẻ em bị bạo lực và xâm hại cao. Malaysia và Trung Quốc tỉ lệ trẻ nam và nữ bị xâm hại thân thể theo thứ tự lần lượt là 46%-65% và 28%-48%.
Theo một nghiên cứu tại Nam phi trên các trẻ vị thành niên 10-17 tuổi, tỉ lệ bị bạo lực thân thể là 18,2%, bạo lực tinh thần 12,1%, bạo lực tình dục là 5,3%. Nghiên cứu khác tại Đan Mạch cho thấy bạo lực thân thể, tinh thần, tình dục lần lượt là 5,4%, 5,2% và 3,4% trong đó tỉ lệ gặp ở trẻ em gái cao hơn nhiều so với trẻ em trai.
2. Tại Việt Nam
Các nghiên cứu về bạo lực phụ nữ ở Việt Nam đã cho thấy tình hình bạo lực phụ nữ, đặc biệt bạo lực do chồng gây ra cũng không thấp hơn so với các nước trên thế giới về phạm vi cũng như mức độ nghiêm trọng:
Tháng 5/2009, Hội đồng dân số phối hợp với Bộ Y tế, Sở Y tế Hà Nội, Sở Y tế TP Hồ Chí Minh và Đà Nẵng điều tra tại 4 bệnh viện của Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh. Trong điều tra các cán bộ y tế đã xác nhận các dạng thương tích mà họ thường gặp ở nạn nhân là: tổn thương phần mềm 88,0% ở Đà Nẵng, 84,8% ở TP HCM; gãy xương tay/chân 35,9% ở Đà Nẵng, 13,9% ở TP HCM; tổn thương vào chỗ hiểm (đầu, ngực…) 52,7% ở Đà Nẵng, 23,6% ở TP HCM; xảy thai 19,8% ở Đà Nẵng, 12,1% ở TP Hồ Chí Minh; tổn thương cơ quan sinh dục 27,5% ở Đà Nẵng, 24,8% ở TP Hồ Chí Minh; tổn thương tinh thần, căng thẳng, rối loạn tâm lý 75,4% ở Đà Nẵng và 54,5% ở TP HCM.
Một nghiên cứu quốc gia năm 2009 - 2010 về bạo lực đối với phụ nữ Việt Nam do Tổng cục Thống kê thực hiện với sự hỗ trợ kỹ thuật của Tổ chức Y tế giới và một số tổ chức khác đã tiến hành trên 4.838 phụ nữ tại 63 tỉnh thành trên toàn quốc cho thấy: 32% phụ nữ đã kết hôn bị bạo lực thể chất trong cuộc đời do chồng gây ra; 54% bị bạo lực tinh thần và 10% bị bạo lực tình dục; 34% phụ nữ bị kết hợp hai loại bạo lực thể xác và tình dục; 27% phụ nữ bị kết hợp cả ba loại bạo lực thể xác, tinh thần và tình dục. Các hành vi bạo lực thường lặp đi, lặp lại.
Tại Việt Nam, ở một số nghiên cứu thực hiện từ năm 2004 đến nay tỉ lệ xâm hại trẻ em giao động tùy theo mẫu nghiên cứu trong đó xâm hại thân thể 24-51%, xâm hại tình dục 20-23%, xâm hại tinh thần 39% và sao nhãng 29-32%.
Theo báo cáo của Bộ Công an, trong 5 năm từ 2013 đến 2017, mỗi năm trung bình có 1.600 đến 1.800 vụ xâm hại trẻ em được phát hiện. Theo số liệu của 63 tỉnh, thành phố, năm 2018 cả nước xảy ra 1.547 vụ xâm hại trẻ em với 1.579 trẻ em bị xâm hại. Trong đó, xâm hại tình dục trẻ em là 1.269 vụ chiếm 82% tổng số các vụ xâm hại trẻ em. Đặc biệt, có tới 43 vụ án giết trẻ em cục kỳ dã man. Hà nội và Thành phố Hồ Chí Minh là 2 đô thị lớn xảy ra nhiều vụ án xâm hại trẻ em nhất.
III. NGUYÊN NHÂN VÀ CÁC YẾU TỐ DẪN ĐẾN BẠO LỰC GIỚI, BẠO LỰC GIA ĐÌNH
Nguyên nhân gây ra bạo lực
Không có nguyên nhân duy nhất cho mọi hình thái bạo lực, nhiều nghiên cứu đã đưa ra một số giả thuyết về nguyên nhân bạo lực gia đình.
1. Tư tưởng gia trưởng, trọng nam khinh nữ
Gia trưởng bị ảnh hưởng của tư tưởng phong kiến, định kiến giới khiến cho nam giới tự coi mình ở vị trí cao hơn vợ, có quyền bắt vợ phải phục tùng, nếu bị chống lại thì đàn áp vợ là việc để duy trì trật tự gia đình.
2. Sự yếu đuối, cam chịu và phụ thuộc của người phụ nữ
Sự yếu đuối, phụ thuộc của nhiều phụ nữ đã làm tăng thêm sự đối xử bất bình đẳng của số đàn ông gia trưởng. Nhiều biểu hiện cam chịu của phụ nữ do chịu ảnh hưởng của những giáo huấn lỗi thời, “nói ra thì xấu chàng, hổ ai”, “Chồng giận thì vợ làm lành…” hay do lệ thuộc vào kinh tế, không có khả năng sống tự lực nên phải cắn răng chịu đựng hoặc vẫn nuôi hy vọng chồng sẽ thay đổi vì sau bạo lực nhiều người chồng sử dụng chiến thuật tỏ ra hối hận, vuốt ve, xoa dịu.
3. Sự giáo dục, can thiệp chưa đủ mạnh của cộng đồng
Hiện nay, Luật, Thông tư, Nghị định và các văn bản dưới luật đã triển khai, tuy nhiên việc thực thi đồng bộ còn khó khăn, vì vậy chưa đủ nghiêm để xử phạt những hành vi bạo lực giới đối với phụ nữ. Bên cạnh đó sự thờ ơ của cộng đồng, gia đình, họ hàng, chính quyền địa phương, các đoàn thể quần chúng làm cho vấn đề bạo lực vẫn có xu hướng phát triển.
4. Sự thiếu hiểu biết của người dân về pháp luật
Do thiếu hiểu biết về pháp luật, những vấn đề liên quan đến bình đẳng giới và phòng chống bạo lực gia đình nên cả người gây bạo lực và người bị bạo lực cũng không biết bạo lực là hành vi vi phạm quyền con người, vi phạm pháp luật.
Tuy nhiên, cần hiểu rằng bất bình đẳng giới là nguyên nhân chính gây ra bạo lực với phụ nữ. Các nguyên nhân còn lại là các yếu tố nguy cơ khiến cho bạo lực với phụ nữ dễ xảy ra.
Các nhà nghiên cứu đã sử dụng Khung lý thuyết sinh thái dưới đây để làm sáng tỏ mối quan hệ giữa môi trường văn hoá - xã hội với cá nhân việc phát sinh bạo lực. Khung lý thuyết sinh thái giải thích tại sao bạo lực với phụ nữ có nguy cơ xảy ra ở nhóm cá nhân này cao hơn so với nhóm khác.
Trong Khung lý thuyết sinh thái này, bạo lực với phụ nữ là kết quả của sự tác động giữa các yếu tố ở nhiều mức độ khác nhau trong môi trường xã hội.
Sơ đồ 1. Khung lý thuyết sinh thái
Nguồn theo Lori Heise, 1998 ; Yllo 2005
Khung lý thuyết sinh thái này gồm 4 vòng tròn lồng nhau:
Vòng tròn trong cùng (A): thể hiện các yếu tố thuộc về cá nhân, tiền sử cá nhân có ảnh hưởng tới hành vi của mỗi cá nhân: bị lạm dụng khi còn nhỏ, chứng kiến những cảnh bạo lực trong gia đình, không có cha hoặc bị cha bỏ rơi, hoặc cha thường xuyên nghiện rượu. Các yếu tố này dường như có thể làm tăng sự ngược đãi của nam đối với nữ.
Vòng tròn thứ hai (B): thể hiện các yếu tố liên quan trực tiếp tới quan hệ trong gia đình, quan hệ hôn nhân hoặc tương tự hôn nhân, ví dụ nam giới kiểm soát mọi tài sản và tự quyết định mọi việc trong gia đình. Như vậy xung đột trong gia đình là nguy cơ cao xảy ra bạo lực.
Vòng tròn thứ ba (C): đại diện các yếu tố liên quan tới cấu trúc xã hội,cácổ chức, cả chính thức và phi chính thức trong cộng đồng, ví dụ phụ nữ bị cô lập và thiếu sự hỗ trợ xã hội, nam giới bị ảnh hưởng bởi nhóm bạn bè đồng lứa, cộng đồng có sự dễ dãi và thậm chí bỏ qua hành vi bạo lực của nam giới. Những yếu tố này dự đoán một tỉ lệ bạo lực cao.
Vòng tròn bên ngoài cùng (D): là môi trường kinh tế-xã hội, bao gồm các chuẩn mực văn hoá. Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy bạo lực chống lại phụ nữ phổ biến ở những nơi vai trò giới được xác định một cách cứng nhắc và ở những nơi cho rằng nam tính là thể hiện của sự cứng rắn, đáng tôn vinh, hoặc địa vị thống trị. Các chuẩn mực văn hoá khác liên quan tới bạo lực bao gồm sự khoan dung của phụ nữ và con trẻ trước những hình phạt về thể chất, sự chấp nhận bạo lực như một công cụ để giải quyết các tranh chấp cá nhân, và nhận thức rằng nam giới có quyền sở hữu phụ nữ. Như vậy các yếu tố này có thể làm tăng sự ngược đãi của nam đối với nữ.
Như vậy: Bạo lực đối với phụ nữ, đặc biệt là BLGĐ là vấn nạn đang xảy ra ở mọi xã hội, mọi dân tộc, mọi nền văn hoá. Ở Việt Nam, BLGĐ đang có chiều hướng gia tăng đáng báo động, đi ngược lại với truyền thống tốt đẹp của gia đình, của văn hoá dân tộc. Bạo lực đối với phụ nữ gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng.
IV. HẬU QUẢ
1. Hậu quả đối với nạn nhân
- Về sức khỏe thể chất: Sức khỏe bị hủy hoại, thương tích đau đớn, có thể bị khuyết tật suốt đời, thậm chí dẫn đến tử vong.
- Về sức khỏe tinh thần: Luôn ám ảnh bị bạo lực; chán nản, buồn rầu, lo lắng, sợ hãi, mất tự tin, hoang mang, trầm cảm; cảm thấy cuộc sống nặng nề, căng thẳng và tuyệt vọng.
- Về sức khỏe sinh sản: Mang thai ngoài ý muốn, thai nhi suy dinh dưỡng, sẩy thai, đẻ non, lây nhiễm các bệnh lây truyền qua đường tình dục, nhiễm HIV.
2. Hậu quả đối với người gây bạo lực gia đình
Phá hỏng mối quan hệ gia đình (vợ - chồng, cha mẹ - con cái, ông bà-cháu), các thành viên cảm thấy cô đơn ngay trong gia đình mình. Phải đóng tiền nộp phạt vi phạm hành chính khi gây ra bạo lực gia đình. Bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu gây hậu quả nghiêm trọng với nạn nhân.
3. Hậu quả với trẻ em
- Với trẻ nhỏ dưới 5 tuổi: Khóc nhiều, suy dinh dưỡng, chậm lớn, chậm phát triển trí tuệ, e ngại khi tiếp xúc với người lạ.
- Với trẻ trong độ tuổi trước vị thành niên: thiếu tập trung và không có khả năng chơi tích cực; vụng về, lóng ngóng và hay gây rối; tránh va chạm và dễ chiều theo ý người khác; mất hứng thú với các hoạt động xã hội và giảm năng lực xã hội; lẩn tránh các mối quan hệ với các bạn cùng lứa tuổi.
- Với trẻ vị thành niên: học kém, bỏ học, phạm tội, uống rượu, hút thuốc lá và nghiện ma túy; thiếu tin tưởng vào người lớn; bỏ đi khỏi nhà; có thể có các hành vi bạo lực như người lớn; chán nản và có ý nghĩ tự tử; thậm chí tự tử.
4. Hậu quả đối với gia đình
- Li thân, li hôn. Tốn tiền chữa trị và phục hồi sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần cho nạn nhân và người chứng kiến bạo lực gia đình.
- Giảm thời gian và năng suất lao động từ đó giảm thu nhập gia đình. Không có khả năng làm tròn bổn phận với gia đình nội, ngoại.
5. Hậu quả đối với xã hội : Giảm sự đóng góp của nạn nhân và người gây bạo lực gia đình đối với xã hội tạo ra lực lượng lao động tương lai có sức khỏe thể chất và tinh thần yếu, thiếu sáng tạo. Gây tốn kém cho ngân sách y tế - xã hội của quốc gia (chi phí y tế cho nạn nhân và cho các dịch vụ hỗ trợ của luật pháp, xã hội, công an, toà án v.v.). Nếu không xử lý triệt để, xã hội sẽ chấp nhận và dung túng cho bạo lực gia đình. Hạn chế hiệu quả công tác phòng chống HIV/AIDS và kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh.
|
VÍ DỤ HẬU QUẢ CỦA BẠO LỰC
- Ví dụ về hậu quả bạo lực với nạn nhân, với gia đình, xã hội và trẻ em
- Câu chuyện Lớn lên con sẽ giết bố thể hiện bạo lực làm ảnh hưởng đến tâm lý đứa con
- Cho học viên đọc câu chuyện và phân tích xem hậu quả gì sẽ xảy ra.
Hùng chạy vào nhà gào thét, chỉ tay thẳng vào mặt người đàn ông, người cha, người chồng vũ phu: “Ông còn đánh mẹ tôi, lớn lên tôi sẽ giết ông!”.
Là đứa con cả trong gia đình nhưng Hùng cũng chỉ có 13 tuổi. Bao nhiêu năm nay, Hùng chứng kiến cảnh bố đánh mẹ đến thâm tím mặt mày. Những lúc ấy cậu con trai nhỏ chỉ biết đứng sau cánh cửa mà khóc thương mẹ mà không làm gì được. Nhiều lần, Hùng xông vào đẩy bố thì bị ông ấy “tẩn” cho một trận nên thân. Nhưng có một điều lạ là Hùng chưa bao giờ khóc khi bị bố đánh, thậm chí có lần mặt cậu đã rớm máu vì bị tát.
Có lẽ cái bản tính lạnh lùng, kiên quyết đã hằn sâu trong con người Hùng từ khi còn nhỏ. Và có lẽ sống trong cảnh bạo hành nhiều nên Hùng thành ra một đứa trẻ lì lợm đến thế. Không phải Hùng ghét bố, cậu đã từng rất kính trọng và yêu thương người cha ấy nhưng từ khi cha cậu “biến thái”, hành hạ mẹ và đánh cậu thì cậu đã không còn tình cảm tốt với người đàn ông vũ phu đó nữa. Bây giờ, Hùng thương mẹ, thương nhiều lắm, cậu chỉ mong ước lớn nhanh để có thể chống lại người cha bạo ngược của mình.
Nhiều lần mẹ xoa đầu đứa con nhỏ mới học cấp hai khi thấy cậu ăn lia lịa một lúc 5 bát cơm rau. Mẹ sợ con bội thực, hỏi sao ăn nhiều thế, Hùng chỉ cắm đầu ăn và nói rằng: “Con ăn nhiều để cho nhanh lớn, để có thể đánh bố, không cho bố tát mẹ”. Câu trả lời ngây dại của đứa trẻ con như lưỡi dao cắt từng khúc ruột người mẹ tội nghiệp. Mẹ Hùng ôm con vào lòng và khóc nhưng vẫn không quên dạy dỗ con: “ Dù sao thì ông ấy cũng là người đã sinh ra con”.
Học hết cấp hai Hùng đã là một đứa con trai trưởng thành. Hùng có thể giúp mẹ những công việc đồng áng. Dù đã lớn, suy nghĩ cũng đã chín chắn hơn nhưng Hùng vẫn không thể thông cảm cho người cha ấy như lời mẹ cậu đã dạy. Mẹ Hùng lo sợ bản tính dữ dằn của cậu sẽ ngày càng giống cha cậu. Bao nhiêu lần, mẹ thấy Hùng cầm dao lên dọa bố: “Tôi cấm ông, cấm động vào người mẹ tôi. Không ông đừng có trách”. Đến ngay người cha bạo lực của Hùng cũng phải sợ thái độ thái quá của cậu. Nhiều lúc phải kìm nén cơn thịnh nộ vì con dao trên tay cậu con trai.
Không phải ông ta sợ Hùng mà trong sâu thẳm tâm hồn một con người ông ta vẫn nhận thức ra rằng, chính mình đã đẩy cậu con trai vào hoàn cảnh ấy. Bây giờ động nghĩ đến chuyện gì gây ức chế là cậu ta dọa giết, dọa đánh thậm chí còn dắt con dao đi theo.
Cuộc sống gia đình bỗng ngăn thành hai phe phái. Mẹ con Hùng không gần bố, bố cũng chẳng khi nào nói chuyện với con dù rằng vẫn ăn cơm cùng mâm
|
V. QUYỀN CON NGƯỜI
Chương II. Hiến pháp hiện hành quy định quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, công nhận công dân nói chung, phụ nữ nói riêng có các quyền:
- Quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm;
- Quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình;
- Quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình;
- Quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác;
- Quyền có nơi ở hợp pháp; quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở;
- Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo;
- Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình;
- Quyền bầu cử và ứng cử;
- Quyền khiếu nại, tố cáo;
- Quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành;
- Quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ;
- Quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc;
- Quyền kết hôn, ly hôn;
- Quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, bình đẳng trong việc sử dụng các dịch vụ y tế và có nghĩa vụ thực hiện các quy định về phòng bệnh, khám bệnh, chữa bệnh…
VI. NHẬN DIỆN BẠO LỰC
Nhân tố chính của bạo lực gia đình khác với các cuộc tranh cãi thông thường giữa các cặp vợ chồng/bạn tình là một trong hai người (chồng/bạn tình) dùng bạo lực nhằm kiểm soát, khống chế người kia.
Bạo lực gia đình là hành vi do học nhau mà có, là hành vi có chủ ý, không phải là tai nạn, không phải là di truyền
Mặc dù người phụ nữ có thể gây bạo lực, nhưng tỷ lệ lớn bạo lực gia đình là do đàn ông gây ra cho người bạn đời/bạn tình của họ.
Các hành vi bạo lực không xảy ra đơn lẻ mà thường bao gồm nhiều dạng khác nhau. Ví dụ bạo lực thể chất thường đi kèm bạo lực tinh thần hoặc bạo lực tình dục.
Bạo lực là xâm phạm các quyền cơ bản nhất của con người, đặc biệt là quyền tự do và mang màu sắc bất bình đẳng giới rõ rệt.
Người phụ nữ phải chịu đựng tổn thương, đau đớn về thể xác, tinh thần và tình dục, và thiệt hại về kinh tế
VII. BẠO LỰC PHỤ NỮ THÔNG QUA CHU KỲ SỐNG
Bảng 2. Bạo lực phụ nữ trong chu kỳ sống. Nguồn theo Heise, L (1994)
|
Chu kỳ sống
|
Hình thức bạo lực
|
|
Trước khi sinh
|
Nạo thai nhi nữ do lựa chọn giới tính
Thai nhi bị ảnh hưởng do người mẹ bị đánh đập.
Thai nhi là do người phụ nữ bị cưỡng ép quan hệ tình dục
|
|
Sơ sinh
|
Giết trẻ sơ sinh nữ
Đối xử phân biệt nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ gái và trai
|
|
Thời thơ ấu
|
Cắt âm vật
Bị lạm dụng tình dục
Không được bình đẳng trong tiếp cận y tế
Bị đẩy vào con đường làm mãi dâm trẻ em
Trẻ em gái không được học hành
|
|
Thanh niên
|
Bạo lực do người yêu gây ra
Bị cưỡng ép tảo hôn
Bị cưỡng ép quan hệ tình dục vì mục đích kinh tế
Bị hiếp dâm
Bị đẩy vào đường dây buôn bán phụ nữ
Bị cưỡng ép vào con đường mãi dâm
Bị quấy rối, bạo lực tình dục nơi làm việc
|
|
Tuổi sinh sản
|
Bị chồng/bạn tình ngược đãi, cưỡng bức
Bạo lực và bị giết hại liên quan đến của hồi môn
Bạo lực nơi làm việc
Hiếp dâm, quấy rối tình dục
Bạo lực với phụ nữ bị tàn tật
Bạo lực đối với người giúp việc
|
|
Tuổi già
|
Bạo lực đối với phụ nữ goá
Ngược đãi người già...
|
PHẦN II.
ĐÁP ỨNG CỦA Y TẾ ĐỐI VỚI PHÒNG CHỐNG BẠO LỰC GIỚI,
BẠO LỰC GIA ĐÌNH
QUY TRÌNH ĐÁP ỨNG Y TẾ ĐỐI VỚI NẠN NHÂN BỊ BẠO LỰC
Bảng 3. Quy trình đáp ứng y tế đối với nạn nhân bị bạo lực
|
TT
|
Các bước
|
Nhiệm vụ của cơ sở y tế và cán bộ y tế
|
Phương pháp thực hiện
|
|
1
|
Bước 1: Sàng lọc phát hiện nạn nhân
|
Tiếp đón tại Trạm y tế, phòng khám, các khoa phòng của Bệnh viện như những bệnh nhân thông thường
|
Tiếp đón tại Trạm y tế, khu vực phòng khám của Bệnh viện như những bệnh nhân thông thường
Đưa đến khoa cấp cứu hoặc khoa khác khi cần thiết
|
|
Khám, phát hiện tình trạng tổn thương (đặc biệt chú ý các dấu hiệu sinh tồn), tiền sử bệnh tật, tổn thương
|
Thăm khám sức khỏe toàn diện theo Quy định của Luật khám chữa bệnh
|
||
|
Khai thác các dấu hiệu liên quan đến bạo lực gia đình, bao gồm bạo lực thể chất, tinh thần, tinh dục và kinh tế
|
Sử dụng phiếu sàng lọc hoặc sử dụng sự nhạy cảm về vấn đề bạo lực để gợi hỏi bệnh nhân, người nhà, người đi cùng (chú ý đảm bảo điều kiện riêng tư khi hỏi)
Chú ý đến sự liên quan giữa các tổn thương thực thể, tinh thần, tình dục, các dấu hiệu liên quan đến tình cảm, hành vi, sự không logic giữa tổn thương với các nội dung bệnh nhân khai...để tìn ra sự bất thường liên quan đến bạo lực
|
||
|
Khẳng định hoặc nghi ngờ đó là nạn nhân bị bạo lực gia đình
|
Căn cứ các dấu hiệu khai thác để đánh giá, khẳng định hoặc nghi ngờ đó là nạn nhân bị bạo lực gia đình
|
||
|
2
|
Bước 2
Chăm sóc nạn nhân
|
Đối với nạn nhân
Đối với trường hợp nghi ngờ là nạn nhân
|
Cấp cứu khi cần thiết
Chăm sóc, Điều trị sức khỏe theo đúng quy định của Luật khám chữa bệnh
Bảo đảm an toàn cho nạn nhân tại cơ sở y tế
Hỏi về các thông tin liên quan đến tình trạng bạo lực và tiền sử bị bạo lực
Ghi chép các thông tin vào hồ sơ bệnh án và phiếu theo dõi nạn nhân (tùy theo trường hợp nạn nhân khám, điều trị ngoại trú hay nằm viện để ghi chép vào các giấy tờ phù hợp)
Trong trường hợp có dấu hiệu nguy hiểm đến tính mạng nạn nhân cần báo ngay cho lãnh đạo cơ sở y tế, cơ quan luật pháp để xử lý kịp thời
|
|
3
|
Bước 3
Tư vấn cho nạn nhân
|
Tư vấn về các nội dung liên quan đến bạo lực:
Tư vấn để nạn nhân hiểu mình đang là nạn nhân
Tư vấn về liên quan giữa thương tổn và bạo lực
Tư vấn về quyền của nạn nhân
Tư vấn Phòng chống bạo lực
Tư vấn pháp lý và các nội dung khác theo nhu cầu của nạn nhân
|
Tư vấn tại giường bệnh trong thời gian đang nằm điều trị
Tư vấn tại Phòng/Trung tâm tư vấn
Giới thiệu tư vấn, trợ giúp pháp lý theo yêu cầu của nạn nhân
|
|
4
|
Bước 4
Hỗ trợ nạn nhân
|
- Hỗ trợ nạn nhân khi cần các dịch vụ khác trong và ngoài y tế
|
- Chuyển nạn nhân lên tuyến trên khi vượt quá khả năng của cơ sở y tế hiện tại
- Phối hợp với các cơ sở cộng đồng: chính qyền địa phương, công an, tư pháp, các hội đoàn thể để hỗ trợ nạn nhân ngay trong thời gian nằm viện và theo dõi, hỗ trợ nạn nhân khi ra viện
|
|
5
|
Bước 5
Thống kê, báo cáo
|
- Tổng hợp, thống kê, báo cáo các trường hợp nạn nhân
- Báo cáo tình trạng điều trị, tư vấn, hỗ trợ nạn nhân tại cơ sở y tế
|
- Thực hiện theo mẫu đã ban hành
- Thực hiện theo quy trình báo cáo
- Báo cáo theo định kỳ quy định
|
I. BƯỚC 1. SÀNG LỌC PHÁT HIỆN NẠN NHÂN BỊ BẠO LỰC
1. Vai trò của cán bộ y tế
Vai trò của tất cả các cán bộ y tế: tuyến xã, phường, trung tâm y tế, bệnh viện huyện, tỉnh,…được Luật PC BLGĐ của Việt nam qui định tại điều 23, về chăm sóc nạn nhân BLGĐ tại cơ sở khám chữa bệnh như sau:
Khi khám và điều trị tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, nạn nhân bị bạo lực gia đình được xác nhận việc khám và điều trị nếu có nhu cầu
Chi phí cho việc khám và điều trị đối với nạn nhân BLGĐ do quỹ bảo hiểm y tế (BHYT) trả đối với người có BHYT
Cán bộ y tế khi thực hiện nhiệm vụ của mình, có trách nhiệm giữ bí mật thông tin về nạn nhân bạo lực gia đình. Trường hợp phát hiện hành vi BLGĐ có dấu hiệu phạm tội phải báo ngay cho người đứng đầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh để báo cho cơ quan công an gần nhất.
2. Các nguyên tắc làm việc với nạn nhân của bạo lực phụ nữ
Dựa trên hai nguyên tắc cơ bản: tôn trọng quyền con người của phụ nữ và tăng cường bình đẳng giới.
2.1. Quyền con người
Được quy định trong các công ước quốc tế về quyền con người, bao gồm các quyền sau:
- Quyền được sống - được sống một cuộc sống không có sợ hãi và bạo lực.
- Quyền tự quyết - được tự ra quyết định bao gồm quyết định liên quan đến tình dục và sinh sản; được từ chối các qui trình y tế và/hoặc các việc liên quan đến pháp lý (nếu bản thân không mong muốn).
- Quyền được hưởng chăm sóc sức khỏe chuẩn mực - được hưởng dịch vụ chăm sóc y tế có chất lượng tốt, sẵn có, có thể tiếp cận và được chấp nhận.
- Quyền không bị phân biệt đối xử, được hưởng dịch vụ chăm sóc sức khỏe không có sự phân biệt đối xử, và không bị từ chối điều trị do sự khác biệt về chủng tộc, dân tộc, đẳng cấp, xu hướng tình dục, tôn giáo, khuyết tật, tình trạng hôn nhân, nghề nghiệp, hay niềm tin chính trị.
- Quyền được đảm bảo riêng tư và bảo mật, được cung cấp dịch vụ chăm sóc, điều trị và tư vấn một cách riêng tư và bảo mật; thông tin chỉ được chia sẻ khi có sự đồng ý của phụ nữ.
- Quyền được biết thông tin, có quyền được biết những thông tin do ngành y tế thu thập về bản thân, và được tiếp cận các thông tin này, kể cả hồ sơ sức khỏe.
Như vậy tất cả mọi người phải được đối xử một cách công bằng, tôn trọng và không phân biệt đối xử.
2.2. Nhạy cảm giới và bình đẳng giới
Nhạy cảm giới có nghĩa là nhận thức được những khác biệt về quyền lực giữa phụ nữ và nam giới, qui định cách mà nam giới và phụ nữ đối xử với nhau, khả năng tiếp cận đến các nguồn lực để bảo vệ sức khỏe của họ và thường là cách mà hệ thống y tế đối xử với họ.
Đảm bảo bình đẳng giới trong y tế có nghĩa là cung cấp các dịch vụ chăm sóc như nhau cho cả phụ nữ và nam giới, có tính đến nhu cầu và mối quan tâm sức khỏe cụ thể để cả nam giới và phụ nữ đều có khả năng nhận biết quyền của mình cũng như đều có thể đạt được sức khỏe.
Cần hiểu rõ: bạo lực đối với phụ nữ có nguyên nhân gốc rễ từ bất bình đẳng giữa nam và nữ; phụ nữ có thể ít được tiếp cận các nguồn lực như nam, chẳng hạn, tiền bạc hoặc thông tin, và họ cũng ít được tự do quyết định những việc liên quan đến bản thân mình; phụ nữ thường bị đổ lỗi và kỳ thị khi có bạo lực xảy ra và vì thể họ cảm thấy xấu hổ và tự ti khi bị bạo lực.
3. Nguyên tắc khám chữa bệnh và đáp ứng của cán bộ y tế với phụ nữ bị bạo lực
- Chuyển ngay bệnh nhân đi cấp cứu nếu thấy tình trạng nghiêm trọng hoặc đe dọa đến tính mạng.
- Nếu người phụ nữ đến trong vòng 5 ngày sau khi bị tấn công tình dục, quy trình khám chữa bệnh và đáp ứng của cán bộ y tế với phụ nữ bị bạo lực bao gồm các bước:
Trước tiên: Thấu cảm, Tìm hiểu, Tin tưởng (hỗ trợ ban đầu), sau đó:
Hỏi tiền sử và khám.
Điều trị chấn thương.
Cung cấp thuốc tránh thai khẩn cấp.
Phòng ngừa bệnh lây truyền qua đường tình dục.
Phòng ngừa lây nhiễm HIV.
Lập kế hoạch tự chăm sóc.
Sau đó, tăng cường an toàn, tìm kiếm sắp xếp hỗ trợ.
Việc khám, chăm sóc sức khỏe thể chất và tình cảm nên thực hiện song song.
- Nếu người phụ nữ đến quá muộn không thể thực hiện được đầy đủ các bước, cán bộ y tế thực hiện các bước sau:
Hỗ trợ ban đầu.
Phòng và điều trị bệnh lây truyền qua đường tình dục.
Tiêm phòng viêm gan B.
Thử thai và HIV.
Đánh giá sức khỏe tâm thần và chăm sóc nếu cần.
4. Sàng lọc phát hiện nạn nhân
4.1. Tại sao phải sàng lọc phụ nữ bị bạo lực
* Sàng lọc để giúp nạn nhân:
Phá vỡ sự im lặng và tạo cơ hội nói về bạo lực.
Có được chẩn đoán chính xác về thực trạng bệnh
Giúp nạn nhân cảm thấy dễ chịu hơn.
Tăng cường mối liên hệ giữa nạn nhân và cán bộ y tế.
Đem lại sự hi vọng cho nạn nhân, đặc biệt đối với các nạn nhân bị hiếp dâm, xâm hại tình dục
Nhận được sự chăm sóc và chuyển tới những địa chỉ giúp đỡ phù hợp.
Thể hiện được quyền của nạn nhân
* Sàng lọc để giúp cán bộ y tế:
Phát hiện sớm nạn nhân, điều trị sẽ hiệu quả hơn.
Có thêm kỹ năng mới, kinh nghiệm để giúp nạn nhân bị bạo lực.
Hiểu nạn nhân hơn và tăng cường mối quan hệ và sự tin tưởng của nạn nhân.
Tăng cường chất lượng chăm sóc y tế
Bản thân cảm thấy vui vẻ, có ích vì đã giúp được cho nạn nhân.
4.2. Các dấu hiệu để xác định nạn nhân của bạo lực:
Dựa trên các dấu hiệu tổn thương về thể chất, tâm lý và các yếu tố liên quan, cán bộ y tế có thể nghi ngờ đó là nạn nhân bị bạo lực
Khi nghi ngờ cán bộ y tế tiếp tục khám toàn diện để phát hiện các tổn thương khác và hỏi để phát hiện tình trạng bạo lực và tiền sử bị bạo lực của nạn nhân.
Bảng 2. Bảng kiểm sàng lọc phát hiện nạn nhân bị bạo lực
|
DẤU HIỆU TỔN THƯƠNG
|
DẤU HIỆU LIÊN QUAN
|
|
Tổn thương liên quan đến bạo lực thể chất
Tổn thương từ nhẹ đến nặng
Tổn thương ở vùng mặt, mắt, bầm tím, chảy máu, gãy răng, bỏng, rách da...
Bong gân, gẫy xương,
Các chấn thương vùng bụng bên ngoài, nội tạng bên trong
Quần áo hoặc quần áo lót rách nát, dính máu.
Đau bụng.
Suy dinh dưỡng
Đi lại hoặc đứng, ngồi khó khăn.
|
Căng thẳng, dễ khóc, khó hoà nhập vào cuộc sống
Đau ốm do quá căng thẳng
Lạm dụng thuốc và rượu
Có những dấu hiệu đau đầu, đau đớn mơ hồ
Không giải thích được các thương tổn một cách hợp lý
Mới ly thân hoặc ly hôn
Coi chồng/bạn tình như một ‘kẻ có tính khí nóng nảy’, không cảm thấy thoải mái khi có mặt chồng/ bạn tình
|
|
Các dấu hiệu liên quan đến bạo lực tình dục và SKSS:
Tổn thương bộ phận sinh dục.
Vết thương vùng bụng
Rối loạn chức năng tình dục.
Nạo thai nhiều lần; Không sử dụng biện pháp tránh thai nào mặc dù không muốn có thai
Xảy thai, thai chết lưu,..
Mắc các bệnh phụ khoa, xảy thai, đau vùng tiểu khung mãn tính. Mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục, nhiễm HIV/AIDS
Đại, tiểu tiện không tự chủ.
Nhiễm khuẩn tiết niệu tái phát
|
Căng thẳng, dễ khóc, khó hoà nhập vào cuộc sống
Đau ốm do quá căng thẳng
Lạm dụng thuốc và rượu
Có những dấu hiệu đau đầu, đau đớn mơ hồ
Không giải thích được các thương tổn một cách hợp lý
Mới ly thân hoặc ly hôn
Coi chồng/bạn tình như một ‘kẻ có tính khí nóng nảy’, không cảm thấy thoải mái khi có mặt chồng/ bạn tình
|
4. 3 . Những cản trở về phía nạn nhân khi tiết lộ bạo lực
Phụ nữ là nạn nhân của bạo lực do bạn tình/chồng gây ra thường tìm đến dịch vụ y tế vì những vấn đề liên quan đến cảm xúc và thể chất. Tuy nhiên họ thường không nói về bạo lực do xấu hổ, sợ bị phán xét hoặc sợ bạn tình/chồng.
- Chị ấy phụ thuộc vào kinh tế của chồng/bạn tình. Ở nhiều nơi, phụ nữ khó có khả năng kiếm sống một mình.
- Chị ấy tin rằng trẻ con cần có bố và nghĩ rằng hạnh phúc của riêng mình không quan trọng bằng việc đó.
- Chị ấy tin rằng bạo lực là điều bình thường trong mối quan hệ và tất cả đàn ông có thể gây bạo lực và kiểm soát.
- Chị ấy sợ rằng nếu mình ra đi thì sẽ có phản ứng quá khích và bạo lực nghiêm trọng hơn.
- Chị ấy tự ti và cho rằng không thể xoay sở được một mình.
- Chị ấy sợ không có nơi trú ngụ và không có ai hỗ trợ.
- Chị ấy vẫn yêu anh ta và nghĩ rằng anh ta sẽ thay đổi.
- Chị ấy nghĩ rằng anh ta cần có chị ấy.
- Chị ấy không muốn ở một mình.
- Chị ấy sợ bị mọi người quay lưng lại vì dám bỏ chồng/bạn tình.
4.4 . Những cản trở khiến nhân viên y tế không hỏi về bạo lực
- Quá bận
- Chưa được tập huấn, thiếu kỹ năng
- Sợ rằng có thể làm tổn thương người khác
- Nghĩ rằng sự giúp đỡ của mình không đầy đủ
- Không biết các dịch vụ giúp người bị bạo lực
- Coi nhiệm vụ của mình chỉ là khám chữa bệnh
II. BƯỚC 2. CHĂM SÓC Y TẾ ĐỐI VỚI NẠN NHÂN
A. Chăm sóc y tế đối với nạn nhân bị bạo lực nói chung
Sơ đồ 2. Chăm sóc y tế đối với nạn nhân bị bạo lực nói chung
BỆNH NHÂN
1.1. Nguyên tắc hỗ trợ ban đầu
Hỗ trợ ban đầu là một trong những bước quan trọng nhất. Việc tạo dựng lòng tin, đem đến cảm giác an toàn cho nạn nhân, những người vừa trải qua đau khổ, khủng hoảng, đặc biệt quan trọng trong giai đoạn này. Đây được coi là cơ hội duy nhất bạn có thể trợ giúp họ hoặc thậm chí không bao giờ. Chính vì vậy, khi thực hiện hỗ trợ ban đầu cho nạn nhân, cần đảm bảo thực hiện các nguyên tắc sau:
1. Tôn trọng: nhân viên y tế, tư vấn cần thể hiện sự tôn trọng đối với nạn nhân bằng thông qua việc thể hiện sự tin tưởng vào nạn nhân. Họ thường rất nhạy cảm với thái độ của những người xung quanh trong lúc này vì vậy, cần lắng nghe họ một cách chân thành, KHÔNG PHÁN XÉT. Để họ được chia sẻ những điều họ mong muốn, không thúc ép tìm hiểu, phân tích những điều nạn nhân chưa sẵn sàng chia sẻ.
Sự tin tưởng còn được thể hiện qua việc bạn trấn an nạn nhân, gạt bỏ mọi suy nghĩ tội lỗi cho rằng mình là nguyên nhân gây nên tình trạng bạo lực.
2. Bảo mật: là nguyên tắc cốt lõi trong mọi hoạt động tư vấn, hỗ trợ. Bạn cần luôn ghi nhớ việc bảo mật thông tin ngay từ khi tiếp cận nạn nhân để tìm hiểu vấn đề. Chia sẻ nguyên tắc với nạn nhân để họ biết chắc chắn những thông tin họ chia sẻ được bảo mật và chỉ được chia sẻ cho các cơ quan chức năng khi họ đồng ý hoặc trong trường hợp nạn nhân bị đe dọa nghiêm trọng có nguy cơ ảnh hưởng tới tính mạng.
3. Tăng cường sự an toàn: Việc đảm bảo an toàn cho nạn nhân tránh khỏi nguy cơ tái bạo lực được coi là một trong những nguyên tắc trong hỗ trợ nạn nhân.
Thông thường đối với bạo hành tình dục, nạn nhân thường gặp phải khủng hoảng và có nhu cầu rất cao trong việc đảm bảo an toàn; trái lại nhiều phụ nữ bị bạo lực gia đình lại cho rằng không cần lập kế hoạch an toàn. Vì vậy cùng cần thân chủ đánh giá mức độ an toàn và lên phương án đảm bảo an toàn.
4. Đặt lợi ích của nạn nhân làm trung tâm: tìm hiểu các mối quan tâm và nhu cầu cần được hỗ trợ của nạn nhân để có phương án hỗ trợ phù hợp. Đánh giá tình trạng của nạn nhân để chuyển tuyến nếu cần thiết.
Các cán bộ y tế thường được dạy rằng vai trò chính của họ là chẩn đoán và điều trị. Tuy nhiên, trong tình huống này nếu chỉ tập trung vào vấn đề y tế thì không giúp giải quyết được. Thay vào đó, bạn cần đặt trọng tâm vào khách hàng một cách toàn diện bằng cách lắng nghe, xác định nhu cầu và mối quan tâm của người phụ nữ, tăng cường sự hỗ trợ của xã hội và đảm bảo an toàn cho họ. Thêm nữa, bạn có thể giúp họ nhận ra và xem xét các lựa chọn cũng như giúp họ cảm thấy đủ mạnh để ra quyết định và thực hiện các quyết định đó. Nếu nạn nhân chưa sẵn sàng báo công an, bạn hãy tôn trọng quyết định của họ. Nói để họ biết là họ có thể thay đổi quyết định. Tuy nhiên, bằng chứng liên quan đến bạo lực tình dục phải được thu thập trong vòng 5 ngày. Thông tin để người phụ nữ biết nếu có người sẵn sàng nói chuyện thêm và giúp chị ấy trình báo nếu chị ấy quyết định.
1.2. Khai thác tiền sử bạo lực và đánh gíá tình trạng bạo lực
Việc khai thác tiền sử và đánh giá trình trạng bạo lực cần được thực hiện bởi người được đào tạo về kỹ năng tham vấn. Trong quá trình tham vấn cần tập trung làm rõ:
- Ai là người gây ra bạo lực
- Các hình thức bạo lực
- Tần suất bạo lực
- Hậu quả của nó đối với vấn đề sức khỏe, tâm lý, cuộc sống xã hội của nạn nhân
- Cách nạn nhân nhìn nhận vấn đề
- Khi có bạo lực xảy ra có ai là người trợ giúp nạn nhân
- Chính quyền có được báo cáo về sự việc chưa? Nếu có, họ đã tham gia giải quyết vấn đề như thế nào?
- Đánh giá thái độ của người gây bạo lực qua đó đánh giá được khả năng tái diễn.
1.3. Khám, chữa bệnh đối với các trường hợp bị bạo lực
Khám toàn diện; Xử lý cấp cứu; Điều trị các tổn thương; Xử trí đối với các trường hợp bị bạo lực tình dục, hiếp dâm
|
Bảng 4. Bảng kiểm khám toàn diện
|
Bảng 4. Bảng kiểm khám toàn diện
|
|
Xem xét những điểm này
|
Tìm kiếm và ghi chép những điểm này
|
|
- Toàn trạng
- Bàn tay và cổ tay, cánh tay, mặt bên trong cánh tay, nách
- Mặt, trong miệng
- Tai, cả trong và sau tai
- Đầu
- Cổ
- Lồng ngực, cả vú
- Bụng
- Vùng mông, đùi, bên trong đùi,
- Chân và bàn chân
|
- Vết chảy máu
- Vết máu tụ
- Vùng sưng hoặc đỏ
- Vết cắt hoặc trầy xước
- Bằng chứng cho thấy tóc bị kéo, hoặc răng mới gẫy
- Các thương tích, như vết cắn hoặc vết đạn
- Các dấu hiệu chấn thương ổ bụng
- Thủng màng nhĩ
|
|
Khám âm đạo - hậu môn
|
Khám âm đạo - hậu môn
|
|
- Bộ phận sinh dục (ngoài)
- Bộ phận sinh dục (khám trong, dùng mỏ vịt)
- Khu vực hậu môn (bên ngoài)
|
- Vết chảy máu
- Vết máu tụ
- Vùng sưng hoặc đỏ
- Vết cắt hoặc trầy xước
- Có dấu hiệu của người khác: xâm hại, tinh trùng, tinh dịch,…
|
B. Chăm sóc y tế nạn nhân bị bạo lực tình dục (WHO)
Sơ đồ 3. Chăm sóc y tế nạn nhân bị bạo lực tình dục (WHO)
C. Chăm sóc y tế đối với nạn nhân là trẻ em bị bạo lực
a. Sơ đồ 4. Sàng lọc các trường hợp xâm hại trẻ emSơ đồ 4. Sàng lọc phát hiện các trường hợp xâm hại trẻ em
Khi trẻ đến khám, đầu tiên cần đánh giá các dấu hiệu sinh tồn để xử trí cấp cứu nếu cần
Nếu không có dấu hiệu cấp cứu, cần khám toàn thân, hỏi bệnh sử
Đánh giá xem có dấu hiệu nghi ngờ bị bạo hành không:
Nếu không có tình trạng đến khám và điều trị chậm trễ + Bệnh sử phù hợp + Thương tổn phù hợp, giải thích hợp lý + Thái độ tương tác của trẻ phù hợp, dẫn đến ít nghi ngờ tổn thương do bị bạo lực
Nếu có một trong các dấu hiệu như: đến khám và điều trị chậm trễ hoặc Bệnh sử không phù hợp hoặc Thương tổn không phù hợp,giải thích không hợp lý hoặc Thái độ tương tác của trẻ không phù hợp, cần nghi ngờ trẻ bị bị bạo lực.
Trong trường hợp cần thiết phải hội chẩn chuyên môn với các chuyên khoa liên quan để đánh giá mức độ tổn thương và xác định trẻ có thực sự bị xâm hại hay không; Đồng thời có sự theo dõi hành vi tâm lý của trẻ cũng như cha mẹ, người bảo trợ trẻ.,
Điều trị:
Xác định điều trị nội trú hay ngoại trú dựa theo tình trạng bệnh nhân và mức độ tổn thương . Điều trị tùy theo tổn thương cụ thể theo phác đồ chung.
Nếu cần điều trị nội viện sẽ được điều trị tại các khoa phòng có liên quan đến tổn thương của trẻ.
Với trẻ bị xâm hại tình dục có xâm nhập tuổi vị thành niên cần cân nhắc xử trí:
Dùng thuốc tránh thai khẩn cấp
Điều trị các bệnh lây truyền qua đường tình dục nếu có
Phối hợp cùng công an, tòa án thu thập các chứng cớ về xâm hại khi cần (chụp ảnh các tổn thương, thu thập mẫu bệnh phẩm…)
Phòng ngừa tái xâm hại:
Tư vấn, cung cấp tài liệu, điện thoại hỗ trợ cho trẻ bị xâm hại, cho cha mẹ, người bảo trợ trẻ.
Phối hợp cùng các tổ chức khác: hội phụ nữ, trung tâm bảo vệ trẻ em, công an... đảm bảo an toàn khi trẻ về nhà.
Theo dõi và tái khám: Theo chỉ định của bác sĩ.
Báo cáo về xâm hại theo mẫu thống nhất
|
BÀI TẬP THỰC HÀNH
BÀI TẬP 1.
Bệnh nhi 11 tháng tuổi được đưa vào viện với dấu hiệu quấy, khóc, đùi Trái bị sưng, đau, khó cử động.
1. Chẩn đoán và chữa trị
- Chẩn đoán gãy xương đùi.
- Bệnh nhi được nhập viện.
- Điều trị bằng phương pháp kéo giãn chi để giảm gãy xương
- Vào ngày thứ tư, chúng tôi tiến hành bó bột cố định, chờ cho ra viện vào ngày tiếp theo.
2. Giải thích của bố mẹ về tổn thương của trẻ:
- Khi cố gắng di chuyển trẻ khỏi cũi, chân của trẻ mắc vào khe cũi và khẳng định khi bế trẻ lên, người bố không biết điều đó
3. Quan sát của nhóm điều dưỡng
Vào giờ ăn, đứa trẻ từ chối thức ăn, người bố sau khi đề nghị được ở một mình cùng trẻ đã ép trẻ ăn bằng những phương pháp không phù hợp với độ tuổi của trẻ.
Các phương pháp đó là : bắt há miệng, nhét thức ăn vào miệng, lắc trẻ, quát nạt, cố gắng đưa thức ăn vào miệng ngay cả khi trẻ khóc hay nôn trớ
4. Thông tin thêm
Chị gái 3 tuổi có tổn thương tương tự nhưng không nghiêm trọng.
Bác sĩ hỏi riêng về nguyên nhân của các thương tích: Người mẹ nói bà không ở đó nên không thể biết mọi việc đã thực sự xảy ra như thế nào.
Vào ngày thứ 5, xương bắt đầu liền nên nguy cơ bị các bệnh lý về xương được loại trừ.
Vì nguyên nhân gây tổn thương không rõ xảy ra với trẻ chưa biết đi nên bác sĩ quyết định tiến hành chụp xương toàn bộ.
Một loạt các thương tổn xương được thể hiện rạn xương sọ, xương cánh tay bên phải, 3 xương sườn bị gãy và gãy xương đùi như trình bày ở trên, tất cả xảy ra ở những thời điểm khác nhau.
Mức độ nghi ngờ bị xâm hại tăng lên – yêu cầu chụp CT hộp sọ: thấy có tụ máu dưới màng cứng (đây là sự tích tụ máu giữa não và xương bị đè lên do sang chấn xảy ra trước đây).
Võng mạc mắt thấy có chảy máu từ những mạch máu bình thương.
Chụp cộng hưởng từ cũng đã được thực hiện
Xét nghiệm loại trừ các bệnh lý về chuyển hoá
5. Câu hỏi thảo luận:
- Trẻ có nghi ngờ bị bạo lực không? Dấu hiệu nào khiến bạn nghi ngờ? (sử dụng sơ đồ sàng lọc)
- Cán bộ y tế cần làm gì trong trường hợp này?
|
|
BÀI TẬP 2
Thông tin về trẻ
Cậu bé 6 tuổi có một vết bỏng ở phía trên mặt trong của cánh tay phải và ở nách phải.
Bố là kỹ sư, mẹ nội trợ, gia đình giàu có và có học thức.
Bố của cậu bé nói rằng con trai họ rất nghịch ngợm, hay nói dối và gây rắc rối suốt ngày.
2. Phỏng vấn bố mẹ và trẻ:
Con trai họ đang chơi và tự ném chảo dầu nóng vào người
Vết bỏng đã xảy ra vài giờ trước và đưa trẻ đi khám chậm chễ là do đứa trẻ đã dấu việc trẻ đã làm.
Cậu bé thú nhân bố cậu làm cậu bị bỏng có chủ ý
Ngời bố rất giận dữ và nhắc lại với bác sĩ rằng con trai mình luôn luôn nói dối, cho rằng đứa trẻ tự gây ra tổn thương cho mình
Mẹ khóc và nói rằng họ yêu con trai rất nhiều nhưng hành vi của đứa trẻ làm cho người chồng tức giận
Câu hỏi thảo luận:
Trường hợp này có nghi ngờ bị bạo lực không? Lí do
Có cần làm xét nghiệm gì không?
Cần tư vấn gì cho bố mẹ và trẻ?
|
|
BÀI TẬP 3
Thông tin về trẻ
Trẻ nữ (A) 6 tuổi. Cháu nói với mẹ bị đau vùng sinh dục. Người mẹ không để ý vì nghĩ rằng trẻ con có thể diễn tả không đúng sự thực.
Hàng ngày A được mẹ đưa đến gửi ở nhà bác (chị gái của mẹ) trong khi mẹ đi làm.
5 tháng sau, sau khi đón A từ nhà bác về, trẻ tiếp tục kêu đau ngứa ở vùng sinh dục. Buổi tối sau khi vệ sinh và thay quần lót cho con, người mẹ thấy vùng sinh dục của trẻ viêm đỏ, quần lót có vết bẩn. Người mẹ đưa con đi khám tại viện Nhi
Thăm khám:
Âm hộ viêm đỏ, có nhiều khí hư màu vàng, không thấy chảy máu
Không thấy bầm tím, trầy xước ở môi lớn, môi nhỏ, xung quanh hậu môn
Màng trinh bờ tròn đều, không bầm tím, trầy xước
Không tổn thương trên cơ thể
Trẻ rất sợ khi được yêu cầu cởi quần để thăm khám
Đáp ứng y tế
:
Thảo luận đưa ra phương án sàng lọc, đáp ứng y tế
|
III. BƯỚC 3. TƯ VẤN PHÒNG CHỐNG BẠO LỰC GIỚI/BẠO LỰC GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI NẠN NHÂN VÀ CÁC ĐỐI TƯỢNG LIÊN QUAN
Tư vấn là gì
Tư vấn là một quá trình giao tiếp, trao đổi giữa nhà tư vấn và người được tư vấn nhằm hỗ trợ cho họ hiểu rõ vấn đề, phát triển tiềm năng của bản thân để tự tìm ra những giải pháp để giải quyết vấn đề của bản thân và tự tin hơn khi hành động theo những quyết định mà họ đã lựa chọn
Tư vấn cho người bị bạo lực là quá trình giao tiếp, trao đổi giữa nhà tư vấn và người bị bạo lực nhằm mục đích giúp người bị bạo lực nâng cao nhận thức về BLGĐ, biết cách bảo vệ sự an toàn cho bản thân và con cái, lựa chọn được giải pháp cho vấn đề của họ và tự tin khi hành động theo những quyết định mà họ đã lựa chọn.
Mục tiêu tư vấn
Tư vấn cho các người bị bạo lực bị bạo lực gia đình nhằm:
Cung cấp thông tin
Phát huy lòng tự tin.
Tăng quyền năng.
Tạo hy vọng vào tương lai, tin tưởng vào bản thân và sự hỗ trợ của người khác.
Tăng cường khả năng tiếp cận các cơ hội.
Có khả năng đương đầu tốt hơn với khó khăn.
3.
Mục tiêu tư vấn
Tư vấn cho các người bị bạo lực bị bạo lực gia đình nhằm:
Cung cấp thông tin
Phát huy lòng tự tin.
Tăng quyền năng.
Tạo hy vọng vào tương lai, tin tưởng vào bản thân và sự hỗ trợ của người khác.
Tăng cường khả năng tiếp cận các cơ hội.
Có khả năng đương đầu tốt hơn với khó khăn.
3. Nội dung t ư vấn
• Tiếp tục thói quen bình thường hàng ngày càng nhiều càng tốt.
• Nói chuyện với những người tin tưởng về những gì đã xảy ra và cảm nhận của bản thân, nhưng chỉ khi sẵn sàng chia sẻ.
• Tham gia vào các hoạt động thư giãn để giảm lo lắng và căng thẳng.
• Tránh sử dụng rượu hoặc ma túy để đối phó với các triệu chứng của rối loạn.
Nếu nạn nhân không thể nhận thức hoặc
có nguy cơ tự tử/tự hủy hoại thì cần có sự tham gia của chuyên gia có chuyên môn sâu
Tư vấn tránh thai khẩn cấp đối vớiphụ nữ bị tấn công tình dục:
Trấn an nạn nhân, giải thích về việc tránh thai khẩn cấp. Bạn có thể hỏi xem nạn nhân có sử dụng một phương pháp tránh thai hiệu quả nào không như viên tránh thai, tiêm tránh thai, cấy tránh thai, vòng tránh thai, hoặc triệt sản nữ. Nếu có sử dụng một trong các biện pháp này mà nạn nhân bắt đầu có kinh trong vòng 7 ngày kể từ khi bị bạo lực tình dục thì ít có khả năng có thai.
Trong mọi tình huống, người phụ nữ có thể uống thuốc tránh thai khẩn cấp (TTKC) nếu muốn.
• Sử dụng viên tránh thai khẩn cấp là lựa chọn cá nhân, chỉ người phụ nữ có thể quyết định
• Viên tránh thai khẩn cấp có thể phòng có thai, nhưng hiệu quả không đạt 100%.
• Thuốc TTKC chỉ làm chậm quá trình rụng trứng.
• Thuốc TTKC không phá thai.
• Thuốc TTKC không phòng tránh thai cho những lần quan hệ tình dục sau.
• Thuốc TTKC không được sử dụng thay thế cho các phương pháp tránh thai khác có hiệu quả hơn.
• Không cần thử thai trước khi uống thuốc TTKC. Nếu chị ấy đã có thai, thuốc TTKC không gây hại cho thai. Tuy nhiên, nếu người phụ nữ muốn có thể xét nghiệm thử thai và chị ấy có thể uống thuốc nếu muốn.
Tư vấn và xét nghiệm HIV, Viêm gan B nếu chưa làm. Đảm bảo cung cấp tư vấn trước và sau xét nghiệm HIV và có thể chuyển điều trị dự phòng, điều trị và chăm sóc.
Tiêm vắc xin viêm gam B mũi B, nếu cần.
Các bước tư vấn
Bước1 : Tiếp xúc ban đầu
Thiết lập bầu không khí thoải mái, tin tưởng với khách: Chào hỏi, mời uống nước, giới thiệu về bản thân của chuyên viên tư vấn và cơ quan tư vấn.
Đề nghị người được tư vấn tự giới thiệu.
Nói với người được tư vấn về quy chế bảo mật thông tin.
Nói mục đích của cuộc tư vấn
Khuyến khích người được tư vấn trình bày vấn đề của mình.
Lắng nghe tích cực khi người được tư vấn nói về những khía cạnh xúc cảm, tình cảm.
Bước 2 : Nhận dạng và phân tích vấn đề
Xác định vấn đề mà khách đang gặp, vấn đề đang nằm ở đâu, vấn đề nào là then chốt và quan trọng nhất với khách.
Tìm hiểu được đâu là nguyên nhân sâu xa của vấn đề.
Cụ thể chuyên viên tư vấn cần trao đổi một số nội dung sau:
Bạo lực xảy ra như thế nào? Khi nào? Ở đâu?
Bạo lực tồn tại bao lâu?
Bạo lực liên quan đến những ai, liên quan như thế nào?
Mức độ nghiêm trọng của bạo lực ? Có đe doạ đến sự an toàn của bản thân hay con cái không?
Vấn đề trước mắt muốn giải quyết là gì?
Người được tư vấn đã từng giải quyết bạo lực như thế nào? Họ đã cố gắng như thế nào trong việc giải quyết bạo lực ? Có ai giúp đỡ không?
Người được tư vấn cảm thấy thế nào?
Đánh giá mong chờ của người được tư vấn
Người được tư vấn có tiềm năng gì để giải quyết vấn đề bạo lực.
Bước 3 : Thảo luận và xây dựng các giải pháp khả thi
Thảo luận với người được tư vấn về việc họ định giải quyết như thế nào. Đánh giá: tiềm năng tự giải quyết vấn đề của người được tư vấn, sự ủng hộ của những người thân, vướng mắc ở khâu nào, cần vấn đề gì…
Cách đảm bảo sự an toàn cho bản thân và con cái, phân tích ưu điểm và hạn chế của các giải pháp.
Để người được tư vấn tự cân nhắc và quyết định chọn phương án nào phù hợp với hoàn cảnh của mình nhất, trao đổi với họ xem giải pháp mà họ lựa chọn thuận lợi, khó khăn ở mặt nào.
Bước 4 : Kế hoạch thực hiện và kế hoạch an toàn
Đề nghị người được tư vấn nói về ý định thực hiện giải pháp của mình.
Bàn thêm về cách thực hiện.
Lên kế hoạch cụ thể.
Bàn đến các vấn đề phát sinh có thể xảy ra và cách giải quyết.
Cùng người được tư vấn xây dựng một kế hoạch an toàn
Giới thiệu cho người bị bạo lực một số địa chỉ như y tế, pháp luật, các tổ chức xã hội... để họ liên hệ khi cần thiết
Bước 5 : Đánh giá và kết thúc
Đánh giá những gì đã đạt được trong quá trình tư vấn/ buổi tư vấn.
Khích lệ khách tự tin để thực hiện kế hoạch của mình.
Hẹn gặp lại nếu có vấn đề phát sinh
Lưu ý : Không nhất thiết ca tư vấn nào cũng phải tuân theo đúng các bước trên, mà tuỳ thuộc vào từng trường hợp cụ thể để vận dụng một cách linh hoạt và phù hợp.
5. Các kỹ năng tư vấn
Kỹ năng lắng nghe: Lắng nghe là khả năng đón nhận và hiểu những điều (Có thể bằng lời hoặc không lời, trực tiếp hoặc ngụ ý, mơ hồ hoặc rõ ràng) mà khách muốn nói. Lắng nghe là nắm bắt được nội tâm của người nói, hiểu họ trong khung cảnh, quan điểm của họ. Lắng nghe cũng là sự tập trung chú ý vào đối tượng đang được tư vấn, không để bị chi phối bởi những gì xảy ra xung quanh và trong chính lòng mình và biết cách giữ im lặng khi cần thiết.
Mục đích của lắng nghe trong tư vấn: Để thu thập thông tin; Để đánh giá chủ đề, mục đích; Để tìm hiểu tâm trạng của người nói; Để khích lệ người nói; Thể hiện thái độ tôn trọng đối với người nói.
Kỹ năng đặt câu hỏi
Là kỹ năng sử dụng các câu hỏi nhằm khai thác thông tin của khách.
Câu hỏi là công cụ quan trọng để khai thác và tập hợp thông tin từ người được tư vấn. Trong tư vấn, việc đặt ra các câu hỏi để người được trả lời một cách tự nhiên, thoải mái và chia sẻ thông tin với chuyên viên tư vấn là rất quan trọng. Sử dụng câu hỏi hợp lý cho phép khai thác được nhiều thông tin nhất trong khoảng thời gian nhất định. Nếu hỏi dồn dập sẽ tạo cho người được có cảm giác đang bị chất vấn sẽ không thoải mái dẫn đến sẽ im lặng hoặc bất hợp tác.
Mặt khác thông qua việc trả lời câu hỏi, chính người được tư vấn có thể hiểu sâu hơn, cặn kẽ hơn về sự việc của mình.
Kỹ năng thảo luận
Khi nạn nhân tìm đến nhân viên tư vấn thường là vì họ đang ở trong hoàn cảnh không tìm được giải pháp. Tình trạng thất vọng này làm cho họ cảm thấy chán nản, lo lắng. Các bước thảo luận giải pháp
Giúp khách hàng suy nghĩ về tất cả những giải pháp có thể có.
Nếu nhân viên tư vấn biết những giải pháp mà những người khác đã thử, có thể gợi ý cho khách hàng
Thảo luận những ưu điểm và hạn chế của từng giải pháp
Loại trừ những giải pháp hiện tại chưa thể chấp nhận.
Nếu nạn nhân quan tâm đến giải pháp nào, thảo luận sâu hơn về giải pháp đó.
Nếu nạn nhân quyết định làm theo giải pháp đã được lựa chọn, nhân viên tư vấn sẽ cùng thảo luận về cách khách hàng thực hiện giải pháp.
Nếu chưa quyết định lựa chọn ngay các giải pháp, nạn nhân vẫn có thể nghĩ đến những giải pháp và cùng thảo luận với nhân viên tư vấn.
Kỹ năng phản hồi
Là một hình thức biểu lộ sự quan tâm đối với khách. Phản hồi là việc nói lại bằng từ ngữ của mình hoặc nhắc lại lời nói của nạn nhân một cách cô đọng, ngắn gọn nhưng làm rõ hơn điều họ vừa nói và đạt được sự tán thành của họ.
Phản hồi nhằm chứng tỏ rằng người tư vấn đang lắng nghe nạn nhân
Giúp cho người tư vấn tập trung và nghe chăm chú hơn.
Để nạn nhân có thể nói lại nếu người tư vấn hiểu nhầm.
Phản hồi giúp nạn nhân ý thức hơn về những điều cảm thấy và những việc mình đã làm như thế nào.
Phản hồi cũng khuyến khích nạn nhân tiếp tục nói để phát triển cuộc thảo luận.
Tạo cho họ thế chủ động trong buổi tư vấn để nói lên những điều họ muốn.
Thông thường khi nạn nhân đến tư vấn họ thường ở trong tình trạng bối rối lo lắng nên những gì họ nói ra có thể không theo một trật tự logic nào, người tư vấn sử dụng phản hồi nội dung để tóm lược câu chuyện, sắp xếp những điểm chính.
Kỹ năng quan sát
Đó là khả năng nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, thể trạng, tinh thần, trình độ văn hóa… của đối tượng để nhận diện mức độ và dạng bạo lực mà người bị bạo lực đang gặp phải.
Chuyên viên tư vấn cần có cách quan sát kín đáo, tế nhị từ hình dáng bên ngoài, cách ăn mặc, nét mặt, cử chỉ đến ngôn ngữ và các yếu tố phi ngôn ngữ. Quan sát nạn nhân một cách chăm chú, thân thiện cũng thể hiện sự quan tâm chân thành với họ.
Kỹ năng khuyến khích, động viên
Nhằm tạo bầu không khí thân mật thoải mái và khuyến khích nạn nhân tham gia tích cực trong cuộc tư vấn, giúp họ có được sự can đảm và lòng tin bằng cách chỉ ra những triển vọng, khả năng, làm cho họ hiểu rằng họ có thể vượt qua những khó khăn, vấn đề họ đang gặp phải.
Người tư vấn có thể động viên khuyến khích nạn nhán thông qua giao tiếp bằng lời hoặc bằng các cử chỉ không lời.
Kỹ năng cung cấp thông tin
Chỉ cung cấp cho nạn nhân những thông tin cơ bản liên quan đến vấn đề của họ, không cung cấp thừa, không cung cấp thông tin làm cho nạn nhân hoang mang. Trước khi cung cấp thông tin, cần hỏi xem họ biết gì về những thông tin đó chưa?
|
BÀI TẬP THỰC HÀNH TƯ VẤN
Chia nhóm 3 người để thực hành tư vấn: 1 người đóng vai cán bộ y tế, 1 người đóng vai nạn nhân và 1 người đóng vai quan sát viên
Tình huống tư vấn đối với các trường hợp nạn nhân bị bạo lực thể chất, tâm lý, tâm lý, tình dục, kinh tế, nạn nhân là trẻ em
Các nhóm viết kịch bản trên cơ sở tình huống cụ thể, thực hành kịch bản và trình bày tình huống trước cả lớp
Cả lớp trao đổi, góp ý để hoàn thiện tình huống tư vấn
Các tình huống tham khảo được để cuối tài liệu
|
IV. BƯỚC 4. HỖ TRỢ ĐỐI VỚI NẠN NHÂN BẠO LỰC GIỚI/BẠO LỰC GIA ĐÌNH
Luật Phòng chống bạo lực gia đình, và Thông tư số 24/2017/TT-BYT của Bộ Y tế quy định đã quy định về hỗ trợ nạn nhân bị bạo lực giới/bạo lực gia đình, tập trung vào các nội dung sau:
1. Xác định mức độ an toàn của nạn nhân và thảo luận kế hoạch đảm bảo an toàn.
- Can thiệp buộc chấm dứt hành vi bạo lực ngay tại cơ sở y tế
- Khi thấy dấu hiệu có nguy cơ ảnh hưởng đến tính mạng nạn nhân, báo ngay cho cơ quan công an, bảo vệ và người đứng đầu để có can thiệp khẩn cấp, đồng thời tìm biện pháp ngăn chặn
2. Hỗ trợ chăm sóc y tế
- Khám toàn diện và xác định các tổn thương về thể chất, tinh thần, tình dục và các dấu hiệu liên quan khác, các nguy cơ ảnh hưởng đến sức khoẻ, SKSS và tình dục do bạo lực gây ra, điều trị và giúp nạn nhân biết cách phòng tránh các nguy cơ này.
- Trong trường hợp nạn nhân bị hiếp dâm, cung cấp thuốc tránh thai khẩn cấp
- Nếu phát hiện nạn nhân có nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS, xét nghiệm và điều trị dự phòng lây nhiễm.
- Trường hợp tổn thương của nạn nhân vượt quá phạm vi chuyên môn của cơ sở thì phải chuyển bệnh nhân đến cơ sở khám chữa bệnh tuyến trên
- Phối hợp các khoa, phòng đặc biệt phòng công tác xã hội, tổ hoặc nhân viên công tác xã hội của bệnh viện thực hiện chăm sóc y tế, tư vấn hỗ trợ nạn nhân.
3. Bố trí nơi tạm lánh:
- Bố trí cho nạn nhân tạm lánh tại cơ sở y tế trong thời gian không quá 24 giờ theo yêu cầu của nạn nhân. Trường hợp trạm y tế xã có giường lưu có đủ điều kiện bảo đảm an toàn cho người bệnh và nhân viên y tế thì bố trí nơi tạm lánh không quá 24 giờ hoặc chuyển người bệnh đến các địa điểm tạm lánh, tạm trú trong cộng đồng.
- Bố trí giường nằm, quần áo, chăn màn cho nạn nhân như người bệnh được điều trị nội trú, lưu theo dõi.
- Trong thời gian tạm lánh, nếu nạn nhân không có người thân thích hỗ trợ, không thể tự lo ăn uống, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hỗ trợ ăn uống cho nạn nhân theo khả năng và điều kiện thực tế của cơ sở.
- Trường hợp đã hết thời hạn tạm lánh nhưng nạn nhân bạo lực gia đình vẫn cần được hỗ trợ nơi tạm lánh, tùy theo khả năng và điều kiện thực tế, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh xem xét lựa chọn một trong các trường hợp sau:
+ Tiếp tục bố trí cho nạn nhân bạo lực gia đình tạm lánh tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
+ Liên hệ, đề nghị các cơ sở trợ giúp nạn nhân bạo lực gia đình tiếp nhận và bố trí nơi tạm lánh cho nạn nhân tại cơ sở phù hợp.
4. Cung cấp các thông tin về phòng chống bạo lực và các địa chỉ hỗ trợ khác:
- Giúp nạn nhân nhận thức được họ đang là nạn nhân của bạo lực và biết được bạo lực là hành vi không chấp nhận được.
- Giúp nạn nhân chia sẻ, giải toả cảm xúc, động viên, an ủi, giúp tự tin và có thể tự mình ra quyết định.
- Cung cấp cho nạn nhân các địa chỉ hỗ trợ trong và ngoài hệ thống y tế và giúp liên hệ với các cơ quan hỗ trợ nếu cần.
5. Kỹ năng xử trí đối với người gây bạo lực tại cơ sở y tế
Việc phát hiện, đảm bảo an toàn và cách ly nạn nhân khỏi người gây bạo lực là can thiệp tiên quyết cần được thực hiện. Nạn nhân khi bị bạo lực gia đình/ bạo lực giới ngoài tổn thương về thể chất thường còn gặp phải sự tổn hại nặng nề về tinh thần. Vì vậy, tránh tiếp xúc với người gây nên bạo lực lúc này là cần thiết cho tới khi các điều kiện an toàn cho nạn nhân được đảm bảo.
Trong trường hợp người gây bạo lực tiếp tục có những hành vi de dọa đối với nạn nhân, cần báo với cơ quan có thẩm quyền: công an, ủy ban nhân dân...
Bên cạnh đó, cần xác định việc gây bạo lực đối với người khác là hành vi vi phạm pháp luật, cho dù xuất phát từ nguyên nhân nào đi nữa. Vì vậy, khi xử trí với người gây bạo lực tại cơ sở y tế, cán bộ y tế và nhân viên tư vấn không sa đà vào việc tìm hiểu nguyên nhân (việc tìm hiểu nguyên nhân sẽ tạo điều kiện cho người gây bạo lực bào chữa cho hành vi của mình và thấy mình có lý khi thực hiện nó).
V. BƯỚC 5. THỐNG KÊ, BÁO CÁO SỐ LIỆU VỀ NẠN NHÂN BẠO LỰC GIỚI/BẠO LỰC GIA ĐÌNH
- Các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh ghi chép thông tin về người bệnh là nạn nhân bạo lực gia đình theo mẫu quy định tại phụ lục 1 của Thông tư 24/2017/TT-BYT của Bộ Y tế.
- Việc công bố và lưu trữ số liệu thống kê các trường hợp người bệnh là nạn nhân bạo lực gia đình thực hiện theo đúng quy định của pháp luật hiện hành.
- Hình thức báo cáo:
+ Báo cáo được tổng hợp từ các khoa, phòng, trạm y tế, y tế cơ sở, sau đó chuyển lên phòng Kế hoạch tổng hợp, chuyển Sở Y tế để báo cáo Bộ Y tế và UBND các tỉnh, thành.
+ Báo cáo định kỳ hàng năm hoặc đột xuất theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
- Hệ thống báo cáo:
+ Tuyến trung ương: Bộ Y tế (Cục Quản lý Khám, chữa bệnh).
+ Tuyến tỉnh và tương đương: Sở Y tế, Y tế bộ, ngành.
+ Tuyến huyện: Bệnh viện huyện, Trung tâm y tế huyện và phòng y tế huyện.
+ Phòng khám đa khoa khu vực, Trạm y tế xã, phường.
+ Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân trên toàn quốc.
VI. HƯỚNG DẪN TRIỂN KHAI PHÒNG CHỐNG BẠO LỰC GIỚI/BẠO LỰC GIA ĐÌNH TẠI CƠ SỞ Y TẾ VÀ CƠ CHẾ PHỐI HỢP VỚI CỘNG ĐỒNG
1. Điều kiện để cơ sở y tế tham gia vào công tác phòng chống bạo lực giới/bạo lực gia đình :
1.1. Xây dựng chính sách
Cải thiện luật pháp và chính sách
- Làm rõ trách nhiệm pháp lý của cơ sở y tế
- Khuyến khích các phản ứng tốt hơn của ngành y tế đối với vấn đề BLG/BLGĐ thông qua các chính sách quốc gia, khu vực và tỉnh thành về công tác sàng lọc, giới thiệu tới các dịch vụ khác, lưu hồ sơ và tư vấn cho nạn nhân bị bạo lực.
- Đảm bảo quyền được tiếp cận các dịch vụ của người bị bạo lực (tránh thai khẩn cấp, phòng tránh các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục,...)
Tăng cường đáp ứng của các cơ sở y tế đối với BLG/BLGĐ
- Nâng cao nhận thức của các cán bộ y tế, cán bộ quản lý và nhà hoạch định chính sách y tế về mối liên hệ giữa bạo lực và sức khỏe.
- Nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc cho người bị bạo lực, bao gồm phát hiện, điều trị, lưu hồ sơ, thông báo, giới thiệu đến các dịch vụ hỗ trợ khác và tiếp tục theo dõi .
- Tăng cường sự phối hợp với các ngành khác có cung cấp dịch vụ hoặc hoạt động phòng chống bạo lực.
Tăng cường huy động cộng đồng để giải quyết BLG/BLGĐ như các vấn đề y tế
- Tăng cường sự hỗ trợ của cộng đồng đối với người bị bạo lực
- Củng cố mạng lưới trợ giúp
- Cải thiện thái độ, quy tắc, thói quen/thông lệ và nguồn lực ở cấp cộng đồng
Nâng cao hiểu biết, cải thiện thái độ, thói quen của các cán bộ chủ chốt và người dân
- Thúc đẩy bình đẳng giới và các mối quan hệ tình dục không bạo lực
- Tăng khả năng tự quyết của phụ nữ về thời gian và bản chất của các mối quan hệ tình dục
- Giảm sự khoan dung/tha thứ đối với bạo lực bằng cách nâng cao nhận thức về BLGĐ như một vấn đề y tế công cộng
- Khuyến khích nạn nhân bạo lực đi khám chữa bệnh và tiết lộ về việc bị bạo lực với cơ sở cung cấp dịch vụ
1.2. Xây dựng quy trình tiếp đón nạn nhân
Các cơ sở y tế cần xây dựng qui trình tiếp nhận và giúp đỡ nạn nhân bị bạo lực dựa trên quy trình khám chữa bệnh. Thông báo quy trình để các khoa phòng, cán bộ y tế hiểu và biết vai trò, trách nhiệm của mình. Để xây dựng qui trình này, cần hiểu rõ:
Nạn nhân tiếp cận ban đầu ở đâu
Nạn nhân được sàng lọc từ đâu? Sàng lọc như thế nào?
Ai thực hiện khám y tế ?
Nạn nhân sẽ được chuyển tới đâu sau khi được điều trị y tế?
Ai sẽ tiếp tục theo dõi và hỗ trợ nạn nhân sau khi ra viện ?
(Có thể sử dụng sơ đồ dưới đây để tham khảo khi xây dựng qui trình đón tiếp và chuyển giúp đỡ khách hàng bị BLGĐ tại cơ sở y tế)
1.3. Tạo sự thân thiện tại cơ sở y tế
Tại phòng chờ, phòng khám, khoa khám bệnh của cơ sở y tế cần sẵn có những tài liệu tuyên truyền với những thông điệp phòng chống bạo lực với phụ nữ và các địa chỉ giúp đỡ phụ nữ bị bạo lực.
Các tài liệu tuyên truyền là pano, áp phích, tờ rơi, sách nhỏ, phiếu, phát số xếp hàng, huy hiệu đeo trên áo nhân viên y tế (nếu có điều kiện có thể chiếu video) với những thông điệp về phòng chống bạo lực phụ nữ và các thông tin để nạn nhân biết tên các cơ sở y tế và các cơ sở khác trong cộng đồng có thể giúp đỡ khách hàng bị bạo lực. Địa chỉ giúp đỡ bao gồm tên cơ sở, hoặc tên người phụ trách, điện thoại, fax (nếu có), địa chỉ.
Đảm bảo đầy đủ phiếu sàng lọc nạn nhân, Phiếu theo dõi nạn nhân.
Đảm bảo phòng khám đủ kín đáo, riêng tư (không bị ai nghe thấy, nhìn thấy, không có nhiều người vào phòng khám cùng một lúc) để có thể hỏi kỹ về bạo lực.
Trong điều kiện cơ sở đông khách hàng, cần có phòng tư vấn riêng để nhân viên y tế có thể chuyển khách hàng đến tư vấn sau khi đã khám và điều trị y tế.
1.4. Đào tạo và hướng dẫn kiến thức về PCBLGĐ cho cán bộ y tế
Tốt nhất, tất cả cán bộ y tế tại các khoa điều trị: bác sỹ, điều dưỡng, cần hộ lý và cán bộ khác đang làm việc tại cơ sở y tế (bảo vệ, cán bộ hành chính) cần được đào tạo kiến thức cơ bản về BLGĐ và xử trí với khách hàng bị bạo lực.
Hàng năm cần đào tạo lại cho cán bộ y tế về kiến thức và kỹ năng làm việc với nạn nhân
Cơ sở y tế cần có tài liệu hướng dẫn xử trí đối với nạn nhân bị bạo lực. Tài liệu này hướng dẫn những bước cơ bản nhất để cán bộ y tế tuân thủ trong sàng lọc và đáp ứng y tế với khách hàng bị bạo lực (Tài liệu có thể là cuốn sổ nhỏ hoặc thậm chí được thiết kế là một tấm thiệp hoặc tấm bìa cứng để trên bàn cán bộ y tế rất tiện lợi.
1.5. Lồng ghép vào công tác khám chữa bệnh
Lồng ghép sàng lọc bạo lực phụ nữ trong quá trình thăm khám và đáp ứng y tế với bệnh nhân nữ bị bạo lực.
Lồng ghép chủ đề BLGĐ vào các cuộc giao ban khoa, phòng, bệnh viện, hay sinh hoạt khoa học/chuyên môn
Cơ sở y tế tổng hợp và báo cáo lên tuyến trên theo định kỳ về số liệu bệnh nhân nữ bị bạo lực được phát hiện tại cơ sở y tế, theo mẫu quy định.
1.6. Thiết lập các hệ thống theo dõi bạo lực cấp quốc gia
Hệ thống theo dõi bạo lực cấp quốc gia cần được thiết lập. Hệ thống này đảm bảo việc thu thập thông tin thống nhất về BLGĐ cho dù nơi nạn nhân đến trình báo vụ việc lần đầu tiên là đồn cảnh sát, nhà tạm lánh cho phụ nữ hay cơ sở y tế. Thông tin thu được bao gồm: loại bạo lực; giới tính và tuổi của nạn nhân; giới tính, tuổi của người gây bạo lực và mối quan hệ giữa họ.
Ngành y tế khi áp dụng ICD-10 81 để phân loại bệnh cần đơn giản hoá nó để việc ghi chép và báo cáo về vụ việc BLG đối với phụ nữ trở nên dễ dàng hơn. ICD-10 cho phép bổ sung thêm mã số vào nhóm ‘thương tích’ và vào nhiều nhóm bệnh khác, để có thể thể hiện bạo lực là một trong những nguyên nhân của thương tích. Để tích cực ghi thông tin về BLGĐ như một trong những nguyên nhân gây bệnh hoặc tử vong, cần phải đào tạo những người làm công việc này, thường xuyên giám sát việc tuân thủ các qui định mới về việc ghi chép thông tin.
2. Xây dựng cơ chế chuyển tuyến, phối hợp giữa cơ sở y tế và cộng đồng
Hoạt động phòng chống BLG/BLGĐ không thể thành công nếu không có sự phối hợp hoạt động giữa chính quyền, các ban ngành đoàn thể tại địa phương. Trong mô hình hoạt động phòng chống BLG/BLGĐ cần có sự tham gia của rất nhiều ban ngành đoàn thể, tạo thành mạng lưới phòng chống BLG/BLGĐ và hỗ trợ nạn nhân. Vai trò của từng ban ngành được qui định theo luật phòng chống BLG/BLGĐ như sau:
2.1. Công an:
Trực tiếp phụ trách chỉ đạo mạng lưới công an viên các khu dân cư triển khai các biện pháp ngăn chặn, chấm dứt hành vi bạo lực, báo vệ nạn nhân BLG/BLGĐ, giải quyết vụ việc theo quy định của luật pháp.
Lập danh sách các hộ gia đình thường xuyên xẩy ra/có nguy cơ cao xẩy ra BLG/BLGĐ… để theo dõi và có các can thiệp kịp thời khi cần thiết
Tham gia các hoạt động truyền thông về PC BLG/BLGĐ
Báo cáo kết quả hoạt động do mình phụ trách, thực hiện cho BCĐ định kỳ theo mẫu chung
2.2. Tư pháp
Trực tiếp phụ trách triển khai các tư vấn, hỗ trợ về pháp lý cho cộng đồng về các nội dung liên quan đến Bình đẳng giới và PC BLG/BLGĐ.
Hỗ trợ, tư vấn pháp lý cho nạn nhân
Tham gia các hoạt động truyền thông về PC BLG/BLGĐ
2.3. Trung tâm bảo trợ xã hội
Tiếp nhận, quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng, phục hồi chức năng, giáo dục, dạy văn hóa, định hướng nghề cho các đối tượng cần bảo vệ khẩn cấp:
Nạn nhân của bạo lực gia đình; nạn nhân bị xâm hại tình dục; nạn nhân bị buôn bán; nạn nhân bị cưỡng bức lao động;
Thời gian chăm sóc, nuôi dưỡng của đối tượng cần sự bảo vệ khẩn cấp không quá 3 tháng.
Tổ chức vận động các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước hỗ trợ vật chất, tinh thần cho đối tượng tại Trung tâm.
2.4.Văn hoá thông tin:
Trực tiếp phụ trách triển khai công tác thông tin, tuyên truyền về Bình đẳng giới và PC BLG/BLGĐ trên phương tiện truyền thông đại chúng tại địa phương. Tăng cường tuyên truyền nhân các ngày lễ, ngày kỷ niệm: Ngày dân số thế giới, ngày gia đình Việt Nam, Ngày phụ nữ quốc tế, Phụ nữ Việt Nam, Ngày phòng chống BLG/BLGĐ quốc tế,...
Thông tin, tuyên truyền các địa chỉ hỗ trợ, Phòng tư vấn, bệnh viện,...
Tham gia sưu tầm, biên soạn, viết bài đưa tin về các hoạt động Bình đẳng giới và PC BLG/BLGĐ tại địa phương
2.5. Y tế:
Tiếp nhận, chăm sóc kịp thời bệnh nhân là người bị bạo lực gia đình
Thực hiện thống kê, báo cáo các trường hợp bệnh nhân bị bạo lực gia đình, có trách nhiệm giữ bí mật thông tin về người bị bạo lực gia đình
Trường hợp phát hiện hành vi bạo lực gia đình có dấu hiệu tội phạm phải báo ngay cho người đứng đầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh để báo cho cơ quan công an nơi gần nhất
Phối hợp với các ban ngành khác để tiếp tục giúp đỡ hỗ trợ nạn nhân
2.6. Dân số
Phụ trách, chỉ đạo các hoạt động truyền thông lồng ghép về Bình đẳng giới và PC BLG/BLGĐ trong mạng lưới Cộng tác viên dân số
Chỉ đạo lồng ghép truyền thông, tư vấn về BĐG và PC BLG/BLGĐ trong các CLB/nhóm sinh hoạt cộng đồng do cán bộ dân số phụ trách
2.7. Hội phụ nữ
Phụ trách chỉ đạo, triển khai các hoạt động truyền thông về BĐG và PC BLG/BLGĐ trong mạng lưới tổ chức Hội ở cơ sở, các câu lạc bộ
Lồng ghép nội dung phòng, chống bạo lực gia đình vào chương trình hoạt động của Hội
Phát hiện đối tượng, các hộ gia đình thường xuyên xẩy ra/có nguy cơ cao xẩy ra BLG/BLGĐ … để theo dõi và tham gia tư vấn, hoà giải
2.8. Hội nông dân
Phụ trách chỉ đạo, triển khai các hoạt động truyền thông về BĐG và PC BLG/BLGĐ trong mạng lưới tổ chức Hội ở cơ sở, các câu lạc bộ
Lồng ghép nội dung phòng, chống bạo lực gia đình vào chương trình hoạt động của Hội
Phát hiện đối tượng, tham gia công tác tư vấn, hoà giải
Xây dựng biện pháp can thiệp, hỗ trợ, khuyên giải, răn đe các đối tượng là người gây bạo lực, đặc biệt chú ý đối với các đối tượng là thành viên Hội
2.9. Đoàn thanh niên
Thu thập các thông tin liên quan từ cộng đồng qua các CLB/nhóm nhỏ để phát hiện sớm dấu hiệu các gia đình có nguy cơ cao xẩy ra BLG/BLGĐ
Phối hợp thực hiện các hoạt động phòng, chống bạo lực gia đình thông qua hệ thống tổ chức của Đoàn
Truyền thông, tư vấn về bình đẳng giới và phòng, chống BLG/BLGĐ cho Vị thành niên, Thanh niên thông qua các câu lạc bộ tiền hôn nhân
2.10. Hội người cao tuổi
Phối hợp thực hiện các hoạt động phòng, chống bạo lực gia đình; tham gia công tác hoà giải, can thiệp, truyền thông giáo dục
2.11. Mặt trận tổ quốc
Tham gia công tác tư vấn, hoà giải
Phối hợp thực hiện các hoạt động phòng, chống bạo lực gia đình thông qua cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá khu dân cư.
Giám sát các hoạt động phòng, chống BLG/BLGĐ đối với chính quyền và các tổ chức thành viên
2.12. Hội Cựu chiến binh
Phối hợp thực hiện các hoạt động phòng, chống BLG/BLGĐ; tham gia công tác hoà giải, can thiệp, truyền thông giáo dục
2.13. Cơ sở giáo dục (trường PTCS, THPT.):
Phụ trách việc lồng ghép giáo dục - truyền thông về BĐG & PC BLG/BLGĐ trong trường học
Nghiên cứu các tài liệu sẵn có trong chương trình giáo dục về bình đẳng giới trong nhà trường, nhằm hướng dẫn giảng dạy, phát triển tài liệu và đề xuất hiệu chỉnh cho phù hợp
3. Cam kết hoạt động phối hợp chung của các ban ngành :
Lồng ghép hoạt động phòng chống BLG/BLGĐ vào hoạt động của ban ngành đoàn thể mình
Phối hợp với các ban ngành đoàn thể khác trong công tác phòng chống BLG/BLGĐ
Báo cáo kết quả hoạt động do mình phụ trách thực hiện cho BCĐ định kỳ theo mẫu chung
Họp các ban ngành hàng tháng, quý, năm nhằm:
+ Chia sẻ thông tin về hoạt động PC BLG/BLGĐ
+ Thảo luận phối hợp giải quyết các trường hợp nghiêm trọng có sự tham gia của nhiều ngành
+ Thảo luận và đề xuất các giải pháp để hoạt động phối hợp có hiệu quả
4. Mạng lưới hỗ trợ nạn nhân
Xây dựng và hình thành mạng lưới hỗ trợ nạn nhân BLGĐ bao gồm danh sách các địa chỉ hỗ trợ với đầy đủ các thông tin: tên đầy đủ (cơ quan hoặc cá nhân trực tiếp tiếp nhận, xử lý), địa chỉ, điện thoại (cố định và di động), fax . Danh sách địa chỉ hỗ trợ này sẽ được in vào các tờ rơi và có sẵn ở tất cả các cơ sở hỗ trợ. Mạng lưới hỗ trợ nạn nhân là một trong những hoạt động phối hợp giữa các ban ngành nhằm giúp đỡ chăm sóc và hỗ trợ nạn nhân bị bạo lực
4.1. Các thành viên trong mạng lưới có nhiệm vụ:
Ngăn chặn bạo lực/Hỗ trợ bảo vệ nạn nhân
Giới thiệu nạn nhân tới các địa chỉ trong danh sách
Tiếp nhận nạn nhân từ các địa chỉ khác chuyển đến
Đảm bảo việc nạn nhân có thể đến được nơi mình giới thiệu (thông qua trao đổi bằng điện thoại trong mạng lưới)
4.2. Danh sách và vai trò của địa chỉ hỗ trợ
Bệnh viện tỉnh/huyện
Khám sàng lọc phát hiện nạn nhân bị bạo lực, thực hiện đầy đủ quy trình đón tiếp nạn nhân từ bệnh viện đến trung tâm tư vấn hoặc các địa chỉ giúp đỡ khác theo yêu cầu bệnh nhân
Cung cấp thông tin chính xác về sức khoẻ nạn nhân tới cơ quan có thẩm quyền
Hỗ trợ đầy đủ chế độ ưu đãi đối với nạn nhân bạo lực gia đình theo pháp luật quy định.
Phòng tư vấn/Phòng công tác xã hội tại Bệnh viện tỉnh/huyện
Tiếp nhận nạn nhân bạo lực giới do các trạm y tế xã, các khoa phòng trong bệnh viện, hoặc do các cơ quan khác chuyển đến cũng như các phụ nữ bị bạo lực trong cộng đồng có nhu cầu tư vấn hỗ trợ về tâm lý và tinh thần, giúp nạn nhân tìm ra các giải pháp an toàn cho bản thân và con cái họ.
Cung cấp dịch vụ tư vấn qua điện thoại.
Phối hợp với các cơ quan đoàn thể khác để hỗ trợ nạn nhân theo nguyện vọng.
Trung tâm bảo trợ xã hội
Tiếp nhận, quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng, phục hồi chức năng, giáo dục, dạy văn hóa, định hướng nghề cho các đối tượng cần bảo vệ khẩn cấp: Nạn nhân của bạo lực gia đình; nạn nhân bị xâm hại tình dục; nạn nhân bị buôn bán; nạn nhân bị cưỡng bức lao động; Chăm sóc, nuôi dưỡng của đối tượng cần sự bảo vệ khẩn cấp không quá 3 tháng. Tổ chức vận động các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước hỗ trợ vật chất, tinh thần cho đối tượng tại Trung tâm.
Các ban ngành (Công an, Hội phụ nữ, Tư pháp, Tòa án, Đoàn thanh niên, Hội nông dân…)
Phát hiện và hỗ trợ nạn nhân theo chức năng nhiệm vụ của ngành: Ngăn chặn bạo lực, tư vấn pháp lý, hỗ trợ thủ tục pháp lý (ly hôn, phân chia tài sản, quyền nuôi con,…)
Phối hợp với các ban ngành khác trong việc ngăn chặn và bảo vệ nạn nhân bị bạo lực, xử lý vi phạm theo qui định của pháp luật
Chuyển tuyến nạn nhân tới các địa chỉ hỗ trợ khác theo yêu cầu.
Trạm y tế xã
Khám sàng lọc phát hiện nạn nhân bị bạo lực, cung cấp tư vấn, gửi bệnh nhân tới các địa chỉ giúp đỡ khác theo yêu cầu bệnh nhân
Cung cấp thông tin chính xác về sức khoẻ nạn nhân tới cơ quan có thẩm quyền
Các cơ sở chính quyền xã
Phát hiện nạn nhân bị bạo lực, cung cấp tư vấn và hỗ trợ tinh thần
Xử lý các trường hợp gây bạo lực
Chỉ đạo các ban, ngành địa phương hỗ trợ nạn nhân,...
Các địa chỉ tin cậy khác tại cộng đồng (tuỳ theo tình hình cụ thể của địa phương): Tổ trưởng dân phố, Trưởng thôn, Trưởng họ,...
Hỗ trợ, bảo vệ người bị bạo lực gia đình. Tiếp nhận người bị bạo lực khi họ cần nơi tạm tránh các hành vi bạo lực; hỗ trợ về tinh thần, liên hệ với chính quyền để tiếp tục giúp đỡ và bảo vệ người bị bạo lực.
PHẦN III.
CÁC VĂN BẢN LIÊN QUAN ĐẾN BÌNH ĐẲNG GIỚI,
PHÒNG CHỐNG BẠO LỰC GIỚI, BẠO LỰC GIA ĐÌNH
VÀ CƠ CHẾ PHỐI HỢP CỘNG ĐỒNG VỀ PHÒNG,CHỐNG BẠO LỰC
HỆ THỐNG PHÁP LUẬT PHÒNG CHỐNG BẠO LỰC GIỚI/BẠO LỰC GIA ĐÌNH
I. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT BÌNH ĐẲNG GIỚI
Luật Bình đẳng giới số 73/2006/QH11 của Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 10 ngày 29/11/2006 đã quy định nguyên tắc bình đẳng giới trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình, biện pháp bảo đảm bình đẳng giới, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân trong việc thực hiện bình đẳng giới như sau:
1. Đối tượng áp dụng của Luật
Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân, gia đình và công dân Việt Nam.
Cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam, cá nhân nước ngoài cư trú tại Việt Nam.
2. Mục tiêu và khái niệm bình đẳng giới được quy định trong Luật:
2.1. Mục tiêu bình đẳng giới là xoá bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế - xã hội và phát triển nguồn nhân lực, tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam, nữ và thiết lập, củng cố quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa nam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình.
2.2. Khái niệm và định nghĩa những từ ngữ liên quan:
Giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội.
Giới tính chỉ các đặc điểm sinh học của nam, nữ.
Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó.
Định kiến giới là nhận thức, thái độ và đánh giá thiên lệch, tiêu cực về đặc điểm, vị trí, vai trò và năng lực của nam hoặc nữ.
Phân biệt đối xử về giới là việc hạn chế, loại trừ, không công nhận hoặc không coi trọng vai trò, vị trí của nam và nữ, gây bất bình đẳng giữa nam và nữ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình.
Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới là biện pháp nhằm bảo đảm bình đẳng giới thực chất, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành trong trường hợp có sự chênh lệch lớn giữa nam và nữ về vị trí, vai trò, điều kiện, cơ hội phát huy năng lực và thụ hưởng thành quả của sự phát triển mà việc áp dụng các quy định như nhau giữa nam và nữ không làm giảm được sự chênh lệch này. Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới được thực hiện trong một thời gian nhất định và chấm dứt khi mục đích bình đẳng giới đã đạt được.
Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật là biện pháp nhằm thực hiện mục tiêu bình đẳng giới bằng cách xác định vấn đề giới, dự báo tác động giới của văn bản, trách nhiệm, nguồn lực để giải quyết vấn đề giới trong các quan hệ xã hội được văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh.
Hoạt động bình đẳng giới là hoạt động do cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân thực hiện nhằm đạt mục tiêu bình đẳng giới.
Chỉ số phát triển giới (GDI) là số liệu tổng hợp phản ánh thực trạng bình đẳng giới, được tính trên cơ sở tuổi thọ trung bình, trình độ giáo dục và thu nhập bình quân đầu người của nam và nữ.
3. Các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới được quy định trong Luật
Nam, nữ bình đẳng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình.
Nam, nữ không bị phân biệt đối xử về giới.
Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới không bị coi là phân biệt đối xử về giới.
Chính sách bảo vệ và hỗ trợ người mẹ không bị coi là phân biệt đối xử về giới.
Bảo đảm lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng và thực thi pháp luật.
Thực hiện bình đẳng giới là trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân.
4. Các hành vi gây bất bình đẳng giới bị nghiêm cấm
Cản trở nam, nữ thực hiện bình đẳng giới.
Phân biệt đối xử về giới dưới mọi hình thức.
Bạo lực trên cơ sở giới.
Các hành vi khác bị nghiêm cấm theo quy định của pháp luật.
6. Bình đẳng giới trong một số lĩnh vực cụ thể:
6.1. Trong lĩnh vực lao động
Nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn, độ tuổi khi tuyển dụng, được đối xử bình đẳng tại nơi làm việc về việc làm, tiền công, tiền thưởng, bảo hiểm xã hội, điều kiện lao động và các điều kiện làm việc khác.
Nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn, độ tuổi khi được đề bạt, bổ nhiệm giữ các chức danh trong các ngành, nghề có tiêu chuẩn chức danh.
Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động bao gồm:
+ Quy định tỷ lệ nam, nữ được tuyển dụng lao động;
+ Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho lao động nữ;
+ Người sử dụng lao động tạo điều kiện vệ sinh an toàn lao động cho lao động nữ làm việc trong một số ngành, nghề nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại.
6.2. Trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo
Nam, nữ bình đẳng về độ tuổi đi học, đào tạo, bồi dưỡng.
Nam, nữ bình đẳng trong việc lựa chọn ngành, nghề học tập, đào tạo.
Nam, nữ bình đẳng trong việc tiếp cận và hưởng thụ các chính sách về giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ.
Nữ cán bộ, công chức, viên chức khi tham gia đào tạo, bồi dưỡng mang theo con dưới ba mươi sáu tháng tuổi được hỗ trợ theo quy định của Chính phủ.
Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo bao gồm:
+ Quy định tỷ lệ nam, nữ tham gia học tập, đào tạo;
+ Lao động nữ khu vực nông thôn được hỗ trợ dạy nghề theo quy định của pháp luật.
6.3. Trong lĩnh vực y tế
Nam, nữ bình đẳng trong tham gia các hoạt động giáo dục, truyền thông về chăm sóc sức khỏe, sức khoẻ sinh sản và sử dụng các dịch vụ y tế.
Nam, nữ bình đẳng trong lựa chọn, quyết định sử dụng biện pháp tránh thai, biện pháp an toàn tình dục, phòng, chống lây nhiễm HIV/AIDS và các bệnh lây truyền qua đường tình dục.
Phụ nữ nghèo cư trú ở vùng sâu, vùng xa, là đồng bào dân tộc thiểu số, trừ các đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, khi sinh con đúng chính sách dân số được hỗ trợ theo quy định của Chính phủ.
6.4. Trong gia đình
Vợ, chồng bình đẳng với nhau trong quan hệ dân sự và các quan hệ khác liên quan đến hôn nhân và gia đình.
Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ ngang nhau trong sở hữu tài sản chung, bình đẳng trong sử dụng nguồn thu nhập chung của vợ chồng và quyết định các nguồn lực trong gia đình.
Vợ, chồng bình đẳng với nhau trong việc bàn bạc, quyết định lựa chọn và sử dụng biện pháp kế hoạch hoá gia đình phù hợp; sử dụng thời gian nghỉ chăm sóc con ốm theo quy định của pháp luật.
Con trai, con gái được gia đình chăm sóc, giáo dục và tạo điều kiện như nhau để học tập, lao động, vui chơi, giải trí và phát triển.
Các thành viên nam, nữ trong gia đình có trách nhiệm chia sẻ công việc gia đình.
7. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình và cá nhân trong thực hiện và bảo đảm bình đẳng giới
Trách nhiệm của Chính phủ
Trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về bình đẳng giới
Trách nhiệm của bộ, cơ quan ngang bộ
Trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân các cấp
Trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên
Trách nhiệm của Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam
Trách nhiệm của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội trong việc thực hiện bình đẳng giới tại cơ quan, tổ chức mình
Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức khác trong việc thực hiện bình đẳng giới tại cơ quan, tổ chức mình
Trách nhiệm của gia đình
+ Tạo điều kiện cho các thành viên trong gia đình nâng cao nhận thức, hiểu biết và tham gia các hoạt động về bình đẳng giới.
+ Giáo dục các thành viên có trách nhiệm chia sẻ và phân công hợp lý công việc gia đình.
+ Chăm sóc sức khoẻ sinh sản và tạo điều kiện cho phụ nữ thực hiện làm mẹ an toàn.
+ Đối xử công bằng, tạo cơ hội như nhau giữa con trai, con gái trong học tập, lao động và tham gia các hoạt động khác.
Trách nhiệm của công dân:
+ Học tập nâng cao hiểu biết, nhận thức về giới và bình đẳng giới;
+ Thực hiện và hướng dẫn người khác thực hiện các hành vi đúng mực về bình đẳng giới;
+ Phê phán, ngăn chặn các hành vi phân biệt đối xử về giới;
+ Giám sát việc thực hiện và bảo đảm bình đẳng giới của cộng đồng, của cơ quan, tổ chức và công dân.
8. Các hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới trong một số lĩnh vực
Trong lĩnh vực lao động:
+ Áp dụng các điều kiện khác nhau trong tuyển dụng lao động nam và lao động nữ đối với cùng một công việc mà nam, nữ đều có trình độ và khả năng thực hiện như nhau, trừ trường hợp áp dụng biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới;
+ Từ chối tuyển dụng hoặc tuyển dụng hạn chế lao động, sa thải hoặc cho thôi việc người lao động vì lý do giới tính hoặc do việc mang thai, sinh con, nuôi con nhỏ;
+ Phân công công việc mang tính phân biệt đối xử giữa nam và nữ dẫn đến chênh lệch về thu nhập hoặc áp dụng mức trả lương khác nhau cho những người lao động có cùng trình độ, năng lực vì lý do giới tính;
+ Không thực hiện các quy định của pháp luật lao động quy định riêng đối với lao động nữ.
Trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo:
+ Quy định tuổi đào tạo, tuổi tuyển sinh khác nhau giữa nam và nữ;
+ Vận động hoặc ép buộc người khác nghỉ học vì lý do giới tính;
+ Từ chối tuyển sinh những người có đủ điều kiện vào các khóa đào tạo, bồi dưỡng vì lý do giới tính hoặc do việc mang thai, sinh con, nuôi con nhỏ;
+ Giáo dục hướng nghiệp, biên soạn và phổ biến sách giáo khoa có định kiến giới.
Trong lĩnh vực y tế:
+ Cản trở, xúi giục hoặc ép buộc người khác không tham gia các hoạt động giáo dục sức khỏe vì định kiến giới;
+ Lựa chọn giới tính thai nhi dưới mọi hình thức hoặc xúi giục, ép buộc người khác phá thai vì giới tính của thai nhi.
Trong gia đình
+ Cản trở thành viên trong gia đình có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật tham gia định đoạt tài sản thuộc sở hữu chung của hộ gia đình vì lý do giới tính.
+ Không cho phép hoặc cản trở thành viên trong gia đình tham gia ý kiến vào việc sử dụng tài sản chung của gia đình, thực hiện các hoạt động tạo thu nhập hoặc đáp ứng các nhu cầu khác của gia đình vì định kiến giới.
+ Đối xử bất bình đẳng với các thành viên trong gia đình vì lý do giới tính.
+ Hạn chế việc đi học hoặc ép buộc thành viên trong gia đình bỏ học vì lý do giới tính.
+ Áp đặt việc thực hiện lao động gia đình, thực hiện biện pháp tránh thai, triệt sản như là trách nhiệm của thành viên thuộc một giới nhất định.
|
CHỦ TỊCH QUỐC HỘI
Nguyễn Phú Trọng
|
II. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH
Luật Phòng, chống bạo lực gia đình số 02/2007/QH12 được Quốc hội Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 21/11/2007. Luật đã đưa ra những khái niệm và quy định như sau:
1. Khái niệm bạo lực gia đình
Theo quy định tại khoản 2 Điều 1 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007:
Bạo lực gia đình là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình.
Như vậy, hành vi bạo lực gia đình được xác định trên 3 yếu tố cơ bản sau:
- Là hành vi được thực hiện một cách cố ý.
- Người thực hiện hành vi bạo lực và người bị bạo lực đều là thành viên trong cùng gia đình.
- Hành vi bạo lực phải gây ra tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với người bị bạo lực.
2. Thành viên gia đình, người thực hiện hành vi bạo lực và nạn nhân của bạo lực gia đình
2.1. Thành viên gia đình
Theo quy định tại khoản 10 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, thành viên gia đình là những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau.
Đồng thời, theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, thành viên gia đình bao gồm cả thành viên gia đình của vợ, chồng đã ly hôn hoặc nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng.
2.2. Người thực hiện hành vi bạo lực gia đình và nạn nhân của bạo lực gia đình
Những người là thành viên gia đình được nêu ở mục 2.1 trên đây có hành vi bạo lực đối với thành viên trong gia đình mình đều được xem là người thực hiện hành vi bạo lực gia đình. Tuy nhiên, trên thực tế ở Việt Nam, người gây ra bạo lực phổ biến nhất trong gia đình thường là nam giới, người chồng, người cha.
Bất cứ thành viên nào trong gia đình không phân biệt giới tính, lứa tuổi đều có thể là nạn nhân của bạo lực gia đình. Nhưng, thông thường, người có nguy cơ bị bạo lực nhiều nhất là nữ giới, người vợ, người già và trẻ em.
Như vậy, hành vi bạo lực gia đình có thể là hành vi bạo lực của người chồng đối với người vợ, mẹ chồng với con dâu (hôn nhân); cha mẹ bạo lực đối với con cái, cháu bạo lực với ông bà (quan hệ huyết thống); cha mẹ với con nuôi, dì ghẻ đối với con riêng của chồng, bố dượng với con riêng của vợ (quan hệ nuôi dưỡng) và ngược lại; bạo lực giữa nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng dù chưa đăng ký kết hôn, vợ chồng đã ly thân, ly dị …
Nếu người thực hiện hành vi bạo lực và người bị bạo lực không phải là thành viên của gia đình như đã nêu ở trên thì không được coi là bạo lực gia đình. Đây là đặc điểm cần lưu ý để thầy thuốc và nhân viên y tế có thể phát hiện những đối tượng nào có thể được coi là người thực hiện hành vi bạo lực gia đình hoặc là nạn nhân bạo lực gia đình.
3. Các hành vi bạo lực gia đình
Hành vi bạo lực gia đình bao gồm 9 nhóm hành vi được quy định tại khoản 1 Điều 2:
Hành vi hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng
Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm
Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng:
Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau
Cưỡng ép quan hệ tình dục:
Cưỡng ép tảo hôn; cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ:
Chiếm đoạt, huỷ hoại, đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hư hỏng tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình hoặc tài sản chung của các thành viên gia đình
Cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ; kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính:
Có hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở:
Những hành vi bạo lực gia đình đã nêu ở trên thuộc phạm vi xử phạt vi phạm hành chính. Tuy nhiên, những hành vi đó, nếu có dấu hiệu tội phạm, tùy theo tính chất mức độ vi phạm, sẽ bị xem xét để xử lý hình sự. Cán bộ y tế cần chú ý để xác định và phân biệt hành vi bạo lực gia đình nào có thể bị xử phạt vi phạm hành chính và hành vi bạo lực gia đình nào có dấu hiệu tội phạm.
6. Quyền của nạn nhân bạo lực gia đình
Ngoài các quyền chung theo quy định của pháp luật, theo quy định của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, nạn nhân bạo lực gia đình còn có các quyền sau:
Quyền được yêu cầu cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền bảo vệ sức khỏe, tính mạng, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp khác của mình;
Quyền được yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn, bảo vệ, cấm tiếp xúc theo quy định của pháp luật;
Quyền được cung cấp dịch vụ y tế, tư vấn tâm lý, pháp luật;
Quyền được bố trí nơi tạm lánh, được giữ bí mật về nơi tạm lánh và thông tin khác theo quy định của pháp luật.
CHỦ TỊCH QUỐC HỘI
Nguyễn Phú Trọng
III. THÔNG TƯ SỐ 24/2017/TT-BYT NGÀY 17/5/2017 CỦA BỘ Y TẾ HƯỚNG DẪN VIỆC TIẾP NHẬN, CHĂM SÓC Y TẾ VÀ THỐNG KÊ, BÁO CÁO ĐỐI VỚI NGƯỜI BỆNH LÀ NẠN NHÂN BLGĐ TẠI CƠ SỞ KHÁM BỆNH, CHỮA BỆNH
IV. QUYẾT ĐỊNH BAN HÀNH QUY CHẾ PHỐI HỢP LIÊN NGÀNH VỀ PHÒNG CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH Số: 21/2016/QĐ-TTg, ngày 17 tháng 5 năm 2016
PHẦN IV.
BÀI TẬP TÌNH HUỐNG
I. BÀI TẬP PHẦN BẠO LỰC PHỤ NỮ
1. Câu chuyện thứ 1
Cách đây 17 năm anh, chị lấy nhau trong sự hoan hỉ của họ hàng, tưởng rằng cuộc sống vợ chồng cứ thế hạnh phúc trôi đi. Nhưng hai năm sau cưới chị biết mình không thể có con. Thương chồng, chị đề nghị ly hôn nhưng anh không đồng ý. Hơn một năm sau, chồng chị dẫn người phụ nữ khác về sinh sống như vợ chồng, anh ta không cho chị sử dụng điện, nước, anh bắt chị cùng sống chung trong căn nhà, hàng ngày phải chứng kiến cảnh chung chạ của anh ta với cô gái kia. Dự án làm đường bao quanh Hồ Tây lấy đất, đền bù cho chị tiền công sức cơi tạo lấn hồ bấy nhiêu lâu, nhưng anh ta biết trước nên đã lấy tên bố, mẹ cho mảnh đất hai của hai vợ, chồng, không cho chị hưởng tiền đền bù lấy lý do đất ở do bố mẹ anh ta đứng tên. Đau đầu, suy nhược cơ thể, chị đến bệnh viện khám.
Câu hỏi thảo luận:
1. Đây có phải là trường hợp bị bạo lực không? Loại bạo lực gì? Các dấu hiệu thể hiện bị bạo lực?
2. Với vai trò là cán bộ y tế, anh, chị sẽ làm gì đối với bệnh nhân này?
3. Thảo luận tình huống xử trí đối với nạn nhân và đóng cặp đôi để thể hiện
2. Câu chuyện thứ 2
Chị được người hàng xóm đưa đến bệnh viện vì đầu chảy máu đầm đìa, bản thân chị gần như bất tỉnh và ngất đi. Người hàng xóm nói rằng chồng chị ấy mượn cớ ghen tuông để chửi bới, đánh đập dã man, đập đầu chị ấy vào đá rồi bỏ đi.
Câu hỏi thảo luận:
Anh, chị phát hiện được gì từ bệnh nhân này?
Anh, chị cần làm gì với bệnh nhân này?
Đóng tình huống thể hiện
3. Câu chuyện thứ 3
Chị đến bệnh viện vì đau đầu, mất ngủ. Bác sỹ hỏi, chị chỉ nói không hiểu sao dạo này chị hay mất ngủ và đau đầu, có lúc chị cứ thẫn thờ không biết mình đang làm gì nữa. Chị đến để hỏi và khám bệnh
Bác sỹ xem và thấy sổ khám bệnh của chị ghi các tổn thương rất nhiều: Tháng 8 năm 1990, bị sai khớp gối chân trái đã nắn chỉnh; Sẹo lồi dài ở mặt trong chéo từ đầu gối lên đùi trước dài khoảng 20cm do phải mổ nắn chỉnh xương và đóng đinh cố định năm 1993; Năm 1994, bị sai khớp khuỷu tay Phải; Sẹo lồi ở môi trên bên phải năm 2000; Các sẹo rải rác trên các vùng cơ ở đùi, cẳng chân và các vết thâm tím, hoặc hằn thành sẹo trên ngực, vú hai bên...
Câu hỏi thảo luận:
Bệnh nhân này mắc bệnh gì?
Làm thế nào để phát hiện và cán bộ tư vấn làm gì với trường hợp này?
Thảo luận và đóng vai thực hành
4. Câu chuyện thứ 4
Chị là một cô gái thành phố biển xinh xắn. Lấy nhau được sáu năm thì anh được đi bảo vệ luận án tiến sỹ ở Liên Xô. Thương nhớ chồng, hàng ngày đi làm về chăm sóc con cái, thăm ông bà nội, tối về chị gửi gắm tình yêu nỗi nhớ vào những lá thư gửỉ chồng. Lúc đầu chị cũng nhận được thư của anh đều đặn vói những lời lẽ yêu thương mà chị đọc đến thuộc lòng, rồi những lá thư ngày càng vơi dần theo năm tháng.
Rồi sáu năm cũng trôi qua, anh về với bộ com lê lịch sự. Chị chạy lại đón anh nhưng chân như khựng lại vì bộ mặt, ánh mắt của anh. Tối hôm đó, sau sáu năm xa cách nhớ nhung, anh vác chăn ra ngủ ở phòng khách với một câu tuyên bố “Hàng quá đát người ta không sử dụng được”.
Câu hỏi thảo luận:
Đây có phải nạn nhân bị bạo lực không, dấu hiệu nào để khẳng định điều đó?
Anh, chị cần tư vấn gì với nạn nhân này?
Xây dựng tình huống và đóng vai thảo luận
5. Câu chuyện thứ 5
Tôi đến bệnh viện để khám xem tại sao khoảng 1 năm gần đây tôi hay đau đầu và mất ngủ. Trong gia đình chồng tôi là người kiếm ra tiền và quản lý tiền, tiền lương của mình anh cũng đề nghị tôi đưa cho anh để quản lý chung trong gia đình. Chồng tôi rất không thích mỗi khi tôi hỏi đến tiền dù bất cứ lý do gì. Mỗi lần chi tiêu, tôi phải hỏi anh, tôi phải chi tiêu dè xẻn trong những đồng lương ít ỏi của mình, nếu thiếu thì tôi phải đi vay. Còn tiền lương của anh thì anh bảo để tiết kiệm.
Một năm gần đây, tôi hay bị ốm nên cũng không đi làm được nhiều, anh bắt đầu phải thêm tiền để chi tiêu trong gia đình. Mỗi lần anh ấy đưa tiền là mỗi lần anh ấy lại hỏi, vặn vẹo xem tôi mua những gì. Nhiều khi anh ta đưa tiền nhưng vứt xuống đất bắt tôi phải cúi xuống nhặt. Thời gian gần đây tôi cảm thấy căng thẳng không biết mình bị bệnh gì.
Câu hỏi thảo luận:
Bệnh nhân này mắc bệnh gì, gặp phải vấn đề gì?
Làm thế nào để phát hiện và cán bộ tư vấn làm gì với trường hợp này?
Thảo luận và đóng vai thực hành
6. Câu chuyện thứ 6
Chị năm nay 42 tuổi, làm nghề thợ may. Hai vợ chồng có 2 đứa con đã lớn, ngoan ngoãn, học giỏi. Chồng chị là bộ đội xuất ngũ nay phụ giúp vợ đưa và bán hàng. Kinh tế gia đình ổn định. Trong thời gian tại ngũ, xa nhà anh đã có quan hệ với một cô gái nơi anh đóng quân khiến cho ấy có thai, sợ quá anh đã xin ra khỏi quân đội. Sau đó mặc dù đã được vợ tha thứ nhưng anh vẫn lại tiếp tục quan hệ với các cô gái khác mặc dù chị đã can ngăn rất nhiều lần. Thời gian gần đây sau những lần sinh hoạt vợ chồng, chị thấy có hiện tượng đái buốt, đái rắt. Chị đến khám bác sỹ để xem mình mắc bệnh gì và xin bác sỹ hướng dẫn, tư vấn.
Câu hỏi thảo luận
Bệnh nhân này mắc bệnh gì và đây có phải là trường hợp bị bạo lực không? Nếu có là loại bạo lực gì? Dấu hiệu nào để khẳng định điều đó
Những vấn đề gì, hậu quả nào có thể xảy ra đối với người vợ? Là cán bộ y tế anh, chị sẽ làm gì cho bệnh nhân này
Thảo luận và đóng vai thực hành tình huống trên.
7. Câu chuyện thứ 7
Anh chị lấy nhau khá hạnh phúc, nhưng thời gian gần đây do bận bịu con nhỏ, chị không chăm sóc anh chu đáo được như ngày trước nên anh hay bẳn gắt. Tối qua uống rượu về, ngà ngà say, anh lôi băng sex bảo chị cùng xem và bảo chị làm như trong phim. Với bản tính kín đáo, chị không thích nhưng anh bảo có yêu thì anh mới bảo vợ làm thế, anh yêu cầu, thậm chí nói nếu chị không làm tức là không yêu chồng hoặc đã có quan hệ với người khác, chê chồng. Vì sợ anh hiểu nhầm, chị đành chiều anh. Nhưng mọi việc không chỉ dừng lại 1 lần mà còn xảy ra nhiều lần nữa. Lần này do làm mạnh quá, chị đã bị chảy máu rất nhiều, chị phải đến bệnh viện cấp cứu.
Câu hỏi thảo luận
Bệnh nhân này gặp phải vấn đề gì? Có dấu hiệu bị bạo lực trong trường hợp này không? Nếu có là loại bạo lực gì?
Những ảnh hưởng và hậu quả đến sức khỏe như thế nào? Cán bộ y tế cần làm gì đối với nạn nhân này ?
Thảo luận và đóng vai thực hành
8. Câu chuyện thứ 8
Chị đến Bệnh viện Đức Giang khám vì bị viêm nhiễm đường sinh dục. Chồng chị ghen lắm, anh bảo có yêu vợ thì anh mới ghen thế. Anh bảo sợ vợ có bồ thì phải quản lý để vợ không còn sức đi lại với ai. Anh nói anh muốn yêu chị bất kể thời gian nào. Anh làm chị sợ, có lúc chị phải lấy cớ chăm mẹ ốm để trốn anh, nhưng rồi anh lại đến nhà ngoại để đưa chị về. Chị đã phải đến Bệnh viện Đức Giang khám nhiều lần vì bị viêm nhiễm đường sinh dục. Lần này cũng vậy, chị bị viêm loét nặng quá, lại phải đến bệnh viện.
Câu hỏi thảo luận
1. Đây có phải nạn nhân bị bạo lực không, loại bạo lực gì, các dấu hiệu của bạo lực?
2. Những ảnh hưởng và hậu quả do bạo lực này gây ra đặc biệt những vấn đề liên quan đến sức khỏe sinh sản và tình dục; Cán bộ y tế cần làm gì đối với nạn nhân này ?
3. Thảo luận và đóng vai thực hành
9. Câu chuyện thứ 9
Tôi đã yêu 1 lần rồi chia tay. Khi đến với người yêu sau này tôi không còn trinh trắng nữa. Tôi hiểu lỗi của mình nên đã nói hết với người yêu, người yêu tôi lúc đầu rất sốc nhưng rồi đã chấp nhận và thông cảm với tôi. Điều đó làm tôi yêu anh hơn, tôi chăm chút, chiều chuộng anh hơn. Nhưng nhiều lúc tôi cứ băn khoăn vì thấy anh cứ yêu cầu tôi kể đi, kể lại chuyện đã xẩy ra, mỗi lần lại yêu cầu tôi kể tỷ mỷ hơn. Lần nào kể xong anh cũng hỏi đi hỏi lại còn gì nữa không, có lần anh còn bắt tôi cở quần áo thề độc trước bàn thờ là tôi đã nói hết. Nhiều lần anh cứ tỏ ra hoặc chứng tỏ để tôi biết anh đang quan hệ với một vài cô gái khác, tôi buồn và đau khổ lắm, nhưng anh bảo anh cũng giống tôi thôi.
Tôi cứ băn khoăn và tự hỏi đây là do lỗi của tôi vì đã không còn trinh trắng với anh nữa nên anh được quyền làm thế, hay là anh không được quyền làm thế. Tôi đau đầu, tôi lo lắng nhiều lúc đâm ra thẫn thờ. Tôi biết làm gì bây giờ, không lẽ số tôi là phải vậy. Anh, chị giúp tôi với!
Câu hỏi thảo luận
1. Anh, chị nghĩ gì về suy nghĩ và câu hỏi của cô gái này? Liệu người con gái đã mất trinh trước hôn nhân là không còn giá trị nữa không? Nếu người đàn ông có quan hệ tình dục trước hôn nhân thì có bị đánh giá như vậy không?
2. Anh chàng người yêu đã làm gì với bạn gái mình, như vậy có đúng không?
3. Anh, chị đóng vai thảo luận và tư vấn cho cô gái này.
10. Câu chuyện thứ 10
Khi ngồi lại để viết những dòng này, nước mắt tôi dường như khô cạn, và nỗi đau khiến tôi kiệt sức. Còn vài ngày nữa là bước sang tuổi 40 rồi, vậy mà tôi vẫn chơ vơ giữa đời: không gia đình, không con cái.
Mười năm trước tôi gặp và quen anh. Khi ấy, cả hai đều là nhân viên mới và được công ty cử đi đạo tạo nghiệp vụ ở nước ngoài. Vì quãng thời gian học hành khá lận đận nên lúc ra trường và bắt đầu đi làm tôi cũng đã ngót 30, anh thì hơn tôi 5 tuổi. Vì chẳng còn trẻ trung gì nên sau một năm gần gũi và nảy sinh tình cảm, chúng tôi đã tính đến chuyện kết hôn. Đám cưới được tiến hành ngay khi cả hai về nước. Tuy thời gian tìm hiểu nhau không nhiều, nhưng tôi thực sự thấy tin tưởng và muốn gắn bó với anh. Hơn nữa, anh là người ân cần và quan tâm, chăm sóc tôi rất nhiều.
Cuộc sống của tôi sau khi kết hôn nói chung là khá êm đềm. Tuy phải làm dâu nhưng mẹ chồng tôi đã già lắm rồi và cũng khá hiền lành. Nghe kể bà mồ côi từ nhỏ, không có chồng và mãi sau này mới “kiếm” được mình anh. Biết được hoàn cảnh như vậy nên tôi thực sự rất thương mẹ. Tôi cố gắng chăm sóc cho bà để phần nào bù đắp được quãng thời gian vất vả trước đây. Vì vậy, từ những ngày đầu làm dâu, bà có vẻ rất “ưng” tôi.
Chỉ buồn một nỗi là mãi mà tôi vẫn chưa có con. Vì đã nhiều tuổi rồi nên tôi sốt ruột lắm, cứ thấp thỏm mong ngóng từng ngày. Chồng thì trấn an: “Có phải ai cưới xong cũng có con ngay đâu, em lo lắng làm gì…”. Rồi anh nói tôi dồn sức cùng anh xây nhà trước đã, để khi nào có con thì nhà cửa cũng đàng hoàng rồi, lúc ấy chỉ phải tập trung lo cho con thôi. Thấy anh nói có lí nên tôi gắng tích cóp, vay mượn thêm bên ngoại để làm nhà. Dù lương hai vợ chồng lúc ấy khá cao nhưng cũng mất tới hơn 3 năm chuẩn bị và bắt tay thực hiện, chúng tôi mới có được căn nhà hoàn chỉnh.
Lúc này, tôi tự nhủ sẽ chỉ tập trung vào chuyện con cái thôi. Vậy mà càng mong thì càng mất, hơn 3 năm rồi mà tôi vẫn chẳng có dấu hiệu bầu bí gì. Đi khám hiếm muộn ở đâu bác sĩ cũng nói tôi hoàn toàn bình thường, và kết quả khám của chồng cũng thế. Tôi bắt đầu thấy mất tinh thần, nhiều đêm, tôi trằn trọc nghĩ ngợi cho tới sáng vì buồn bực, chán nản. Tôi không hiểu sao chúng tôi chẳng gặp vấn đề gì mà mãi vẫn không đậu thai.
Rồi chẳng may mẹ chồng tôi lại đổ bệnh. Đưa bà đi khám chúng tôi mới tá hỏa vì mẹ bị ung thư. Mẹ suy sụp lắm, lúc nào bà cũng nói: “Mẹ già rồi, chẳng mấy nữa mà chết. Các con cứ để mẹ ở nhà chứ đi viện nhiều làm gì cho tốn kém”. Biết mẹ thương con nên tôi và chồng thì chỉ biết động viên bà thật nhiều, và cố gắng dồn tiền vào chạy chữa. Tôi mong mẹ tai qua nạn khỏi, vì nhà vốn đã neo người rồi, Bà thì cứ liên tục giục tôi sinh cho đứa cháu, bà nói cả đời bà cũng chỉ mong đến lúc thấy mặt cháu nội rồi có ra đi cũng thanh thản. Tôi chỉ khổ tâm là con chưa đến mà mẹ chồng lại không chịu hiểu điều đó. Suốt mấy năm trời, vì sốt ruột nên bà bắt đầu quay ra đay nghiến tôi. Ban đầu, bà còn hỏi gần hỏi xa xem tôi có vấn đề gì không, rồi bà trách tôi không chịu chạy chữa. Sau đó, bà than rằng do vô phúc nên con dâu không chịu đẻ cho bà đứa cháu đích tôn. Những lời chì chiết từ nhẹ đến nặng, ngày nào tôi cũng phải nghe trong lúc cho bà ăn, lúc tắm rửa và thậm chí cả lúc cho bà đi vệ sinh. Bao lần tôi ứa nước mắt nhưng đành nín lặng. Cuối cùng, trước lúc ra đi, bà vẫn nhìn tôi trừng trừng như thể hận thù tôi vậy.
Biết mẹ chồng sốt ruột, mà bản thân cũng thế nên tôi bàn với chồng đi thụ tinh nhân tạo. Nào ngờ vừa đề nghị thì chồng đã nổi giận quát tháo, anh bảo tôi ích kỉ và không biết thương mẹ. Rằng bây giờ riêng tiền viện của mẹ và tiền trả nợ đã ngốn hết lương tháng của hai vợ chồng rồi. Nếu tôi muốn thụ tinh nhân tạo thì khác nào bắt mẹ về chờ chết. Nghĩ rằng anh nói đúng nên tuy có buồn, tôi vẫn không dám giận chồng. Dù sao thì hai vợ chồng cũng đều bình thường nên tôi hi vọng là từ từ con sẽ đến.
4 năm sau cũng chẳng không có kết quả gì, tôi thực sự mệt mỏi cả về thể xác lẫn tinh thần. Nhưng chính trong những ngày mong ngóng để đón con đó, tôi vô tình phát hiện ra sự thật, rằng những bát thuốc bổ anh ân cần sắc cho tôi uống mỗi ngày kia, chính là thứ thuốc ngừa thai mà tôi không hề hay biết. Khi nghe được anh nói chuyện điện thoại với người đã bán cho anh mấy năm nay rằng: “Chị không phải cắt cho em nữa, giờ cô ấy đòi thụ tinh nhân tạo rồi nên khỏi cần ngừa…” thì tôi mới ngã ngửa. Tôi muốn lao vào để cào xé anh nhưng không thể, tôi gục ngã…Anh thú nhận rằng đã từng có 2 đứa con với người khác trước khi đến với tôi, mẹ đứa bé không may mất rồi nên bao năm qua anh phải nhờ người nuôi dưỡng giúp, và hàng tháng gửi tiền cho chúng. Anh muốn dần dần thuyết phục tôi đưa các con về sống cùng, thay vì đẻ thêm đứa nữa, anh không muốn tôi phải vất vả nữa.
Tôi không biết nên hiểu về anh thế nào nữa, anh “thương” tôi hay anh đã “lừa dối” tôi? Giờ cuộc đời tôi thành ra lỡ dở, làm sao tôi có thể sống tiếp được đây?
Câu hỏi thảo luận
1. Anh, chị nghĩ gì về suy nghĩ và câu hỏi của cô gái này?
2. Chị ấy cần sự giúp đỡ như thế nào ?
3. Hãy thảo luận và đóng vai tư vấn cho chị ấy.
II. BÀI TẬP PHẦN XÂM HẠI TÌNH DỤC TRẺ EM
11. Câu chuyện thứ 11
Trong lúc các bạn còn đang vô tư chạy nhảy, chơi đùa, cắp sách tới trường thì bé đã làm mẹ ở tuổi 12. Bố, mẹ bé đau lòng lắm nhưng không biết làm thế nào. Thời gian trước, gần nhà có ông hàng xóm già hay sang chơi, những lúc bố, mẹ bé đi làm vắng ông lại càng hay sang chơi. Ông hay cho bé lúc thì cái kẹo, lúc thì cái bánh, lúc thì quyển truyện tranh, bé thích lắm, thế rồi ông ấy quan hệ tình dục với bé, nhưng bé chẳng hiểu là gì chỉ tưởng như mẹ thường ôm ấp yêu thương mình như mọi khi. Ông ấy dặn bé đừng nói chuyện này với ai.
Thế rồi mẹ phát hiện ra bé có gì đấy không bình thường, mẹ đưa bé đi bác sỹ, bác sỹ bảo bé có em bé, bé cũng chẳng hiểu gì chỉ biết mình ngày càng béo ra, ngày bé có em bé bé bị đau bụng lắm, chưa bao giờ bé bị đau đến thế. Bây giờ thì bé phải nghỉ học, ở nhà.
Bố, mẹ bé gặp ông hàng xóm, ông ấy bảo ông ấy chẳng có lỗi gì vì khi làm những việc ấy, bé đều đồng ý chứ ông ấy có ép buộc hay đánh đập gì bé đâu.
Mẹ bé chẳng biết làm gì bây giờ?
Câu hỏi thảo luận
Câu chuyện của cô bé trong câu chuyện này là gì? Người hàng xóm trả lời như vậy có đúng không?
Với vai trò cán bộ y tế, Anh, chị cần làm gì để giúp cô bé ấy?
Thảo luận đóng tình huống tư vấn
12. Câu chuyện thứ 12
Vào đầu tháng 7/2013, Huyền về nhà cha mẹ ruột chở em gái ruột Q. (SN 2005) đến nhà mẹ chồng tại huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh chơi. Chiều cùng ngày, trong lúc vợ chồng Huyền đang "vui vẻ" trong phòng thì em Q. gõ cửa, Huyền và chồng tiếp tục âu yếm trước mặt em mình sau đó còn gợi ý cô bé tham gia. Mặc dù em gái phản ứng, nhưng Huyền vẫn giữ em cho chồng ”hành sự”. Hành động trên còn được vợ chồng Huyền lặp đi lặp lại thêm hai lần khác. Khi được hỏi, Huyền giải thích và tưởng rằng đó chỉ là trò chơi với trẻ con.
Câu hỏi thảo luận
1. Hành động của vợ, chồng Huyền là gì ?
2. Với vai trò cán bộ y tế, Anh, chị cần làm gì để giúp cô bé Q ?
3. Thảo luận đóng tình huống tư vấn
13. Câu chuyện thứ 13
Khi tắm cho cậu con trai, Bé kêu đau ”chim”. Mẹ hỏi Bé kể rằng khi sang hàng xóm chơi bé bị vợ, chồng chú hàng xóm bắt cởi quần ra rồi múa, bảo là cởi quần múa sẽ đẹp hơn. Khi Bé cởi quần, họ dùng kẹp sắt kẹp dương vật của Bé và còn đẩy ngã Bé, Bé kêu đau nhưng họ vẫn không dừng lại. Trong đoạn ghi âm nghe rất rõ tiếng kêu “đau”. Giờ Bé không muốn đi học, Bé khóc và hỏi: "Ở đó có ông già không, ông ấy có đến kẹp ”chim” con không? Ngay cả khi ngủ Bé cũng nói mê sảng: "Ông đừng kẹp cháu nữa, cháu đau, mẹ ơi cứu con".
Câu hỏi thảo luận
1. Câu chuyện của cậu bé trong câu chuyện này là gì? Có đáng tin không?
2. Với vai trò cán bộ y tế, Anh, chị cần làm gì để giúp cậu bé ấy?
3. Thảo luận đóng tình huống tư vấn
14. Câu chuyện thứ 14
Sống cùng với một người bố thường xuyên say xỉn, H (SN 2000) và các chị thường trốn tiệt sang nhà bà ngoại vào những lúc mẹ không có ở nhà. 14h30 ngày 13/1/2013, sau khi đi uống rượu, gã về nhà lăn ra ngủ, đến 17h, tỉnh dậy thấy H. vừa đi chăn bò về, cơn ma men chưa tan hết, gã chợt nảy sinh nhu cầu thỏa mãn tình dục. Gã thấy cháu H. mặc áo khoác đi ra ngoài hiên nhà để đi chơi thì gọi lại nhưng H. không nói gì. Gã liền phi từ trong nhà ra sân lôi xềnh xệch cháu H. vào trong buồng ngủ bảo “mày cởi quần áo ra nằm im bố bảo ”. Cháu H. sợ hãi không nghe thì bị gã bế thốc lên giường rồi hôn lên môi, má H. H. giãy dụa, gào khóc nói “Bố ơi đừng làm thế…”. Tiếng thét đau đớn của bé L. không khiến người cha dừng tay mà cơn thú tính càng lồng lộn, ông ta ghì chặt hai tay đứa con gái bé bỏng xuống giường để hãm hiếp.
Tại tòa, Chị Nhàn (vợ gã) khai: “Khi không có chị ở nhà, các con chị thường không dám về nhà vì sợ, anh ta đã từng sàm sỡ cháu lớn. Nhưng mấy lần trước chưa nghiêm trọng. Vả lại chuyện cũng không hay ho gì nên tôi không báo chính quyền, đến lần này không thể chấp nhận được nữa tôi mới phải báo cáo chính quyền”.
Trước tòa, gã khai hành vi của mình và giải thích rằng đó là con do gã đẻ ra, muốn làm gì là quyền của gã, gã nuôi con khôn lớn thì gã có quyền bắt con phục vụ.
Câu hỏi thảo luận
1. Giải thích hành động của người Bố với con đẻ có chấp nhận được không ? Tại sao
2. Cô bé H trong câu chuyện trên có cần giúp đỡ không, nếu có thì hỗ trợ như thế nào với vai trò là cán bộ y tế ?
3. Thảo luận đóng tình huống tư vấn
15. Câu chuyện thứ 15
Mẹ Bé là công nhân khu công nghiệp. Hàng ngày mẹ gửi bé đến nhà trẻ tư gần nhà để đi làm, gửi ở đấy mẹ bé thấy có vẻ yên tâm vì thấy bé có vẻ mập hơn. Hàng ngày khi đón bé về lúc nào mẹ cũng thấy bé sạch sẽ, đang được cô cho chơi đùa, múa hát, chỉ có điều mẹ không hiểu là hôm nào cũng vậy, khi đưa đi học bé cứ khóc mãi, bé không muốn đi, chỉ muốn ở nhà với mẹ thôi.
Đến khi, xem trên tivi, mẹ mới hoảng hốt thấy bé bị các cô bóp cổ, gí đầu xuống đất, lấy khăn bịt mũi, tát bôm bốp vào mặt... để bắt bé ăn. Bị đút quá nhanh, có lúc bé nôn ra thì bị cô bắt ăn lại chỗ cháo vừa nôn, bé ăn cháo chan nước mắt. Cô giáo giải thích là làm như vậy để ép bé ăn cho mập và tăng cân.
Câu hỏi thảo luận
1. Mẹ bé phân vân không biết cô giáo làm như thế có đúng không, ở nhà mẹ cũng thường phải ép bé ăn, bé lười ăn lắm ?
2. Bé có cần giúp đỡ không ? Là cán bộ y tế anh, chị giúp gì cho bé và mẹ bé ?
3. Thảo luận đóng tình huống tư vấn
16. Câu chuyện thứ 16.
Chiều ngày 15/3, thấy mất 20.000 đồng, nghi ngờ bé lấy trộm, cô Hà (bồ của bố bé) xông vào đánh bé ngã xuống đất. Thấy vậy, không những không can ngăn, bố bé còn lấy thanh gỗ liên tiếp vụt vào người con trai mình tới mức thanh gỗ bị gãy. Trong cơn tức tối, cô Hà tiếp tục đạp mạnh vào người khiến bé ngã đập đầu xuống đất rồi bất tỉnh, khi đưa đến bệnh viện đã quá muộn, đồng tử của bé đã giãn, BV Việt Đức cho biết, tình trạng của bé rất nặng, tiên lượng rất khó qua khỏi. Bé bị dập cả thùy trái lẫn phải của não, hôn mê sâu, không tiến triển và phải thở máy. Với những vết thương quá nặng, sau 3 ngày điều trị, Bé đã không qua khỏi.
Khi được cơ quan pháp luật hỏi, Bố bé đã khóc và nói, bố bé chỉ nghỉ dạy con không muốn con sau này trở thành người ăn cắp nên cũng không can ngăn việc “dạy dỗ” của “vợ” và cũng không nghĩ lại xảy ra việc như vậy.
Câu hỏi thảo luận
1. Hành động ”dạy con” của người bố và mẹ kế như vậy có đúng không, ở nhà mẹ cũng thường phải ép bé ăn, bé lười ăn lắm ?
2. Là cán bộ y tế anh, chị giúp gì cho bé và bố bé ?
3. Thảo luận đóng tình huống tư vấn
III. BÀI TẬP PHẦN BẠO LỰC NAM GIỚI
17. Câu chuyện thứ 17
Anh Vũ Ngọc Ph. 45 tuổi sống tại Thanh Xuân, Hà Nội lấy vợ đã hơn 10 năm, có hai cô con gái đáng yêu. Anh làm Trưởng phòng một doanh nghiệp nên kinh tế và vị thế xã hội đều vững. Từ ngày lên chức anh luôn chìm ngập trong các buổi tiệc tùng. Ngoài ra, các nhân viên của anh còn thường xuyên mang biếu anh những loại đặc sản, hải sản “siêu bổ” cho anh thưởng thức. Anh nhớ lại: "Khoảng 3 năm trở lại đây, tôi thấy mình đau các đầu ngón chân và các khớp chân nhưng cũng không để ý. Khi các ngón chân sưng lên và nhức làm tôi không đi lại được mới tìm đến bệnh viện khám và biết mình đã mắc căn bệnh nhà giàu – bệnh gout. Từ ngày mang cái án gout mọi thứ đều trở nên vô nghĩa với tôi, tôi chán nản hẳn tất cả. Tôi tìm các tài liệu về dạng bệnh này đọc, càng đọc, càng thấy chán hơn. Không chỉ bệnh gout, gần đây các bác sĩ còn báo thêm, tôi bị bệnh máu nhiễm mỡ. Mọi sinh hoạt ở công ty cũng như ở gia đình đảo lộn hết. Điều khiến tôi thấy mất ngủ bao đêm là chuyện chăn gối vợ chồng. Chuyện càng khó nói càng khiến cho vợ chồng thêm “chiến tranh lạnh”. Cô ấy kém tôi gần 10 tuổi, đang trong độ tuổi phơi phới khi biết chồng bị bệnh gout cô ấy buồn ra mặt, một phần vì bệnh tật, một lý do nữa là tôi không còn là người chồng đúng nghĩa. Thương vợ lắm nhưng lực bất tòng tâm, trên bảo dưới không nghe, tôi bất lực nhìn hạnh phúc gia đình dần rơi vào bi kịch". Vợ anh không muốn là kẻ hai lòng nên cố bắt chồng chiều mình bằng được. Những lúc đó anh chỉ “tủi” vì không xứng đáng là một người đàn ông. Anh không biết chia sẻ với ai, nói ra thì vừa xấu hổ, vừa sợ người ta không tin nên mặc dù đi khám nhiều lần tại bệnh viện nhưng anh cũng chẳng dám nói gì với bác sỹ, anh chẳng biết làm thế nào nữa.
Câu hỏi thảo luận
1. Câu chuyện của Anh Ph là gì ?
2. Anh chị cần làm gì để giúp đỡ anh Ph ?
3. Thảo luận đóng tình huống tư vấn
18. Câu chuyện thứ 18
Vào một buổi chiều tại văn phòng tư vấn, một cặp vợ chồng độ tuổi ngoài 30 với vẻ mặt buồn bã, có phần ngượng nghịu bước vào trong. Trước mặt cán bộ tư vấn, hai vợ chồng đùn đẩy nhau trình bày câu chuyện, cuối cùng người vợ cho biết họ đang trục trặc trong hôn nhân. Theo nội dung câu chuyện, trước đó (thời gian chưa bị chia cách trong chiến tranh), đời sống vợ chồng của hai người bình thường như bao cặp vợ chồng khác. Tuy nhiên, thời gian gần đây, chồng chị luôn tìm cách trốn tránh và tỏ ra sợ hãi mỗi lần quan hệ: “Chồng tôi không thể quan hệ được”, chị phàn nàn. “Tôi gặng hỏi bằng mọi cách nhưng anh ấy không nói vì sao. Chắc chắn là anh ấy có chuyện gì giấu tôi”, nói rồi người đàn bà ấy khóc rưng rức. Trước tình thế ấy, cán bộ mời người chồng vào nhưng chuyện chẳng đi đến đâu. Người chồng cứ đứng trân trân nhìn vợ với ánh mắt đau khổ mà không nói lên lời. Chỉ đến lúc cán bộ tư vấn đề nghị người vợ ra ngoài thì câu chuyện mới bắt đầu hé mở. Giọng run run, người chồng bộc bạch: “Chuyện ấy đã xảy ra với tôi”. Rồi, anh ấy lấy từ trong túi ra một miếng băng vệ sinh cũ, nói “Tôi rất đau và tôi phải dùng cái này”. Đặt miếng băng lên bàn, anh bắt đầu giãi bày tâm sự. Trong khi chạy loạn khỏi cuộc nội chiến ở Congo, gia đình chia lìa còn anh bị quân nổi loạn bắt giữ. Những kẻ đó đã cưỡng bức anh 3 lần 1 ngày trong vòng 3 năm liền. “Tôi bị kéo xềnh xệch vào một góc bất cứ lúc nào chúng muốn. Chúng phanh xác tôi ra cưỡng hiếp. Khi thì một đứa, khi thì cả một đám 3 - 4 đứa. Đau đớn, tôi có van xin thì bị chúng đánh đập thêm”. “Ở đây mày không có lựa chọn. Không muốn chết thì ngoan ngoãn phục tùng chúng tao” - chúng thường xuyên dọa nạt thế. “Đúng! Ở nơi địa ngục trần gian ấy, tôi không còn lựa chọn nào khác. Muốn sống về với gia đình, với vợ con thì tôi phải chấp nhận sự sỉ nhục đớn đau này”, anh chua xót giãi bày tâm sự.
Những tưởng sau 3 năm địa ngục ấy, được trở về với vợ con, anh sẽ có cuộc sống vui vẻ như trước kia. Nhưng không, những ám ảnh bị quân lính cưỡng hiếp trong quá khứ ấy cứ bám riết lấy cuộc sống của anh. Rất nhiều đêm cố gắng, nhưng anh không thể vượt qua nỗi ám ảnh kinh hoàng ấy. Mỗi lúc “gần gũi” vợ, những hình ảnh mình bị cưỡng hiếp kinh tởm trong trại lính năm xưa lại dồn dập hiện về. Chạy trốn vợ, anh lại thu mình ở một góc nhà, khóc rưng rức.
Anh bị khủng hoảng tinh thần nặng nề, rồi trầm cảm.Anh xấu hổ và lo lắng vô cùng, anh sợ gia đình nhỏ của mình tan vỡ, sợ người vợ đầu gối tay ấp bao năm qua sẽ bỏ anh và con mà đi. Anh sợ… sợ rất nhiều. Anh muốn mọi chuyện cho vợ biết, nhưng lại không đủ dũng cảm. Thời gian trôi đi, cuộc sống vợ chồng của ảnh càng trở nên bế tắc, nặng nề. Đau đớn cùng với thắc mắc không được giải đáp, không ít lần vợ anh dọa sẽ ly hôn, anh chỉ biết năn nỉ vợ mà không biết phải làm gì bây giờ.
Câu hỏi thảo luận
1. Người đàn ông trong câu chuyện trên là gì ?
2. Anh chị cần làm gì để giúp đỡ anh ấy ?
3. Thảo luận đóng tình huống tư vấn
19. Câu chuyện thứ 19
Trao đổi với phóng viên báo về tình trạng ông Hoàng Kim L. (phố Huế, Hai Bà Trưng, Hà Nội) bị vợ bạo hành, Bác sỹ trưởng khoa Bỏng bệnh viện Xanh Pôn (Hà Nội) chia sẻ, bệnh nhân nhập viện vào 5h30' sáng 1/9/2012 với thương tích bỏng rộng 50% rải rác toàn thân ở phần mặt, toàn bộ ngực, lưng, hai tay và một phần chân sâu độ 2. Theo như lời kể của bệnh nhân, ông bị vợ đập chày vào đầu bị dội nước sôi từ mũi trở xuống khắp phần bụng. Trường hợp bỏng này rất nặng, diện tích bỏng rộng, bệnh nhân thì lớn tuổi nên nguy cơ tử vong rất cao.
Câu hỏi thảo luận
1. Bác sỹ điều trị chỉ biết bệnh nhân kể là bị vợ đánh đập và dội nước sôi chứ cúng không hiểu tình trạng người đàn ông trên là gì. Theo anh, chị ông ấy bị sao ?
2. Anh chị cần làm gì để giúp đỡ ông ấy ?
3. Thảo luận đóng tình huống tư vấn
PHẦN V.
PHỤ LỤC
Biểu mẫu sàng lọc theo Thông tư 24/2017/TT-BYT
Phiếu theo dõi nạn nhân theo Thông tư 24/2017/TT-BYT
Phiếu xác nhận tình trạng bạo lực theo Thông tư 24/2017/TT-BYT
Luật Bình đẳng giới
Luật Phòng chống bạo lực gia đình
Luật Khám, chữa bệnh
7. Thông tư số 24/2017/TT-BYT ngày 17/5/2017 của Bộ Y tế hướng dẫn việc tiếp nhận, chăm sóc y tế và thống kê, báo cáo đối với người bệnh là nạn nhân bạo lực gia đình tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
8. Thông tư số 43/2015/TT-BYT quy định về nhiệm vụ và hình thức tổ chức thực hiện nhiệm vụ công tác xã hội của bệnh viện
PHẦN VI.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Luật Phòng chống bạo lực gia đình
Thông tư 24/2017/TT - BYT
Thông tư 43/2015/TT-BYT
Quyết định 1849/QĐ-BYT năm 2010
Sổ tay lâm sàng Chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ là nạn nhân của bạo lực tình dục và bạo lực gia đình của WHO năm 2014
Tài liệu đào tạo tập huấn của UNFPA và Hội đồng dân số